Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Ức Sơn Tuyền 憶山泉 - Ngô Dung (Vãn Đường)



(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ đời vãn Đường)

Nguyên tác Dịch âm

憶山泉 Ức Sơn Tuyền

穿雲落石細湔湔 Xuyên vân lạc thạch tế tiên tiên,
盡日疑聞弄管弦 Tận nhật nghi văn lộng quản huyền.
千仞灑來寒碎玉 Thiên nhận sái lai hàn toái ngọc,
一泓深去碧涵天 Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên.
煙迷葉亂尋難見 Yên mê diệp loạn tầm nan kiến,
月好風清聽不眠 Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên.
春雨正多歸未得 Xuân vũ chính đa quy vị đắc,
只應流恨更潺湲 Chỉ ưng lưu hận canh sàn viên.

Dịch nghĩa

Nhớ Con Suối Miền Núi

Một dòng chảy xiết thấp thoáng trong mây, quanh co trên đá
Tiếng róc rách như tiếng sáo tiếng đàn
Từ độ cao cả ngàn sải, nước rơi xuống tung toé như ngọc vỡ
Vực sâu thăm thẳm phản chiếu khoảng trời xanh biếc
Sương khói mê ảo, lá cây mọc loạn nên khó thấy
Trăng sáng đẹp, gió rì rào nghe không muốn ngủ
Lúc này mưa xuân đang nặng hạt chưa thể về được
Chỉ có thể trút bỏ nỗi buồn cho dòng nước cuốn đi

Dịch thơ

Nhớ Con Suối Miền Núi

Xuyên mây vạch đá chảy tràn lan,
Chiều xuống nghe như tấu sáo đàn.
Nước đổ từ cao như ngọc vỡ,
Vực sâu xanh thẳm giống trời lam.
Khói mê lá loạn nhìn khó thấy,
Trăng đẹp gió hiền thức vẫn ham.
Mưa rớt nặng nề về chửa được,
Thả buồn theo nước chảy miên man.

Li bàn

Từ kiểu luồn lạch (xuyên mây vạch đá) đến tiếng nước chảy (tấu sáo đàn, như ngọc vỡ) đều là đặc thù của suối núi. Cây lá, sương khói, vực sâu, trăng gió... đều nên thơ.

Hai câu mở đề:
Cho biết khá rõ về con suối: chảy từ trên cao và len lỏi giữa đá, âm thanh phức tạp như hòa nhạc.
Hai câu 3 & 4:
Tả cái vĩ đại của con sưối: Nhìn lên thì thấy nước đổ xuống gây âm thanh của ngọc vỡ (dùng văn tả thác để tả suối). Nhìn xuống vực thì thấy nước đọng thành hồ phản chiếu trời xanh (lượng nước phải nhiều lắm).
Hai câu 5 & 6:
(Nhìn cảnh vật hai bên suối) thì không rõ vì khói (do hơi nước bốc lên) và lá (rậm rạp) lay trước gió che khuất tầm nhìn. (Nhìn lên trời) thì trăng vẫn đẹp khiến thức hoài để ngắm.
Hai câu kết:
(Đột nhiên có) trận mưa lớn. Chả nên quan tâm, nhân lúc mưa xuân cản đường về, thì cứ ngồi nghỉ, thả buồn trôi theo dòng suối, một nỗi buồn dịu ngọt, vu vơ. Tuyệt vời.

  Con Cò
***
Nhớ Suối Núi

Xuyên mây vạch đá nước như bay,
Tựa sáo đàn nghe vọng suốt ngày.
Ngọc vỡ tung rơi ngàn trượng đấy,
Trời xanh in bóng một khê này.
Khói mờ lá dậm nhìn đâu thấy,
Gió mát trăng thanh ngủ khó say.
Nặng hạt mưa xuân về chẳng được,
Nỗi buồn trút bỏ suối trôi ngay.

Mỹ Ngọc.
Jul. 25/2026.
***
Góp ý của Bát Sách:

Góp Ý Cho Bài ỨC SƠN TUYỀN Của Ngô Dung.

Cám ơn những góp ý của anh Giám và anh Tâm. Đọc xong, thấy phân vân, không biết mình hiểu có đúng ý tác giả không.

