Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Chúc Mừng Sinh Nhật Cung Lan



Mừng sinh nhật đến bạn Cung Lan
Mở mắt thu chào rạng nét Lan
Nhã nhặn tài tình xinh sắc ngọc
Khiêm nhường khéo léo đẹp màu Lan
Bày văn chữ nghĩa giai nhân tuyệt
Trải ý câu vần mỹ nữ Lan
“Hữu xạ nhiên hương “ vời bốn bể
Thương tràn Hội Bút tặng hoa Lan 


Minh Thúy Thành Nội 
Tháng 9/9/2020

Hồi Ức: Việc Học Hành Thi Cử Của Tôi


Đọc những trang blog bạn bè, thỉnh thoảng tôi bắt gặp những hình ảnh, văn bằng, học bạ, chứng chỉ của bạn in ra, tôi thật ngưỡng mộ, thích thú như thấy hỉnh ảnh của chính mình thuở còn đi học. Ngày nay tuổi đã xế chiều tôi cũng muốn ôn lại những kỷ niệm thời đi học, những tháng ngày miệt mài học hành thi cử, có khi thức trắng đêm để ôn bài cho kỹ, sáng mai vào trường thi. Có bạn còn giữ nguyên học bạ từ tiểu học cho tới trung học, thật là may mắn! Nhìn học bạ ta có thể hiểu được lúc ấy ta học ra sao qua lời phê của thầy cô dạy lớp. Sự phê bình của thầy cô rất quan trọng, nhất là thầy chủ nhiệm, có thể ảnh hưởng quyết định cuộc đời của học sinh. Nói tới đây tôi lại nhớ tới một người bạn tên P. ( hiện ở Mỹ), anh học giỏi nhưng vì xích mích, hiểu lầm với thầy giáo trẻ dạy Đệ Nhị B vừa là Giáo Sư Hướng Dẫn của anh, khi hai thầy trò cùng có cảm tình với một nữ sinh của trường. Anh cứ tưởng mọi việc rồi cũng đi qua không ngờ khi đậu xong tú tài I, anh chuyển về Sài Gòn xin vô Petrus Ký (vì lúc đó Trung Học công lập Tây Ninh chưa mở Đệ Nhất), trường từ chối vì anh bị giáo sư phê là "học trò vô phép, vô kỷ luật, vô đạo đức". Tới chừng đó anh mới ngã ngửa, không ngờ thầy lại phê như thế! Anh ôm mối hận trong lòng đành ra học trường tư, tốn nhiều tiền nhưng biết làm sao? Năm đó anh đậu dễ dàng Tú Tài II ( năm 1961).


Cá nhân tôi không giữ được học bạ trung học, chỉ còn học bạ trường Sư Phạm Sài Gòn.
Nhìn học bạ tôi bùi ngùi xúc động, nó theo tôi 55 năm, bây giờ mới mở ra xem! Tôi đọc kỹ lời phê và nhận xét của thầy. Nói chung việc học của tôi không đến nổi tệ. Có những tờ giấy ố vàng màu xám xịt, rách lưa tưa, chữ in lem luốt mờ nhạt, khó nhìn ra chữ. Tôi đọc tên từng thầy nhớ từng cử chỉ, lời nói của thầy. Kỷ niệm ngày xưa hiện ra trước mắt. Năm thứ hai, việc học của tôi sa sút không thể tưởng: bị đuổi khỏi nhà trọ vì thiếu tiền, chạy tới chạy lui, tôi không còn tinh thần để tiếp tục học, tôi muốn bỏ cuộc. Nghèo đói bịnh tật, tinh thần sa sút hẳn. Còn lại độ nửa năm mà tôi đuối sức, tôi phải tính cách khác: tự nấu cơm ăn với rau muống mỗi ngày. Trong lớp 44 học sinh cuối năm tôi đứng thứ 40! Thi ra trường nhờ tôi làm trúng câu hỏi phân tích cú pháp một câu cho sẵn (lâu rồi không nhớ): Tôi nói đúng được chủ từ, động từ, túc từ và nhiệm vụ theo văn phạm Việt Nam (túc từ: bổ nghĩa cho động từ). Sách nhà trường, cuốn “Sơ Thảo Ngữ Pháp Việt Nam” không nói rõ phần nầy, chỉ bàn nhiều về phát âm học và khả năng kết hợp các “từ” trong câu (giống sách của học giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê). Còn tôi đọc thêm sách “Văn Phạm Việt Nam” của Bùi Đúc Tịnh nên trúng tủ câu nầy! Kết quả tôi đậu hạng 180/344. Hú hồn! tưởng đậu hạng chót đi dạy Cà Mau, Bến Hải!


Nói về kỳ thi vào Đệ Thất trường công năm 1955, tôi thật may mắn nên đậu ngay khóa đầu tiên của trường mới vừa mở. Năm ấy đang học lớp Nhất (lớp Năm bây giờ) trong giờ học, người bạn tên Hai ngồi cạnh tôi kéo ra cuốn sách “147 Đề Thi Đệ Thất" của tác giả Bùi Văn Bảo, tôi ngạc nhiên thích thú. Vốn con nhà nhèo, tôi không hề có một quyển sách để đọc, chỉ học bài trong lớp mà thôi, hơn nũa ba tôi là một công nhân thường, hồi nhỏ do hoàn cảnh nên không tới trường như những đứa trẻ khác do đó ba tôi không biết gì về chuyện học hành của con cái, nói chi tới việc mua sách luyện thi. Tôi mừng trong bụng nên năn nỉ bạn cho mượn sách một tuần để chép bài thi. Bạn từ chối, tôi năn nỉ tiếp, sau cùng bạn cho mượn một đêm, sáng mai nhớ trả nghen! Chiều hôm đó sau khi ăn cơm xong tôi chép bài suốt đêm không ngủ, tính ra được 10 bài. Từ đó tôi cứ luyện những đề thi đó, vậy mà hai tháng sau tôi thi đậu vào Đệ Thất! Còn Luận Văn và câu hỏi Thường Thức thì tôi chỉ trung bình, nhưng nhờ trúng bài Toán nên đậu hạng 80/120. Đề Toán tôi nhớ đại khái: Hai xe chạy ngược chiều, vận tốc xe 1 là 30km/giờ, xe 2 là 40km/giờ. Đoạn đường 170km, xe 1 khời hành lúc 8 giờ sáng, xe 2 khởi hành sau xe 1 là 1 giờ. Hỏi khi gặp nhau mất mấy giờ, khoảng cách từ chỗ gặp tới A, B là bao nhiêu?


Lên Đệ Tứ, hoàn cảnh nhà tôi không có gì khá hơn, trái lại nhà đông con, lớn lên ăn nhiều nên càng hao tốn. Lúc nầy việc học trở nên khó khăn tôi cũng không có một quyển sách Toán Lý Hóa để luyện thi, ngoài chợ Tây Ninh cũng không có nơi nào bán sách. Cuối năm tôi thi rớt dễ dàng! Lúc nầy có vài đứa bạn thi rớt bị gọi đi quân dịch, ba má tôi sợ tôi đi lính trơn nguy hiểm nên cắn răng cho tôi xuống Sài Gòn ở đậu nhà người cô đường Nguyễn Thông để luyện thi trung học và Tú Tài I. Viết tới đây tôi càng thương ba má tôi đã vì con mà hy sinh vật chất, chịu đựng cam khổ lo cho tôi ăn học. Công ơn cha mẹ như trời biền, tôi chưa kip đền đáp thì song thân đã ra người thiên cổ! Dạo đó tôi nghe má tôi nói lương tháng của ba tôi chỉ có 750 đồng (năm 1960). Tôi ghi tên học trường tư thục Phan Sào Nam đường Trần Quý Cáp, bữa nọ sau khi đi học về, ngang qua trường Nguyễn Khuyến thấy quảng cáo sách luyện thi Trung Học Đễ Nhất Cấp môn Đại Số, tác giả Bùi Hữu Đột. Tôi ghé vào mua ngay quyển nầy. Mừng hết sức! Tôi cần thêm một quyển toán Hình Học mà không biết ở đâu bán? Một tháng sau, lúc trời vừa tối, tôi đạp xe xuống trường, thằng tới tư thục Trường Sơn, bất ngờ tôi thấy người ta đổ một đồng sách báo bên lề đường bán “xôn” thật rẻ. Tôi ghé vào ngồi xuống lựa, thấy quyển “Toán luyện thi Trung Học Đễ Nhất Cấp môn Hình Học”, tôi mua ngay rồi vội vã quay về để đọc sách. Đã quá! Toàn là những đề thi toàn quốc từ hơn 20 năm qua thật đặc sắc mà tôi chưa từng nghe nói. Tất cả 100 bài! Lạ nữa là sách in tại Hà Nội sao lại bán xôn trong Nam? Có hai ”bửu bối” trong tay, tôi ôn luyện hằng ngày, cuối năm thi đậu dễ dàng. Thi Tú Tài I không có gì đáng nói. Tú Tài II mới gay go.


Chương trình Tú Tài II ban Toán rất nặng, tôi không có tiền mua sách vở, phải đợi khi ra trường, đi dạy tôi mới có tiền mua đủ bộ sách Toán Lý Hóa luyện thi. Tú Tài II tôi nộp đơn thi khóa 2 (1966) với tư cách thí sinh tự do, khi đậu viết thì phải qua kỳ vấn đáp, thật hồi hộp. Năm đó tôi thi vấn đáp tại trường Petrus Ký Sài Gòn. Cuộc thi bắt đầu 8:30 sáng, nhà tôi cách trường 300m (đường Trần Bình Trọng, sau trường Sư Phạm Thực Hành), không hiểu tại sao tôi cứ đinh ninh rằng cuộc thi bắt đầu 9:00 sáng, mà chủ quan không xem lại phiếu báo danh, nên tôi tới trễ nửa giờ! Cửa trường khép kín, quấn bằng dây lòi tói, khóa bằng ống khóa to tổ bố không cách nào lách vào được. Tôi hoảng hồn la inh ỏi, không ai ra mở cửa, bất chợt ông lao công từ phía trong bước ra hỏi tìm ai? Tôi trả lời: "đi thi vấn đáp!". "Sao giờ nầy mới tới? Thầy cô về hết rồi!". Tôi tá hỏa tam tinh. Khóa nầy mà rớt thì coi như xong, phài đợi sang năm thi lại từ đầu! Tuy nói thế nhưng ông vẫn mở cửa cho tôi vào (sau khi tôi trình giấy báo danh). Tôi phải cám ơn ông rất nhiều vì nếu ông không mở cửa thì tôi đành chịu vì lỗi tại tôi, và thêm cái may nữa là thầy giám khảo vẫn còn ngồi tại lớp đợi tôi.


Tôi không biết phòng thi ở đâu? Trường rộng quá lại có lầu, tôi chạy giáp vòng tầng dưới, không thấy phòng, mất 10 phút mệt lả. Tôi tìm đường lên lầu, chạy nửa vòng thì gặp phòng thi, tôi nhìn thấy ông thầy đi tới đi lui một mình, bên dưới không còn một thí sinh nào hết! Thầy nghiêm mặt hỏi tôi sao tới trễ , 5 phút nữa mà tôi không tới thì thầy đi về! Tôi xin lỗi rồi ngồi xuống bàn đợi thầy hỏi bài (môn Pháp Văn). Thầy đưa sách bảo tôi đọc một đoạn, xong hỏi: Ông Pasteur tìm ra được gì? Tôi đáp: "thuốc ngừa bệnh chó dại". Thầy hỏi tiếp: "Còn gì nữa?" Tôi ú ớ…thầy nói: "Thuốc ngừa bệnh đậu mùa!" Thầy hỏi thêm: "Hằng ngày gọi là gì?" Tôi đáp: "Au jour le jour."  "Còn cách nói khác?" Tôi ú ớ…Thầy nói:" journal". 
Xong rồi! Tôi lật đật chạy qua phòng kế bên thi tiếp môn Toán, nhưng phòng trống trơn! Đàng kia có một thầy vừa trong phòng bước ra, tôi chạy theo xin thầy cho thi, thầy quay vào lớp bảo tôi ngồi đó, đưa giấy cho tôi làm bài.
Hình Học: Câu 1/ Conic là gì? Cho ví dụ mỗi thứ, vẽ hình minh minh họa. Câu 2/ Hình vẽ sẵn, hãy trả lời: nghịch đảo tiếp tuyến là gì? Nghịch đảo vòng tròn là gì? Đáp: Nghịch đảo của tiếp tuyến là vòng tròn và ngược lại.
Đại Số câu 1/ Tính đạo hàm của hàm số dạng y=u/v. Câu 2/ tính nguyên hàm của hàm số y=2x( mũ 3)+3x( mũ 2). Tôi làm 10 phút thì xong, đưa bài cho thầy.
Ra về nghe lòng thanh thản, nhẹ tưng nhưng lại lo không biết có pass nổi môn Pháp Văn không? Chuyện nầy kể lại cho bạn bè nghe có người ngờ vực cho rằng tôi nói dóc! Làm gì có chuyện đi thi trễ giờ? Làm gì mới có nửa giờ mà tan học? (ông lao công nói vậy, chứ thực tế thầy vẫn còn ngồi trong lớp, chưa ra về). Xin thưa: hội đồng thí sinh tự do dành cho người lớn công chức, quân nhân, họ đi thi cốt nghỉ phép, ít người thi lấy bằng cấp vì họ không có thì giờ ôn luyện, nhưng Bộ Giáo Dục vẫn phải tổ chức cuộc thi, một hội đồng dành riêng cho họ. Kỳ đó hội đồng thi đậu có 10 người thôi bà con ơi! cho nên giám khảo chỉ mất nữa giờ là xong! May mắn kỳ đó tôi thi đậu (còn giữ văn bằng làm kỷ niệm).


Năm 1967 tôi bị động viên đi Thủ Đức. Năm 1969, biệt phái về dạy học, năm 1970 thi đậu chứng chỉ Khả Năng Sư Phạm Trung Cấp Sài Gòn (đề thi gồm ba bài viết, bài 1: Luận Văn, bài 2: Sư Phạm lý thuyết, bài 3: Sư Phạm thực hành, cho trước một bài thơ, dựa vào đó soạn một bài lên lớp. Không có thi vấn đáp) cải ngạch giáo sư, dạy trung học, tôi ghi danh học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, đậu Cử Nhân năm 1973. Tôi thích nhất là Văn Chương Việt Hán nên theo học chứng chỉ nầy, đậu năm 1974. Tôi đã học với các thầy: Trần Trọng San, thầy trích một phần trong Tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du để dạy sinh viên, nhiều nhất là trích từ Thanh Hiên Thi Tâp. Thầy vừa giảng vừa đọc cho sinh viên chép. Xin nói thêm về nội dung các phần nầy như sau:

Cùng với kiệt tác Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du còn để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Các thi tập này không chỉ góp phần làm nên diện mạo thơ ca trung đại mà còn là nguồn tư liệu giúp chúng ta tìm hiểu thế giới nội tâm của chính tác giả.
1. Thanh Hiên Thi Tập (清軒詩集, Tập thơ Thanh Hiên) chứa đựng tình cảm quê hương thân thuộc, có khi ốm đau mà chẳng thuốc thang gì, có lúc đói rét phải nhờ cậy vào lòng thương của người khác. Tâm sự của tác giả trong thời kỳ này là một tâm sự buồn rầu, có khi chán nản, uất ức…
2. Nam Trung Tạp Ngâm (南中雜吟, Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) là tập thơ chữ Hán thứ hai (sau Thanh Hiên thi tập) của Nguyễn Du (阮攸, 1765 – 1820), một nhà thơ rất nổi tiếng của Việt Nam.
3. Bắc Hành Tạp Lục (北行雜錄, Ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc) là tập thơ bao gồm 131 bài thơ chữ Hán do Nguyễn Du sáng tác trong khoảng thời gian ông dẫn đầu đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Trung Quốc từ đầu năm Quý Dậu 1813 đến đầu năm Giáp Tuất 1814. Đây là một tập thơ nói lên lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bị vùi dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùng nỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng và tàn bạo, được Nguyễn Du nói lên bằng những vần thơ hết sức sâu sắc.

Thầy Bửu Cầm: Dáng thầy gầy, cao lêu khêu, trưởng ban Văn Chương Việt Hán, thầy đi dạy bằng xe xích lô đạp, chở đến trường, bất kể nắng mưa gì thầy cũng mang theo cây dù thật to. Thầy phụ trách môn Chữ Nôm và Văn chương kháng chiến chống quân Minh. Cụ thể thầy giảng “Bài Ca Côn Sơn” (Côn Sơn Ca) nguyên tác chữ Hán, được Nguyễn Trãi sáng tác trong thời gian ông bị chèn ép, đành phải cáo quan về sống ở Côn Sơn. Thỉnh thoảng thầy trích dẫn những bài thơ cổ bằng chữ Hán từ quyển Hoàng Việt Văn Tuyển.
Thầy Nguyễn Khuê: dạy văn học đời Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, thầy chép bài xong trên bảng rồi bắt đầu giảng. 
Thầy Phạm Văn Diêu: dạy văn học đời Trần, tác phâm tiêu biểu Trần Nguyên Đán. Thầy đang soạn sách Văn học đời Trần gồm 3 quyển chép tay dày cộm. Vào lớp thầy bảo một sinh viên sành chữ Hán chép bài trên bảng, rồi thầy đi đâu đó hoặc uống cà phê dưới câu lạc bộ Sinh Viên, độ một tiếng đồng hồ thầy quay lại lớp giảng bài , trước hết phiên âm chữ Hán sau đó dịch nghĩa, giảng bài . Hai phần đầu thầy nói nhanh lắm không cách nào ghi kịp, Sinh Viên phải phân công mỗi người ghi một câu, sau cùng ghép lại thành bài.Sinh Viên chép bài trên bảng mà sai thì thầy bảo Sinh Viên đó lên bảng sửa lại, tôi không hề thấy thầy cầm phấn viết một chữ Hán trên bảng! 
Thầy Nghiêm Toản: dạy những tác phẩm cổ bằng chữ Hán trong văn học Việt Nam.
Còn vài thầy nữa mà tôi không nhớ tên.
Trong các chứng chỉ theo học tôi thấy chứng chỉ nầy là khó nhất, mình vừa luyện chữ Hán vừa học bài, trong nhà tôi lúc nào cũng đầy giấy nháp chữ Hán!


Sau khi miền Nam thất thủ, tôi trình diện đăng ký diện sĩ quan chế độ cũ ở Nhà Bè. Chị “Út Tịch” mặc đồ đen, tuổi độ 30, khăn rằn quấn quanh cổ, đi tới đi lui đôn đốc cán bộ điều tra lấy lời khai, thu giữ giấy tờ anh em chế độ cũ. Tôi đoán quân hàm của chị chắc cũng khá cao. Chị có một cái túi rút đựng mộc đóng dấu và mực in bỏ vào túi áo, khi nào cần chị lấy ra, đóng dấu rồi cất vào ngay, hình như chị sợ người ta lấy cắp cái mộc đó, nên chị rất cẩn thận. Tôi đang đứng sớ rớ đầu nầy bỗng chị gọi lại, bảo đưa giấy tờ cho chị xem. Chị hỏi: "Thẻ căn cước quân nhân đâu? Quân hàm gì?" ( ngày 30/4/75 khi bộ đội tiến vào thành phố, bà xã tôi gom hết giấy tờ của tôi, căn cước quân nhân đem đốt sạch). Tôi hết hồn ú ớ: "dạ …lúc lộn xộn đánh mất rồi!".  Chị nghiêm giọng: "Giỡn mặt với cách mạng hả? vừa là quân nhân, vừa là giáo sư, vừa là sinh viên, ai tin?" Tôi cãi lại: "Thật mà! tôi dạy học, là thầy giáo!".  Chị bỏ đi một lát rồi quay lại nói: "Tôi cho anh về lấy giấy chứng minh anh là thầy giáo, còn học thêm đại học, rồi trình diện tôi". Tôi vội vã đạp xe thật nhanh về nhà, lục trong tủ kiếm thêm giấy tờ, lấy tờ chứng chỉ Văn Chương Việt Hán đậu năm 1974, quay lại chỗ cũ Nhà Bè, cách nhà độ 8 cây số, may là còn gặp chị, tôi đưa giấy tờ cho chị xem, cố giải thích đây là giấy tờ chứng tỏ tôi đang theo học tại Văn Khoa. Chị ghi trong một tờ giấy, chứng nhận tôi có trình diện tại Nhà Bè rồi lấy mộc ra đóng dấu. Tôi nhận giấy, lòng mừng khôn tả. 

Hôm nay hơn nửa đời người, tôi đâu có màng chứng chỉ nầy chứng chỉ nọ, nay lục lại thấy mất tờ chứng chỉ đó, tôi chợt nhớ ra đã nộp bản chánh cho chị Út Tịch cách nay gần nửa thế kỷ mà dạo đó vì gấp rút tôi không kịp copy bản sao, làm sao đòi chị Út đây hỡi trời!

Nguyễn Cang 
(August 15, 2020)

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

Khi Thái Sơn Ngã Bóng Cuối Trời - Sáng Tác: Sr. Trầm Hương - Tiếng Hát: Nguyễn Hồng Ân


Sáng Tác: Sr. Trầm Hương 
Tiếng Hát: Nguyễn Hồng Ân

Bố - Con



Chạy theo con bố bở hơi tai
Bé hạt tiêu cẳng vẫn chưa dài
Mồ côi mẹ, tình dành cho bố
Hai bố con heo hút trần ai

Con bảo thương yêu bố hết mình
Thích bố ẵm bồng mắt long lanh
Sờ cầm, con nói râu bố ráp
Nhìn ngón tay con bố nhớ hình

Mẹ nó ngày xưa nói y lời
Trời mây man mác nắng buông lơi
Người đi kẻ ở còn chút bé
Bé nói bé thương bố cả đời

Tám năm con lớn tuổi dậy thì
Nắng nhuộm hồng trên má trên mi
Đôi mắt nhìn xa biết mơ mộng
Bé biết yêu như gái đương thì

Cánh chim này rồi sẽ bay xa
Buồn hiu bố nghĩ phận về già
Lòng con hướng về miền đất hứa
Nghĩ thế thôi bố chả nói ra

Rồi cũng đến ngày con lấy chồng
Mình bố ra vào căn nhà không
Chiều buông tím cả chân trời tím
Mắt già, mình bố ngắm mơ mòng

Locphuc

Vầng Thơ Tạ Tội



Kính dâng hương linh MẸ kính yêu 
Hương trâm nghi ngút tỏa không gian 
Lung linh đèn nến quyện hương nhang 
Linh thiêng Mẹ hiểu lòng con đã 
Đau đớn muôn vàn lệ chứa chan 

Mẹ hỡi! Từ nay vĩnh biệt rồi 
Âm dương cách biệt đã ngăn đôi 
Mẹ đi sen nở hương hoa tiễn 
Mất Mẹ đời con vắng nụ cười 

Con nhớ sinh tiền Mẹ thích thơ
Vần thơ Mẹ viết:“ Nhớ mong chờ 
Một ngày tái hợp vui đoàn tụ 
Con hãy yên lòng đạt ước mơ”

Sao Mẹ ra đi quá vội vàng?
Con còn mờ mịt chốn hồng hoang 
Nhớ xưa Mẹ vẫn thường hay nhắc:
“ Mẹ sẽ chờ con phút khải hoàn ”

Kính Mẹ thứ tha bất hiếu nhi 
Không về đưa tiễn Mẹ ra đi 
Vần thơ con viết dâng lên Mẹ 
Là máu từ tim ứa thấm mi 

Lâm Hoài Vũ
2000

Mùi Hoa Sữa



Mưa mùa Thu chiều nay sao đến trễ
Khiến cho tôi mong mỏi đến oằn vai
Mưa tháng Chín âm thầm tôi gọi đến
Nhìn hạt mưa sao sợi ngắn, sợi dài !…

Tôi đội nắng cất đi chờ giọt nước
Để mưa rơi thấm nhẹ làn môi em
Như đường u mê đợi dòng lệ chảy
Phố lạnh lùng mong sương phủ màn đêm.

Tôi khẽ gọi tên em lần sau cuối
Đợi em về - không biết có về không
Hạt mưa phất phơ bay ngàn muôn lối
Hạt mưa nào làm ướt lạnh trong lòng ?

Về chiều mưa bằng không đừng về nữa
Cũng đừng về buổi sáng hoặc ban trưa
Hãy mang theo cơn gió mùi hoa sữa
Cho lòng tôi trắng đục buổi giao mùa…

Dương hồng Thủy
01/09/2020

Vắng Lặng




Xướng: Vắng Lặng

Lối vắng canh tàn đã lạnh tanh,
Bao năm thoảng gió cuốn qua mành.
Vườn xưa nguyện ước dù không vẹn,
Nẻo cũ chờ mong dẫu chẳng thành.
Trách cứ người đi hao tuổi trẻ,
Phiền hà kẻ đợi phí xuân xanh.
Thời gian bỏ mặc tình hờ hững,
Hạnh phúc đâu còn dưới mái tranh.

Khuyết Danh
***
Hoạ: Tình Buồn


Đêm về vắng lặng cảnh buồn tanh,
Lách tách mưa rơi gió đẩy mành.
Niềm ước xưa đành cam khuất mất,
Tơ duyên nay chịu bước không thành.
Tình yêu vuột mất thương đời trẻ,
Nổi xót ôm chầm tiếc tuổi xanh.
Có nhớ có buồn tim lặng nín,
Một mình một bóng mái nhà tranh.

Hồ Nguyễn 
(27-8-2020)

Nhân Ngày Giỗ Cha


Cha tôi sinh ngày 15/02/1910,mất ngày 01/12 năm 2009,thiếu 2 tháng rưỡi thì đủ 100 tuổi. Người gầy gò ốm yếu,lại bị suyễn từ nhỏ, nhưng ngoài ra thì rất dẻo dai, không bệnh hoạn gì, tỷ như cao máu,cao mỡ, tiểu đường...Dù đã ngoài 90 tuổi,cụ vẫn đi chợ mua trái cây,đồ ăn nhẹ,làm vườn,trồng hoa.Năm 2001,trong lúc đang trồng cây,cụ bị đau bụng và theo triệu chứng và khám bụng,tôi đoán cụ bị sạn ống dẫn tiểu.
Vào nhà thương, làm scan, thì đúng,nhưng cụ lại bị rất nhiều cục sạn trong bàng quang, mấy cục này, khi thay đổi vị trí,làm bí tiểu.Ngoài ra,nhiếp hộ tuyến cũng rất lớn,bác sĩ chuyên khoa khuyên nên mổ,một phần lớn vì tiểu ra máu, không cầm được.Mổ xong, tới khuya, sút chỉ,chảy máu phải mổ lại,biến chứng tùm lum...Lúc đó là tháng 05/2001. Cụ nằm Soins Intensifs gần 2 tháng, intube, đủ thứ giây nhợ, mà rốt cuộc cụ qua khỏi...

Mợ tôi mất năm 2004, 93 tuổi ta.Lúc đó, chúng tôi nghĩ, cha tôi chỉ trụ được vài ba tháng,nên đã lo hậu sự, giống hệt của mẹ tôi, hũ tro thì có 2 ngăn,một ngăn để trống, phần của ông cụ. Nhưng không ai ngờ, cha tôi trụ được 5 năm...Cha tôi minh mẫn, nhớ đủ thứ chuyện, không ở nhà già ngày nào, anh chị em chúng tôi chia nhau tới ở với cụ, tại căn nhà tôi mua năm 1986 khi tôi đi làm đã có tiền, để hai cụ ở cho thoải mái.(Cụ mất năm 2009, căn nhà bỏ trống, gần 5 năm, tới 2014 tôi mới dụ được con gái tôi về ở, tôi bán cho vợ chồng nó với giá vừa bán vừa cho, và tôi giữ căn nhà đầy kỷ niệm với cha mẹ) 

Khoảng hơn một tháng trước khi mất, chúng tôi phải đưa cụ vào nhà thương, vì không đủ thì giờ và khả năng để lo mọi thứ. Trong thời gian này, cụ hơi lẫn,và có hai điều làm cụ bị ám ảnh:
- Buổi nào tôi bận, không lo cho cụ ăn được là cụ lẩm bẩm: chắc ông Bình lại đi đánh bài rồi. Thì ra thằng con cờ bạc đã ám ảnh cha tôi cả đời..
- Cha tôi đi kháng chiến,hồi cư năm 1954, rồi đi cư vào Nam,xin hồi ngạch công chức,nhưng bị điều tra,cũng mất một thời gian. Trong khi chờ đợi,cha tôi đi làm ở sở Ba Soong,khi đó còn Tây.Buổi trưa,cụ ăn cơm do mẹ tôi sửa soạn từ nhà.
Cha tôi, vốn dân trường Bưởi, nói tiếng Pháp rất hay, tụi Tây có cảm tình, thường mời đồ ăn nhưng cha tôi đều từ chối.. Có một lần cụ nhận quả táo nhưng không ăn, đem về cho con. Tới giờ mỗi khi nhớ tới chuyện này là tôi lại khóc...

Muốn hồi ngạch, cha tôi cần một cái decret của bộ Tư Pháp, cái đó nó làm cụ lo sợ và bị ám ảnh, nên khoảng mấy tuần cuối đời, lâu lâu cụ lại hỏi đã có decret chưa.Có lần, tôi đưa cho cụ cái menu và dỗ "đây rồi,cậu đừng lo". Cha tôi chăm chú đọc,rồi thắc mắc:"decret gì mà có soupe với carotte". Nhớ tới chuyện này, tôi vừa thương cha,vừa cười ra nước mắt.


Cha tôi được chuyển về nhà thương cho người ở thời kỳ cuối,và cụ mất 2 ngày sau. Lúc đó tôi đang ngồi cạnh cụ đọc sách, nghe một tiếng thở dốc và cụ đi,  khoảng gần 2 giờ sáng.
Bài thơ tôi làm năm 2009,không có đề:

Trăm năm luân lạc chốn trần gian,
Một sớm ra đi thật nhẹ nhàng.
Sáu kỷ chăn chung tình lai láng,
Năm năm gối lẻ ,dạ bàng hoàng,
Con buồn tiễn biệt cha dưa muối,
Ta mừng gặp lại bạn tào khang.
Kháng chiến,di cư rồi viễn xứ,
Nơi đây xin gửi nắm xương tàn.


Chú thích:
- Một kỷ là 12 năm.Cha mẹ tôi sống chung 72 năm,là Sáu kỷ.
- Mẹ tôi mất 2004, trước cha tôi 5 năm.
- Cha tôi vốn dân nhà quê,l àng Phúc Tằng,huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Tuy cụ ăn đủ thứ, nhưng vẫn thích những món nhà quê,như cà bung,dưa chua..

Nhân tiện đây, tôi xin nói thêm một chút về mấy người bạn của gia phụ. Cha tôi,quê ở làng Phúc Tằng, huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang.( Nhà thơ Hoàng Cầm sinh ở đây,ngụ cư,không phải gốc và có tên là Bùi Tằng Việt).
Hồi nhỏ, cha tôi có học chữ nho, về sau mới học quốc ngữ,rồi vào trường Bưởi.
Bạn tiểu học của cụ là bác Nguyễn Kim Trọng,thân phụ của BS Nguyễn Hữu Hiệp và bác Nguyễn Huân Lãng,thân phụ của anh BS Nguyễn Huân Trường, cả hai đều ở Montreal. Còn nhiều lắm, kể hết thì quá dài, tôi chỉ muốn nhắc đến hai bạn thơ, dù cha tôi chưa bao giờ làm thơ:
- Bác Đoàn Văn Thăng, tức nhà thơ Mai Lâm. Bác sinh năm 1915, nhỏ hơn cha tôi 5 tuổi, ở làng Hoàng Mai, gần quê tôi. Làng bác có cây thị rất lớn, nhưng chắc cũng nhiều mai, nên mới lấy Mai Lâm làm bút hiệu. Bác là người vì nghe tin vịt,tưởng Tản Đà qua đời,nên làm thơ viếng. Mấy câu đầu như sau:

Ôi thôi,hỡi bác Tản Đà,
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời.
Xa trông mây nước ngậm ngùi,
Tấm lòng thương nhớ,mấy lời viếng thăm.

(Khi đó bác đang làm công chức ở Lạng Sơn)
Tản Đà đọc xong thì rất thích chí,và trả lời:

Nực cười cho bác Mai Lâm,
Thương nhau chi mấy mà lầm khóc nhau,
Suối vàng ai đã vội đâu,
Mà cho ai nhớ ai sầu hỡi ai.
(Đây cũng là 4 câu đầu)

Trong thời gian đi kháng chiến(không phải cộng sản) chắc bác ở gần cha tôi, miền Sơn Tây, Thái Nguyên, làm nhiều thơ,cha tôi còn giữ một bài,đề tháng 12/1950:

Thoi thóp nắng chiều tắt nẻo khơi,
Núi rừng man mác,tứ u hoài
Thì thầm gió nhắn,đồi lau chạy,
Lặng lẽ cây nhìn bóng nguyệt trôi,
Phút phút mong tin,tin chẳng đến,
Ngày ngày đợi khách,khách là ai,
Ba Vì,Yên Thế,sao xa quá,
Hờ hững sông Đà,nước chảy suôi.

Sau khi di cư vào Nam,bác và cha tôi vẫn qua lại thân thiết.

Bác mất ở Việt Nam,năm 1995. Con gái bác là Đoàn Ngọc Kiều Nga ở Mỹ,  nhưng tôi không có tin tức.
- Bác Đông Xuyên Nguyễn Gia Trụ, người làng Đông Ngạc,sinh năm 1906, hơn cha tôi 4 tuổi. Bác làm nhiều thơ chữ nho, viết trên giấy rất đẹp, nhưng là thơ ca tụng cha tôi nên không giám đưa lên đây.
Sau khi mất nước, bác và bác Mai Lâm vẫn qua lại thường xuyên với cha tôi.
Khoảng cuối 1981, đầu 1982, cha mẹ tôi lo bán nhà,sửa soạn qua Canada, bác tặng bài thơ:

Nghe nói ông anh sắp bán nhà,
Qua Gia Nã Đại,nước người ta,
Tự do muốn kiếm,hoa sai lắm,
Hạnh phúc không kỳ trái nẩy ra,
Há vị áo cơm mà chậy vậy,
Mặc dù sương tuyết cũng xông pha.
Bác đi,tôi ở,ai vui khổ,
Quả đất hai đầu,nhớ bạn xa.
Bác Mai Lâm đã hoạ bài thơ này:
Nước còn phải bỏ,nói chi nhà,
Cảnh ấy riêng gì bọn chúng ta,
Bàn độc một đàn chân nhẩy đến,
Nằm vùng mấy đứa mặt ườn ra,
Chập chờn cơn mộng giang hà tỉnh,
Tan tác dư đồ huyết lệ pha,
Đất lạ rồi đây ai bạn cũ,
Trùng phùng buổi ấy ước không xa.

Bài xướng của bác Đông Xuyên thì bình thường, nói về sự chia ly và nỗi nhớ mong, Bài họa của bác Mai Lâm thì cay đắng, có vẻ rất hận tụi VC và đám nằm vùng.Bác mong ngày trùng phùng,nhưng buồn thay,ngày ấy không bao giờ tới,vì bác qua đời năm 1995,bác Đông Xuyên năm 1994 và cha tôi năm 2009. Thơ tiễn biệt thành thơ vĩnh biệt.

Ngày xưa,cụ Tôn Thất Thuyết,lưu vong và mất ở Long Châu, dân địa phương đã cảm thương mà phúng câu đối:

Nhất đán hương hồn quy Tượng Quận.
Bách niên tàn cốt ký Long Châu.

Cha tôi bây giờ cũng vậy, trăm năm tàn cốt ở nơi xứ lạ quê người...

Nguyễn Thanh Bình

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2020

Thơ Tranh: Con Thương Mẹ Lắm


Thơ & Thơ Tranh: Ý Nga

Thương



Thương bậu ưa nhìn thực dễ thương
Thương vì đôi má phính mầu hường
Thương lời khướu hót vang muôn hướng 
Thương giọng oanh ca dậy vạn phương
Thương dáng thanh tao bao kẻ tưởng ...
Thương hình yểu điệu lắm người vương 
Thương em hấp dẫn không sao cưỡng!
Thương kính như tân há phải thường!

Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái

Cuối Đường Tử Sinh



Cuộc đời có nghĩa chi đâu
Vừa vui sum họp đã sầu chia ly
Lá hoa mới buổi xuân kỳ
Kịp qua lửa hạ tiếng ve đáp buồn

Quốc kêu hồn nước hoàng hôn
Xa quê ta đã cuối đường tử sinh
Mưa bên nàng, tuyết bên anh
Con Tạo luôn vẫn đành hanh trêu người
Thương nhau lẫn tiếng khóc cười
Ngày mai rồi cũng về nơi Tuyền Đài
Thì trao trọn hết bờ vai
Vòng tay siết chặt cho hoài nhớ nhau

Locphuc

Sáu - Tám


Xướng:

Sáu - Tám

Ai đưa câu sáu đi rồi
Bỏ quên câu tám đêm ngồi dưới sương
Trăng xanh khuyết nửa bờ thương
Ngọn mây che một nửa vương mắt người
Nghe trong mông muội tiếng cười
Như rìu chém gió cây đười ươi rung
Giữa không gian lặng vô cùng
Mà thời gian vẫn lạnh lùng đứng yên
Ta vừa lạc mất chữ duyên
Tìm đâu âm tiết tròn nguyên câu tình!

Phong Tâm
12.06.2020
***
Bài Họa:

Câu Tình Lục Bát

Câu tình lục bát gieo rồi
Sao câu tiếp vận còn ngồi hứng sương?
Đôi bờ cách một sông thương
Nửa trăng khuyết mảnh buồn vương bến người
Trong mơ vắng tiếng thơ cười
Trong thu cung lạnh phím rười rượi rung
Nhẹ rơi chiếc lá cuối cùng
Không gian vô tận … lạ lùng tịnh yên!!!
Ai dùm nhặt đóa hoa duyên
Xin gieo cung đẹp vẹn nguyên chữ tình!

Yên Dạ Thảo
21.08.2020

Đồ Sơn Tự Độc Du 涂山寺獨遊 - Bạch Cư Dị

(Ông Cò&Con trai trưởng ung dung hiking trên đường đèo 
ngày thứ Bẩy ở West Virginia)

Nguyên tác      Dịch âm                             Dịch thơ

涂山寺獨遊    Đồ Sơn Tự Độc Du       Dạo Chơi Chùa Đồ Sơn

野徑行無伴    Dã kính hành vô bạn,     Lối vắng đi không bạn.
僧房宿有期    Tăng phòng túc hữu kỳ. Ngủ chùa phải hẹn kỳ.
涂山來往熟    Đồ sơn lai vãng thục,     Đồ Sơn đi về miết.
惟是馬蹄知    Duy thị mã đề tri.           Quen chân ngựa tự đi.
Bạch Cư Dị

Ghi Chú:
Chỉ có 20 chữ mà tả được nhiều thứ quá:
Câu 1:
Tả nỗi cô đơn của một người đi một mình trên đường mòn trong rừng núi hoang vắng ( để lên chùa Đồ Sơn ).
Câu 2:
Lên chùa phải hẹn trước để sư sắp đặt việc ăn nằm ( vì chùa này nhỏ, nghèo và thiếu tiện nghi ).
Câu 3 & 4:
Tác giả thăm chùa hoang vắng này thường xuyên đến nỗi ngựa đã quen đường không cần chủ điều khiển. Con ngựa là một loại yêu tinh trung thành với chủ; nó theo chủ tới mọi nơi, ở mọi lúc để dẫn đường cho chủ và bảo vệ chủ.
Rất thân thiện. Rất kiên trì. Rất dễ thương. Rất trung thành.

 Con Cò
***
Nguyên tác:   Dịch âm:                       Dịch thơ:
涂山寺獨遊    Đồ Sơn Tự Độc Du       Dạo Chùa Đồ Sơn Một Mình

野徑行無伴    Dã kính hành vô bạn     Đường vắng không đồng hành
僧房宿有期    Tăng phòng túc hữu kỳ Ngủ chùa có hẹn trước
涂山來去熟    Đồ sơn lai khứ thục       Đi về lối đã thuộc
惟是馬蹄知    Duy thị mã đề tri           Con ngựa cũng quen bước.
Bạch Cư Dị

Ghi chú:
Đồ sơn: theo ghi chép của lịch sử Trung Hoa cổ đại, Đồ sơn có 3 địa điểm: một ở đông nam huyện Hoài Nguyên, An Huy trên bờ đông sông Hoài; một ở tây bắc huyện Thiệu Hưng, Chiết Giang; và một bên sông Dương Tử ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên, còn có tên là Vũ Sơn.
Đồ sơn tự: chùa trên núi Đồ Sơn trên bờ nam sông Dương Tủ ở Trùng Khánh, còn có tên là chùa Sùng Lâm. Tương truyền là Vũ Vương và hoàng hậu Đồ Sơn sống nơi đây để tránh lũ lụt. Sau cách mạng vô sản, ngôi chùa cổ mất lần nhang khói, tượng, và cột sắt đo nước của Vũ Vương. 
Độc du: du ngoạn một mình
Dã kính: đường mòn hoang dã ở thôn quê
Bạn: người cùng đi
Tăng phòng: nơi ở của chư tăng trong chùa
Hữu kỳ: có thời hạn
Lai khứ: đi đi về về
Thục: quen thuộc
Duy: chỉ có
Mã đề: móng ngựa, chỉ con ngựa

Phí Minh Tâm
***
Một Mình Dạo Chùa Đồ Sơn

Không bạn trên dốc vắng
Ngủ chùa hẹn trước thôi
Đô Sơn năng tới viếng
Ngựa cũng thuôc đường rồi

Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái
***
Đồ Sơn Tự Mình Đi

Lối vắng không bè bạn
Phòng tăng phải hẹn kỳ
Đồ Sơn qua lại thuộc
Vó ngựa quen đường đi

Lộc Bắc
***
Đồ Sơn Tự Độc Du 

Dã kính hành vô bạn,
Tăng phòng túc hữu kỳ,
Đồ Sơn lai vãng thục,
Duy thị mã đề tri.

Giải Thích:
- Đồ Sơn,tên chùa,không biết ở vùng nào,vì có tới 3 ngôi chùa cùng tên.
- Độc: một mình.
- Du:đi chơi.
-Dã:đồng ruộng,chỗ hoang vu.
- Kính:đường đi,đường nhỏ.
-Tăng:Sư,người tu đạo Phật.
- Thục: quen thuộc,biết rõ.

Dịch Nghĩa:

Một Mình Đi Chơi Chùa Đồ Sơn

Đi trên đường hoang dã,không có bạn.
Muốn ở phòng của sư,phải có hẹn kỳ,
Quen tới lui Đồ Sơn,
Chính là do ngựa quen đường.

Bài này,thú thật,BS đọc mà không mấy cảm xúc,chỉ thấy được nỗi cô đơn của tác giả,ở nơi hoang vắng,không quen ai,chỉ có con ngựa làm bạn.

Dịch Thơ:

Lối hoang bạn chẳng đi cùng,
Phòng sư muốn ở phải thông báo kỳ,
Đồ Sơn lui tới nhiều khi,
Chính nhờ ngựa nhớ đường đi lối về.

Bát Sách.
***
Dạo Đồ Sơn một mình
Đường vắng ta một mình
Đến chùa phải báo trước
Đồ Sơn đã quen thuộc
Ngựa cứ tự bước đi

Thanh Vân
***
Xin góp bài thơ dịch:
Độc hành đường thôn dã
Viếng chùa cần định kỳ
Đồ Sơn đi lại mãi
Ngựa quen đường cũ đi.

Hoàng Xuân Thảo
***

Ngựa quen đường cũ tới chùa
Ở nơi hoang dã gió lùa quanh năm
Nhớ sư cụ nên viếng thăm
Ta bà bàn chuyện trăm năm hững hờ
Thế sự xáo trộn buông lơ
Kiếp người tới bến chẳng chờ thoát siêu
Ngoảnh lại một kiếp tiêu điều
Lên voi xuống ngựa nay diều đứt dây

Đồ Cóc

Imagine - John Lennon (The Beatles)




Imagine there's no heaven
It's easy if you tru
No hell below us
Above us only sky
Imagine all the people
Living for today...

Imagine there's no countries
It isn't hard to do
Nothing to kill or die for
And no religion, too
Imagine all the people
Living life in peace...

You may say I'm a dreamer
But I'm not the only one
I hope someday you'll join us
And the world will be as one

Imagine no possessions
I wonder if you can
No need for greed or hunger
A brotherhood of man
Imagine all the people
Sharing all the world...

You may say I'm a dreamer
But I'm not the only one
I hope someday you'll join us
And the world will live as one

John Lennon
(The Beatles)
***
Phóng Tác: 

Hãy Tưởng Tượng

Hãy tưởng tượng thiên đường không có
Thử mà xem, bạn ạ, dễ thôi
Trên đầu ta chỉ có bầu trời
Dưới ta, âm phủ thôi hiện hữu.
Hãy tưởng như chúng ta, toàn thể
Cùng sống vui như thế hôm nay...

Hãy tưởng tượng mọi quốc gia đây
Không còn nữa, chuyện này không khó.
Và tưởng như những tín ngưỡng nọ
Cũng không còn, hỏi có gì đây
Để giết chóc, để phải xả thây?
Hãy tưởng đi, một ngày nhân loại,
Sống an bình trên toàn thế giới.

Có thể bạn sẽ nói tôi mơ
Nhưng tôi không là người duy nhất
Mong bạn đến một ngày không xa
Biến thế giới chúng ta thành một.

Hãy tưởng như không còn tài sản.
Bạn có chấp nhận thế không cơ?
Không tham lam, không còn đói kém,
Ai cũng là thân thuộc, bạn bè.
Hãy tưởng như tất cả chúng ta
Cùng sẻ chia những gì thế giới
Đã hiến tặng, mọi người, mọi giới.

Có thể bạn sẽ nói tôi mơ
Nhưng tôi không là người duy nhất
Mong bạn đến một ngày không xa
Biến thế giới chúng ta thành một.

Mùi Quý Bồng
07/18/2020

Vu Lan Nhớ Má


    Người ta hay nói thắng về nội, thối về ngoại. Tôi không biết thiên hạ như thế nào. Riêng tôi, khi khốn cùng nhất, khi buồn bã nhất tôi lại về ôm lấy má. Không phải để kể lể những đau khổ của mình. Mà là chỉ để ôm má, hít cái mùi mồ hôi nồng nàn quen thuộc và nghe mình nhẹ nhàng nhiều lắm. 

    Chuyện không vui của tôi, nhất là về chồng, con tôi hoàn toàn không nói gì với má. Tôi không muốn má tôi buồn. Má đã quá cực khổ vì chồng, vì con, vì cuộc sống. Hãy để má vui trong niềm hạnh phúc của con cái. 

    Tôi "Xuất giá tòng phu" theo chồng. Má tôi không can ngăn, nhưng khóc nhiều vì má chỉ có tôi là con gái. Má sợ tôi làm dâu khổ cực, lo tôi không chịu đựng được thời tiết miền Trung. Nhất là má không hề đi đâu xa làm sao thăm con gái. 

    Rồi Sài Gòn mất, em tôi bặt tin, tôi cũng vậy. Tội nghiệp cha mẹ già khóc ráo nước mắt vì con. Chờ em tôi hoài không thấy, má cầm bằng thằng 10 đã chết. Con Chín không tin tức, chết sống không hay. Má ăn không ngon, ngủ không yên. Má mòn mỏi, gầy rạc cả người, đầu óc mông lung lúc quên lúc nhớ.

    Vậy mà sau mấy năm, tôi lủi thủi bồng con về nhà.Tôi bước qua cổng nhà sân trước, chưa gặp được ai mà nước mắt tôi đã ràn rụa. Tôi tưởng chừng như mình sống lại. Cực khổ chi không biết, về nhà, được sống bên má là tôi đã tìm lại cuộc đời mình. 

    Nghe tiếng chó sủa, ba tôi bước ra trước hiên nhà, má tôi đứng ở thềm che mắt nhìn ra. Chừng nghe ba tôi kêu lên"Con Chín" Má tôi bỏ cả dép chạy tuôn về phía mẹ con tôi. Tôi quăng giỏ đồ, quên luôn cả con, tôi ôm lấy má. Tôi khóc như trút hết ruột gan. Như trút hết bi ai, khổ sở ra ngoài. Mùi mồ hôi quen thuộc của má sao làm tôi yên bình đến thế. 

    Cảm giác đó sống mãi trong lòng tôi. Cảm giác tìm lại cội nguồn. Về nơi mình yêu thương gắn bó. Và tôi đã thật sự " Thối về ngoại" để về bên cha mẹ ruột, những lúc cuộc sống tôi bấp bênh và buồn bã nhất.

    Buổi sáng đầu tiên của ngày đoàn tụ. Tôi thức dậy bước ra nhà sau. Một buổi sớm mai đẹp nhất trong đời. Nắng lung linh trên cành cây vú sữa sau nhà. Không khí quê nhà sao mà trong lành quá đỗi. Ở nhà bếp má đang nấu cho tôi một nồi cháo nấm mối thơm lừng, cái mùi nấm mối ai ăn một lần rồi phải nhớ hoài. 

    Tôi bước tới ôm lấy má. Sao mà vòng tay tôi lỏng le vậy nè! Thì ra má tôi ốm hơn trước quá nhiều. Tôi hít thật sâu như hưởng cả hương hoa tốt đẹp của đất trời. Mà không! Chỉ là mùi của má tôi. Cái mùi thịt da quen thuộc từ thuở tôi còn bé bỏng. 

    "Quê nhà và má". Tôi có cảm giác như mình còn nằm mơ. Cuộc đời quá đẹp. Ơn trên vẫn luôn giúp tôi mọi điều. Tôi đã được sống còn, tôi đã thoát qua một giai đoạn kinh khủng nhất cuộc đời. Giờ đây tôi được về với má, tôi sẽ vì má, vì con mà không còn sợ bất cứ điều gì. Má ơi! con gái má đã trưởng thành, sẽ đứng lên chịu đựng tất cả bão giông cuộc đời để được sống bên má, để được ôm lấy má mỗi ngày. 

    Tôi thật sự biết đời khi đã bước qua một đoạn đường gian truân định mệnh. Tôi nhìn ra cái quý báo trong tình mẫu tử. Tôi có cảm giác tôi yêu thương má tôi trăm vạn lần hơn xưa. Vườn nhà tôi đẹp hơn, tình yêu thương gia đình nồng nàn hơn bao giờ hết. 

    Tô cháo má nấu bằng tất cả tình yêu của một người mẹ. Gia vị nêm trong đó là rau cỏ từ vườn nhà mà mỗi sáng má chăm chút tưới nước, bắt sâu. Tôi ăn mà chảy cả nước mắt. Có thể vì thương má, vì mừng mà cũng vì vị cay của những hạt tiêu má hái từ vườn nhà.

    Sau khi mẹ con tôi đã ăn xong. Ba bước xuống đưa tiền cho má đi chợ. Tôi ngạc nhiên quá đỗi. Bây giờ đất nước xoay chiều, xã hôi thay đổi, nhà tôi cũng thay đổi rồi sao? Tại sao ba phải đưa tiền đong gạo phát cho từng bữa chợ? tại sao vậy? Má tôi đi ra cổng tôi còn đứng đó tần ngần, hai mắt cay xè. Tự dưng tôi thấy mình hụt hẫng. 

    Ba dường như hiểu được những suy nghĩ trong đầu tôi. Ba bước lại cười cười. 
Con đừng ngạc nhiên! Ba không phải không tin má con. Nhưng từ sau ngày 30 tháng tư. Mấy đợt đổi tiền, má con không còn tính ra được đồng tiền sử dụng. Bả lộn tiền trước 75, sau 75, tiền cũ, tiền mới tùm lum. Trong đầu bả tiền bạc sao mà lung tung lộn xộn, tính mãi không ra. Má con không chịu nỗi với những mất mát và thay đổi hiện nay. Cuối cùng má con giao quyền giữ ngân quỹ gia đình lại cho ba. Khi nào cần xài cái gì thì ba đưa và mua từng đó là xong. Bả không còn muốn giữ tiền, không muốn đi hội họp hay giao thiệp bên ngoài. Bả bây giờ như tu tại gia để cầu nguyện cho con và thằng 10. Thường thì gửi chị Sáu con đi chợ mua thức ăn dùm. Hôm nay con về, má con quá vui nên mới đi chợ đó thôi.

    Thì ra tôi đã hiểu. Những biến cố thời cuộc và mất tin tức con cái đã đã ảnh hưởng không nhỏ tới tâm trí má tôi. Trong tâm hồn đơn giản của bà. Chính phủ nào cũng là chính phủ. Công Sản hay Quốc Gia người dân cũng đầu tắt mặt tối kiếm miếng cơm ăn. Mấy đứa con bà đi lính. Mấy đứa cháu trong xóm hay bà con xa đi theo phía bên kia. Hòa bình rồi, hết chiến tranh cùng nhau về làm ăn sum họp gia đình. Có cái gì mà phải bị tù đày không biết ngày về. Có cái gì phải bị tịch thu nhà cửa, lấy đất lấy nhà. Có cái gì phải lên loa chửi rủa ra rả cả ngày. Má tôi và má chồng tôi, những người mẹ chơn chất tội nghiệp, là nạn nhân của chiến tranh chịu nhiều gian truân và mất mát quá lớn.

    Tôi có điều ân hận, là tôi chưa cùng má tôi chụp một tấm hình chung nào. Ngày đó muốn chụp hình phải đi tới tiệm Má tôi thì nhà quê, rất sợ phải chụp hình. Còn tôi lại không muốn ép má.Thật tình tôi cũng ỷ y vì mình không hề nghĩ đến phải có ngày bỏ má để đi xa. 

    Bây giờ với thời đại tiên tiến, máy móc dư thừa. Cầm Iphone, ipad trên tay, nếu còn mẹ, bạn hãy bấm cho mẹ những bức hình mỗi khi có dịp. Bạn hãy nghiêm túc chụp hình cho mẹ mỗi năm, để thấy sự thay đổi nơi mẹ. Hãy yêu quý thời gian được có mẹ bên cạnh. Đó là những ngày đẹp và thiêng liêng nhất trong đời. Đừng như tôi mà tiếc nuối thì đã quá muộn màng. 


    Má ơi! Vu Lan lại về nữa rồi. Bao nhiêu năm má mất. Nhưng sao cứ mỗi mùa Vu Lan con lại vẫn thấy má luôn hiện hữu bên con. Khi cầm những sợi tóc của mình rụng. con lại nhớ má và thấy mình có lỗi. Con nhớ bàn tay má vuốt ve trên mái tóc dài đen nhánh thuở con mới lớn. Con đua đòi bạn bè cắt ngắn hay uốn quăn. Lần nào má cũng không cho. Má vuốt tóc con yêu thương như nhớ lại mình thuở nào trẻ trung xinh đẹp. Mái tóc dài mượt mà khỏe mạnh ngày xưa đó con không biết quý, không biết nâng niu. Tuổi trẻ dại khờ chỉ mơ mộng hão huyền, chỉ muốn thay đổi mới. 

    Con gái duy nhất của má chạy theo chữ nghĩa học hành quên đi mình có một người mẹ tảo tần vất vả. Quên đi má cần có người để tâm sự an ủi những lúc cơm canh không ngọt. Những lúc má thật cô đơn. 

    Rồi con đi làm xa nhà, lấy chồng xa xứ. Những lần về thăm lại được má chìều chuộng thương yêu lo lắng mọi điều. Con chỉ biết hưởng thụ mà không biết đáp đền. Đến khi vận nước xoay chiều, con sa cơ thất thế trở về bên gối má thì má đã già. Người ta mai mỉa: “Cóc chết ba năm mới quay đầu về núi” hay: “Ăn học cho cố rồi cũng về cầm cái cuốc lao động”. Con nhịn nhục, quăng bỏ tự ái làm người qua một bên, con dang nắng giữa trời để kiếm miếng cơm ăn, để ba má khỏi phải gánh vác thêm hai miệng ăn trong nhà. Má ơi! Dù con cố gắng thế nào, sự thật một lần nữa má cũng phải đem thân già bảo bọc cho con, chăm lo cho cháu. 
…….
    Má ơi! Khi con đưa tay mân mê mái tóc bạc xác xơ của má là lúc con phải nghe lời má cắt cụt nó đi để cạo trọc đầu cho má. Má nói:" Đầu má nặng nề nhức nhối quá. Những nghiệp chướng mang vào thân đã quá lâu. Bây giờ con hãy cạo sạch nó đi cho nhẹ thân của má." Con cầm cái kéo, cắt những sợi tóc bạc rơi lả tả xuống nền sân sau mà thương mà tủi. Cảm giác đó xé nát trái tim con vì con biết đoạn đường đời má còn sống bên con là rất ngắn. 

Con khẽ đưa lưỡi dao
Tóc má rơi nhè nhẹ
Những sợi tóc trắng xóa
Rớt xuống đời hư không.

Tóc má con cạo sạch
Xóa những điều đảo điên
Má mỉm cười khẽ nói
"Phủi sạch mọi ưu phiền "

Ôi! Một đời vất vả
Tóc xanh rồi bạc phơ
Bây giờ cạo trọc lóc
Đời như một giấc mơ.

Má xoa đầu hoan hỉ
Hết nhức đầu con ơi.
Những nặng nề vướng bận
Má phủi sạch hết rồi.

Đầu má giờ trắng xóa
Tâm nhẹ nhàng thảnh thơi
Mây bay không trở lại.
Con sợ ngày chia phôi.

    Con tắm rửa cho má lần cuối cùng và cũng là lần đầu tiên con thực sự nhìn toàn thân của má. Má như một bộ xương khô gầy tóp tội nghiệp. Má nhắm mắt bình yên, gương mặt bình thản như yên lòng trả lại mọi sự cho thế gian. Hơi thở má yếu đuối thoi thóp như ngọn đèn trong cơn gió bão. Con lau từng ngón tay, ngón chân và khắp người má với rượu pha nước ấm. Con mặc cho má bộ đồ trắng má cất kỹ dưới đáy rương. Bộ đồ rộng thùng thình trong cơ thể hao gầy của người mẹ thương yêu. Con niệm Phật bên tai má và má hắt hơi thở sau cùng trong bàn tay nắm chặt của con. 

    Vĩnh biệt má yêu kính nhân từ của con. Con không khóc được dù con thương và yêu kính má vô cùng. Trong thâm tâm con, má sẽ được siêu thoát hay đầu thai, tái sinh làm một người nào đó xinh đẹp, hạnh phúc. Bởi vì cả cuộc đời má đã gieo nhiều duyên lành, làm nhiều điều tốt. Trái tim nhân từ của má mở ra không chỉ cho riêng con cái của mình mà cho biết bao người xung quanh. 

Nguyễn thị Thêm