Thứ Tư, 27 tháng 3, 2019

Mưa Chiều Miền Trung



Bài Xướng:
Mưa Chiều Miền Trung


Tầm tã chiều nao cũng đổ mưa
Nước bao nhiêu trút vẫn không vừa
Mịt mù phố chợ đường im vắng
Lướt thướt hàng cây lá sũng thưa
Lầm lũi người qua, chân vội bước
Âm thầm kẻ đợi, mắt buồn đưa
Bầu trời xám đục màu sương khói
Như đã bao đời, tự thuở xưa...

Phương Hà
***
Các Bài Họa:

***
Chiều Mưa Thị Nại*

Nhớ cảnh Qui Nhơn dạo dưới mưa
Bờ xa sóng biển dáng chưa vừa
Đổ vô thành phố trong cơn rét
Trôi ngập con đường dưới trũng thưa
Sát cạnh yêu đương còn ái ngại
Bên nhau quí mến vẫn đong đưa
Hạt rơi rỉ rả khi chiều tới
Hai đứa trao nhìn…. kỷ niệm xưa!

Paris, 16/03/2019

Trịnh Cơ
*Thị Nại,tên bãi biển Qui Nhơn
***
Mưa Không Dứt Hạt

Một chuỗi thời gian sũng nước mưa

Sáng trưa chiều tối chảy quên vừa
Ngày không dừng lại câu hò ướt
Đêm vẫn nghe hoài tiếng sóng thưa
Có lúc thầm thì bên tai lãng
Đôi khi thổn thức bến đò đưa
Thế rồi cả tháng trời âm ẩm
Hong mãi tâm hồn chẳng ráo xưa

Hawthorne 16 - 3 - 2019.

Cao Mỵ Nhân
***

Mưa Phùng Huế

Lạnh lùng bấc tẩm tái phùn mưa
Áo mặc nhiều thêm chẳng ấm vừa
Sướt mướt hàng cây đường phố vắng
Im lìm ghế đá bóng người thưa
Sông Hương sóng nhớ âm hòa vỗ
Núi Ngự thông buồn tiếng vọng đưa
Ngày phạc phờ trông,đêm lại vẫn
Bốn bề gió rít hồng hoang xưa!

Lý Đức Quỳnh
***

Mưa Nhớ Người

Nhớ thời ra trận gặp mùa mưa
Trùm tấm poncho ấm cũng vừa
Đốt thuốc trao tay vương khói mỏng
Can giờ đổi bạn vướng cành thưa
Mơ gom kỷ niệm khi chờ đợi
Ước nhặt cuộc tình buổi đón đưa
Xối xả nước dầm đau ký ức
Mây vờn tâm tưởng vọng người xưa

Như Thị
***
Mưa Qui Nhơn

Qui Nhơn chợt nhớ những cơn mưa
Nhớ quá đi thôi nhớ chẳng vừa
Bán đảo Phương Mai ngày gió lộng
Tháp chàm Bánh Ít bụi cây thưa
Bánh bèo Sư Phạm cay the lưỡi
Rượu ấm Gió Khơi mắt thoáng đưa
Trường Nữ trưa về trong nắng hạ
Sông Côn giọng hát… tiếng Em xưa!

Montréal, 16/3/2019

Lộc Bắc
***

Mưa Kỷ Niệm

Vô tình gặp gỡ dưới làn mưa

Thềm nhỏ người đông trú chẳng vừa!
Nhanh nhẩu trao dù em khẽ đón
Rụt rè nhoẻn miệng mắt ngầm thưa
Làm quen vài phút mong trời tạnh
Trò chuyện đôi lời ngỏ ý đưa
Quê khách chừ ôn thời tuổi dại
Sao hoài nhớ mãi bóng hình xưa!!!

Như Thu
***

Mưa Sài Gòn

Kỷ niệm Sài Gòn những trận mưa
Đường sâu ngập nước vẫn chưa vừa
Bên hiên săn sóc khăn lau tặng
Dưới mái ân cần mũ mát đưa
Khép nép bên nhau,e ấp hỏi...
Rụt rè cạnh sát, ngại ngùng thưa...
Duyên trời xui khiến, từ hôm đó
Như đã thề nguyền tự kiếp xưa

Thanh Hoà
***

Mưa Ngâu

Tháng bảy mùa ngâu những giọt mưa,
Khóc bao niên kỷ vẫn chưa vừa.
Đêm trăng Chức Nữ khung tơ biếng,
Bến hẹn Ngưu Lang ô thước thưa.
Sướt mướt dù hoa tìm mái núp,
Lê thê nón lá gọi xe đưa.
Suốt ngày tầm tã mây u ám,
Câu chuyện giai kỳ sông Hán xưa.


Nguyễn Thị Mỹ Ngọc
Mar.16/2019.
***
Quê Mình

Ai từng đến Huế gặp mùa mưa
Nước đổ sông sâu mấy chẳng vừa
Vì lụt hằng năm đeo đẳng mãi
Nên người ngày tháng cứ dần thưa
Thăm em gió bão tần ngần đến
Nhớ mẹ thuyền đò biếng nhác đưa
Khí hậu quả là hơi khó ở
Bây giờ khắc khổ vẫn còn xưa


Thuyền Viễn Xứ
***
Mưa Huế

Rỉ rả chiều nay những giọt mưa
Bao ngày tầm tả cũng chưa vừa
Gió lùa Vĩ Dạ, cô em lạnh
Đò vắng Sông Hương, lữ khách thưa
Mấy nhịp Trường Tiền, mờ nhạt xóa
Tiếng chuông Thiên Mụ, lạnh lùng đưa
Trơ vơ thành quách buồn hiu quạnh
Lắng đọng sầu vương bóng cổ xưa


Thanh Trương
***
Ước

Ngoài đồng ngọn cỏ ngóng chờ mưa
Trải hạ mầm lên mộng khó vừa
Đất bỏng,lươn quằn, chân kiến rộn
Cây oằn, lá đổ, nhị hoa thưa
Đồi cao khóm trúc bơ phờ vẫy
Bãi vắng thân cò thảng thốt đưa
Hỡi gió mây dồn tuôn một trộ
Câu hò lại nối những làn xưa

Phạm Duy Lương
***

Mưa Huế Buổi Ấy

Thăm Huế đoàn mình hưởng buổi mưa
Tuyệt vời , đẹp quá , ý mong vừa ...
Máy bay hạ cánh,đường khô ướt
Xe đón chào người,tiếng gọi thưa.
Nhè nhẹ hạt buông trời mát mẻ
Dịu dàng gió lướt tóc đung đưa.
Phố phường phấp phới dù xanh đỏ
Nghe nói bây giờ vượt hẳn xưa.

Trần Như Tùng
***
Mưa Chiều

Chiều chiều thường đẫm những cơn mưa
Nước đổ miên man mãi chẳng vừa
Trời đất âm u, mây quánh đặc
Mặt đường sũng sĩnh, phố lưa thưa
Lòng đây dưng nhuộm niềm u uẩn
Ai đó thầm mong kẻ đón đưa
Rả rích nao buồn hơn trấu …cắn
Lệ nhòa lại quẩn chuyện …ngày xưa..

Cao Bồi Già
17-03-2019
***
Nhớ Mưa Huế

Vô cùng nhớ Huế những chiều mưa

Kỷ niệm chao ơi kể mấy vừa
Đại Nội im lìm đường ngõ vắng
Đông Ba lặng lẽ bóng người thưa
Vân Lâu bến nước hò im tiếng
Diệu Đế chuông chùa báo vọng đưa
Góc phố hôm nao mình sánh bước
Chừ tuôn giọt lệ chuyện ngày xưa

Minh Thuý
17 tháng 3 - 2019
***
Chiều Mưa

Chiều buồn ngồi ngắm cảnh trời mưa

Gió rít từng cơn lạnh chẳng vừa
Xào xạc lá đùa màn nước mát
Âm thầm hoa giỡn bức rào thưa
Lòng dâng nỗi nhớ ngày đoàn tụ
Tâm rộn niềm thương buổi tiễn đưa
Cuối xóm âm vang gà cất tiếng
Nao nao trong dạ chuyện tình xưa.

Trần văn Hạng
***

Mưa Ban Mê

Tôi nhớ Ban Mê lúc gió mưa

Bụi tung lá cuốn biết sao vừa
Ào ào nước trút bao đường vắng
Vội vã người về những bước thưa
Sấm nổ rền vang trời chớp nhoáng
Cây nhào nghiêng ngã nhánh đong đưa
Giờ đây hạt nhẹ lăn vào kính
Nước mắt tuôn dài nhớ Bản xưa!