Tựa bài thơ là Ức Sơn Tuyền, nghĩa là tác giả nhớ lại cảnh cũ, nhưng mấy câu chót thì mình thấy tác giả đang có mặt tại chỗ, mắc mưa, không về được.. chữ hận cũng khó hiểu: sao lại hận, hận cái gì ? Chữ thứ 5 của câu chót phải phiên âm là cánh mới đúng luật bằng trắc.

Bài này có nhiều chữ khó.

&Tận là hết, chết, hết sức như tận tâm, tận tụy; tận ngôn là nói hết lời.
Vậy tận nhật là hết ngày hay cả ngày? Cả ngày hay tối ngày thì hợp lý hơn.
&Sái: rảy nước, vãi ra, tan ra, thoát ra (như sái lạc là thong dong, thoát khỏi mọi ràng buộc). Câu này có chữ hàn, rất khó hiểu
&Toái : vỡ nát.
&Hoằng: sâu thăm thẳm. Tên sông.
&Hàm : chứa, thấm đẫm.
&Tầm: tìm. Đơn vị đo. Rồi. Chẳng bao lâu. Vẫn như cũ.
&Sàn viên : dáng nước chảy chậm, róc rách. Bên trên thì nước chảy mạnh, rơi như ngọc vỡ, bên dưới thì chảy chậm, nghe như trái ngược, nhưng khi suối đi hết chỗ dốc đứng, tới chỗ dốc lài thì nước chảy chậm.

Nhớ Suối Núi

Xuyên mây, lách đá, chảy miên man,
Ngày tối nghe như tiếng sáo đàn,
Ngàn nhận nước rơi như ngọc vỡ,
Hang sâu phản chiếu bóng trời lam.
Khói mê, lá loạn nhìn không rõ,
Trăng đẹp, gió hiền, khó ngủ êm.
Mưa xuân rơi nặng chưa về được,
Gửi hận theo dòng nước tràn lan.


Bát Sách.
(Ngày 30/07/2026)
***
@ ý kiến của Phí Minh Tâm :

...sao lại hận, hận cái gì ?
Chữ hận恨 ngoài nghĩa oán hận còn có nghĩa sầu muộn hối tiếc, tình cảm với cái gì mình không làm được. Ở đây thi nhân nhớ lại cảnh suối rừng và nhớ lại vì bị mưa nên không về nhà được. Tuy nhiên bài thơ được làm thời Vãn Đường, giai đoạn loạn lạc chiến tranh triền miên. Nỗi sầu của tác giả có thể không chỉ là nhớ nhà, mà còn là nỗi bất lực của một trí thức trước thời cuộc đất nước Trung Hoa suy tàn vào cuối thời Đường. pmt
***

Con suối miền núi


Nước tuôn theo đá theo mây trôi
Róc rách nghe như tiếng sáo trời
Tung toé từ cao y ngọc vỡ
Vực sâu thăm thẳm xanh trùng khơi.
Sương mờ cây rậm che không thấy
Trăng sáng gió đùa khó nghỉ ngơi
Mưa đổ ào ào lưu bước khách
Nỗi sầu nước chảy hận bời bờ


Thanh Vân
***
Nhớ Suối Rừng

Xuyên mây vỗ đá tiếng lanh tanh
Nghe thoảng suốt ngày đàn sáo quanh
Ngàn thước nước rơi ngọc lạnh vỡ
Một đầm sâu thẳm biếc trời xanh
Khói mờ, lá rậm tìm không thấy
Gió mát trăng thanh ngủ khó thành
Nặng hạt mưa xuân về chẳng được
Buồn này trút bỏ suối trôi nhanh!


Song thất lục bát:


Tiếng thanh thanh xuyên mây vỗ đá
Nghe suốt ngày ròng rã rạng ngời
Ngọc lạnh vỡ, ngàn thước rơi
Một vùng sâu thẳm in trời biếc xanh
Tìm không thấy khói thành, lá thấp
Ngủ sao đành gió mát trăng trong
Mưa nặng hạt về không xong
Buồn này gửi suối ra sông, biển đầy!


