Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

Từ Khải Mừng Sinh Nhật 100 Tuổi Anh Hai

 Chúc mừng Anh Hai.You’re ON THE NEWS:





Mừng Ngày Đức Phật Thích Ca thành Đạo




Tứ chúng thanh tịnh trang nghiêm
Vía tám tháng chạp hành thiền tập trung
Giới không xao lãng mông lung
Định gieo an trú kính cung pháp hoà
Tuệ soi ánh sáng nở hoa
Mừng ngày Đức Phật Thích Ca đạo thành
Học tu Phật tử thực hành
Hít sâu thở nhẹ trong lành duyên sinh
Buông rời vô ngã tầm thinh
Hương Từ Bi pháp tỏa minh soi đường
Tâm yên tĩnh giác cõi thường
Tâm dường an lạc tựa nương lời Thầy
Đạo ban trí tuệ cao dầy
Đạo ban hạnh phúc phút giây nhẹ nhàng
Tạ ơn ý ngọc lời vàng
A Di Đà Phật lạy bàn Tổ ân

Minh Thuý Thành Nội

Tháng 1/9/2022 (dương lịch)


Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

Thơ Tranh: Mừng Xuân Nhâm Dần 2022

  

Thơ: Chinh Nguyên H.N.T.
Thơ Tranh: Kim Oanh


Nụ Hôn Mùa Xuân




Nụ hôn nồng thắm dạt dào
Cõi hồn ngây ngất xôn xao buổi đầu
Dòng mê chấp nối nhịp cầu
Đợi nhau giấc mộng đêm thâu trăng tàn.
Trầm hương lan toả mây ngàn
Tóc em buông thả một làn vấn vương
Mùi hoa bưởi thơm ngát hương
Dung nhan trinh nữ hoa nhường sắc ghen.
Cổng xuân ai đã chăng đèn
Mây giăng phố núi đan chen mơ màng
Dậu thưa điểm nhánh hoa vàng
Bài ca xuân đến tiếng nàng ngân nga.
Tiểu thư đứng trước thềm hoa
Phấn son trang điểm lụa là hương bay
Chờ nhau mở hội xuân này
Tay ôm vò rượu men say ái tình.
Nghiêng ly chạm cốc đời mình
Uống cho bầu cạn một bình thơ say
Hoàng hôn tím nhuộm đồi tây
Cho nhau tàn cuộc xuân này nhớ thêm.

Gió xuân mưa bụi ướt mềm
Chờ nhau cuộc mộng thâu đêm ngọt ngào
Lời đâu êm ái câu chào
Áo em buông thả lối vào cổng hoa.
Tiếng đêm nhỏ giọt mưa sa
Hương xuân ngào ngạt lụa là phấn son
Giấc khuya một mảnh trăng non
Lòng thêm khao khát như còn đam mê.
Trời xuân hoa lá sum suê
Trăng đêm đánh thức vỗ về tình xưa
Nghe da thịt khẽ đẩy đưa
Chạm nguồn ân ái để chừa mai sau.
Sông xưa bến cũ có nhau
Thuyền neo bến đỗ khóm lau đợi chờ
Trong khoang treo một bài thơ
Bèo trôi sóng vỗ đáy hồ trăm năm.

Lê Tuấn

Nắng Mới - Lưu Trọng Lư



(Tặng hương hồn Thầy Me)

Mỗi lần nắng mới hắt bên song.
Xao xác gà trưa gáy não nùng;
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.

Tôi nhớ Me tôi thuở thiếu thời,
Lúc Người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi.

Hình dáng Me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa.

Lưu Trọng Lư
Tiếng thu, 1939,
Librairie Centrale ấn hành, 1939



Paris Đêm Buồn



Sấm chớp đùa nhau đời thoáng hiện,
Kiếp nghèo rách toạc phố thần tiên!
Gót khuya, vết gậy hằn lên tuyết
Bóng hạc gợi ta nhớ mẹ hiền.

Năm ngoái lũ tràn qua xóm vắng,

Lạnh đầy con ngõ mấy mùa trăng?
Gió đông vi vút luồn khe vách,
Chắc buốt lưng còng nỗi giá băng!

Mưa đêm nghe tiếng ho ngàn dặm?

Ta bỗng hình dung dáng mẹ nằm,
Hiu hắt nét gìa thêm rũ rượi,
Quặn lòng! muốn chấp cánh về thăm.

Bến quê, sóng đỏ dâng mù lối,

Thân phận con người tựa lá trôi!
Một thuở ngục tù nào sợ hãi,
Mà ta sợ mẹ khóc trên đồi!

Cắn môi bật máu còn thơm sữa,

Lạy mẹ con nào khác thuở xưa,
Ngày tháng ngút sầu nên bạc tóc!
Bao xuân quên mất phút giao thừa!

Đỗ Bình

 

Hoa Tường Vi - The Climbing Roses




Hoa phảng phất mối tình trong chuyện cổ/ Mang lỡ lầm oan ức đã xa xôi
 
Trắng với hồng và tim tím nhạt
Tựa màu mây phiêu lãng cuối trời xa
Hoa tường vi như thực lại như mơ
Cùng tôi sống suốt một thời trẻ dại

Vóc nhỏ nhắn trước tầm gió thổi
Tôi hiểu điều trong lá nói lao xao
Ở nơi nào hỡi điệu ca dao
Từng ca ngợi một loài hoa chưa có

Hoa phảng phất mối tình trong chuyện cổ
Mang lỡ lầm oan ức đã xa xôi.
Hoa tường vi, thời trẻ dại của tôi
Bên mái rạ một mảnh vườn hẻo lánh

Ngày mưa bụi khắp nẻo đường vừa tạnh
Những cụm hồng, cụm tím lẫn màu xanh
Tôi có hoa bè bạn bên mình
Hoa hiểu cả những điều tôi chẳng nói.

Tôi đã qua bao thác ghềnh đá núi
Qua thời gian tóc thoáng sợi màu mưa
Hoa tường vi của những ngày xưa
Tôi vẫn nhớ một màu mây phiêu lãng.

Xuân Quỳnh
***
The Climbing Roses (Xuan Quynh’s Poem)

Flowers indistincts a love story in the fairy tale/Carrying an injustice mistake that is far away

White with pink and light purple As of the cloud color drifting around at the end of the far sky The Climbing Roses are as real also as a dream Live with me through the whole time of young age Small appearance in front of the wind range I understand what's in the whispering leaves Hey where is folk? Ever praised a flower that did not exist

Flowers indistincts a love story in a fairy tale Carrying an unjustice mistake that is far away. Climbing Roses, my foolish youth time By the thatched roof with a secluded garden The dusty rain days on the road has just stopped Clusters of pink, clusters of purple and blue as well

Translated by Nguyen Tran

Chúc Năm Mới Những Thay Đổi Mới Tốt Đẹp Hơn

Đây là bài số năm trăm chin mươi sáu (596) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo, Portland, Oregon.

Ngày Tết Dương Lịch 2022 ở Portland đã qua rồi nhưng dư âm vẫn còn đó với những ngày mưa lạnh lẽo làm ai cũng ngại ra đường, nhất là những người "không còn trẻ nữa" như chúng tôi.
Như mọi năm chàng và nàng cũng ráng thức xem chương trình ca nhạc đón giao thừa, nhưng năm nay số người tham dự xem màn trái cầu rớt xuống ở New York hình như không đông như mọi năm vì ảnh hưởng của Covid 19.
Buổi sáng Ngày đầu Năm Mới,chúng tôi thức dậy sớm hơn thường lệ lúc 8 giờ sáng để xem chương trình Pasadena Rose Parade 2022 lần thứ 133 ở Pasadena, Cali sau một năm vắng bóng vì covid 19.

Chương trình Pasadena Rose Parade với hàng chục chiếc xe hoa được thiết kế, trang hoàng rất đẹp với toàn hoa tươi, với sự diễn hành của hàng chục ban nhạc của các trường trung, đại học ở Mỹ về tham dự. Thiên hạ xem rất đông.
Chúng tôi xem chương trình này được chiếu trên đài NBC từ 8 giờ sáng đến 10 giờ sáng giờ địa phương. Thật là đã con mắt và người viết thầm cảm phục tinh thần sống đông, trẻ trung của người Mỹ, tinh thần gìn giữ truyền thống tốt đẹp của họ.
Mèn ơi! Một chương trình hay đẹp được thực hiện vời bao nhiêu công sức của nhiều người, với bao nhiêu chi phí như thế và được xem "miễn phí" trên Tivi mà không xem thiệt là "phí của trời" đầy, bạn ạ!