Thiên Hậu
***
Lụt Huế

Suốt tuần trời trút những cơn mưa,
Lụt cuốn trôi nhà khiếp chẳng vừa.
Thừa Phủ bến đò, hành khách vắng,
Đông Ba họp chợ, bạn hàng thưa.
Nước dâng nhanh chóng, đài thông báo,
Gió rít ào ào, âm vọng đưa.
Dân Huế khóc than bao thống khổ,
Thiên tai Trời giáng dữ hơn xưa.

Chánh Minh
17/3/2019
*** 
Mưa

Dai dẳng cả tuần chỉ thấy mưa
Nắng buồn trốn góc lạnh chưa vừa
Phất phơ nhánh động, đường xe vắng
Lủi thủi người đi, lối khách thưa
Lả tả giọt rơi dầm phố nhỏ
E dè bước chậm giữ chân đưa...
Miền Trung chiều xám giăng tên nước
Sương gió thiên thời... tự rất xưa.

Đặng Xuân Linh
***

Lụt Bão Miền Trung

Nghe lòng thổn thức những cơn mưa

Lụt bão miền Trung nhớ chẳng vừa
Phố thị dìu hiu trời tẻ ngắt
Thôn làng ảm đạm bóng lưa thưa
Mùa màng mất sạch vì triều cuốn
Cảnh vật tan tành bởi lốc đưa
Sóng cuộn bao người ôi! thảm quá!
Xin đừng xả đập, giống năm xưa…

Đức Hạnh
18 03 2019
***
Quê Nghèo

Gió hạ gom mây lại tạo mưa

Thủy triều lên xuống nhỏ to vừa
Rác trôi lểnh khểnh, người đi ít
Cây ngã nằm ngang, xe chạy thưa
Thầm nghĩ trần gian nhiều khổ lụy
Mong sao cõi tạm bớt sầu đưa
Quê nghèo gánh nặng bao nhiêu thứ
Từ dáng lưng thon chữ S xưa!

Phượng Hồng
***
Huế Buồn Muôn Thuở

Nhớ hoài xứ Huế những ngày mưa
Lụt lội khô ran như mới vừa
Xót vợ khó nghèo ăn sắn hẩm
Thương chồng giá rét đắp chăn thưa
Thời nay khấm khá hay làm bộ
Buổi ấy cơ hàn ít đãi đưa
Khắc nghiệt quê nhà không thuận tiết
Dân tình cam chịu chẳng hơn xưa 

Hữu Hảo
***

Nha Trang

Nha Thành lắm lúc đợi cơn mưa

Để hưởng trời trong nhiệt độ vừa
Khách đến tham quan càng tấp nập
Người vào thưởng ngoạn chẳng hề thưa
Trên đường bách bộ tay cầm nắm
Dưới nước bơi thuyền lướt sóng đưa
Chuẩn bị chào mừng du lịch biển
Năm này chắc hẵn sẽ hơn xưa

Hoàng Từ
***
Một Kỷ Niệm Buồn

Có tiếc bao nhiêu cũng chẳng vừa
Bóng người đã khuất giữa màn mưa
Niềm thương dào dạt...giòng châu chảy
Nỗi nhớ đong đầy ...tiếng gió đưa
Thềm vắng...càng đau hồn đá lạnh
Song buồn ...thêm nhạt sắc rèm thưa
Cố nhân đi mãi không về nữa
Để ánh trăng chờ nơi bến xưa! 

Thy Lệ Trang
***
Mưa Ngâu

Vợ chồng Ngâu khóc mãi mùa mưa
Nước đổ bao nhiêu vẫn chẳng vừa
Lã chã châu rơi trên phố vắng
Sụt sùi Lệ chảy dưới song thưa
Ngưu Lang bến bắc không ai đón
Chức Nữ bờ nam thiếu kẻ đưa
Tháng bẩy âm u buồn ảm đạm
Trời già ghen sắc thắm từ xưa

Lạc Thủy Đỗ Quý Bái

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

Thơ Tranh: Mê Mải Thu


Thơ & Thơ Tranh:Kim Oanh


Sắc Lụa Vàng Thu


Bài Xướng:
Sắc Lụa Vàng Thu


Sắc lụa vàng thu đẹp não nùng
Hoàng thiên khéo tặng món quà chung
Lung linh gió sớm tươi màu biếc
Bảng lảng mây chiều đậm nét nhung
Mấy dặm quan hà nghiêng cánh nhạn
Bao lần bão tố vững thân tùng
Rượu ngon nhắp chén Hoàng Hoa Tửu
Cảm tạ hồng ân chốn cửu trùng

Nguyễn Đức Cung

Philadelphia mùa Thu 2011
***
Bài Họa:
Thu Vàng Sắc Lụa


Nét đẹp nghìn năm chốn Nhị Nùng
Theo đường Nam tiến dệt tình chung
Đơn sơ, chẳng thẹn cùng vương giả
Duyên dáng, không màng với gấm nhung
Một sắc thu vàng thêm thắm lụa
Bao mùa đông xám vẫn xanh tùng
Heo may thoáng nhẹ trên tà áo
Lay động hồn ai giữa vạn trùng

Nguyễn Kinh Bắc
Philadelphia mùa Thu 2011

Sang Mùa


Bài Xướng:

Sang Mùa


Trời chuyển sang mùa lá biếc ơi
Vàng thay rực sắc cả chân trời
Sao không trả lại mùa thu cũ
Và cả người chung nhặt lá rơi

Đã mấy thu qua vẫn kiếm tìm
Một hình bóng cũ giấu trong tim
Bao mùa thu chết thu đà chết
Người hỡi phương nào mãi lặng im

Lờ lững từng không những tháng ngày
Mùa hơi thở ấm lá vàng bay
Đàn đâu dạo khúc thu xưa ấy
Tan nát cõi lòng lẫn đắng cay

Kim Phượng
***
Bài Họa:

Mùa Thu Chết


Hỡi người năm ấy đáng yêu ơi
Thu xưa đã khuất khỏi chân trời
Lối cũ vàng phai không dấu vết
Sao người vẫn nhặt lá thu rơi?

Bóng dáng ngày xưa rất dễ tìm
Thiên thu chờ đợi mãi trong tim
Thời gian không thể làm quên hết
Lần cuối nhìn nhau đứng lặng im

Như ánh hoàng hôn lúc cuối ngày
Tình ta theo gió cuốn mây bay
Nhưng luôn để lại niềm đau đớn
Cho người yêu cũ mắt mi cay.

ChinhNguyen/H.N.T.
Mar.3.2
***
Tình Thu

Tình Thu tha thiết lắm Thu ơi
Rực rỡ rừng phong đẹp ngất trời
Ngàn tía muôn hồng chen lá biếc
Vàng gieo lác đác cánh hoa rơi

Sương mù che phủ biết đâu tìm
Yêu dấu từng lay động nhịp tim
Thuyền mộng trăng chìm in đáy nước
Mái chèo khua nhẹ mặt hồ im

Ôi mùa Thu cũ đã bao ngày
Én nhạn lưng trời chắp cánh bay
Ai có ngờ đâu tan tác mộng
Chia lìa đôi ngả mới chua cay!

Hồ Công Tâm
***
Sang Mùa

Sang thu bên ấy lá vàng rơi
Để hạ về quê nhuộm đỏ trời
Nhặt cánh hoa lòng trang sách cũ
Nhớ người nhớ cả cánh diều rơi

Tìm ai ai biết mãi mê tìm
Bạc dấu phong trần một trái tim
Thay lá bao mùa thu chửa chết
Cửa lòng mở rộng lẽ nào im.

Năm năm tháng tháng lại qua ngày
Ta đợi tơ trời lượn gió bay
Đuổi bắt hồn nhiên như thuở ấy
Thèm ôm một chút vị nồng cay.

Cao Linh Tử
12/3/2019
***
Mùa Thương Nhớ


Nhung nhớ lên màu nhung nhớ ơi!
Mắt em xanh biếc nhạt màu trời
Tương tư nhóm lửa tình xa vắng
Hoa lá ngỡ ngàng đêm rụng rơi

Hình ảnh người xưa anh dõi tìm
Hương màu tan tác lệ hoen tim
Giấc hồ phiêu lãng trăng huyền thoại
Biển đón tà dương con sóng im

Quạnh hiu cay đắng những bao ngày
Kỷ niệm một thời mây trắng bay
Giây phút bồi hồi cơn gió thoảng
Chén quỳnh anh nhấp đượm men cay

Nguyên Trần
Toronto 12/3/2019
***
Giao Mùa

Vàng bay chất đống lá thu ơi...!
Mống đẹp vòng cung ở cuối trời
Nhớ mãi ngôi trường xưa Đệ Nhất
Bồi hồi bạn cũ bóng chiều rơi...

Bao mùa lá rụng đã đi tìm
Hình bóng người xưa giấu giữa tim
Thầm lặng đơn phương mà vẫn nhớ
Ai hay biệt tích cớ sao im...