Lộc Bắc
Jul2026
***
Nguyên tác: Phiên âm:

憶山泉-吳融 Ức Sơn Tuyền – Ngô Dung

穿雲落石細湔湔 Xuyên vân lạc thạch tế tiên tiên
盡日疑聞弄管弦 Tận nhật nghi văn lộng quản huyền
千仞灑來寒碎玉 Thiên nhận sái lai hàn toái ngọc
一泓深去碧涵天 Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên
煙迷葉亂尋難見 Yên mê diệp loạn tầm nan kiến
月好風清聽不眠 Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên
春雨正多歸未得 Xuân vũ chính đa quy vị đắc
只應流恨更潺湲 Chỉ ưng lưu hận cánh sàn viên

Nguyên tác bài thơ có đăng trong sách của các thời đại Trung Hoa:

Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融


Đường Thi Cổ Xuy - Kim - Nguyên Hảo Vấn 唐诗鼓吹-金-元好问
Đường Bách Gia Thi Tuyển - Tống - Vương An Thạch 唐百家诗选-宋-王安石
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các chữ khó:


Sơn tuyền: Suối tự nhiên chảy ra từ núi thường trong mát; không chỉ là nguồn nước uống mà còn là một cảnh quan thiên nhiên đẹp, được ca ngợi trong văn thơ. Một ẩn dụ cho nhân cách hoặc tư duy cao quý và trong sáng, thường được dùng để ca ngợi tư cách của một con người.

Tiên tiên: tiếng nước chảy róc rách hoặc hình ảnh nước phun, rửa sạch, reo vui. Trong ngữ cảnh này mô tả dòng suối nhỏ chảy len lỏi qua đá và mây.

Quản huyền: nhạc cụ thổi (quản - ống sáo) và gảy (huyền - dây đàn). Ở đây ví tiếng nước chảy như tiếng đàn sáo.
Tận nhật: suốt cả ngày
Nhận: đơn vị đo chiều dài cổ của Trung Hoa ngày xưa (tùy thời đại, 1 nhận bằng khoảng 7 đến 8 thước, tương đương 1,84 – 2,4 mét). thiên nhận: ngàn nhận, chỉ vách đá dựng đứng với độ cao ngất ngưởng.
Sái lai: nước bắn tung, vẩy xuống.
Toái ngọc: ngọc vỡ, ví vệt nước suối tung bọt trắng xóa như những viên ngọc tan vỡ.
Hoằng: chỉ một mảng nước hoặc dòng suối nước trong và sâu. nhất hoằng là một làn nước, một vũng nước nhỏ.
Hàm: chứa đựng, bao bọc, soi bóng.
Sàn viên: tiếng nước chảy róc rách triền miên không ngừng, hoặc hình thái dòng nước tuôn chảy lững lờ đầy tâm sự.


Dịch nghĩa bài thơ:

Ức Sơn Tuyền Nhớ Con Suối Miền Núi


Xuyên vân lạc thạch tế tiên tiên
Một dòng nước thấp thoáng trong mây, quanh co trên đá, reo lên những tiếng róc rách,
Tận nhật nghi văn lộng quản huyền
Suốt cả ngày, cứ ngỡ như nghe tiếng sáo tiếng đàn.
Thiên nhận sái lai hàn toái ngọc
Từ vách cao ngàn trượng rơi xuống, dòng suối lạnh tung toé như ngọc vỡ
Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên
Khi thành một vùng sâu thẳm trải dài về phía xa, màu nước xanh biếc như ôm trọn cả bầu trời.
Yên mê diệp loạn tầm nan kiến
Sương khói mịt mù, lá cây mọc hỗn loạn khiến người ta muốn tìm suối mà khó thấy.
Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên
Đêm trăng thanh gió mát, nghe tiếng suối, lòng thao thức chẳng thể ngủ yên.
Xuân vũ chính đa quy vị đắc
Lúc này trời đổ nhiều mưa xuân, ta lại đang chịu cảnh lưu lạc chưa thể trở về quê.
Chỉ ưng lưu hận cánh sàn viên
Đành gửi gắm nỗi hận ly hương vào dòng suối, khiến tiếng nước càng thêm nức nở nghẹn ngào.