(Xe hoa của Queen và các Princess Pasadena Rose Parade 2022 Hình internet)

Ngày Giáng sinh và ngày Tết ở Mỹ, thiên hạ đều thích không khí sum họp gia đình bên nhau (nhất là dân ở xứ lạnh như chúng tôi) hơn là rong chơi ngoài phố như ở Việt Nam.
Năm nay vì covid 19 nên nhiều gia đình không có những buổi tiệc mừng Giáng Sinh v Năm Mới vui vẻ như mọi năm nên nhà nào cũng im thin thít. Gia đình người viết cũng thế. Thôi thì ta vui với những gì đang có trong tầm tay, trong giây phút hiện tại là được rồi. vì chúng ta còn được mạnh khỏe, còn được sống trong ngôi nhà ấm cúng đủ tiện nghi, vẫn còn hơn là những kẻ không nhà sống ngoài đường đang đói lạnh hay người bị vướng phải Covid 19 đang nằm trong bệnh viện. Như vậy có phải là chúng ta có phúc hơn nhiều người khác chẳng cho nên đừng có càm ràm, cự nự nữa, nếu gặp chuyện không vừa ý trong ngày nhé.

Vào ngày đấu năm mới nhiều người thường lập một chương trình làm việc hay sinh hoạt để cho cuộc sống được tăng tiến tốt đẹp hơn năm vừa rồi ví dụ như là họ sẽ thiết lập một chương trình tập thể dục hay "ăn diet" để cho "vòng số ba" nhỏ bớt lại. Có người sẽ lập chương trình đi du lịch đường xa xứ lạ để ngắm cảnh đẹp, mở mang kiến thức v..v...

Người viết phụ trách mục Một Cõi Thiền Nhàn cũng cố gắng đi sưu tầm những tài liệu giúp mình có cái nhìn mới hơn, lạc quan hơn về cuộc sống của mình.
Mời Bạn cùng đọc với người viét nhé.

Bốn Câu Chuyện Giúp Bạn Thay Đổi Nhân Sinh Quan


Đời người là thành hay bại đều phụ thuộc vào thái độ của chính mình. Bạn nhìn đời qua lăng kính nào thì sẽ cho ra màu sắc đó. Vậy hà cớ chi không chọn cho mình những sắc màu tươi sáng, trong trẻo hơn?

Những câu chuyện nhỏ dưới đây hy vọng có thể giúp bạn có được cái nhìn mới hơn, lạc quan hơn về cuộc sống của chính mình.

1. Thay đổi lập trường, suy nghĩ.

Có một người mù đến nhà bạn thân chơi. Sau khi dùng cơm tối xong xuôi, người mù chuẩn bị ra về. Lúc ấy, chủ nhà mới đưa cho anh ta một chiếc đèn pin và nói: “Trời tối không nhìn thấy đường, anh cầm cái đèn này soi đường cho sáng rồi về“.

Người mù chau mày trong giây lát rồi nói: “Anh biết rõ tôi là một người mù còn chuẩn bị đèn soi đường chẳng phải là cười nhạo tôi sao?“.
Vị chủ nhà mỉm cười, đáp: “Anh hiểu nhầm ý tôi rồi. Anh đi đường, nhiều người khác cũng đi đường. Soi đường không phải để cho anh nhìn mà để người khác trông thấy không đâm vào anh“.
Người mù bấy giờ mới ngẩn người ngộ ra.

Suy ngẫm: Cổ nhân nói, người ta đến tuổi 40 thì không còn chuyện gì làm cho mê hoặc, đến tuổi 50 thì đã biết được mệnh Trời. Khi đến tuổi trung niên, hãy suy xét vấn đề một cách trầm tĩnh hơn. Làm người chính là cần phải học cách đứng từ nhiều góc độ khác nhau mà nhìn nhận cuộc đời. Như vậy bạn vừa có thể hiểu thấu được ý tốt của người khác, lại vừa có thể tránh được phiền não trong lòng.Làm người chính là cần phải học cách đứng từ nhiều góc độ khác nhau mà nhìn nhận cuộc đời.

2. Biết cách sống lạc quan.

Ba người công nhân đang xây một bức tường, có người đi ngang qua hỏi: “Các anh đang làm gì vậy?“.
Người thứ nhất cau có trả lời: “Anh không nhìn thấy sao? Xây tường chứ làm gì nữa!“.
Người thứ hai bình thản nói: “Chúng tôi đang xây dựng một cao ốc“.
Người thứ ba mỉm cười rạng rỡ bảo: “Chúng tôi đang xây dựng một thành phố mới”.

10 năm sau…
Người thứ nhất vẫn đang xây một bức tường khác trên công trường mới. Người thứ hai làm kỹ sư xây dựng, đang ngồi ở văn phòng thiết kế công trình. Còn người thứ ba chính là ông chủ của hai người kia.

Suy ngẫm: Một tinh thần lạc quan sẽ giúp cuộc sống bạn thực sự tươi đẹp hơn. Người càng lạc quan thì thân thể càng khỏe mạnh, tinh thần càng minh mẫn. Khi đối mặt với khó khăn, người lạc quan thường sớm tìm ra được lối thoát. Bởi vì họ nhìn đời bằng một lăng kính tích cực nên những điều may mắn cũng sẽ đến. Nguyễn Du viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” chính là có ý tứ đó.

3. Học cách khoan dung.

Có một cậu bé tính khí nóng nảy, hẹp hòi, thường hay cáu giận. Một hôm người cha đưa cho cậu bé một túi đinh, chiếc búa và dẫn đến chiếc bảng gỗ sau nhà. Cha cậu nói: “Sau này mỗi lần con không kiềm chế được cảm xúc hay nổi giận làm tổn thương ai, hãy đóng một chiếc đinh lên bảng“.

Ngày thứ nhất cậu đã đóng rất nhiều đinh lên bảng nhưng qua mỗi ngày số đinh trên bảng đã ít dần đi. Cậu phát hiện rằng tính khí của mình cũng ngày một tốt hơn. Cậu học được cách khống chế cảm xúc và nhận ra chuyện đó còn dễ hơn cả đóng đinh lên bảng.

Sau cùng, cho đến một ngày cậu đã không còn phải đóng chiếc đinh nào lên bảng nữa. Cậu đem sự việc kể với cha mình. Cha cậu lại nói: “Từ nay, cứ mỗi khi con làm được một việc tốt, giúp người khác vui, hãy nhổ một chiếc đinh ra“.

Câu chuyện người cha đưa cho cậu bé một túi đinh, chiếc búa cho chúng ta hiểu một giá trị rất sâu sắc.
Ngày qua ngày, số đinh trên bảng lại không ngừng ít đi cho đến một hôm tất cả đều đã được nhổ hết. Người cha nắm lấy tay cậu bé, đứng trước chiếc bảng nói: “Con trai ngoan của cha, con đã làm được rất tốt. Nhưng con hãy nhìn những cái lỗ trên tấm bảng này mà xem! Nó vĩnh viễn không thể nào hết được. Cũng giống như khi con làm tổn thương người khác vậy, cũng sẽ để lại những vết thương không thể xóa trong lòng họ”.

Suy ngẫm: Làm người cần phải học cách khống chế cảm xúc bản thân, ngay cả khi tức giận cũng vẫn phải biết lý lẽ một chút. Mà rốt cuộc tức giận cũng chỉ là làm tổn thương người và tự đả thương mình mà thôi, dù gì cũng đều không có lợi. Nếu có thể khoan dung, độ lượng với những sai sót của người khác, bạn sẽ cảm nhận được chính cuộc sống của mình cũng sẽ tươi đẹp hơn. Tuổi trung niên càng phải độ lượng hơn bởi lúc này bạn đã không còn cái vồn vã, xốc nổi thời thanh xuân, tâm tình đã trầm ổn, đã biết cách nhìn nhận mọi chuyện bình hòa hơn.

4. Thay đổi quan niệm.

Có người thợ mộc đốn hạ một chiếc cây, sau đó làm ra 3 chiếc thùng gỗ. Một chiếc đựng phân, gọi là thùng phân, ai thấy cũng đều tránh xa. Một chiếc đựng nước, gọi là thùng nước, mọi người đều dùng. Một chiếc đựng rượu, gọi là thùng rượu, là thức uống của nhiều người.
Đều là một chiếc thùng nhưng chứa những thứ khác nhau sẽ có vận mệnh khác nhau, có cái bị xa lánh, ghét bỏ, có cái lại được yêu quý, luôn đặt bên mình. Chẳng phải đời người cũng vậy sao?

Suy ngẫm: Người ta mang trong mình quan niệm thế nào thì số phận cũng sẽ chiểu theo thế đó. Chớ dùng những quan niệm cũ để sống cuộc đời hiện tại. Hãy học cách thích nghi với cuộc sống mới mỗi ngày.

( Nguồn:Sưu tầm trên internet)

Năm Mới người viết xin chúc toàn thể quý thân hữu Một Năm Mới nhiều sức khỏe, thân tâm thường lạc để sống vui, sống khỏe, sống trường thọ nhé.

Xin mời quý bạn xem youtube dưới đây thay cho lời kết luận bài tâm tình đầu năm mới của người viết nhé.
Watch "Chỉ Có Một Tấm Lòng" on YouTube

Xin chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 596-ORTB 1021-1422)

Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

Biển Chiều Nhớ Ngõ Hoàng Lan - Thơ: Tuệ Nga Nhạc: Mộc Thiêng Hòa âm: Quang Đạt Hát: Kim Ngân


Thơ: Tuệ Nga 
Nhạc: Mộc Thiêng 
Hòa âm: Quang Đạt 
Tiếng Hát: Kim Ngân



     Có nàng thẩn thẩn thờ thờ
Ngoài hiên lá rụng cũng ngơ ngẩn nhìn
     Sao em lại giống như mình
Mượn vần tỏ ý gợi tình qua thơ
     Những đêm sương phủ sao mờ
Bờ vai ướt đẫm mong chờ gặp ai
     Bấc về lạnh lẽo canh dài
Chỉ nghe tiếng gió sao mai lặn rồi.

Quên Đi

Tìm Cả Nôn Nao Một Đời - Searching Eagerly For A Whole Life Through



Tìm Cả Nôn Nao Một Đời

Một đời mệt mỏi tìm nhau
Dòng sông ly biệt chung đau nỗi sầu
Duyên tơ ngày đó còn đâu
Thả hồn trôi mộng tình đầu xót xa

Tìm nhau khắp nẻo người qua
Trái tim cằn cỗi chết già tuổi non
Đêm đêm dõi bóng mỏi mòn
Chợt mơ chợt tỉnh lòng còn mộng du

Đường trần trắc trở thâm u
Con tim khao khát ngục tù đam mê
Tìm nhau giữa chốn sơn khê
Tư bề vắng ngắt ủ ê cõi lòng

Mịt mùng bóng tối mênh mông
Lời tình thôi thúc thoát vòng khổ đau
Dư âm ngày cũ ngọt ngào
Thuở xa xưa ấy tình trao vẫn đầy

Hỡi người người có quanh đây
Cho ta chắp cánh theo mây đến cùng
Gần xa trông cõi muôn trùng
Ngỡ ngàng chỉ thấy một vùng tiêu sơ

Cây sầu kết trái ảo mơ
Một hình bóng cũ tôn thờ chẳng phai
Tìm nhau ngày tiếp nối ngày
Tin yêu hy vọng luôn hoài cố nhân

Người xa chợt bỗng thoáng gần
Bồi hồi xao xuyến như lần mới quen
Lụn tàn mấy lượt khêu đèn
Trời ơi mơ ước nhỏ nhen chưa thành

Phù du một kiếp mỏng manh
Nguyện thề giữ chặt tâm lành tìm nhau
Ngại gì biển rộng non cao
Tìm nhau tìm cả nôn nao một đời

Kim Phượng
***
Bài Dịch:

Searching Eagerly For A Whole Life Through

by Kim Phượng

We have spent a lifetime to tiringly search for each other
And to join our sorrows together by dipping in the farewell river
The cord of the previous predestined love can no longer be for finding
Our souls wander, our first love dream lost and feel the stomach burning
We’ve been searching for each other on all roads where people passing by
Until our hearts wither and in old age and at young time they die
We are gradually wearing out with nightly shadow searching
To be now dreaming now sobering yet our souls are still sleep walking
The road of life has hitches and is mysteriously darkened
While the heart is yearning for the prison of blind passions
In ravine and mountainous areas we are searching for each other earnestly
As it is empty on four sides we feel the heart so sorrowfully

Yet in the misty darkness that is vast in its immensity
The loving words are urging us to escape from the suffering circle earnestly
The resounding voice of previous time still sounds so sweetly
Reminding us of the time when love was given over so totally and fully
Oh my lover, are you here and are you around
To the end and on joined wings let me follow you on the clouds
Yet as I scan near and far over the areas of layers of mountains
I am astounded as I can only see a totally desolate and empty region
A sorrowful tree is having dreamily illusionary fruits in its giving
An old shadow is what I am to have in my unfading worshipping
I am searching for you continuously as day by day is passing by
I hope and have faith as I am constantly missing the old friend of mine
The distant person has suddenly become so close as if beside me
As in the first time of acquaintance I feel fretty and unsettled naturally
And in raising the wicks of the lamps at night so many times
Alas, it is only a simple dream, yet mine has not yet materialized
As a lifetime is so fragile and is only a fleeting moment
I vow that I will search for my other half in my wholesome intention
Minding not the vast oceans and high mountains in regard to you
Since searching means searching eagerly for a whole life through

Translated from Vietnamese into English by Hương Cau Cao Tân
On 06 January, 2022, in British Columbia, Canada

Thanh Bình Nhạc 清平樂 – Án Kỷ Đạo

 清平樂 - 晏幾道         Thanh Bình Nhạc – Án Kỷ Đạo
 
留人不                 Lưu nhân bất trú.
醉解蘭舟             Túy giải lan châu khứ.
一棹碧濤春水     Nhất trạo bích đào xuân thủy lộ.
過盡曉鶯啼         Quá tận hiểu oanh đề xứ.
 
渡頭楊柳青         Độ đầu dương liễu thanh thanh.
枝枝葉葉離         Chi chi diệp diệp ly tình.
此後錦書休寄,         Thử hậu cẩm thư hưu ký,
畫樓雲雨無         Họa lâu vân vũ vô bằng.
 
Chú Thích
1 Thanh bình nhạc 清平樂: tên từ điệu, vì dùng thanh nhạc 清樂và bình nhạc 平樂của nhạc phủ 乐府nên có tên này. Tổng cộng bài từ có 46 chữ. Đoạn trên có 4 câu, 4 trắc vận. Đoạn dưới có 4 câu và 3 bình vận. Cách luật:
 
X B X T T vận
X T B B T vận
X T X B B T T vận
X T X B X T vận
  
X B X T B B bình vận
X B X T B B vận
X T X B X T cú
X B X T B B vận
 
B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần
 
2 Giải : cởi, mở (dây cột thuyền).
3 Lan châu 蘭舟: thuyền làm bằng gỗ mộc lan, phiếm chỉ thuyền.
4 Trạo : mái chèo.
5 Bích đào 碧濤: sóng biếc.
6 Xuân thủy lộ 春水路: dòng nước chẩy trong mùa xuân.
7 Hiểu oanh đề xứ 曉鶯啼處: nơi có chim oanh hót vào buổi sáng, ám chỉ cảnh nên thơ.
8 Độ đầu 渡頭: bến nước nơi thuyền bè lai vãng. Nguyên câu thơ này trích dụng ý của 2 câu thơ trong bài “Dương Liễu từ楊柳詞” của Lưu Vũ Tích 劉禹錫:
 
長安陌上無窮樹,Trường An mạch thượng vô cùng thụ,  
唯有垂楊管別離。Duy hữu thùy dương quản biệt ly.
Đường ở Trường An có rất nhiều cây,
Duy có cây dương liễu rủ lo lắng sự biệt ly.
 
9 Cẩm thư 錦書: thư gấm, thư viết trên vải gấm, phiếm chỉ tình thư.
10 Hưu : nghỉ, đừng, chớ.
11 Họa lâu 畫樓: nhà lầu hoa lệ.
12 Vân Vũ 雲雨: mây mưa, ám chỉ nam nữ hoan tình.
13 Vô bằng 無憑: không có bằng cớ, không có nữa.
 
Dịch Nghĩa
Giữ người không được.
Say mở dây neo của thuyền lan ra đi.
Một mái chèo vượt sóng biếc trên dòng nước xuân.
Đi qua hết những nơi có chim oanh hót mỗi buổi sáng.
 
Nơi bến nước duơng liễu xanh xanh.
Từng cành từng lá chứa đầy tình cảm xa nhau.
Từ nay về sau thư tình không gửi nữa,
Trên căn lầu hoa lệ không còn dấu tích của mối tình nồng nàn.
 
Phỏng Dịch
Không Giữ Được Người.
 
Không sao giữ được người yêu,
Say sưa cởi mở dây neo con thuyền.
Mái chèo sóng biếc liên miên,
Dòng xuân qua hết những miền nên thơ.
Chim oanh hót sáng tinh mơ,
 
Xanh xanh dương liễu bến xưa hận tình.
Chia ly từng lá từng cành,
Từ nay thư gấm không đành gửi ai.
Lầu cao dấu tích tình say,
Sạch mùi hương phấn ngày ngày bâng khuâng.
 
HHD 8-2019
*** 
Bản Dịch:
 
Thanh Bình Nhạc
 
1-     
Giữ người chẳng đặng
Say, tháo dây đi thẳng
Sóng biếc một chèo sông xuân lặng
Qua hết nơi oanh hót sáng
 
Bến nước dương liễu xanh xanh
Tình ly lá lá cành cành
Thư gấm về sau thôi gởi
Lầu hoa ân ái lạnh tanh!
 
2-
Khẩn khoản giữ người chẳng đặng
Rượu say tháo dây đi thẳng
Một chèo sóng biếc sông xuân
Qua hết nơi oanh hót sáng
 
Bến đò dương liễu xanh xanh
Tình ly lá lá cành cành
Thư gấm về sau thôi gởi
Lầu hoa ân ái lạnh tanh!
 
Lộc Bắc

***
Biệt Ly

Níu không được thôi đành quay bước
Thuyền lan nương sóng nước lênh đênh
Hồn còn chếnh choáng men tình
Sơn ca lảnh lót bình minh đón chào
Nơi rặng liễu lao xao cỏ biếc
Lá trên cành tha thiết gọi nhau
Lửa hương quạnh vắng mái lầu
Uyên ương gãy cánh âm hao tuyệt mù


Yên Nhiên

Trường Dược



Qua phim thăm lại trường xưa

Kỷ niệm bừng lên như nước ùa 

Rạt rào cảm xúc thương ngày cũ

Những buổi đến trường, nắng hay mưa

 

Thênh thang cửa mở đón ta vào

Vườn dược còn đây lá rì rào

Vàng  xưa cũ kỹ  phòng hành chánh

Tượng Galien  cũng vẫn thuở nào

 

Một chút ngỡ ngàng của đổi thay

Toà nhà chính  cũ của những ngày

Ghi ghi chép chép lời thầy giảng

Chồng cours năm cũ gió đã bay

 

Nhà cũ sập rồi nay thành sân

Cỏ xanh xanh mướt, trái banh lần

Kế bên cũng là sân bóng rồ 

Thể dục thể thao nở rần rần

 

Thênh thang giảng đường lớn cuối sân

Lầu cao ngói đỏ, nhớ những lần

Đến sớm, tập bày ra: giành chỗ 

Phái nữ ngồi quanh, chớ đến gần.

 

Đầu dãy nhà to, giảng đường con

Cộp cộp, thầy Tiếng, giầy rất dòn

Bàn chân ai trắng mà thon thả

Nguyễn Hạc Hương Thư, gót còn son

 

Phật sống thầy Trang rất hiền từ

Từ bi thầy Tạo giống thầy tu

Oai phong lừng lững gương Trưng Triệu

Ai đó? Cô Lâu, chớ cười trừ 

 

Bồi hồi nhìn lại cảnh ngày xưa 

Ôi chao! Thương mấy, nhớ sao vừa 

Giờ đây  kỷ niệm lưu  ký ức

Bèo dạt máy trôi,  đời gió mưa 

 

Sao Khuê 

 

Tự Nhiên Hương - Theo Hương Gió Thoảng


Bài Xướng:

Tự Nhiên Hương

Có tài hữu xạ "tự nhiên hương"
Tên tuổi đồn xa cũng lẽ thường
Văn giỏi thế nhân phong tước bá
Thơ hay thiên hạ tặng danh vương
Vun tình hòa ái cho người mến
Giữ lễ nhún nhường để bạn thương
Học hỏi trau dồi năng sáng tác
Lo chi chẳng nức tiếng muôn phương


Nhất Hùng

Viết Tặng Quý Văn Thi Hữu
***
Bài Họa: 

Theo Hương Gió Thoảng

Hoa nở vườn Xuân đượm sắc hương
Vài hôm tàn tạ chuyện bình thường
Cuộc đời chìm nổi - đầy sân hận
Thế sự thăng trầm - ngập vấn vương
Nhân bản làm bao người quý trọng
Vị tha khiến lắm kẻ yêu thương
Hơn thua, thành bại, theo mây khói
Hãy mở rộng lòng trải tứ phương.

 

Thảo Chương Trần Quốc Việt
5-01-2022

Tản Mạn Đầu Năm 2022: “Người Xa Lạ”… Giữa Chúng Ta


Tác phẩm đầu tay L’Étranger (Người Xa Lạ) của nhà văn Albert Camus (1913-1960) ra đời năm 1942, trở thành “hiện tượng” trong văn chương Pháp với Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialisme). Trong văn học, hai nhà văn Simone de Beauvoir (1908-1986) và J.P. Sartre (1905-1980) gặp nhau từ năm 1929 và yêu nhau, sáng lập tờ báo “Thời Mới” (Les Temps Modernes) để truyền bá chủ nghĩa hiện sinh ra ngoài phong trào văn học. Kết thúc cuộc tình Simone de Beauvoir viết cuốn Adieux: Một Lời Chia Tay Với Sartre (1981).

Tiểu thuyết đầu tiên của J.P Sartre tên La Nausée (Buồn Nôn) về triết thuyết hiện sinh. Dưới hình thức nhật ký, tác giả cảm nhận sâu sắc nội tâm của con người trong cuộc sống với thế giới bên ngoài với bao nỗi băn khoăn, ray rứt, và cả sự tàn nhẫn khó chấp nhận xảy ra trong bối cảnh ám ảnh bản thân!

Cùng cổ xúy cho Chủ Nghĩa Hiện Sinh, tình bạn giữa Albert Camus và Jean-Paul Sartre vào giữa thập niên 30, rạn nứt vào năm 1952… Và từ đó, ông viết những tác phẩm nói lên “phi lý” của con người trong cuộc sống.

Bước vào năm 2022, tác phẩm Người Xa Lạ tròn 80 năm, nhân dịp nầy mạn đàm về tựa đề tác phẩm trong quá khứ và hình ảnh đó trong chúng ta hiện tại.

Với các tác phẩm của Albert Camus được Giải Nobel Văn Chương năm 1957. Trong bài diễn văn ngắn gọn của ông, có đoạn: “Dĩ nhiên là mỗi thế hệ đều tưởng mình có nghĩa vụ xây dựng lại thế giới. Có điều là thế hệ của tôi lại biết rằng nó sẽ không xây dựng lại được thế giới ấy. Nhưng nhiệm vụ thế hệ tôi lại to tát hơn, đó là ngăn chặn một thế giới đang bị tàn phá… Thời kỳ trí tuệ tự hạ mình đến mức chỉ để phục vụ cho thù hận và áp bức, cái thế hệ này của tôi, từ những phủ định của chính mình, đã phải dựng xây lại ngay trong bản thân mình và xung quanh mình một chút giá trị gì còn lại đủ để tạo thành niềm kiêu hãnh sống và niềm kiêu hãnh chết…

… Không chắc gì họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ mênh mông to tát đó, nhưng chắc chắn là, khắp nơi trên thế giới, thế hệ này đã chấp nhận cuộc thách thức kép - chân lý và tự do, và nếu có phải chết nó cũng biết chết mà không hề oán hận cuộc thách thức ấy. Chính thế hệ này đáng được chào đón và khích lệ ở khắp nơi nó đang hiện diện, và nhất là ở nơi nào nó đang xả thân. Bất kể thế nào, tôi tin rằng quý vị cũng hết sức đồng tình với tôi rằng tôi muốn tặng lại họ niềm vinh dự quý vị đã trao cho tôi”. (Phạm Toàn dịch).

Cha người Pháp, mẹ người Tây Ban Nha, Albert Camus sinh ngày 7 tháng 11 năm 1913 ở Mondovi, xứ Algérie Bắc Phi. Năm 1914, Đệ Nhất Thế Chiến nổ, cha ông chết ở Quân Y Viện St Brieuc, ông không biết mặt cha. Sau khi chồng chết, vì nghèo bà Sintes mang các con về vùng ngoại ô Belcourt ở chung với mẹ và người chú bị tê liệt.

Năm 1930 ông đậu Tú Tài và để có tiền ăn học, ông làm đủ nghề... thư ký cho sở khí tượng, tiệm bán đồ phụ tùng xe hơi rồi công ty gởi hàng hóa. Lên đại học, ông theo môn triết và đỗ Cử Nhân năm 1935, Cao Học 1936 ở Algérie. Camus viết báo, hoạt động đòi công bằng, bác ái cho dân bản xứ Algérie chống chính quyền thuộc địa. Báo bị đóng cửa không tìm ra việc nên phải rời về Paris. Camus ra nhập đảng Cộng Sản năm 1934 khi ở Algérie và đến năm 1937 khi ở Pháp, ông bỏ đảng.
Những tác phẩm của Albert Camus vào thập niên 60 được dịch ra tiếng Việt và không xa lạ gì với độc giả ở miền Nam VN. Bùi Giáng dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus như: Le Malentendu (Ngộ Nhận), Caligula (Bạo Chúa Caligula), L’Été (Mùa Hè, nhan đề Mùa Hè Sa Mạc, Le Mythe de Sisyphe (Huyền Thoại Sisyphe), nhan đề Biển Đông Xe Cát, L’Homme Révolté (Con Người Phản Kháng)…

La Chute (Sa Đọa), Djémila (Gió Về), L'Envers et L'Endroit (Bề Trái & Bề Mặt), Noces (Giao Cảm), Trần Thiện Đạo dịch. La Femme Adultère (Người Đàn Bà Ngoại Tình), Nguyễn Văn Trung dịch, L’Exil et le Royaume (Lưu Đày & Quê Nhà), Trần Phong Giao và Vũ Đình Lưu dịch… Tác phẩm La Peste (Dịch Hạch), Hoàng Văn Đức dịch, 1966; Võ Văn Dung dịch, 1971.

Có thể nói, sau hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Kẻ Xa Lạ (1942) và Dịch Hạch (1947), thì tiểu luận Thần Thoại Sisyphus (Le Mythe de Sisyphe, 1942) là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Albert Camus.

Thần thoại về Sisyphus, tiểu luận triết học của Albert Camus với lập luận của điều phi lý từ thời cổ đại xa xưa vẫn tồn đọng trong thời kỳ của Albert Camus. Tựa đề tiểu luận, vốn là tên trong chương sau cùng, được gợi dẫn từ câu chuyện của chàng Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, bắt đầu từ lập luận phi lý rằng đời sống của mỗi cá nhân, ngay cả những cá nhân tự xác định cho mình một lý tưởng, mục đích cao đẹp, thường bị vây bủa trong những hành động đôi khi rất hoài công và vô vọng.

Tháng 11 năm 2019, bài viết cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (2020), tôi viết bài “Ông Năm Chuột & Số Phận Phan Khôi” trong đó có đề cập đến số phận tác giả Ông Năm Chuột bị hẩm hiu trong vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm, “Phan Khôi và vợ con bị đuổi ra khỏi nhà, phải tìm nơi tá túc ở số 10 Nguyễn Thượng Hiền, rồi căn nhà nhỏ tồi tàn 73 phố Thuốc Bắc…”. Họa sĩ Trần Duy, chứng nhân thời cuộc nên ghi lại hình ảnh nầy:

“Một buổi chiều tôi đến 51 Trần Hưng Đạo thì gặp cảnh: Một quan chức có quyền lực quát đuổi vợ chồng ông ra khỏi số nhà 51 Trần Hưng Đạo.

Người này quát lớn: Tống cổ thằng già khốn nạn này ra khỏi đây!

Vợ ông, bà Huệ ôm chăn màn, sách vở; ông Phan Khôi lảo đảo theo sau. Ra cổng gặp tôi, ông chào và nói: Thôi, anh về đi… Buồn không cần thiết!

Đến buồn mà cũng không cần thiết, kể cả khi hắt bát nước đi vẫn biết là không hớt lại được!

Hôm sau tôi gặp lại vị quan chức hôm qua, nguyên là bạn học cùng tôi thời tiểu học ở Quy Nhơn, Bình Định, tôi hỏi: Ăn ở đối xử với nhau như vậy có quá lắm không? Nhất là tầm tuổi ông Phan cũng ngang hàng cha chú chúng mình?

Ông bạn tôi cười nói: Cậu có biết chuyện lên đồng không? Người lên đồng nói những điều không do họ chịu trách nhiệm, họ nói những điều đến từ thế giới khác…”

Trong khi đó, Albert Camus với tác phẩm từ căn bệnh quái ác do loài chuột gây ra đã đưa ông lên đài danh vọng cũng vào thời điểm vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm.

Tác phẩm L’Étranger được dịch nhiều nhất, (Kẻ Xa Lạ) Dương Kiền & Bùi Ngọc Dung dịch - Người Xa Lạ, Tuấn Minh dịch - Kẻ Xa Lạ, Lê Thanh Hoàng Dân & Mai Vi Phúc dịch - Người Xa Lạ, Võ Lang dịch…
Bùi Giáng là dịch giả đã dịch nhiều tác phẩm của Albert Camus, có lẽ ông cảm nhận được nội dung ẩn ý trong tác phẩm giữa con người và cuộc sống.

Ngày 2 tháng 4 năm 2020 tôi viết bài “Từ tác phẩm Dịch Hạch đến dịch Covid-19”. Ngày 8 tháng 5 năm 2020, tôi viết bài “Trong Cơn Đại Dịch Covid-19, đọc lại tác phẩm Dịch Hạch & Trăm Năm Cô Đơn”… để nhìn lại thời dĩ vãng với giai đoạn hiện tại.

Trở lại với tác phẩm Người Xa Lạ, Võ Lang dịch, Thời Mới, 1965. Kẻ Xa Lạ, Dương Kiền và Bùi Ngọc Dung dịch, Ngày Nay, 1965. Kẻ Xa Lạ, Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vi Phúc dịch, nhà xuất bản Trẻ, 1973. Người Xa Lạ, Tuấn Minh dịch. Được giải thưởng dịch thuật năm 1970 của Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa.
Với các bản dịch Việt ngữ, Người Xa Lạ - Kẻ Xa Lạ rất quen thuộc với độc giả miền Nam VN thời đó chủ nghĩa và quan niệm (triết lý) hiện sinh đang “trăm hoa đua nở” từ trời Âu… Và, trong thời điểm chiến tranh xảy ra trong nước với thân phận người trai trong cuộc chiến trở thành chứng nhân phi lý xảy ra trong cuộc sống và đất nước!

Meursault, nhân vật chính trong “Người Xa Lạ” là một kẻ dửng dưng, thậm chí dửng dưng trước tin mẹ của mình qua đời; đi tắm biển rồi tình cờ phạm tội giết người; khi tòa hỏi lý do phạm tội thì đổ tại mặt trời… Ngay cả khi đối diện với án tử hình, chàng cũng chỉ mong có thật nhiều người tới xem buổi hành hình và chửi rủa, để không cảm thấy lẻ loi, để mọi điều trọn vẹn.

Tác phẩm chỉ 12 chương, câu cuối cùng “… Tôi chỉ còn ao ước đến ngày hành quyết tôi sẽ có rất nhiều khán giả và họ sẽ tiếp đón tôi với những tiếng hò hét căm hờn”.

Hình ảnh Meursault coi như con người bất thường vì thái độ dửng dưng ngay cả cái chết của người mẹ rồi hành động tội ác và cả khi nhận bản án tử hình. Phải chăng “Người Xa Lạ” là người bị tự kỷ ám thị với tha nhân và xã hội.

Theo bài viết của nhà văn Thụy Khuê: “Meursault biểu trưng cho “cái không biết” của con người, về người khác, về chính mình. Cái “xa lạ” giữa mình với người khác, cái xa lạ giữa mình và chính mình. Và đó là nỗi đơn côi cùng cực của con người đối với chính mình: Sự xa lạ đối với chính mình...

Người Xa Lạ một trong những cuốn tiểu thuyết chủ yếu của Pháp trong thế kỷ XX. Tính chất bí mật, văn phong lạ, cách đặt vấn đề thân phận con người lồng trong hai nét chính phi lý và bất khả tri, mở cửa cho nhiều ngòi bút khác đến sau. Người Xa Lạ như một bi kịch kín của con người muốn khám phá bản thân mình trong một mê cung, không lối thoát, và cho đến phút chót, người ấy vẫn “xa lạ” với chính mình...”

Trong thời gian qua, tôi bắt gặp hình ảnh “Người Xa Lạ” xảy ra trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ và cả hải ngoại trước nội tình chính trị với kỳ bầu cử Tổng Thống năm 2020. Qua ba thập niên sống trên xứ sở nầy, tôi đã chứng kiến những cuộc bầu cử Tổng Thống (4 năm một kỳ), với hai chính đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, cử tri người Mỹ gốc Việt tùy ý và vui vẻ bày tỏ quan điểm của mình để chọn ứng cử viên Tổng Thống của Cộng Hòa hay Dân Chủ. Trong tình bạn bè cũng có những lần tranh cãi nhau tuy bất đồng nhưng không bất hòa để dẫn đến tình trạng “gà nhà bôi mặt đá nhau” rồi trở thành “Người Xa Lạ”. Nhà thơ Ngọc Hoài Phương với thi phẩm Cõi Tạm đã nhiều lần chia sẻ với tôi rằng thế hệ chúng ta tuy người Mỹ gốc Việt nhưng vẫn coi nơi nầy như mảnh đất tạm dung, có lẽ ở các thế hệ sau.

Thuở còn học trung học, khoái chuyện xảy ra dưới thời Tự Đức với nhà thơ Chu Thần Cao Bá Quát (1809-1854), lúc đó văn thần Phan Văn Nhã được lệnh vua chấp bút bài văn Ngọc Diệp liệt kê và ca ngợi các bậc tài hoa nổi danh trong triều. Thảo xong, Phan Văn Nhã cho tổ chức buổi tiệc khoản đãi quần thần để khoe áng văn bất hủ. Bài văn đến tay quan Thượng Thư Võ Phạm Khải, quan thượng thư vừa liếc xem qua đã phán “Văn mà thế này thì đến chó cũng làm được!” Tác giả tức khí, hai bên lời qua tiếng lại, cãi nhau ỏm tỏi, chẳng ai chịu ai! Hết võ mồm thì đến dụng võ chân tay! Sự việc đến tai vua Tự Đức. Vua Tự Đức cho mời quan Hành Tẩu Bộ Lễ (nhà thơ Cao Chu Thần) trình bày cho nhà vua nắm rõ mọi chuyện.

Bản báo cáo (giai thoại văn học), ngắn gọn như sau:

Tiền, Quát bất tri
Hậu, Quát bất tri
Trung gian Quát chí
Đản kiến:
Thượng bàn hô cẩu
Hạ bàn hô cẩu!
Thượng hạ giai cẩu!
Lưỡng tương đấu ẩu
Thần gián bất đắc
Thần kiến thế nguy
Thần hoảng thần tẩu!”
(Trước, Quát không biết. Sau, Quát chẳng hay. Nửa chừng Quát đến. Thấy như thế này:

Bàn trên chửi chó! Bàn dưới mắng chó! Trên dưới đều chó. Hai bên choảng nhau. Thần can chẳng được. Thần thấy thế nguy. Thần sợ, thần chuồn!)

Hai thế kỷ sau, sống trên xứ người lại chứng kiến cảnh tượng “lưỡng tương đấu ẩu” xảy ra trong kỳ bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2020, với người Việt lưu vong của chúng ta tình trạng không thể ngờ chuyện phe nầy, cánh nọ… trong cộng đồng, bạn bè, người thân trong gia đình và cả những người bên tận trời Âu để rồi trở thành “Người Xa Lạ” và còn ấm ức, hận thù…

Có lẽ, nỗi đau của anh cũng là nỗi đau của người nhiều trong hoàn cảnh nầy! Phi lý quá, chuyện ngoài ngõ không bỏ ngoài tai mà mang vào nhà để rồi coi như “người dưng nước lã”! Người xưa đã nói “thái quá bất cập” nay phe nầy, phe kia bất đồng chính kiến thì phang nay chữ “cuồng”… Nhà báo Lê Dư (1884- 1967), gốc Quảng Nam, em rể nhà văn Phan Khôi, cộng tác với các báo: Nam Phong tạp chí, Hữu Thanh, Đông Tây... lấy bút hiệu là Sở Cuồng để tả xung hữu đột.

Tháng 8/2020 tôi viết: Phiếm Luận - Ngẫm Chuyện: Cuồng

Trích bài viết:
Ngày xưa, vào đời nhà Trần, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) là bậc quân sự lỗi lạc, học giả uyên bác, có tước hiệu Hưng Ninh Vương.

Ngài cùng với Đức Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Vương) đem hơn hai vạn quân giao chiến, với tướng Nguyên Mông, đuổi Thoát Hoan chui ống đồng, chạy dài. Khi ngài xong việc rửa thù báo hận, xa chốn bụi trần, trở thành thiền sư Phật Giáo Đại Thừa.
Trong bài thơ Phóng Cuồng Ngâm của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhắc đến chữ “cuồng”:

… Cuồng ngô cuồng hề Phổ Hóa cuồng
Đốt đốt phù vân hề phú quý
Hu hu quá khích hề niên quang
Hồ vi hề quan đồ hiểm trở…

… Cuồng cái ta cuồng chừ, Phổ Hóa cuồng!
Ối ối! Giàu sang chừ, lưng trời mây nổi,
Chà chà! Năm tháng chừ, bóng ngựa lướt ngang!
Nói sao chừ, chông gai bể hoạn…
(Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ)

(Chú thích: Thiền sư Phổ Hóa vào thế kỷ thứ 9 ở Trung Hoa, lập ra nhánh thiền là Phổ Hóa tông.)

Trong bài Phóng Cuồng Ngâm, bậc thiên sư nói về chữ “cuồng” mà xưa nay, thường hiểu là ngông, là điên. Đó là hiểu theo nghĩa đen. Còn nghĩa khác là cuồng nhiệt, ý khí mạnh mẽ. Ông Lý Việt Dũng (nghiên cứu và dịch sách Phật Giáo) giải thích trong ý thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ:

“Phóng cuồng ở đây không có nghĩa là điên cuồng hay cuồng nhiệt gì cả, mà chẳng qua Tuệ Trung Thượng Sĩ không muốn coi khúc ngâm của mình là một bài ca chứng đạo hay một bài kệ truyền pháp mẫu mực, trang nghiêm, chỉ xem đó là một khúc hát ngông nghênh, phóng khoáng có tính chất tiêu dao của một thiền sư đạt đạo thắm đượm tự nhiên khí chất của một nho sĩ lãng tử và một đạo sĩ thoát tục.
Nói chung là của một con người phiêu nhiên không bị ràng buộc. Cho nên ta phải hiểu chữ ‘phóng cuồng’ đây chỉ là một cách nói tự khiêm mà cũng để nói lên tính chất thung dung tự tại với người đạt đạo, đạt quan, ở Đạo và ở Thiền, vốn bình thường giản dị chớ không có gì phi thường, ẩn mật, bí tàng như nhiều người lầm tưởng”…

Chữ “cuồng” mang ý nghĩa thái quá khi nghĩ hay hành động (xấu) nhưng không đơn thuần như vậy đôi khi nó đi kèm với chữ kế tiếp để diễn đạt cảm nghĩ, thái độ hăng say, nhiệt tình (tốt). Những dòng trong thơ, nhạc không ngại ngần bày tỏ như:

“Lòng cuồng điên vì nhớ, Ôi Đâu người đâu ân tình cũ” (Hoài Cảm của Cung Tiến)…
Trong thi phẩm Tinh Huyết của nhà thơ Bích Khê cuồng yêu với hình ảnh:

“Ai bảo là tôi chửa chết rồi!
Máu cuồng vẫn chảy điệu mê tơi,
Máu cuồng run khắp trong thân thể,
Ai bảo là tôi chửa chết rồi!”
(Cơn Mê)

… Truyện chưởng của Kim Dung đã lôi cuốn độc giả “ghiền” không thuần túy là chuyện xuất chiêu, tung chưởng… đấm đá túi bụi mà luận bàn về trà, rượu, kiếm… nhất là những cuộc tình ngang trái, những mối tình si, cuồng vì yêu, tình cuồng… Trong hai phái hắc/bạch không đội trời chung thế mà họ dám yêu nhau, cuồng quá đi thôi với mối tình thật lãng mạn.

Trong quyển Cô Gái Đồ Long (Ỷ Thiên Đồ Long), Quận chúa Triệu Mẫn (Triệu Minh) người Mông Cổ từ bỏ địa vị cao sang, bỏ cha và anh ruột để ra đi cùng Trương Vô Kỵ. Mối tình ngang trái nhất là Dương Tiêu và Kỷ Hiểu Phù. Dương Tiêu là Quang Minh Tả Sứ của Minh Giáo, Kỷ Hiểu Phù là đệ tử cưng nhất của Diệt Tuyệt Sư Thái phái Nga My. Kỷ Hiểu Phù được chưởng môn cử đi tìm tung tích thanh Đồ Long đao, nàng đã gặp Dương Tiêu rồi bị Dương Tiêu bắt cóc, thế rồi từ nạn nhân trở thành tình nhân. Mối tình vụng trộm nầy sinh ra bé gái đặt tên là Dương Bất Hối. Cuối cùng để bảo vệ tình yêu của mình, Kỷ Hhiểu Phù chấp nhận chết thê thảm về tay chính sư phụ mình là chưởng môn Diệt Diệt Tuyệt Sư Thái vì bà coi Dương Tiêu là đại ác nhân.

Kỷ Hiểu Phù được chưởng môn cử đi tìm tung tích thanh Đồ Long đao, nàng đã gặp Dương Tiêu. Ban đầu, Hiểu Phù rất chán ghét Dương Tiêu nhưng về sau, khi có thời gian tiếp xúc, Kỷ Hiểu Phù đã đem lòng yêu thương người mà sư phụ nàng cho là đại ác nhân.

Trong quyển Tiếu Ngạo Giang Hồ, Nhậm Doanh Doanh, con gái của giáo chủ tà giáo Nhật Nguyệt thần giáo vì yêu Lệnh Hồ Xung của phái Hoa Sơn, tự nguyện lên núi Thiếu Thất, cam chịu để phái Thiếu Lâm cầm tù mình mong đổi lấy lời hứa của Phương Chứng đại sư nhận chữa thương cho người tình.

Bà Diệt Tuyệt Sư Thái lúc nào cũng xưng danh chính phái nhưng vì mưu đồ muốn có hai thanh bảo đao Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao chứa bí kiếp để thống lĩnh quần hùng, làm bá chủ võ lâm. Chưởng môn phái Hoa Sơn là Nhạc Bất Quân tự cho mình là chính nhân quân tử nhưng là con người gian trá, xảo quyệt, ngay cả con gái duy nhất của ông là Nhạc Linh San cũng ép gả cho Lâm Bình Chi để dò xem con rể của ông có bí kíp gia truyền Tịch Tà kiếm phổ lừng danh thiên hạ. Khi có bí kíp trong tay còn dùng thủ đoạn dựng chuyện đổ oan cho đệ tử Lệnh Hồ Xung.

Đơn cử hai nhân vật có máu mặt trong chốn võ lâm với “tâm xà, khẩu Phật” mà ngày nay nhan nhản trên chính trường xứ Cờ Huê… qua thời gian mới rõ trắng/đen.

Trong quyển Lộc Đỉnh Ký, Hồ Dật Chi say mê hầu thiếp của Ngô Tam Quế là Trần Viên Viên, cam chịu kẻ làm vườn, tưới rau trong mấy chục năm để được lén nhìn người tình trong mộng.

Kiến Ninh công chúa, em gái vua Khang Hy, yêu cuồng tên thái giám giả mạo Vi Tiểu Bảo, xuất thân từ chốn lầu xanh, chỉ viết được chữ nhất (gạch ngang), cô ta bị chứng “masochism” muốn được Vi Tiểu Bảo trói cột, đánh đập cho vỡ da tóe máu mới được thấy lạc thú việc trao thân.

Trong quyển Thần Điêu Hiệp Lữ, cô cô và Quá nhi (Tiểu Long Nữ thường gọi đệ tử Dương Quá) này sinh cuộc tình “Vòng Tay Học Trò” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng. Lợi dụng lúc Tiểu Long Nữ bị Âu Dương Phong điểm huyệt không cử động được, Doãn Chí Bình chợt thấy, hãm hiếp Tiểu Long Nữ rồi trốn đi, nhưng nàng lúc đó nửa tỉnh nửa mê, bị vải áo che mắt cứ nghĩ là Dương Quá. Tiểu Long Nữ tức giận Quá nhi “chơi rồi chạy” nên bỏ đi. Khi xa cô cô, Dương Quá không biết nguyên do, lặn lội khắp chốn giang hồ để mong gặp người tình nhưng kéo dài đến 16 năm. Khi Dương Qua trở thành cao thủ võ lâm, sau khi làm xong đại sự, trở về Tuyệt Tình Cốc chờ Tiểu Long Nữ. Đến kỳ hạn 16 năm, không thấy bóng dáng cô cô, chàng liền nhảy xuống Đoạn Trường Nhai tự vẫn. Tình cờ thay ở dưới đáy Tuyệt Tình Cốc có một sơn động mà Tiểu Long Nữ đã ẩn sống ở đó 16 năm. Dương Quá gặp lại Tiểu Long Nữ, hai người leo lên và trở về thành Tương Dương. Chàng và nàng cùng đồng đạo võ lâm chống giặc, xả thân vì nước.

Trong bài viết Tình Yêu Trong Tiểu Thuyết Kiếm Hiệp Kim Dung của tôi vào cuối năm đã đề cập nhiều nên không trích lại vì dài dòng.
Còn rất nhiều kẻ tình si, cuồng điên vì yêu “cuồng điên vì nhớ”… đến nỗi khi sống không được bên nhau, thì khi chết chỉ mong được bên cạnh mộ…

Dương Quá chỉ mất 16 năm, còn nhà thơ Vũ Hoàng Chương với thời gian gấp đôi trong thi phẩm Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm. Trong bài thơ Chờ Đợi Hoài Công đã than thở:

“Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhuỵ hoài trăng rằm
… Hiu hắt tình trai một kiếp suông
Mênh mông nêm gối rét căn buồng
Lệ sa bạch lạp ngàn đêm trắng
Thơ vút sầu say rượu nhập cuồng”

Bái phục “ông thần” si tình có một không hai trong thi ca Việt Nam.

“Tình ta ta tiếc - cuồng - ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của ai?”.
(Mười Hai Tháng Sáu)

Ngoài Vũ Hoàng Chương, bái phục nhà giáo Trần Bích Lan, nhà thơ Nguyên Sa si tình đến nỗi cam chịu nóng đốt cháy da vì làm hoa hướng dương dưới đường xích đạo. Khi gặp ông trong Ban Biên Tập SVSQ với nhau của nguyệt san Bộ Binh ở quân trường Thủ Đức vào đầu năm 1967, chẳng thấy gì nhà giáo, nhà thơ nầy là kẻ tình si. Mới biết “cuồng” vì yêu cho thêm phần lãng mạn…

Ngẫm lại chuyện thế gian với chữ “cuồng”, tùy nghi cảm nhận…”
Giới trẻ ngày nay thích các nhân vật trong phim, thể thao, âm nhạc… lập “fans” nầy “fans” nọ… “cuồng” theo sở thích, có gì là xấu?
Trong các nước độc tài, đảng trị… áp bức người dân phải khuất phục “cuồng nhiệt” tôn thờ lãnh tụ nhưng trong lòng họ lại “cuồng nộ” phẫn uất! Vậy chữ “cuồng” kèm theo chữ kế tiếp, có gì là xấu (?).
Thành ngữ có câu “Thái quá bất cập” vì vậy không những ở chữ “cuồng” mà với các khía cạnh khác cũng chẳng hay ho gì.

Tấm Gương Của Bậc Tiền Nhân


* Đức Trần Hưng Đạo (1228 – 1300) gác thù riêng, dốc lòng vì nước

Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) con của An Sinh vương Trần Liễu. Trần Liễu là anh trai của Trần Cảnh, tức vua Trần Thái Tông, vốn có mối thù bị cướp vợ với Trần Thái Tông nên yêu cầu con trai phải giành được thiên hạ, vì việc nước trước sự xâm lăng của Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo đã không làm theo lời cha, gác thù riêng, dốc lòng đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Năm 1282 Hốt Tất Liệt sai Toa Đô cầm quân theo đường biển xuống đánh Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông họp các vương hầu và tướng lãnh ở Bình Than, Chí Linh để tìm kế chống quân Nguyên. Năm 1283 vua Trần Nhân Tông bổ nhiệm Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công, Tiết Chế thống lĩnh chư quân. Năm 1284 Hốt Tất Liệt sai một cánh quân khác do thái tử là Trấn Nam Vương Thoát Hoan tiến xuống bằng đường bộ, nhắm trực chỉ Đại Việt. Được tin nầy nhà vua ra lệnh Trần Quốc Tuấn tổ chức đội quân chuẩn bị chống xâm lăng.

Vua Trần Nhân Tông phong tước cho Trần Quốc Tuấn để an ủi cha vợ và nhã ý làm giảm thù nhà để cùng nhau lo việc nước. Trần Hưng Đạo quên đi mối thù mà cha mình là Trần Liễu đã gởi gắm mà hết lòng chiến đấu với thù ngoại xâm.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại rằng khi quân Nguyên sang xâm chiếm Đại Việt, Trần Hưng Đạo lúc đó đã nắm hết uy quyền trong tay, đem di mệnh của phụ thân hỏi hai người gia nô thân tín và trung thành là Yết Kiêu và Dã Tượng. Hai ông đều thẳng thắn trả lời rằng: “Nếu thi hành kế ấy, dù có giàu sang được một lúc, mà tiếng xấu để mãi đến ngàn đời. Đại Vương bây giờ chả phải đã giàu sang rồi ư? Chúng tôi tình nguyện chết già làm người nô bộc…”. Trần Hưng Đạo nghe những lời nầy cảm động rơi nước mắt.

Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã mang lại niềm tin cho tướng sĩ với những chiến công lẫy lừng trong lịch sử đất nước.
Ngài là tấm gương sáng muôn đời, Thánh Tổ của Hải Quân QLVNCH.

Hiện nay, ở Little Saigon, trên đường Bolsa có tượng Đức Thánh Trần vào Chủ Nhật, 30 tháng Tư năm 2017, đoạn đường trên đường Bolsa từ góc đường Magnolia đến góc đường Brookhurst đặt tên Đại Lộ Trần Hưng Đạo.

* Cụ Phan Bội Châu & Phan Chu Trinh


Năm 1804 vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam, đến năm 1932 vua Minh Mạng đặt quốc hiệu là Đại Nam tồn tại đến 1945 nhưng thời gian sau quốc hiệu này không còn thông dụng. Từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước trong các tác phẩm và các tổ chức chính trị… Cụ Phan Bội Châu viết Việt Nam Vong Quốc Sử (1905).

Về danh xưng Bắc kỳ (13 tỉnh), Trung kỳ 12 tỉnh), Nam kỳ (6 tỉnh nên gọi là Lục tỉnh) ấn định ranh giới 3 miền do vua Minh Mạng đặt ra năm 1834.

Hòa Ước Quý Mùi năm 1883 còn gọi là Hòa Ước Harmand ký kết ngày 25.8.1883 giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp thừa nhận Pháp thống trị toàn bộ Việt Nam

Hòa Ước Giáp Thân 1884 còn gọi là Hòa Ước Patenôtre, ký kết giữa triều đình Huế với Pháp ngày 6.6.1884 tại kinh đô Huế. Hòa Ước nầy ấn định Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp; Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp… trên danh nghĩa triều đình nhà Nguyễn vẫn được quyền kiểm soát nhưng ít thực quyền.

Cụ Phan Bội Châu (1867-1940) & Phan Châu Trinh (1872-1926) - hai trong số sĩ phu yêu nước nổi tiếng nhất Việt Nam, đại diện cho thế hệ trí thức sinh nửa sau thế kỷ 19, rất khác xa về tư tưởng và đường lối nhưng có chung tình bạn đẹp.

Năm 1904 Phan Chu Trinh cùng Nguyễn Hàm và khoảng 20 đồng chí khác thành lập Duy Tân hội ở Quảng Nam để đánh đuổi Pháp, chọn Kỳ Ngoại hầu Cường Để - một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn - làm hội chủ.

(Tên gọi Bắc kỳ, Trung Kỳ và Nam kỳ của nước Đại Nam triều Nguyễn, do vua Minh Mạng đặt ra năm 1832).

Cụ Phan Bội Châu chủ trương: “1: Liên kết với đảng cũ Cần Vương còn lưu lại và các trai tráng ở chốn sơn lâm, xướng khởi nghĩa quân; 2: Ứng phù một minh chủ kén chọn ở trong hoàng thân lập ra, âm kết với những người hữu học ở đương triều làm người nội viện; 3: Xuất dương cầu ngoại viện…”

Đầu năm 1095, cụ Phan Bội Châu khi sang Nhật, về nước giữa năm 1905, thành lập Hội Nông công thương học, rồi đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để sang Nhật.

Tháng 5. 1921, Việt Nam Quang Phục hội được thành lập do Cường Để làm Hội Trưởng, Phan Bội Châu là người đề xương và làm Tổng Lý. Mục đích cầu viện Nhật hỗ trợ cho công cuộc phục hưng, đánh đuổi thực dân Pháp.

Cụ Phan Chu Trinh với tư tưởng canh tân đất nước, cụ cho rằng Việt Nam phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mới nên mưu cầu độc lập chứ không nên cầu viện ngoại bang dùng bạo lực để giành độc lập cho đất nước: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Phong trào Đông Du có mục đích kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài (Nhật Bản) học tập, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập cho nước nhà.

Trái hẳn với cụ Phan Bội Châu, châm ngôn của cụ Phan Châu Trinh là “Vọng ngoại tắc ngu, bạo động tắc tử” (Không nên cậy vào nước ngoài, cậy vào nước ngoài là ngu; không nên bạo động, bạo động là chết) và “ỷ Pháp cầu tiến bộ” mà trên thực tế có nghĩa là phải tạm thời chấp nhận chính quyền thuộc địa nhằm mở mang dân trí và cải cách chế độ cai trị của người Pháp, rồi từng bước phục hồi nền độc lập quốc gia.
Hai cụ cùng dấn thân công cuộc đấu tranh cho chủ quyền đất nước nhưng hai chủ trương khác nhau, tuy bất đồng chính kiến nhưng không bất hòa.

Sau nầy khi nhận xét về cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh cho rằng “Tôi tự biết những lý do mà chủ nghĩa của ông ấy đưa ra thì rất yếu, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của dân nước Nam thì rất mạnh. Chủ nghĩa của tôi, lý do đưa ra thì rất mạnh, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của người nước Nam trong tình thế hiện tại thì rất yếu. Chủ nghĩa của ông ấy rất hợp với đặc tính và trình độ của quốc dân, lại nhắm vào chỗ mạnh mà lợi dụng và vì ở hải ngoại nên ngôn luận tự do, dễ có người theo, do đó chủ nghĩa ông ấy sẽ tất thắng. Chủ nghĩa của tôi tương phản với đặc tính và trình độ của quốc dân, lại nhắm vào chỗ yếu mà cứu và vì ở trong nước nên bị các thế lực chèn ép và nghi kỵ tập trung vào, các hoạt động và ngôn luận đều không được tự do nên người theo cũng khó, do đó chủ nghĩa của tôi tất bại”.

Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Trung Hoa và giải về nước. Thực dân Pháp đem ông ra toà án xét xử và khép vào tội tử hình. Trước áp lực đấu tranh của dân chúng, toà án thực dân buộc phải tuyên bố tha bổng, nhưng sau đó chính quyền thuộc địa đã đưa ông về quản thúc ở kinh đô Huế. Cụ Phan Bội Châu đã qua đời tại đây năm 1940.

Cụ Phan Châu Trinh vào Sài Gòn tháng 6.1925, cụ diễn thuyết hai lần trước khi qua đời ngày 24.3.1926. Cụ nhận định quan điểm giữa cụ và cụ Phan Bội Châu tuy có khác nhưng phát xuất từ tấm lòng thiết tha với tiền đồ dân tộc nên rất quý trọng nhau.

Tiếc thương cụ Phan Chu Trinh, cụ Phan Bội Châu trong Văn Tế Phan Chu Trinh, thương tiếc:

“Lấy ai đây nối gót nghìn thu,
Vậy ta phải kêu người chín suối.
… Anh em ta:
Đất rẽ đôi đường;
Tình chung một khối.
Gánh tồn vong ai cũng nặng nề;
Nghĩa chung thuỷ lòng càng bối rối”.

Thời Việt Nam Cộng Hòa, tên đường và nhất là tên trường mang tên cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh để tưởng nhớ hai bậc tiền nhân.

Trở lại với chuyện trên chính trường xứ Cờ Huê trong năm 2021 cho đến nay. Theo dòng lịch sử của đất nước nầy không phải đây là lần đầu mà xảy ra nhiều lần trong quá khứ. Nhưng nay, không hiểu vì sao không quan tâm đến nỗi buồn vong quốc mà “gà nhà bôi mặt đá nhau”!

Trong những thân hữu, bạn văn “cùng hội cùng thuyền” trong hai năm qua, có dịp trao đổi với nhau vào thời điểm dịch Cocid-19 bị “bế quan tỏa cảng”… Trong đó, lần trao đổi với người bạn văn, anh cho biết ngày xưa khi còn Đại Đội Trưởng của Đại Đội trinh sát, bao lần vào sinh ra tử, tình chiến hữu thiêng liêng và cao đẹp biết bao. Trải qua thời gian lao tù, vượt biên, anh trở thành chiến hữu cầm bút với tinh thần của người lính trinh sát. Trong loạt bài của anh gần hai năm qua với kinh nghiệm bản thân anh muốn chia sẻ cho giới trẻ ý thức và quan điểm của người Việt lưu vong trên xứ người. Trong năm 2020, anh tâm sự với tôi, thật phi lý và vô lý, trong gia đình, con cái đứng một phe đối lập với bố, may mà có người vợ hiền đồng cảm với anh để mong hàn gắn “vết thương” trong gia đình… Với bạn bè, tuy thiểu số… không biết chia sẻ thế nào để đồng cảm nên đành chấp nhận “Người Xa Lạ”! Tôi được may mắn hơn anh, không có tình trạng đó trong gia đình.

Với tôi, chỉ có vài người bạn thân từ thời ở quân trường cùng ca bài trong hành khúc Lục Quân Việt Nam của Văn Giảng “Một, hai, ba, bốn… Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn… Đường trường xa ta quyết đi cho đến cùng… Ta anh hùng đời đời Lục Quân Việt Nam…”. Cùng vui đùa ví von “Đường trường xa, con chó nó tha con mèo”… nay trở thành xung khắc nhưng chỉ Spam qua email… cũng may không có lời qua tiếng lại.

Như đã đề cập qua bài viết trước đây, với công việc làm báo, không lệ thuộc giờ giấc nên mỗi sáng đều qua quán cà phê đấu láo với bằng hữu suốt 3 thập niên, thế mà trong suốt 16 tháng (3/2020 đến tháng 7/2021) dù đã chích ngừa 2 mũi Moderna vào tháng 2/2021 nhưng mỗi sáng vẫn cà phê backyard. Không muốn ngồi với nhau mà nghe lời nầy ý nọ trái khoáy, máu Quảng Nam mà không cãi thì mất gốc… nên xa lánh! Thôi đành làm “người xa lạ”.

Nhân dịp đầu năm 2022, tác phẩm L’Étranger (Người Xa Lạ) của nhà văn Albert Camus tròn 80 năm, mượn tựa đề tác phẩm nầy để tản mạn đôi chút về “Người Xa Lạ… Giữa chúng ta”, mong rằng vào thời điểm nào đó sẽ không còn hình ảnh nầy. Gọi là tản mạn nên viết bâng quơ, xin đừng nghĩ đây là sự nhận định mà tổn thọ người viết.

Nội tình chính trị xứ Cờ Huê là game chơi sấp/ngửa liên tục, mà đã là game chơi từng xảy ra trong quá khứ, chúng ta đã chứng kiến “người bạn đồng minh” nhảy vào và tháo chạy qua hai tác phẩm của TS Nguyễn Tiến Hưng, nạn nhân giữa bạn và thù.

Trước đây TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”, làm bạn với mấy ông bà chính trị gia của Mỹ làm gì, ngoài tầm tay của chúng ta. Đó là canh bạc mà tay mơ nhảy vào để rồi làm “bác thằng bần”.

Thiện tai!

Little Saigon, Jan 2022
Vương Trùng Dương