Thoi đưa năm, tháng biết bao ngày
Sương khói lạnh lùng lá rụng bay
Nhạc khúc du dương thu tạm biệt
Lòng ta lịm chết nếm chua cay...(!)

Mai Xuân Thanh

Ngày 27/03/2019
***
Cảm Tác:

Đêm Thu

Một mình
Lặng lẽ với đêm thu
Nỗi nhớ trào dâng
Đến mịt mù
Đêm thu hiu hắt...
Càng hiu hắt...
Nghe gió Thu về...
Buốt lá Thu...

dovaden2010 (DVD)




Đất Phương Nam 1- Từ Kas Krobei-Prei Nokor Đến Bến Nghé-Sài Gòn Và Chợ Lớn (Phần 4)


Từ Kas Krobei-Prei Nokor Đến Phủ Tân Bình: 

Mãi đến hậu bán thế kỷ thứ XVIII, thì vùng Cù Lao Phố vẫn còn là một giang cảng rất quan trọng của cả Miền Nam. Tuy nhiên, Cù Lao Phố là một giang cảng nằm sâu trong đất liền, cách bờ biển khoảng trên 100 cây số. Thời đó sở dĩ nó có được vị trí thuận lợi là vì nó là khu thương mại đầu mối, vì từ đó người ta có thể dự trữ và đưa nông lâm sản đi các nơi khác rất dễ dàng. Tuy nhiên, đến khi vùng miền Tây Nam Phần được khai phá và trải qua bao cuộc bể dâu thì Giản Phố bị tàn phá không còn xây dựng lại được nữa. 

Năm 1747, một thương gia người Phước Kiến tên Lý văn Quang nổi lên mong biến vùng nầy thành một khu tự trị của người Hoa; rồi tiếp theo đó là đại quân Tây Sơn vào đánh chiếm và thiêu hủy toàn bộ Giản Phố. Người ta phải dời vùng đất trung tâm về một nơi gần miền tây hơn, chính vì vậy mà khu Bến Nghé-Sài Gòn được chọn và đồng thời vùng Nông Nại bị lãng quên một cách nhanh chóng hơn. Bên cạnh đó, do công cuộc khai khẩn ruộng đất của lưu dân người Việt nên vào khoảng thế kỷ thứ XVIII, nghĩa là không đầy một thế kỷ sau đó cả một vùng rừng rậm hoang vu Prei Nokor đã biến thành một trung tâm sản xuất nông nghiệp và buôn bán phồn thịnh. Thêm vào đó, từ sau năm 1788 khi thành Gia Định (thành Qui) được xây dựng thì vùng Bến Nghé đã một sớm một chiều biến thành xứ thành thị vì Thành Qui rất thuận tiện, trên chợ dưới bến nên người thời đó còn gọi là chợ Bến Thành với cả một dãy dinh thự, kho lẫm, xưởng đóng ghe thuyền và tàu chiến. Đồng thời, hệ thống đường sá và phố chợ được xây dựng rất qui mô. Đây là khu chợ Bến Thành Cũ, chứ không phải là chợ Bến Thành ngày nay(48). 
Chẳng bao lâu sau cả vùng hoang vu Bến Nghé-Sài Gòn, tức là vùng Sài Gòn-Chợ Lớn ngày nay đã nhanh chóng trở thành trung tâm chính trị và kinh tế cho cả vùng miền Nam. Trong câu thứ hai của bài “Phú Cổ Gia Định” có nói rất rõ là ‘Kim Thành’, tức Thành Quy được xây tám hướng: càn khảm cấn chấn tốn ly khôn đoài(49). 

Thời đó Prei Nokor đã trở thành phủ Tân Bình, một vùng đất bao la bạt ngàn gồm 4 huyện, 8 tổng và 460 xã. Các huyện gồm huyện Bình Dương có 2 tổng là tổng Bình Trị và tổng Dương Hòa, huyện Tân Long có 2 tổng là tổng Tân Phong và tổng Long Hưng, huyện Phước Lộc có 2 tổng là tổng Phước Điền và tổng Lộc Thành, và huyện Thuận An có 2 tổng là tổng Bình Cách và tổng Thuận Đạo. Mặc dầu đất đai vùng nầy không tốt bằng đất đai các vùng Mỹ Tho, Long Hồ (Vĩnh Long và Bến Tre), Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bạc Liêu), nhưng tiếng tăm của nó vẫn còn vang vọng đến ngày nay: “Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai.” Vào đầu thế kỷ thứ 19, hầu như đa phần các vùng đất chuyên canh đã được định hình tại các vùng trực thuộc phủ Tân Bình, như các vùng Hanh Thông (thuộc quận Gò Vấp) và Hanh Phú (nay là xã An Phú Đông) đã từng nổi tiếng là những xứ trồng cau của dinh Phiên Trấn. Người dân địa phương đã có kỹ thuật lấy hột cau thật nhanh và thật gọn bằng cách cứ để cho cau già và khô trên cây, rồi bóc lấy hột đem xuất cảng sang Trung Hoa và Tân Gia Ba. 

Tại Trung Chánh và Tân Thới Trung thuộc huyện Hóc Môn là hai nơi trồng trầu nhiều nhất trong xứ Gia Định. Vào đầu thế kỷ thứ XVIII thì vùng 18 thôn vườn trầu đã có nhiều cư dân hơn tất cả các vùng khác. Theo Gia Định Thành Thông Chí thì dân ở đây đều có sản nghiệp về trầu và cau. Ngày ngày đều có từng đoàn người gánh trầu và cau xuống bán ở chợ Sài Gòn và chợ Bến Nghé. Ngoài ra, từ giữa thế kỷ thứ XVIII, toàn vùng trực thuộc phủ Tân Bình như các vùng phía bắc và đông bắc của Sài Gòn Gia Định ngày nay, bao gồm Gò Vấp, Hanh Thông, Giồng Ông Tố, Phú Thọ, Hóc Môn, chạy dài lên Trảng Bàng, Khê Lăng, vân vân đã trở thành những vùng đứng đầu về sản xuất nông nghiệp, nhứt là trong canh tác lúa nước. 

Nhờ tọa lạc trên một vị trí hết sức thuận tiện nên bộ mặt của Phủ Tân Bình từ cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX luôn thay đổi theo chiều hướng đi lên về cả thương mại lẫn nông nghiệp. Lúc đó J.B. Chaigneau đã có nhận xét như sau về Sài Gòn Gia Định: “Vùng nầy được chia làm hai vùng sản xuất nông nghiệp một cách rõ rệt: vùng cao sản xuất đường, vải, bắp; vùng thấp sản xuất gạo.” Song song với việc phát triển về nông nghiệp và thương mại, các chúa Nguyễn còn cố gắng thiết lập làng xã, thôn xóm, cũng như biến những khu vừa định cư xong thành những khu với sắc thái văn hóa riêng biệt cho người Việt. Mặc dầu không mang tánh chuyên môn như tại trung tâm Hà Nội có các hàng phố rất đặc biệt, những khu xóm tại phủ Tân Bình thời bấy giờ cũng tập hợp được nhiều người làm chung ngành nghề như các khu “Cầu Muối” là nơi buôn bán muối, “Cầu Kho” là nơi tàng trữ chứa đựng hàng hóa chờ được phân phối đi các nơi. Những nơi khác có tên “Xóm Lá” là nơi buôn bán lá lợp nhà, “Xóm Cốm” là nơi tập hợp những nhà làm cốm, “Xóm Chỉ” là nơi sản xuất chỉ sợi, “Xóm Bột” là nơi tập hợp những nhà làm đủ các loại bột, “Xóm Lò Siêu” là nơi sản xuất đủ loại nồi, siêu và ấm nước, “Xóm Chiếu” là nơi sản xuất đủ các loại chiếu, “Xóm Dầu” là nơi sản xuất đủ các loại dầu ăn, như dầu phụng, dầu mè, dầu dừa..., “Xóm Lò Vôi” chuyên làm vôi, “Xóm Câu” là nơi tập hợp những ngư phủ trong vùng, “Xóm Than” là nơi tụ họp các vựa than cho toàn vùng, “Xóm Đệm Buồm” là nơi sản xuất tất cả những loại đệm và buồm cho toàn vùng, “Xóm Lò Rèn” là nơi rèn đúc dao búa và cung tên giáo mác, “Xóm Lò Gốm” là nơi sản xuất những đồ gốm sứ, vân vân. Trong khi phủ Tân Bình và các vùng phụ cận đang phát triển, nhưng chưa được nổi bật thì cùng lúc ấy các trung tâm thương mại khác cũng đang được thành hình như khu Cù Lao Phố, khu Mỹ Tho Đại Phố và khu Cảng Hà Tiên, vân vân. Ngay từ thập niên 1880s, Cù Lao Phố đã chứng tỏ vị trí quan trọng của nó sau khi nhóm di thần nhà Minh là Trần Thượng Xuyên đến đây lập nghiệp. Những người Minh hương nầy đã biến Cù Lao Phố thành một trung tâm thương mại quan trọng vào bậc nhất của miền Nam thời đó với cảnh phố thị phồn vinh, khu thương mại tấp nập, và giao thương với người Hoa, người Nhật cũng như với người Tây phương. 

Cùng thời với Trần Thượng Xuyên ở Cù Lao Phố, phía Meso, Dương Ngạn Địch cho lập Mỹ Tho Đại Phố và phát triển không kém gì Cù Lao Phố. Và tại nơi tận cùng của miền Tây lúc đó Mạc Cửu đã hoàn thành việc phát triển cảng Hà Tiên, nhưng mãi đến thập niên 1830s thì cảng Hà Tiên mới thật sự trở thành một vùng trù phú với ghe tàu buôn bán tấp nập. Như vậy trong suốt quá trình Nam tiến của người Việt Nam, vùng Sài Gòn Gia Định và phủ Tân Bình nói riêng đã phải cạnh tranh một cách mãnh liệt với các trung tâm thương mại đương thời để cuối cùng chiếm lấy vị trí hàng đầu như ngày nay. 

Sở dĩ vùng Tân Bình nhanh chóng trở thành một trung tâm phồn thịnh của xứ Đàng Trong vì nó không xa biển như Cù Lao Phố và Mỹ Tho Đại Phố, nó ít khi bị người Xiêm đến quấy phá như ở Hà Tiên. Hơn nữa, ngay sau khi Cù Lao Phố bị tàn phá vào hậu bán thế kỷ thứ XVIII trong những trận ác chiến giữa quân Tây Sơn và nguyễn Ánh, cũng là một yếu tố quan trọng để vùng Sài Gòn Gia Định nhanh chóng biến thành một trung tâm thương mại sầm uất. Bên cạnh đó thương cảng Sài Gòn rất thuận tiện cho tàu bè ngoại quốc vào cập bến, với cửa biển Cần Giờ rộng và đủ sâu cho tàu bè đủ cỡ. Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Sài Gòn là cảng sâu, rộng và yên ổn, thường ngày có thuyền buôn ra vào, làm chỗ hải hội rất đông đúc cho thành Gia Định, không đâu sánh được. Thật vậy, từ khi Dinh Phiên Trấn và phủ Gia Định ra đời vào năm 1698 thì vùng Tân Bình (Sài Gòn) và Gia Định đã nhanh chóng biến thành một trung tâm phố thị có mức phát triển tốt hơn cả Hà Nội và Phú Xuân vì ngay từ buổi đầu trung tâm Sài Gòn-Gia Định đã có một ưu thế mà cả Thăng Long lẫn Phú Xuân đều không có, đó là sự thông thương của nó với các vùng phụ cận và miền Tây bởi các con sông Tiền, sông Hậu, kinh Bảo Định (1765), kinh Ruột Ngựa (1772), rạch mới sông Tranh (1786), và rạch Vàm Bến Nghé, vân vân. 

Cuối cùng lịch sử phát triển đã cho thấy Sài Gòn-Gia Định luôn vươn lên và luôn nắm giữ vị trí chủ yếu trong nền ngoại thương của cả nước. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã mô tả chợ Bến Nghé với cảnh phố xá đông đúc, chợ Sài Gòn (tức Chợ Lớn ngày nay) với cảnh nhà cửa liền thềm với nhau, và đủ các sắc dân cùng nhau sinh sống liên tiếp đến 3 dặm. Ngoài ra, còn có rất nhiều chợ khác như chợ Bình An, chợ Bến Thành (sau nầy biến thành một trong những ngôi chợ trọng yếu vào bật nhất của Sài Gòn), chợ Nguyễn Thực (1727), chợ Điều Khiển, chợ Bến Sỏi, chợ Thị Nghè, chợ Tân Cảng, chợ Cây Đa Còm, và chợ Phú Lâm, vân vân. Vào cuối thế kỷ thứ XVIII thì người tây phương không còn xa lạ gì với vùng Sài Gòn Gia Định vì trên đường đi từ Âu Châu đến Mã Lai, Tân Gia Ba, rồi qua Ma Cao, và Hướng Cảng... họ luôn ghé Sài Gòn để mua hai loại sản phẩm chính yếu thời đó là gạo và đường để đổi lấy khí giới với Tây phương. 

Năm 1800, đời vua Tây Sơn Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản thứ 8, nhà vua cho đổi phủ Gia Định ra làm Trấn Gia Định. Đến khi Gia Long lên ngôi vào năm 1802, ông đã đặc biệt chú trọng đến việc phát triển thương mại trong thành Gia Định vì nguồn tài chánh của thành nầy đã đóng góp một phần rất lớn trong ngân quỹ của quốc gia. Sau năm 1802, Gia Định không còn là ‘Kinh Gia Định’ như thời Gia Long còn bôn tẩu nữa, nhưng Sài Gòn lúc nào cũng là trung tâm của cả miền Nam. Vì vị trí đặc biệt của nó, nên vua Gia Long đã trao cho viên Tổng trấn Gia Định một quyền hạn rất lớn. Về hình thức chánh quyền, Gia Định có hình thức của một triều đình thu nhỏ, điều mà không một chế độ quân chủ nào chấp nhận. Tuy nhiên, lúc mới lên ngôi, mọi việc chưa được ổn định, nên vua Gia Long đành phải chấp nhận phân quyền theo kiểu nầy. Lúc đó thành Gia Định thống lãnh 5 trấn(50), bao gồm toàn cõi miền Nam. Nhưng như chúng ta đã thấy sau nầy, ngay khi đức Tả quân Lê văn Duyệt vừa qua đời, là vua Minh Mạng bãi bỏ ngay cái tình trạng ‘triều đình thu nhỏ’ nầy tại Gia Định. 

Năm 1808, vua Gia Long cho đổi trấn Gia Định ra Thành Gia Định, bổ nhiệm Khâm Chưởng Chấn Nhơn Quận Công Nguyễn văn Nhơn làm Tổng Trấn, và Khâm Thượng Thư bộ Hộ An Toàn Hầu Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Tổng Trấn(51), cho đúc ấn bạc có núm hình sư tử và cho dùng mực son để đóng dấu. Mô thức chánh quyền Thành Gia Định cũng giống như một chính quyền trung ương thu nhỏ, cũng có Tam Tào(52) và Tam Phòng(53). Lúc đó trấn thành đóng tại huyện Bình Dương thuộc phủ Tân Bình. Hồi nầy huyện Tân Bình vừa mới được nâng lên làm phủ Tân Bình, gồm 4 huyện: Bình Dương(54), Tân Long(55), Thuận An và Phước Lộc, những huyện nầy cũng vừa được nâng từ tổng lên làm huyện. Tuy danh xưng có thay đổi, song Sài Gòn vẫn là lỵ sở của cả thành Gia Định và Phiên An trấn. Năm 1808, dầu vua Gia Long đã cho nâng các huyện Tân Bình, Định Viễn, Phước Long, và Kiến An lên làm phủ, nhưng không bổ nhiệm quan Tri phủ; mãi đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822), nhà vua mới bổ nhiệm các ông Hà Tôn Quyền làm Tri phủ Tân Bình, Phan Hiển Tánh làm Tri phủ Định Viễn, Võ Đức Khuê làm Tri phủ Phước Long, và Phan Bá Đạt làm Tri phủ Kiến An. Năm 1810, vua Gia Long cho đổi chức quan Lưu trấn ra Trấn phủ;năm 1813, nhà vua bắt đầu đặt chức tri huyện ở các huyện trong Gia Định Thành. 

Vào năm 1820, tức là năm đầu đời Minh Mạng, tổng trấn Gia Định Thành là đức tả quân Lê văn Duyệt đã cho mở cửa thương cảng Sài Gòn và hàng loạt tàu bè Tây phương đã cập bến Sài Gòn, trong đó có những thương thuyền của người Mỹ đã ghé lại đây mua đường và nhiều nông phẩm khác. Phải thành thật mà nói, sự phát triển vượt bực của phủ Tân Bình cũng như vùng Sài Gòn-Gia Định đa phần là nhờ ở những người Minh hương. Họ đã đến đây từ giữa thế kỷ thứ XVII và họ đã liên kết với nhau thành những bang hội rất có thế lực. Chính họ là những chủ vựa đóng vai trò rất quan trọng việc phân phối hàng hóa từ các nơi đưa về Sài Gòn-Gia Định. Thêm vào đó, dưới thời nhà Nguyễn, vua chúa nhà Nguyễn đã tuyệt cấm người Việt Nam đóng ghe tàu biển nhằm buôn bán với người ngoại quốc, nhưng triều đình chẳng những không cấm đoán người Hoa mà còn khuyến khích và hỗ trợ họ trong việc nầy. 

Ngoài ra, Hoa kiều còn được phép thu mua gỗ quý, gạo và đường để phân phối các nơi. Mãi cho đến ngày nay vẫn chưa có nghiên cứu chính xác nào về những nguyên nhân khiến các vua nhà Nguyễn không cho phép người Việt Nam hoạt động trong những lãnh vựa quan trọng nầy mà chỉ cho phép người Hoa. Có thể các vua nhà Nguyễn cho rằng người Hoa rất giỏi về thương mại nên khi cho phép họ làm những việc thương mại lớn lao nầy các ngài sẽ thu về một số tiền thuế lớn lao. Tuy nhiên, chính những chánh sách ưu đãi Hoa kiều nầy đã chẳng những chặn đứng bước phát triển của các thương nhân Việt Nam mà hậu quả của nó đã làm tê liệt toàn bộ thương nhân Việt Nam mãi cho đến ngày hôm nay. Dầu thế nào đi nữa, nhân dân Gia Định Thành dưới thời Tổng Trấn Lê văn Duyệt cũng đã an hưởng thái bình thạnh trị một thời. Đức Tả Quân Lê văn Duyệt đã áp dụng chính sách cởi mở về thương mại nên kinh tế vùng Gia Định thời đó phát triển rất nhanh. Ngài đã khuyến khích tàu bè ngoại quốc đến giao thương với thành Gia Định với những qui chế hết sức dễ dãi. Chính nhờ vậy mà dân chúng miền Nam thời đó được an cư lạc nghiệp.

Người Long Hồ
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011
Copyright © 2012 by Ngoc Tran. All rights reserved.
Links xem tiếp:

C- 

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2019

Tình Mười Lăm - Thơ Thy Lệ Trang - Nhạc Cao Ngọc Dung - Tiếng Hát Kyra Nguyên


Thơ: Thy Lệ Trang
Nhạc: Cao Ngọc Dung
Tiếng Hát: Kyra Nguyên

Bồ Tát Viên Thông



Bốn mùa lặt lá ven đường
Vẫn cơn gió dệt cát tường như xuân
Bi nguyện cứu khổ hồng trần
Mẹ vô sở trụ hiện thân vô cùng

Hạ nồng chưa hẳn tương phùng
Chiến tranh- dịch bệnh mở đường trầm luân
Hằng thắng bỉ thế gian âm
Tình thương ban rải thậm thâm đường trần

Thu phai chưa hẳn úa tàn
Lá vàng rụng để mầm mơn mởn về
Dẫu đời trôi nổi tung hê
Tâm không quái ngại đến về thảnh thơi

Đông chà rét quất tả tơi
Bờ tre gió rúc cứa rời rụng đau
Đàn trâu ớn cỏ héo sầu
Người lẩy bẩy đợi ga nào bình yên

Từ quán tịch tịnh trạm nhiên
Diệu trí thường chiếu Mẹ viên thông về
Thường soi sáng nẻo đường quê
Quán chơn tánh mọc bồ đề khai hoa

Thanh tịnh quán cõi ta bà
Hải triều quảng đại maha đại từ
Mùa vạn hạnh - lạc vô dư
Măt thương* vọng mãi sóng từ diệu âm

Như Thi- Lê Đăng Mành

* Từ nhãn thị chúng sanh
***
Các Bài Họa:
Ngày Kỷ Niệm Bồ Tát Đản Sanh
 
Tôi thờ thẫn dạo trên đường
Thư nhàn bức rộng ngắm tường sắc Xuân
Nghĩ thương về Mẹ dương trần
Rồi cầu Bồ Tát hiện thân độ cùng

Hạ hanh chưa chắc trùng phùng
Trần ai lắm nỗi khắp vùng trầm luân
Dương gian bể khổ mê tân
Nước nhành dương rưới, thậm thâm độ trần

Tiết thời lá đổi chi tàn
Sắc vàng lá ngự vào trang Thu về
Vòng đời chìm nổi ê hê
Không nghe không thấy...đi về thảnh thơi

Đông hàn rét thấm dạ tơi
Lá tre vẫy phất biệt rời thương đau
Trong thời vạn vật chín sầu
Chờ chờ, đợi đợi ga nào là yên?

Im lìm quán tịnh thiên nhiên
Quan Âm cứu độ viễn thông chiếu về
Toà Sen Mẹ toạ làm quê
Sáng soi người thiện huệ kề tâm hoa

Bồ đề khai mở ta bà
Diệu minh trong suốt thiết tha đại từ
Bốn mùa ban phúc vô ưu
Dưới trần luồn tưởng sóng từ diệu âm.

Đặng Xuân Linh
***
Ngộ Đạo Chân Tu

Tầm sư học đạo lên đường
Từng cơn gió thoảng như dường hơi Xuân
Từ nay xa lánh bụi trần
Về bên Bồ Tát,bỏ thân khốn cùng

Mừng người giác ngộ tương phùng
Hữu duyên gặp “Mẹ”,rời vùng trầm luân
NAM MÔ BỒ TÁT QUÁN ÂM
Con đường chánh giác ,thậm thâm thoát trần

Lá vàng đâu hẳn phai tàn
Rụng đi để lúc Thu sang mầm về
Lòng trần thoát tục hả hê
Quên đi lục dục,đường về thới thơi

Đông hàn tuyết đổ lạnh tơi
Xác phàm hứng chịu rối bời niềm đau
Lại còn vương vấn ưu sầu
Tìm đâu chổ dựa,chốn nào được yên ?

Chỉ nơi Tịnh Độ thiên nhiên
QUÁN ÂM BỒ TÁT ,Mẹ viên dẫn về
Một lòng sám hối chân quê
Từ đây nhận chuổi Bồ Đề điểm hoa

Rời xa cõi tục Ta Bà
Ni cô Khánh Thiện nhận ra nhãn từ
“Từ Vân Liễu” nguyện vô ưu
Xin lòng ngộ đạo,chân tu theo người

songquang
3/25/2019 tức 19 tháng 2
***
Niềm Tin

Nhặt từng hạt nắng bên đường
Ngắm nhìn hoa nở tỏ tường đầu xuân
Khắp nơi tươi sáng cảnh trần
Ngày vía Bồ Tát đem thân lạy cùng

Hạ hồng mấy cuộc trùng phùng
Nghiệp vương đã muốn tìm đường chuyển luân
Mẹ hiền Bồ Tát Quan Âm
Cúi đầu đánh lễ lạm thâm nghiệp trần

Thu rơi lá rụng điêu tàn
Và hồi sinh lại mọc xênh xang về
Cho dù lắm chuyện ê chề
Muốn quay lưng bước bên lề lơi thơi

Đông đầy gió bão sầu tơi
Bao hoàn cảnh đến không rời khổ đau
Nhân sinh nặng chứa nỗi sầu
Hoang mang cuộc sống nơi nào mới yên

Tìm ra cỏi tịnh an nhiên
“ Tầm thinh cứu khổ “ mãn viên đường về
Trần gian ngài xuống mọi quê
Độ người lương thiện đề huề nở hoa

Chúng sanh thị hiện Phật Bà
Người người khai trí thiết tha nguyện từ
Về miền tịnh lạc tiêu dư
Hồng trần bỏ lại tâm thiền pháp âm 

Minh Thuý
26/3/2019

Tiết Phụ Ngâm 節婦吟 - Trương Tịch


節婦吟

君知妾有夫,
贈妾雙明珠。
感君纏綿意,
繫在紅羅襦。
妾家高樓連苑起,
良人執戟明光裡。
知君用心如日月,
事夫誓擬同生死。
還君明珠雙淚垂,
恨不相逢未嫁時。

張籍

Tiết Phụ Ngâm*

Quân tri thiếp hữu phu,
Tặng thiếp song minh châu.
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu.
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý.
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
Sự phụ thệ nghĩ đồng sinh tử.
Hoàn quân minh châu song lệ thuỳ,
Hận bất tương phùng vị giá thì.

Trương Tịch
*Thơ cổ phong, thời Trung Đường
***
Dịch nghĩa:
Khúc Ngâm Của Tiết Phụ

Chàng biết em đã có chồng
Tặng em đôi hạt châu sáng
Cảm động trước tình đeo đẳng của chàng
Em buộc vào áo lụa hồng
Nhà em có lầu cao bên vườn hoa
Chồng em cầm kích túc trực trong điện Minh Quang
Vẫn biết lòng chàng trong sáng như mặt trời, mặt trăng
(Nhưng) em đã thề cùng sống chết với chồng
Trả lại chàng hạt châu sáng, hai hàng nước mắt ròng ròng
Ân hận rằng không thể gặp nhau lúc chưa chồng.

Dịch bằng thơ:

Khúc Ngâm Của Tiết Phụ

Chàng hay em có chồng rồi,
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.
Vấn vương những mối cảm tình,
Em đeo trong áo lót mình màu sen.
Nhà em vườn ngự kề bên,
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang.
Như gương, vâng biết lòng chàng,
Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa.
Trả ngọc chàng, lệ như mưa,
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.

Ngô Tất Tố
***
Thơ cảm tác
Tình Lỡ

Biết chân em vướng chỉ hồng
Tơ tình anh vẫn tỏ lòng cùng ai
Động lòng đeo đẳng dằn dai
Hồn quay về lại những ngày xa xăm
Vườn nhà hoa thắm hằng năm
Duyên chồng nghĩa vợ đã thâm sâu rồi
Dù tình người sáng rạng ngời
Tôi xin sống hết một đời phu thê
Lệ rưng trả lại cơn mê
Kiếp sau hẹn gặp ... xin thề cùng nhau!

Anh Tú
March 15. 2019

Thiết Mộc Lan



Gỗ sắt thông linh trổ búp ngà!
Thiên Hương tỏa ngát khắp gần xa:
Trà Mi khó sánh bề phong nhã!
Thược Dược đành thua vẻ thướt tha ...
Phú quý tin lành đem tận cửa
Tài danh điềm tốt nở cùng nhà.
Mười phương tú khí về quy tụ
Khiến Thiết Mộc Lan sớm nẩy hoa 


Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái
***
Thiết Mộc Lan

Giữ thắm màu xanh dấu ngọc ngà
Vững vàng sắt gỗ tiếng bung xa.
Đất màu cằn cỗi không thèm lụi
Mưa nắng phũ phàng cũng phải tha.
Dáng vẻ phong sương đâu kém bách
Tâm tư trong sáng giúp vang nhà.
Thiên hương ngưng tụ trao trần thế
Thơm ngát dài dài dịp trổ hoa .

Trần Như Tùng



Đất Phương Nam 1- Từ Kas Krobei-Prei Nokor Đến Bến Nghé-Sài Gòn Và Chợ Lớn (Phần 3)


Từ Kas Krobei-Prei Nokor Đến Phủ Tân Bình: 

Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên, chúa Nguyễn chỉ nhận trên danh nghĩa, nhưng vẫn để cho dòng họ Mạc trấn giữ đất Hà Tiên. Mùa Đông năm 1735, đời Lê Cảnh Hưng thứ 14, triều đình xứ Đàng Trong sai Cai Đội Thiện Chánh Hầu làm Thống Suất, Ký Lục Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh làm Tham Mưu điều khiển tướng sĩ 5 dinh(43) đi kinh lược đất Cao Miên, quan quân đồn trú ở xứ Bến Nghé, lập nên dinh trại, gọi tên là Đồn Dinh(44), lo luyện tập binh sĩ tính kế mở mang vùng biên địa. 

Năm 1753, nhân cơ hội vua Chân Lạp là Nặc Ong Nguyên lấn hiếp người Côn Man, chúa Nguyễn bèn sai Nguyễn Cư Trinh dẫn binh 5 dinh(43) họp binh tại Bến Nghé(45), để lo dàn xếp và lãnh lệnh chúa Nguyễn ở lại tiếp tục khai khẩn đất hoang và lập khu dinh điền mới. Năm 1754, quân Gia Định chia làm hai đạo, Nghi Biểu Hầu đem kỳ binh từ sông Bát Đông tiến phát, quân Nam đi đến đâu quân Chân Lạp thua đến đó. Sau đó quân của Nghi Biểu Hầu hợp cùng với binh của Thiện Chánh Hầu tại vùng Tiền Giang. 

Năm 1756, vua Chân Lạp là Nặc Ong Nguyên xin nhượng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp cho xứ Đàng Trong để tạ tội, đồng thời xin cống nạp lễ vật còn thiếu ba năm trước đó. Từ đó coi như phần lớn đất đai của xứ Thủy Chân Lạp đã nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam. Trong khi đó Mạc Cửu và con là Mạc Thiên Tứ tiếp tục khai khẩn những vùng Hà Tiên, Phú Quốc, Long Xuyên (Cà Mau), Rạch Giá, Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Sóc Trăng và Bạc Liêu). Năm 1755, tại vùng Gia Định các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô nhơn Tịnh và Lê quang Định cũng lập ra thi xã, thắp sáng ngọn đuốc văn hiến nơi góc trời cực Nam của tổ quốc. Năm 1757, Nặc Ong Nguyên băng hà, chú của Nặc Nguyên là Nặc Ong Nhuận dâng thêm các phủ Trà Vang và Ba Thắc để được chúa Nguyễn phê chuẩn cho lên ngôi. 

Đến năm 1776, vùng Cù Lao Phố và toàn vùng Prei Nokor đã phát triển trên một qui mô rộng lớn, sinh hoạt thời nầy được Lê Quí Đôn ghi lại trong Phủ Biên Tạp Lục như sau: “Ở mỗi địa phương, mỗi nơi có từ 40 đến 50 hoặc từ 20 đến 30 nhà giàu. Mỗi nhà có từ 50 đến 60 người giúp việc ruộng rẫy, từ 300 đến 400 trâu bò, cày bừa gặt cấy rất rộn ràng. Gạo được bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc như tơ lụa, trừu, quần áo, vải bô.” 
Cùng năm 1776, quân Tây Sơn chiếm vùng Cù Lao Phố và truy đuổi Nguyễn Ánh ra khỏi thành Gia Định. Năm 1778, đa số người Hoa ở vùng cù lao Phố đã bị quân Tây Sơn đánh đuổi đều ngược dòng sông Bến Nghé lên khu Chợ Lớn ngày nay. Tại đây họ lại xây dựng phố sá và tiếp tục buôn bán như xưa. Người Hoa gọi vùng nầy là ‘Đê Ngạn’, người Phúc Kiến phát âm là ‘Tầy Ngon’, và người Việt lại đọc trại là ‘Thầy Ngòn’. Có lẽ đọc như vậy riết rồi lại trại ra là ‘Sài Gòn’. Thành phố nầy được người Việt Nam gọi là Chợ Lớn từ khi người Pháp xây dựng hai ngôi chợ: Chợ Lớn(46) và Chợ Nhỏ(47). Kỳ thật, khu được mệnh danh là ‘Sài Gòn’ về sau nầy đích thực là khu ‘Bến Nghé’ ngày trước. 
Đến năm 1779, khi toàn bộ lực lượng Tây Sơn đang chuẩn bị kéo quân ra Bắc phù Lê diệt Trịnh, thì Nguyễn Ánh kéo quân về lấy lại thành Gia Định. Như vậy, kể từ năm 1623, ngày mà đồn binh và trạm thâu thuế đầu tiên của xứ Đàng Trong được dựng lên trên vùng đất nầy đến năm 1779, cùng đất nầy đã trải qua nhiều gia đoạn thăng trầm, phát triển cũng có, mà chiến tranh hủy diệt cũng có. Chính tại đây đã xảy ra những cuộc chiến tranh ác liệt giữa nghĩa quân Tây Sơn và quân đội của Nguyễn Ánh, có lúc quân của Nặc Ong Chân cũng kéo quân qua đánh phá, nhưng vùng Sài Gòn-Gia Định vẫn tiếp tục phát triển, và ngày càng phát triển thật nhanh. Đến cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX, vùng Sài Gòn-Gia Định đã nghiễm nhiên trở thành một trung tâm kinh tế và chính trị của xứ Đàng Trong. Lúc Nguyễn Ánh trốn chạy nhà Tây Sơn, ông đã chọn Gia Định làm kinh đô của xứ Đàng Trong (Kinh Gia Định). 
Đến năm 1780 thì Mạc Thiên Tứ chính thức dâng đất Hà Tiên (bấy giờ bao gồm các vùng Hà Tiên, Phú Quốc, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cần Thơ). Đến đây coi như cuộc Nam tiến đến chót mũi Cà Mau và Hà Tiên đã hoàn tất. Trong thời gian nầy, Nguyễn Ánh cho phép dân chúng tự do khai hoang và sở hữu phần đất mình đã khẩn được, rồi sau đó tự ý khai báo để đóng thuế. Chính vì thế mà những dân xiêu tán đã nhanh chóng qui tụ về đây tiếp tục khai hoang lập ấp. Và cũng chính vì thế mà chẳng mấy chốc mà một Prei Nokor, nằm trong một thôn nhỏ trong rừng già, chung quanh toàn là ao chằm trũng nước, đầy muỗi mòng, đỉa vắt, đầy hoang thú... đã biến thành những khu chuyên canh, cũng như những khu vực làm nghề chuyên môn, giống như những làng nghề tại miền Bắc, như các xóm Củi, xóm Dầu, xóm Than, xóm Giá, xóm Vôi, xóm Bún, xóm, Rẫy, xóm Bàu Sen, và xóm Lò, vân vân. (những địa danh nầy đến ngày nay vẫn còn rất phổ biến trong dân gian Sài Gòn). Và cuối cùng, Prei Nokor đã biến thành trung tâm kinh tế và hành chánh cho toàn miền Nam. 

Nói về cuộc Nam tiến thì ngoài quan Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ra, Nguyễn cư Trinh là người có công rất lớn trong việc đánh dẹp cũng như bình định lãnh thổ. Về phía người Minh Hương ngoài 2 ông Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ ra, còn có các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô nhơn Tịnh và Lê quang Định cũng có công rất lớn. Về cương vực của toàn thành theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, phía đông nam Gia Định giáp với biển, có tất cả 17 cửa biển lớn: Xích Ram, Tắc Ký, Cần Giờ, Đồng Tranh, Lôi Lạp (Soai Rạp), cửa Đại, cửa Tiểu, cửa Ba Lai, Băng Côn, Ngao Châu, Cổ Chiên, Ba Thắc, Mỹ Thanh, Hào Bàn (Gành Hào), Long Xuyên, Kiên Giang và Hà Tiên. Các cửa nhỏ thì nhiều gấp đôi. Tuy vậy, các cửa nầy do bùn cát nên khi mở khi lấp, khi cạn khi sâu, dời đổi bất thường. Ở đây sông ngòi chằng chịt như mắc cửi, nếu không phải là dân địa phương quen thuộc ắt không biết đường đi. Phía tây bắc giáp với Cao Miên. Đông bắc giáp với phủ Bình Thuận. Thành Gia Định có nhiệm vụ trông coi các việc binh dân, thuế dịch và hình án của 5 trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên, đồng thời cũng trông coi luôn trấn Bình Thuận ở phía Bắc. Phàm việc binh thì do thành Gia Định chỉ huy, còn các việc khác thì các trấn tự sắp đặt lấy. 
Prei Nokor vào những năm cuối cùng của cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, không bị ảnh hưởng nhiều của chiến tranh, vì kể từ năm 1788 quân Tây Sơn phải dồn hết nỗ lực để chiến đấu chống ngoại xâm từ phương Bắc, nên không còn để ý đến việc đánh Nguyễn Ánh ở phương Nam nữa. Sau năm 1789, người anh hùng áo vải đất Qui Nhơn không muốn tiêu hao tiềm lực nhân dân sau bao nhiêu năm chinh chiến triền miên, nên sau chiến thắng Đống Đa, Nguyễn Huệ đã không kéo quân vào Gia Định tiêu diệt Nguyễn Ánh. Nếu ngày đó Đại Đế Quang Trung không vì hạnh phúc và sự an vui của nhân dân, mà kéo quân vào thẳng Gia Định, thì thử hỏi Nguyễn Ánh có cách gì chống đỡ được sức mạnh vũ bão bách chiến bách thắng của đại quân Tây Sơn hay không? Chắc chắn là không rồi. Thế rồi cơ trời vận nước phải ngã nghiêng nên xuôi khiến vua Quang Trung phải yểu mệnh. Ngài băng hà vào năm 1792, lúc vừa tròn 40 tuổi, ngài băng hà vào lúc nhân dân và đất nước đang rất cần ngài. Sau khi vua Quang Trung băng hà, cục diện hoàn toàn đổi thay. Ở miền Nam, Nguyễn Ánh ra sức củng cố thành Gia Định, xây dựng kho lẫm, xưởng đóng thuyền chiến, xưởng chế tạo vũ khí, vân vân. Hồi nầy thương cảng Bến Nghé thu hút tàu bè của thương nhân ngoại quốc lui tới buôn bán đông đảo. Phố xá sầm uất, chợ búa tấp nập đã khiến cho vùng Prei Nokor-Bến Nghé trở thành trung tâm chính trị và kinh tế cho toàn vùng. Trịnh Hoài Đức đã ghi về Bến Nghé trong Gia Định Thành Thông Chí như sau: “Nơi đây dân cư đông đúc; phố chợ san sát; nhà tường nhà ngói liên tiếp cùng nhau... Tàu ghe hải dương đến buôn bán qua lại, cột buồm liền lạc, xưng là xứ đô hội, cả nước không đâu sánh bằng.” Vào năm 1821, Finlayson đã ghi lại trong “Journal de voyage”, được đăng trong “Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises” vào năm 1939 như sau: “Không ngờ ở miền xa xôi nầy lại có một thành thị to và rộng như vậy... Cách xếp đặt phố xá ở đây còn phong quang thứ tự hơn niều kinh đô Âu châu.”


Người Long Hồ
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011
Copyright © 2012 by Ngoc Tran. All rights reserved.
Links xem tiếp:

C- 

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

Người Em Sầu Mộng - Nhạc Sĩ Y Vân - Tiếng Hát Ý Lan


Nhạc Sĩ Y Vân 
Tiếng Hát : Ý Lan
Thực Hiện: Đặng Hùng


Phần Hồn Gỗ Mục



Tiếng đàn tôi bên đường đèo ngày cũ
Mỗi hợp âm thầm nhắc mối tình chung
Nhưng ca từ tợ như triều sóng dữ
Điệp khúc nào làm trăn trở em không ?

Từng nốt nhạc âm vang luôn bóng bẩy
Gỏ chân dung trên đá cũng phải mềm
Tìm laị yêu thương con tim vụng dại
Dưới trăng vàng lặng lẽ với từng đêm.

Tôi bâng khuâng những tháng ngày hối hận
Trao lầm người nên lận đận dở dang
Không hẹn nhưng hàng chục năm thăm thẳm
Vẫn chờ em bên mấy cội mai vàng.

Ngày thì cạn nhưng đêm sâu hun hút
Viết gởi bài thơ kèm chút mưa phùn
Riêng tôi giữ lại phần hồn gỗ mục
Sống trọn đời với nỗi nhớ mông lung.

Dương hồng Thủy
01/03/2019

Anh Vẫn Chờ Em



Sao em không trở về em ơi! 
Đau khổ sầu dâng hết cả đời 
Hình bóng người xưa biền biệt mãi 
Vào trông ra ngóng mỏi mòn hơi

Sao em không trở về em ơi! 
Thơ chẳng thành câu ý cạn lời 
Mộng mị nhạt nhòa sương khói tỏa 
Gió buồn xô sóng dậy trùng khơi

Sao em không trở về em ơi! 
Màu tóc pha sương nặng tuổi đời 
Hoa lá cỏ cây buồn ủ rũ 
Gối chăn xiêu lệch nhớ hương người

Sao em không trở về em ơi! 
Tây Bắc tang thương cả đất trời 
Nửa bản tình ca đàn lỗi nhịp 
Nợ duyên tan tác cũng đành thôi.

Toronto 16/3/2019
Nguyên Trần

Buồn Thu



Xướng:
Buồn Thu

Em đành bỏ lại để ra đi
Dứt áo buồn thu biết nói gì
Sáng dậy cà phê đen mấy tách
Đêm nằm mắt lệ đẫm đôi mi
Chăn đơn thấp thỏm lòng mong đợi
Gối chiếc âm thầm dạ ngóng chi
Nghĩa nặng người quên ta lẻ bóng
Cạn lời kẻ nhớ mối tình si!

Mai Xuân Thanh
Ngày 16/10/2018
***
Các Bài Họa:
Cuối Thu Buồn

Tình hỡi ơi tình sao vội đi!
Nát tan đành chịu nói năng gì.
Luyến lưu nghĩa nặng duyên tàn nợ
Đau đớn lòng đơn lệ ướt mi.
Thệ hải bao lời không nhớ nhỉ,
Minh sơn mấy khúc chẳng còn chi.
Sao âm thầm bỏ sang thuyền khác…
Để cuối thu buồn tấc dạ si!

Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
***
Thu Héo Hắt


Kẻ ấy đành lòng ngoảnh mặt đi
Mùa thu rũ rượi tiếc thương gì
Chia ly ngõ vắng hoa rời nhuỵ
Giã biệt đêm tàn lệ ướt mi
Tiếng hẹn buông mây nào luyến nữa
Lời thề thả gió chẳng vương chi
Buồn ai đoạn tuyệt quay lưng bước
Héo hắt tình đời vẫn đắm si

Minh Thuý
18 tháng 10_2018
***
Tim Vở Một Lần

Héo hắt khi chàng ngoảnh mặt đi
Tình thôi đã hết,nhớ nhung gì!
Đêm tàn lạnh lẽo,sương đầy áo
Nguyệt lặn lu mờ lệ đẫm mi
Lòng nhủ “ quên đi”càng mãi nhớ
Tâm thầm “rứt bỏ”lại hoài si
Vườn hồng lấp lánh triêu dương rọi
Nếu biết nhiều gai động tới chi!

Thanh Hoà

Một Mảnh Thiên Đàng Dưới Trần Gian



Ngày Thứ Bẩy mồng 9 tháng Hai, năm 1985, bố mẹ tôi đã được trông thấy một mảnh Thiên Đàng trong vòng hơn 20 cây số, trên Quốc Lộ 15, khúc đường đèo quanh co. Hơn 34 năm sau, ngày Thứ Năm mồng 7 tháng Ba năm nay, chàng và tôi có một kinh nghiệm tương tự, dù chỉ trong tích tắc. 

Chiều hôm đó, sau khi ra khỏi lớp Hawaiian, hai đứa lái thẳng về nhà, vì thời tiết lạnh hơn thường lệ. Mọi khi, chúng tôi hay ghé Coconut Island (Đảo Dừa hay là Đảo Chữa Bệnh) để đi bộ ra ghềnh đá ngắm trời, ngắm mây, coi trẻ con phóng xuống biển từ một cái tháp xây bằng đá dung nham, trước khi nhúng đôi chân trần vào nước mát.

Không lái xe, tôi quay đầu sang phía phải để ngắm cảnh vật trên biển. Tôi yêu biển. Có lẽ biển cho tôi cảm giác bình yên là khoảng cách giữa người thân và tôi không xa, vì đôi bên chỉ cách nhau có hai bờ Đông, Tây. Ngoài sự gần gũi trong tâm tưởng này, biển luôn thay đổi, không buồn tẻ như những bức tranh treo cô đơn lạnh lẽo trên tường. Biển ngày hôm qua không giống biển hôm nay, và biển ngày mai hứa hẹn một điều lý thú khác. Mầu nước cũng góp phần vào sự biến đổi dung nhan của biển từng ngày. Có hôm biển mang áo mầu xanh dương. Có ngày biển khoác một chiếc áo choàng mầu xám lợt lấp lánh bởi tia nắng từ trên cao, như những mũi chỉ thêu mầu bạc từ đôi tay của một cô gái giỏi thêu thùa may vá. Bầu trời hôm Thứ Năm nhìn không khác gì một bức tranh lộng lẫy muôn mầu, được tạo nên bởi một họa sĩ nhìn đời với lăng kính mầu hồng, vì vừa mới được ai đó đáp lại tình yêu. 

Nghiêng mãi nên mỏi cổ, tôi quay mặt về phía trước và bất chợt khám phá ra rằng trên mặt biển có một vòng cung bẩy mầu cao chất ngất, đang bắc từ phải sang trái, ngay trong Vịnh Hilo. Tôi luôn ví cầu vồng như một sứ giả được Chúa trời đất nhờ đem hy vọng xuống nhân gian. Cầu vồng với tôi là một mảnh Thiên Đàng viếng trần gian, dù trong khoảnh khắc. Nhìn cầu vồng tôi nhớ tới bài thơ đang viết dở dang. Vì nhớ mẹ ra đi gần năm tháng nay, tôi ước gì một ngày nào đó sẽ trèo lên được cái thang bẩy mầu để tìm mẹ. Từ những ý tưởng ngộ nghĩnh trong đầu, tôi chuyền xuống giấy. Cầu vồng có bẩy mầu, thế mà tôi mới leo lên hai bậc thang chàm và tím thì hết ý. Nàng Thơ đang lạc lối, từ khi tạm rời tôi đi thăm các Nữ Thần nghệ thuật khác. 

Không như ai đó nói rằng khi bạn thấy điều gì một lần rồi thì sẽ không cần thấy nữa, tôi mừng quá đỗi, mặc dù đã thấy cầu vồng mấy chục lần, từ ngày dọn sang đây. Tôi reo lên, “Honey, there is a rainbow in front of us!” Lẽ dĩ nhiên, làm sao chàng không thấy vòng cung bán nguyệt muôn mầu. Tôi ngắm cầu vồng không chán mắt và thấy một chân cắm xuống biển, còn chân kia thì cắm nơi khu vực gần phi trường, và xa hơn, về hướng Puna có nhiều rừng cây, phía bên phải của chúng tôi. Xe chạy một lát, khi đi qua khỏi những hàng cây cao bên đường, tôi thấy chân cầu vồng đã rời khỏi khu rừng Puna, và đang đứng sừng sững trên mặt nước của Vịnh. Tôi thích thú reo lên, “Chàng ơi, cả hai chân cầu vồng giờ đang cắm xuống biển!” Vì đang lái xe, chàng của tôi phải đợi cho tới khi lái tới chỗ quang đãng mới thấy được. 

Xe chạy được một quãng thì cây cối lại che khuất Mảnh Thiên Đàng. Tôi kiên nhẫn đợi. Bỗng dưng tôi thấy bẩy mầu cầu vồng phủ lên các cây mọc dọc bên đường. Tôi la thất thanh, “Honey, the rainbow is now on the trees!” Dù đang lái xe, chàng cũng liếc mắt nhìn vào những bụi cây bên đường và thấy được sự đùa dỡn của vòng cung bẩy mầu. Chàng mỉm cười nhưng không nói gì, chỉ tiếp tục chú ý lái xe. Qúa nôn nao, tôi nói nhanh, “Mình nên ngừng lại để ngắm cầu vồng!” Adam giảm tốc độ để quẹo vào khu nhà xây hướng ra biển. Khi xe chưa chạy vào tới khu nhà này, bỗng dưng tôi thấy ngay trên kính chiếu hậu bên phải (gần nơi tôi đang ngồi) chân cầu vồng đang đứng trên đó từ bao giờ. Tôi không tin vào mắt mình. Chỉ trừ có lần nghe bố mẹ kể lại là đã được trông thấy hai cầu vồng chồng lên nhau như một cổng chào di động, chạy trước xe của hai cụ hơn 20 cây số trên suốt đường đèo quanh co và sau cùng, mống cầu vồng đã đứng trên thùng xe trước khi biến tan từ giã, tôi chưa bao giờ chứng kiến một sự kiện lạ lùng như hôm đó.


Hôm Thứ Năm đó, chỉ trong vòng vài phút, một chân cầu vồng đã đổi ba vị trí, từ vùng Puna nhiều cây cối, cầu vồng đã nhẩy xuống biển, rồi từ biển len lỏi vào các vòm cây bên đường, và từ các vòm cây, chân cầu vồng đã cắm lên cái kính xe chiếu hậu bên phải của chúng tôi. Tôi có mơ chăng? Tôi có tưởng tượng không? Không! Hôm đó, ngoài tôi ra còn có chàng của tôi, lái xe đưa hai đứa về nhà, sau giờ học. Nếu chỉ có một mình tôi thấy cảnh lạ lùng này, có thể người tin tôi thấy sự lạ này sẽ ít hơn năm ngón tay. Tuy nhiên, cầu vồng thực sự đã đứng trên kính chiếu hậu bên phải, chỉ cách tôi và kính xe (lúc đó đang được quay lên vì mưa lất phất) chưa đến một xải tay. Tôi không dám nhấn nút quay kính xuống để với tay chạm vào chân cầu vồng, vì lo là chỉ một động tác nhỏ cầu vồng sẽ mắc cở mà biến mất. Từ ghế tài xế, Adam thấy chân cầu vồng không chỉ đứng trên kính chiếu hậu bên phải, mà còn bao phủ nguyên cả phần đầu của xe. 

Tiếc thay, khi xe quẹo vào khu nhà thì cầu vồng trên xe và cả trên biển cũng đã biến mất. Không còn một dư âm. Không còn một dấu vết gì của một vòm trời bẩy mầu. Cầu vồng xuất hiện rồi biến mất thật nhanh, như thế đó. 

Theo thần thoại Ái Nhĩ Lan, ai chạm được chân cầu vồng sẽ tìm được một hũ vàng. Đã có ai trên đời đến được gần chân cầu vồng? Thế mà chàng và tôi đã thấy được chân cầu vồng đứng trên kính xe hôm Thứ Năm mồng 7 tháng Ba. Tôi cảm động mừng hơn bắt được vàng. Tôi biết chắc rằng từ đâu cầu vồng đã ghé xuống xe của hai đứa. Mẹ tôi đã ghé thăm vì biết tôi nhớ mẹ đến nỗi muốn leo lên cầu vồng để tìm mẹ. Mẹ ơi, con không cần viết nốt bài thơ vì mẹ đã đến thăm con rồi! 

Khổng thị Thanh-Hương