Bình luận:

Bài thơ được sáng tác khi tác giả Ngô Dung (850 – 903) đang chịu cảnh ký lữ 羁旅- lưu lạc giang hồ, xa quê hương vào thời Vãn Đường, giai đoạn triều đại nhà Đường khủng hoảng trầm trọng, chiến tranh loạn lạc nổ ra liên miên.. Tiết trời đang là mùa xuân, mưa dầm dề ngăn trở đường về quê nhà. Đứng trước cảnh ngộ bế tắc của bản thân và thời cuộc, nghe tiếng suối núi bên tai, nhà thơ bùi ngùi nhớ về một dòng suối cũ (có thể ở quê nhà Việt Châu, nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang), từ đó mượn cảnh suối để ngụ ý tiếng lòng sầu muộn của kẻ tha hương.

Về nội dung với tình và cảnh giao hòa, bài thơ bắt đầu bằng những nét vẽ sinh động về thanh âm và hình ảnh của dòng suối trong núi. Suối không chỉ là vật thể vô tri mà có linh hồn: biết gảy khúc “quản huyền", biết hóa thành "ngọc".

Tuy nhiên, tâm điểm của bài thơ nằm ở hai câu cuối. Nỗi hận "quy vị đắc" (chưa thể về) biến tiếng suối vui tươi ban ngày thành tiếng khóc than nức nở về đêm. Nỗi sầu của tác giả không chỉ là nhớ nhà, mà còn là nỗi bất lực của một trí thức trước thời cuộc loạn lạc cuối thời Đường.

Về nghệ thuật với bút pháp tinh tế tận dụng thính giác và thị giác: tác giả vận dụng tài tình phép thông cảm (synesthesia), nghe tiếng suối thành đàn sáo, nhìn làn nước sâu thấy cả bầu trời.
Cặp câu 3-4 và 5-6 đối xứng hoàn chỉnh:
Câu 3: Thiên nhận (cao ngất) sái lai (động) hàn toái ngọc
(ngọc vỡ lạnh)
Câu 4: Nhất hoằng (sâu thẳm) thâm khứ (tĩnh) bích hàm thiên
(bầu trời xanh)
Câu 5: Yên mê diệp loạn (cái mịt mờ hỗn loạn ban ngày)
tầm nan kiến (tìm khó thấy)
Câu 6: Nguyệt hảo phong thanh (cái sáng sủa thanh tịnh ban đêm)
thính bất miên (nghe không ngủ)
Câu cuối “lưu hận” đã nhân cách hóa dòng suối, thành người bạn tri kỷ đang khóc cùng dòng lệ của thi nhân.


Dịch thơ:

Suối Miền Núi

Xuyên mây trên đá tiếng thì thầm,
Như sáo đàn vang chốn thảo lâm.
Ngọc vỡ lạnh rơi từ nghìn trượng,
Một vùng nước biếc tận xa xăm.
Lá sương đầy loạn khó nhìn thấy,
Trăng thanh gió mát chẳng yên nằm.
Mưa xuân dầm dãi chưa về được,
Suối chảy đem buồn thấu tận tâm.


Mountain Spring by Wu Rong

Through clouds and on rocks and stones, it softly splashes and gleams,
All day long, it sounds like flute and zither themes.
Pouring from thousand-fathom heights, a cold, shattered jade,
Sinking into a deep pool, where the blue skies fade.
Lost in mist and tangled leaves, its source is hard to sight,
Under the bright moon and fresh breeze, its sound keeps me awake through the night.
The spring rains fall heavily and my return home is delayed,
So the flowing stream must carry my sorrow in the murmuring cascade.


Commentary:

The poem blends sound, sight, and emotion into a unified aesthetic experience.
The first couplet uses auditory imagery: the spring as music.
The second couplet shifts to visual brilliance: jade-like water, sky-like depth.
The third couplet creates an ethereal atmosphere: mist, leaves, moon, wind.
The final couplet reveals the poet’s inner sorrow, turning natural sound into emotional resonance.

@ý kiến của Phí Minh Tâm:

Nghĩa của bài thơ được chép lại từ Thi Viện. Dường như trong bài thơ này Thi Viện xài nguyên tác của Ngô Dung, nhưng lại dịch dị bản của NĐTĐT của nhà Thanh.

Câu 2:
Nguyên tác: 盡日疑聞弄管弦 Tận nhật nghi văn lộng quản huyền
nghĩa: Suốt ngày ngỡ như đang nghe ai đó gảy đàn, thổi sáo.
Thi viện: Tiếng róc rách như tiếng sáo tiếng đàn
Dị bản: 杳杳疑聞弄管弦 Yểu yểu nghi văn lộng quản huyền
nghĩa: Thấp thoáng, tiếng sáo và tiếng đàn dìu dặt.

Câu 4:
Nguyên tác: 一泓深去碧涵天 Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên
nghĩa: Một hồ nước sâu trải dài về phía xa (dưới) bầu trời xanh
Thi viện: Vực sâu thăm thẳm phản chiếu khoảng trời xanh biếc
Dị bản: 一泓深註碧涵天 Nhất hoằng thâm chú bích hàm thiên
nghĩa: Hồ nước xanh ngọc thẳm sâu soi bóng cả khoảng trời bao la.

Góp ý của Huỳnh Kim Giám

憶山泉 Ức sơn tuyền

Từ 憶=ức trong đầu đề cho người đọc biết rằng thi nhân đang nghĩ đến một một hình ảnh trong quá khứ, hay trong trí tưởng tượng, không phải về một cảnh hiện tại. Lời thơ rất hay, với những từ ngữ làm người đọc có thể liên tưởng tới những âm thanh và phong cảnh bên suối trên núi. Nhưng cũng có những câu nói về bối cảnh đương thời của bài thơ, với một số từ khó hiểu, nên thi nhân muốn nói gì thì người đọc chỉ có thể đoán ... mò!

湔湔=tiên tiên là một từ tượng thanh (onomatopoeic) để tả tiếng nước chảy róc rách, hay tinh tinh, và cũng được dùng để tả nước trong suốt, (có thể từ nghĩa gột, rửa của 湔). Từ kép này đã được dùng từ thời Nam Tống (tk 4) trong bài thơ Thạch lưu thiên (石流篇) của Hà Thừa Thiên (何承天)

煙迷葉亂尋難見 Yên mê diệp loạn tầm nan kiến

Không thể thấy gì? Đứng trên núi cao, và có thể thấy được trời xanh phản chiếu trên vực sâu, tại sao lại không thể thấy gì đó vì khói mù, lá bay? Phải chăng “yên mê diệp loạn“ hàm ý cảnh chiến tranh?

月好風清聽不眠 Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên

風清=phong thanh đã được dùng từ thời Nam triều Lương Nguyên Đế (梁元帝) và trong bài thơ Bạc Tương khẩu (泊湘口) của Đái Thúc Luân (戴叔伦). Cụm từ đươc dùng để nói đến một thời hay xã hội thanh bình như trong Hình Loan truyện (峦传) của Ngụy thư. Thi nhân mất ngủ trong một đêm trăng thanh gió mát, lạ không?

春雨正多歸未得 Xuân vũ chính đa quy vị đắc

正=chính nghĩa là đang, 多=đa là lắm, nhiều nói đến mưa nặng hạt. Mưa nặng hạt thì tại sao lại không thể trở về? Tại sao câu này đi tiếp ngay sau câu 月好風清聽不眠 nguyệt hảo phong thanh thính bất miên (làm sao mà có trăng thanh gió mát khi trời đang mưa nặng hạt)? Phải chăng thi nhân muốn nói rằng mưa gió thời loạn không cho phép thiên hạ trở về thới thanh bình thuở xưa mà thi nhân đang mơ tưởng?

只應流恨更潺湲 Chỉ ưng lưu hận canh sàn viên

Cụm từ 流恨=lưu hận đã đươc dùng từ thời Hán để chi những hối hận, oán giận không nguôi. 潺湲=sàn viên vừa có nghĩa là nước chảy chầm chậm, vừa có nghĩa nước mắt chảy ròng ròng; và hàm ý trong câu này nối tiếp nghĩa câu trước ám chỉ thời chinh chiến loạn lạc.

Ngô Dung “hận” ai đến phải khóc ròng trong một đêm trăng thanh gió mát, hận triều đình trụy lạc sắp làm mất nước, hay hận chính mình bỏ phí cuộc đời theo đuổi nghiệp binh rồi hoạn lộ, thay vì tìm một lối sống bình an?

g.

  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét