Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

Đất Phương Nam I - Từ Vùng Đất Biên Đến Tỉnh Biên Hòa-Đồng Nai (Phần 4)

 
Sông Ngòi Vùng Đồng Nai-Biên Hòa: 

Tuy là vùng đất tương đối cao hơn các miền ở trong miền Đông Nam Phần, Đồng Nai-Biên Hòa lại có một hệ thống thủy lộ rất phong phú gồm hồ Trị An và trên 60 sông, kinh, rạch lớn nhỏ, chẳng những rất thuận tiện cho việc giao thông bằng đường thủy, mà còn cho việc phát triển một số ngành nghề trên sông như nuôi cá bè, nuôi tôm, và đánh bắt thủy sản, vân vân. Sông ngòi trong vùng Biên Hòa không lớn và dài như hệ thống sông Cửu Long và Vàm Cỏ nhưng cũng dư sức tưới tẩm cho đồng ruộng toàn miền, gồm các sông Phước Long, sông Ngã Ba, sông Ngã Bảy, sông La Ngà, sông Đồng Nai, sông Bé, sông Trúc, sông Bồng, sông Đồng Bản, sông An Hòa, sông Sa Hà, sông Kính Giang, sông Lá Bối, sông Thanh Thủy, sông Ngã Ba Nhà Bè, sông Bình Giang, sông Băng Bọt, sông Thủ Đức, sông Ký Giang, sông Hương Phước, sông Xoài, sông Vũng Dương, sông Thất Kỳ, sông Xích Lam, sông Lai, sông Dã Ôi, rạch Gò Chè, rạch Đầm Gấm, rạch Đầm Nát. Cứ mỗi cây số vuông đất trong vùng là có khoảng nửa cây số sông ngòi, tuy nhiên, đa số sông ngòi của vùng Đồng Nai-Biên Hòa tập trung ở phía Bắc như sông Mã Đà, sông Sà Mách, sông Đồng Nai, và sông La Ngà. 

Sông Đồng Nai là một trong những con sông lịch sử và nổi tiếng nhất của miền Đông Nam Phần. Tuy không sánh được với hai con sông lớn là Hồng Hà và Cửu Long, nhưng chính nó đã biến cả miền Đông Nam phần thành một vùng trù phú không kém gì vùng châu thổ sông Cửu Long. Sông Đồng Nai phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên(35), chảy qua địa phận Lâm Đồng (Bảo Lộc), tiếp tục chảy ngang qua các thác Dambri, xuống đèo Bảo Lộc, Suối Tiên, rồi dòng sông tiếp tục chảy qua các vùng rừng núi Nam Trung Việt đến địa phận Định Quán, rồi đổ vào hồ Trị An. Tuy nhiên, ở khúc sông này mùa khô thì thiếu nước, mùa mưa thì nước chảy xiết cuồn cuộn, nên tàu bè không lưu thông được. Qua khỏi vùng Trị An thì thế đất tương đối bằng phẳng hơn nên sông sâu và nước chảy chậm hơn. Trước khi chảy vào Biên Hòa, sông Đồng Nai phân làm hai nhánh, bao bọc những cù lao Tân Chánh, cù lao Rùa, và cù lao Tân Triều. Sau khi chảy qua tỉnh lỵ Biên Hòa, sông lại chia nhánh bao bọc các cù lao Phố và cù lao Ông Còn. Sau đó hai dòng hợp lại để chảy theo hướng Bắc Nam về hướng Sài Gòn, nó không chảy ngang qua thành phố Sài Gòn, mà chảy qua Nhà Bè(36). Qua khỏi Nhà Bè, sông Đồng Nai có một phân lưu khác là sông Lòng Tảo(37). Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai là sông La Ngà chảy về phía Bình Thuận, và sông Bé chảy về phía Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương. Khúc sông Đồng Nai từ Lâm Đồng chảy xuống Định Quán qua hồ Trị An, đến cửa sông Bé(38), dòng sông chảy theo hướng tây bắc-đông nam, và có bề rộng trung bình từ 100 đến 300 mét. Khúc sông từ Tà Lài đến hồ Trị An có nhiều ghềnh thác, không thuận tiện cho việc giao thông. Dọc theo sông Đồng Nai về phía Tây Nam, sau khi dòng sông này chảy ra khỏi hồ Trị An, qua thành phố Biên Hòa và trở thành sông Nhà Bè, dòng chảy trở nên êm đềm hơn và lòng sông mở rộng và sâu hơn. Trên đường chảy ra cửa Cần Giờ, sông Đồng Nai lại có thêm những phụ lưu quan trọng khác, bên hữu ngạn có sông Bé và sông Sài Gòn, tả ngạn có sông La Ngà. Hệ thống thủy lộ trong khu vực nầy trở nên phong phú với các dòng Nhà Bè, Lòng Tàu, Bà Giải, và Thị Vải, vân vân. Tại đây các sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây cùng chảy vào sông Đồng Nai trước khi đổ ra biển tại cửa Xoài Rạp(39).



Sông La Ngà chảy trong địa phận Đồng Nai-Biên Hòa(40) khoảng 55 cây số, nhưng lòng sông lại hẹp và có có rất nhiều ghềnh thác, không thuận tiện cho việc giao thông, như Thác Trời cao hơn 5 mét. Trước khi chảy vào ranh giới huyện Đức Linh (tỉnh Bình Thuận), có nhiều suối đổ vào dòng La Ngà, điển hình là suối Gia Huynh và suối Tầm Bung. Suối Gia Huynh bắt nguồn từ khoảng quốc lộ số 1, trong khi suối Tầm Bung bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc. Về mùa mưa, nước từ hai dòng suối nầy đổ vào La Ngà(41) khiến cho dòng chảy của dòng sông nầy trở nên mạnh hơn và nước dâng cao rất nhanh trước khi đổ vào hồ Trị An. Ngoài ra, vùng Đồng Nai-Biên Hòa còn có những sông nhỏ nhưng không kém phần quan trọng khác như sông Buông (Lá Buông), bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc, có chiều dài khoảng 40 cây số, chảy theo hướng đông-tây và đổ ra sông Đồng Nai tại vùng An Hòa. Sông Ray cũng phát nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc, chảy theo hướng bắc-nam, xuống vùng Bà Rịa-Vũng Tàu, rồi đổ ra biển. Về phía cực nam của vùng Đồng Nai-Biên Hòa, ngoài những sông lớn như Đồng Nai, Nhà Bè, và Lòng Tàu... còn có rất nhiều sông nhỏ, điển hình nhất là hai con sông Xoài và sông Thị Vải. Cả hai con sông nầy đều phát nguyên từ cao nguyên Xuân Lộc và chảy thẳng ra biển. Về phía thượng nguồn, hệ thống sông Thị Vải gồm nhiều con suối nhỏ và dốc; về phía hạ lưu phía dưới quốc lộ 51 đi Vũng Tàu, lòng sông mở rộng hơn, nhưng nước mặn vì gần biển. Sông Xoài có hai nhánh chính là Châu Pha và Suối Dun, cùng nhiều con suối nhỏ, ngắn và hẹp hơn. Tuy nhiên, nước ở thượng nguồn sông Xoài rất quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt cho Vũng Tàu; đến gần biển, nước của dòng sông nầy lại có độ mặn tương đương với nước biển. Chính nhờ hệ thống sông ngòi phong phú mà phương tiện giao thông đường thủy của Biên Hòa cũng rất tiện lợi và thiết yếu cho toàn tỉnh.


Di Tích Lịch Sử Biên Hòa:

Có thể nói vùng Biên Hòa là cái nôi của cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn, vì trong suốt thời Nam tiến, mọi sinh hoạt chính trị và văn hóa quan trọng đều diễn ra tại vùng này. Ngoài Cù Lao Phố cũng như những đình chùa cổ trong vùng, Đồng Nai còn là vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời nhất của miền Nam với những di chỉ khảo cổ Ốc Eo ở Định Quán, cũng như dấu tích văn minh cách nay trên 1.300 năm của dân tộc Phù Nam ở Cát Tiên. Tại phường Bửu Long trong thành phố Biên Hòa có Văn Miếu Trấn Biên, được chúa Nguyễn Phúc Chu xây vào cuối thế kỷ thứ 17. Theo chánh sử triều Nguyễn, vào năm 1715, chúa Nguyễn Phúc Chu sai quan Trấn Thủ Nguyễn Phan Long và quan Ký Lục Phạm Khánh Đức chọn thôn Tân Lại, tổng Phước Vĩnh, nay là phường Bửu Long, thuộc thành phố Biên Hòa để xây dựng Văn Miếu Trấn Biên(42). 

Thời đó văn miếu đóng vai trò của một trung tâm văn hóa và giáo dục của cả miền Nam trong nhiều thế kỷ, và đây cũng là văn miếu đầu tiên của vùng đất phương Nam. Tuy nhiên, theo dòng thời gian, văn miếu bị tàn phá nặng nề trong thời chiến tranh giữa Nguyễn Ánh với nhà Tây Sơn, rồi đến thời Pháp thuộc, và thời chiến tranh Quốc Cộng. Vào những năm 1794 và 1852, triều đình đã sai trùng tu lại ngôi Văn Miếu. Sau chiến tranh dân chúng đã xây dựng lại Văn Miếu theo lối kiến trúc cổ để tưởng nhớ lại một thời văn hiến của dân tộc. Năm 1861, văn miếu bị thực dân Pháp tấn công và tàn phá hoàn toàn khi chúng chiếm 3 tỉnh miền Đông. Từ năm 1954 đến năm 1975, chánh quyền đệ nhất và đệ nhị cộng hòa không trùng tu văn miếu được vì tình trạng chiến tranh Nam-Bắc. Mãi đến 27 năm sau khi chiến tranh chấm dứt (2002), Văn Miếu Trấn Biên mới được xây dựng lại trên nền Văn Miếu khi xưa, thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 3 cây số. 

Tại thành phố Biên Hòa còn có đền thờ thần Thành Hoàng của dân địa phương, nhưng sau người ta cũng thờ ông Nguyễn Tri Phương. Nguyễn Tri Phương là một danh tướng của triều Nguyễn vào cuối thế kỷ thứ XIX, người đã đắp đồn Kỳ Hòa để chống Pháp sau khi chúng lấn chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1861. Nguyễn Tri Phương chẳng những là một võ tướng tài ba, mà còn là một vị quan có tài và có công trong việc lập đồn điền, khai hoang lập ấp ở các tỉnh miền Nam. Ông qua đời vào năm 1873. Sau khi ông mất, để tỏ lòng biết ơn ông, dân chúng trong vùng tạc tượng ông và đem vào thờ trong đền, tại làng Mỹ Khánh, dinh Trấn Biên, nay là phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa. Lễ Kỳ Yên tại đây được tổ chức vào hai ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch. Vào các ngày lễ, đông đảo dân chúng trong vùng tụ họp về đây để dâng hương cầu phúc. 

Tại xã Hòa Hiệp (Cù Lao Phố), cũng thuộc thành phố Biên Hòa có đền thờ ông Nguyễn Hữu Cảnh, một trong những khai quốc công thần thời các Chúa Nguyễn, đã có công mở mang và xây dựng miền Nam. Theo chánh sử triều Nguyễn, năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược đất Nông Nại. Ông đã đặt tên cho vùng đất mới là phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên, chia phủ nầy ra làm hai huyện: Phước Long và Tân Bình. Sau đó, ông đặt ra phường, Ấp, xã, thôn, rồi cho lập bộ đinh và bộ điền, và chiêu mộ lưu dân từ các vùng Ngũ Quảng đi vào Đồng Nai để lập nghiệp. Đền thờ ông được xây cách đây trên 300 năm, mặt đền nhìn ra sông Đồng Nai theo hướng tây nam, sân đền rộng. Năm 1802, vua Gia Long đã cho trùng tu lần đầu, và được vua Tự Đức trùng tu lần nữa vào năm 1851, và thời VNCH trùng tu năm 1961. Hàng năm dân chúng trong vùng đổ xô về đây tổ chức tế lễ, cầu cho quốc thái dân an và để tưởng nhớ đến ân đức lớn lao của quan Chưởng 

Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, bậc tiền hiền đã có công khai sanh ra vùng hoang địa nầy. Lễ Kỳ Yên tại đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được tổ chức hai lần vào ngày 16 tháng 6 và vào ngày 11 tháng 1 âm lịch. Cách đền thờ quan Chưởng Cơ khoảng 100 mét là ngôi chùa Quan Thánh Đế (chùa Quan Công). Đây là một trong những ngôi chùa Hoa cổ nhất tại miền Nam. Chùa được xây vào khoảng năm 1684. Ngày trước, chùa có tên là Miếu Quan Đế; bây giờ có tên là ‘Thất Phủ Cổ Miếu’.
Đây là một trong những ngôi chùa được người Hoa đến chiêm bái nhiều nhất.
Trong thành phố Biên Hòa còn có đình Tân Lân, được xây vào thế kỷ thứ XVIII, nơi thờ ông Trần Thượng Xuyên, một người Hoa đã có công khai phá và mở mang vùng Nông Nại Đại Phố, nay là Biên Hòa, ông được chúa Nguyễn phong làm quan Thượng Đẳng Đại Thần, và dân chúng trong vùng ngày ngày đến lễ bái thờ tự nên lúc nào trong đền cũng khói hương nghi ngút, lễ Kỳ Yên được tổ chức vào ngày 23 tháng 11 âm lịch. Tại thành phố Biên Hòa còn có đình An Hòa, trong đình hãy còn rất nhiều tấm hoành phi và câu đối từ các đời vua Gia Long và Minh Mạng. Đình được xây dựng vào năm 1788, được vua Tự Đức sắc phong vào năm 1856, tại đây dân chúng tổ chức lễ Kỳ Yên vào hai ngày 15 và 16 tháng 8 âm lịch. Trải qua những năm tháng di dời, cuối cùng ngôi đình được xây cất khá kiên cố trên diện tích hiện tại.


Trấn Biên còn là quê hương của ông Trịnh Hoài Đức (1765-1825). Trịnh Hoài Đức là hậu duệ của những người Minh Hương đã đến đây khai khẩn nên cù lao Phố ngày trước. Hiện vẫn còn khu lăng mộ của ông bà Trịnh Hoài Đức trong phường Trung Dũng, cạnh quốc lộ số 1. Trên tường thành phía sau hai ngôi mộ là bức phù điêu bằng xi măng có hình rồng cuộn mây. Hàng năm vào dịp lễ Thanh Minh, khoảng tháng 3 âm lịch, để tưởng nhớ công ơn của một bậc tiền hiền khai cơ, dân chúng trong vùng đổ xô về đây vẩy mã và cúng kiếng cho ngài Trịnh Hoài Đức. 

Ngoài ra, tại thành phố Biên Hòa còn có các chùa Đại Giác, Long Thiền và Bửu Phong. Chùa Đại Giác tọa lạc trong địa phận xã Hiệp Hòa (Cù Lao Phố). Đây là một trong ba ngôi chùa cổ kín nhất trong vùng Đồng Nai. Chùa được Hòa Thượng Thành Đẳng(43) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ thứ XVII. Năm 1779, trên đường chạy trốn nghĩa binh Tây Sơn, công chúa thứ ba của vua Gia Long là bà Nguyễn thị Ngọc Anh đã có lần lẩn trốn trong chùa. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long cho trùng tu lại ngôi chùa và cúng thêm cho chùa pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ, cao 2,56 mét. Chính vì vậy mà dân chúng địa phương gọi là ‘Chùa Phật Lớn’. Riêng công chúa Ngọc Anh đã cúng cho chùa một bức hoành phi lớn có đề ba chữ ‘Đại Giác Tự’ treo ngay trước chánh điện. Hai ngôi chùa khác là chùa Long Thiền và Bửu Phong(44) được xây vào 1664 và 1679, trong hai chùa này hiện còn những pho tượng Phật cổ trên 300 năm.

Người Long Hồ 
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011 
Copyright © 2012 by Ngoc Tran. All rights reserved.

Nhấp vào Links:

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

Try To Remember - Music: Harvey Schmidt - The Brothers Four



Thơ Cảm Tác: Khánh Hà
Thơ Tranh: Kim Oanh


Music: Harvey Schmidt
Lyrics: Tom Jones
By: The Brothers Four


Một Lần Xa



Con ve sầu nhớ ai..Ve ve.
Cánh phượng đỏ gọi ai..Lập lòe
Vẫy tay chào e rưng con mắt
Mượn đường về ngã nón nghiêng che

Nắng hè đọng buồn lên băng đá
Em trả lại tôi một chỗ ngồi
Vệt nắng thiếu người chia hai ngả
Ngả mong chờ nhớ ngả chia xa.

Hạ trả tôi về qua nỗi nhớ
Khi về ký ức gọi trong mơ
Nghe tim đỏ lửa trong lòng nắng
Hồn vịn gió vời áo tiểu thơ

Như con ve giấu tình trong đất
Ta giấu tình trong nỗi nhớ em
Ve lột xác tìm tình đã mất
Ta mất tình lột xác cũng bâng khuâng...

Bằng Bùi Nguyên

Kiếp Hoa Quỳnh



Bài Xướng:
Kiếp Hoa Quỳnh

(Cảm xúc khi nhìn thấy cánh hoa Quỳnh 
trong vườn hoa chị Như Thu)

Nhìn cánh hoa Quỳnh khoe sắc hương
Tưởng như nhân thế đóa vô thường
Xót mùi tục lụy câu oan trái
Thương cảnh trầm luân chữ gió sương
Bằng hữu thất thần chia tám hướng 
Tri âm bĩ vận rẽ đôi đường 
Cố nhân biền biệt đời tan tác 
Tình nghĩa nhạt nhòa trong vấn vương 

Nguyên Trần 
Toronto 1/6/2018
*** 
Các Bài Họa: 



Có Còn Vương? 

Ta về nâng lại đoá Quỳnh hương
Ấp ủ vào tim giấc mộng thường
Trao gửi niềm vui vờn kẻ lá
Trông chờ nhụy mởn đón màn sương
Thì thầm với bậu nào quên ngõ
Hứa hẹn cùng ai chẳng lạc đường
Nắng nhạt trêu đùa hoa bẽn lẽn
Thẹn thùng ướm hỏi có còn vương?

Như Thu
***
Chuyện Hoa Quỳnh


Yêu kiều một khắc tuyệt màu-hương.
Nở dưới gương trăng thật khác thường.
Đắm mắt Thi nhân trong ánh nguyệt.
Ru hồn Mặc khách giữa màn sương.
Trang đài tình lỡ đành ôm hận.
Quân tử duyên chia phải rẽ đường.
Trời đất cảm thương nên chẳng nỡ...
Mồ thiêng hoa lạ dệt tơ vương.

Trúc Lệ- Trần Lệ Khánh

2-6-2018.
***
Kiếp Hoa Quỳnh

Lánh chốn xô bồ đêm tỏa hương
Đời mong nguyện mãn sống an thường
Kinh qua thắc thỏm trong cuồng gió
Nếm trải ê chề giữa lạnh sương
Mới chút hờ vui thầm dưới nguyệt
Liền bao nghẹn khóc úa bên đường
Cung đàn bặt tiếng người nay đã
Ngấm mộng kim tiền giấc đế vương…

Lý Đức Quỳnh
***
Quỳnh Hoa


Ngắm cánh Quỳnh hoa mở sắc hương
Khoe màu khơi sắc giữa vô thường
Dâng đời tự tại vui trời đất
Hiến cõi an nhiên thỏa gió sương
Rã mối nhân duyên đành rẽ lối
Rời tình ngang trái phải chia đường
Cung tơ đã bặt hồn đau đáu
Một đóa Quỳnh hoa mãi vấn vương.

Hương Thềm Mây GM.Nguyễn Đình Diệm 
05.6.2018
***
Đợi Tình

Trong vườn em rực tỏa mùi hương
Đâu biết xung quanh chuyện khác thường
Ngày lại êm êm vang tiếng gió
Đêm về rỉ rả quyện hơi sương
Lầu son mấy bậc tìm phương hướng
Thục nữ bao phen kiếm bạn đường
Số kiếp long đong toàn trắc trở
Hoa thì đẹp, lại thiếu tơ vương !

Trịnh Cơ
Paris 04 Juin 2018
***
Cảm Hứng Cuối Ngày
(Sau khi xem phim Quỳnh Chân Y) 

Em- cánh hoa quỳnh tỏa ngát hương
Bàn chân đưa nhẹ khúc Nghê thường
Lời ca giữa suối lồng mây gió
Hạc vũ bên đồi lộng tuyết sương
Kỷ nữ muôn đời câu hẹn lỡ
Tài nhân một thuở chữ tình vương
Con tim trong tận cùng sâu thẳm
Ánh mắt người xưa đợi cuối đường.

Thy Lệ Trang
***
Say Quỳnh


Ngắm đoá nhung Quỳnh toả nhẹ hương
Tâm như thoát tục giữa đời thường
Cây nghiêng ẻo lã khoe vầng Nguyệt
Cánh nép e dè ẩn lớp sương
Để mặc đêm say còn nuối giấc
Dầu cho lối mộng sẽ tan đường
Khi tươi lúc héo đà am hiểu
Cám cảnh hoa tàn vẫn nặng vương

Minh Thuý
Tháng 6 _2018

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

Thơ Tranh: Xin Một Khoảng Trời Riêng


Hình Ảnh: Paulle Minh
Thơ: Song Quang
Thơ Tranh: Kim Oanh

Hãy Trả Cho Tôi



Hãy Trả Cho Tôi

Hãy trả cho tôi tiếng trống trường
Thêm hàng phượng vĩ, nắng chiều buông
Nhặt hoa ép bướm, rồi mơ mộng
Tình cảm học trò, thật dễ thương

Hãy trả cho tôi khúc nhạc sầu
Tiếng ve ly biệt buổi hè sang
Người về đồng ruộng - ôi thương nhớ
Kẻ ở thị thành - cứ ngóng nhau...

Hãy trả cho tôi chút nắng hồng
Hong làn tóc rối của em tôi
Trinh nguyên, trong trắng thời hoa mộng
Đếm bước tan trường, bóng ngã đôi

Hãy trả cho tôi dòng mực tím
Hộc bàn bí mật " hộp thư yêu "
Thêm dòng dao khắc " như là quỉ"
Xí muội, ô mai..." vật cống triều "...

Hãy trả cho tôi dòng nhật ký
Hành trang duy nhất buổi chia ly
Sân trường nhòe lệ mờ trong mắt
Thôi nhé... Xa rồi... "Ta nhớ mi"...

Bá Phước Tô
***
Ai Trả Đây??? 


Ai trả em tôi tiếng trống trường?
Trả hoa phượng nở toả ngát hương
Trả trang lưu bút đầy kỷ niệm
Trả hồn hoài niệm chút yêu thương 

Ai trả em tôi khúc nhạc sầu
Tiếng ve nức nở khiến lòng đau
Em về quê mẹ ôm niềm nhớ
Tôi lạc xứ người với nỗi đau

Ai trả em tôi ánh nắng hồng
Để hong khô tóc lúc trời đông
Trả thời áo trắng đầy mơ mộng
Đếm bước trường tan nhớ viễn vông

Ai trả em tôi mực mồng tơi
Của tình vụng dại thuở thiếu thời
Học bàn lưu lại vài trái ổi
Như nỗi nhớ thương chẳng đổi dời

Hãy trả em tôi giấc mơ vàng
Xuân xanh qua vội mộng lành tan
Người đi để lại dòng sông lạnh
Để mảnh vườn xưa cỏ mọc hoang

Lanh Nguyễn

Chiều Bảo Lộc Một Mình



Chiều Bảo Lộc Một Mình

Từng giọt cà phê lặng lẽ rơi
Ngoài kia sương đã xuống ngang đồi
Chiều buông chầm chậm trong nhung nhớ
Trăng mọc nghiêng nghiêng giữa ngậm ngùi
Đắng chát bờ môi tìm dĩ vãng
Hoen nhoè khóe mắt vọng mù khơi
Về đây tìm lại hương ngày cũ
Chỉ thấy cô liêu một góc trời.

Phương Hà
( 19/05/2018 )
***
Các Bài Họa
Dạo Chơi Một Mình


Chiều sao lạnh lẽo lá vèo rơi
Bảo Lộc danh trà sương trắng đồi
Tản bộ một mình nghe trống trải
Dạo chơi đơn độc thấy bùi ngùi
Buổi xưa tuổi trẻ ta chung bước
Nay đã cao niên bóng viễn khơi
Chạnh nhớ ai đây mùi tục lụy
Vời xa mõi mắt cuối chân trời

Mai Xuân Thanh

Ngày 19/05/18
***
Chiều buồn một mình

Nắng vàng chầm chậm xuống chiều rơi!
Sương đã buông giăng khắp núi đồi
Gió lạnh vời mong người góc biển
Trăng mờ tưởng nhớ kẻ chân trời
Hướng về dĩ vảng thương rồi nhớ
Ngó tới tương lai ngậm với ngùi
Cũng muốn bươi tìm bao ký ức
Mà sao vời vợi chốn mù khơi

Song Quang
5/19/2018
***
Chiều Bảo Lộc một mình

Cà phê nhỏ giọt ngắm mông trời
Kết mảng sương mờ lặng lẽ rơi
Dõi chập chờn trôi đường thoải dốc
Ngồi thơ thẩn vọng góc nghiêng đồi
Môi nhoè thấm mặn hương thừa cũ
Mắt dại trông nhoà cảnh viễn khơi
Trở lại nơi này vay đỡ nhớ
Người xưa ảnh hiện nét thương ngùi.

Mai Thắng
180521
***
Hoàng Hôn

Hoàng hôn thoi thóp lạnh sương rơi,
Một cánh chim côi bạt cuối đồi.
Trăng cũ còn đây sầu chất ngất,
Người xưa đâu tá nhớ ngùi ngùi.*
Sóng lòng cứ ngỡ dần dà lắng,
Thương tiếc ai ngờ thổn thức khơi.
Mặc gió đêm về đùa mái tóc,
Đăm đăm lệ ngấn ngắm sao trời!

Mailoc
5-20-18
(*) Ngùi ngùi : bùi ngùi - Ngùi ngùi thương nhớ
“ Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông “
( Nguyễn Đình Chiểu )

Đất Phương Nam I - Từ Vùng Đất Biên Đến Tỉnh Biên Hòa-Đồng Nai (Phần 3)

Trại thuỷ phi cơ trước chợ Biên Hoà

Địa Thế, Núi Non, Và Khí Hậu Trong Vùng Đất Biên Hòa:

Tuy có nhiều sông ngòi và kinh rạch, nhưng địa thế đất lại cao nên Biên Hòa không thuận tiện cho việc trồng lúa nước. Ngược lại, tính từ năm 1924, Biên Hòa đứng đầu toàn quốc về ngành trồng cao su. Ngoài ra, Biên Hòa rất thích hợp cho việc trồng dừa, cà phê, thuốc lá, đậu phộng, thơm và các loại rau quả. Rừng Biên Hòa có rất nhiều gỗ quí như gỗ lim, gỗ trắc, gõ, cẩm lai, thao lao, sao, dầu, vân vân. Thời Nam Kỳ Lục Tỉnh, Biên Hòa là một vùng bao la rộng lớn chạy dài từ Bình Long, Phước Long, Long Khánh, Thủ Dầu Một, xuống Biên Hòa bây giờ, đến tận Bà Rịa.

Bắc giáp tỉnh Bình Tuy và Bình Thuận (Phan Thiết), nam giáp tỉnh Gia Định, đông ra tận biển Đông, tây giáp vùng Sài Gòn và tỉnh Hậu Nghĩa thời VNCH(28). Về núi non thì có núi Chứa Chan, núi Chiêu Thái (Châu Thới), núi Long Ẩn... Về phía nam huyện Phước Chính là các núi Bảo Phong, Bạch Thạch, Long Ẩn, Châu Thới, núi đá chen lẫn cây cỏ tốt tươi. Về phía tây bắc huyện Phước Bình có núi Tấn Biên. Về phía nam huyện Phước Bình là các núi Chánh Hưng, Yến Cẩm, núi Văn, núi Thần Qui, núi Nưa, núi Xoài, núi Thỏ, núi Mô Khoa, núi Tà Mô Liên, núi Trà Cụ, núi Châu San. Về phía nam huyện Phước An có các núi Tiên Cước, Bà Rịa, Thùy Vân, núi Nứa. Về phía đông và đông nam huyện Phước An là núi Đất, núi Ghềnh Rái, và núi Thần Mẫu. Phía bắc huyện Phước An là núi Kho, núi Đỏ. Phía nam huyện Long Thành là núi Ký Sơn, núi Nữ Tăng. Phía tây và tây bắc Long Thành là gò Khổng Tước và núi Thiết Khâu. Phía tây của Phước Long là núi Uất Kim. Đông bắc của Long Khánh là núi Hương Sơn và núi Nha Duẫn, núi Làng Giao. Phía tây của Long Khánh là núi Câu Khánh. Phía Bắc của huyện Phước Khánh là núi Chứa Chan. Như vậy Biên Hòa xưa bao gồm một vùng rộng lớn mà bây giờ gồm các tỉnh Biên Hòa, Phước Long, Vũng Tàu, Và Rịa và một phần của Gò Công.

Trong vùng đồi thấp giữa Vĩnh Cửu và Tân Uyên, trước khi sông Bé gặp sông Đồng Nai là thác Trị An, khúc nầy thế đất cao với toàn những đá lỡm chởm. Thác Trị An tọa lạc trong vùng xóm Cát, cách quận lỵ Hiếu Liêm, tức xóm Sông Bé ngày xưa, khoảng 3 cây số, và cách thành phố Biên Hòa khoảng 36 cây số nếu đi theo tỉnh lộ 762. Hồ Trị An chảy trở vào sông Đồng Nai, khi qua khỏi khu Vĩnh An, có một cụm đá nằm chắn ngang giữa lòng sông, gần như lấp mất dòng chảy của con sông. Về mùa khô, bảy tảng đá lớn nầy nhô lên khỏi mặt nước, vì vậy mà dân trong vùng còn gọi là ‘Thất Thạch Than’. Có những tảng đá bóng nhẵn, cũng có những tảng bị rạn nứt, hoặc có hình dạng sù sì. Về mùa mưa, nước trên nguồn đổ xuống rất mạnh, đến chỗ đá cản, tạo thành hàng trăm cây nước vọt lên cao, rồi rơi xuống như những chùm hoa bạc đang rơi lả tả trong gió vậy. Những chùm nước nầy vọt qua khỏi rào cản, rơi xuống trở lại dòng nước theo hình vòng cung, đó là thác nước Trị An(29).

Sau năm 1975, chánh quyền mới bãi bỏ tỉnh Long Khánh và sáp nhập các vùng
Long Khánh và Xuân Lộc vào Biên Hòa để thành lập tỉnh Đồng Nai. Về phía Bắc của huyện Phước Khánh là núi Chứa Chan(30). Núi tọa lạc trên phần đất xã Gia Ray, cách lỵ sở xã Gia Ray chừng 2 cây số dọc theo quốc lộ 1A. Núi chiếm một diện tích

khoảng 600 mẫu đất, gồm ba ngọn, và ngọn cao nhất khoảng 803 mét. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, núi Chứa Chan tọa lạc khoảng 56 dặm về phía bắc huyện Phước Khánh, hình núi cao sừng sững, gần chân núi có khe Dạ Lao, giáp giới với huyện Long Khánh, tức tỉnh Long Khánh thời Việt Nam Cộng Hòa. Trên núi có nhiều loại dây mây, như mây thiết, mây tàu, cũng như nhiều loại cây gỗ khác. Ỏ giữa núi có thạch động và thạch tỉnh. Theo truyền thuyết của dân bản địa tại đây thì vùng đất Long Khánh ngày nay đã từng là bãi chiến trường giữa Chân Lạp và Champa.

Về khí hậu, toàn vùng Biên Hòa là vùng đất cao ráo, lại nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa gần xích đạo, nên khí hậu gần như nóng và ẩm quanh năm, nhưng tương đối ôn hòa và ít bị thiên tai bão lụt. Cũng như các vùng khác ở miền Nam, toàn vùng Đồng Nai-Biên Hòa có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình khoảng 26oC. Số giờ có nắng trung bình là 6 giờ trong một ngày. Đây là vùng đất có lượng nước mưa khá cao: 2.080 mm mỗi năm. Dầu có lượng nước mưa khá cao, không như vùng đồng bằng sông Cửu Long, cảnh quang trong núi rừng phía bắc Biên Hòa về mùa khô có vẻ xơ xác, với những con suối cạn nước, nhưng về mùa mưa thì cây cối trở lại xanh um. Bằng chứng điển hình là những con thác Giang Điền và Thác Mai, vào mùa mưa thì nước đổ ầm ầm, nhưng vào mùa khô thì lượng nước chỉ còn lại khoảng phân nửa thác mà thôi. Tuy nhiên, vùng Biên Hòa chỉ có mưa rào chứ không bị mưa dầm. Đến gần tiết Đông Chí, thỉnh thoảng về đêm mới có sương nên tiết trời có phần khá lạnh. Mùa hè và mùa thu có gió Nồm, mùa đông và mùa xuân có gió Bấc. Trong những năm gần đây, cũng như nhiều nơi khác ở miền Nam, tiết trời có vẻ nóng hơn, có lẽ vì rừng rậm ngày càng bị thu hẹp.

Cù Lao Phố Một Thời Vang Bóng:

Từ hồ Trị An ra đến Biển Đông, sông Đồng Nai để lại nhiều cù lao lớn nhỏ trên dòng chảy. Đặc biệt, khi chảy đến gần khu tỉnh lỵ Biên Hòa thì chia làm hai nhánh, chính giữa là một cù lao thuộc làng Hiệp Hòa, có tổng diện tích khoảng 6,93 cây số vuông. Không biết trước khi Tướng Trần Thượng Xuyên đến đây thì cù lao nầy có tên gì, nhưng sau khi ông lập ra phố phường trên cù lao nầy thì từ đó dân gian gọi nó là ‘Cù Lao Phố’. Vì người Trung Hoa thì gọi những phần đất thuộc lãnh thổ Chân Lạp là ‘Giản Phố Trại’, nên có lẽ khi đến định cư tại đây, tướng Trần Thượng Xuyên đã dùng tên nầy mà đặt cho vùng đất mà mình mới khai phá là ‘Nông Nại Đại Phố’.
Người dân địa phương tại còn gọi là ‘Đông Phố’ hay phố ‘Bàng Lân’. Đây là một trong những thương cảng sầm uất nhất của xứ Đàng Trong vào cuối thế kỷ thứ XVII. Các thương thuyền từ các nơi khác như Trung Hoa, Nhật Bản, Mã Lai, Ấn Độ, và ngay cả từ các xứ Âu Châu... ra vào buôn bán tấp nập. Ngay từ giữa thế kỷ thứ 18, nhờ thương mại phát triển nên lưu dân từ các miền Thuận Quảng đổ xô về đây lập nghiệp. Và cũng nhờ đó mà các ngành nghề khác cũng phát triển theo, nhất là các ngành thủ công nghiệp và nông nghiệp.
Chỉ không đầy 10 năm sau khi tướng Trần Thượng Xuyên vào đây khai hoang lập phố thì vùng Cù Lao Phố đã nhanh chóng trở thành vùng đất trù phú nhất miền Nam. Nông nghiệp tăng năng suất rất nhanh; trong khi các ngành nghề thủ công truyền thống như dệt chiếu, trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải, gốm sứ, trồng mía để làm đường, ngành mộc và chạm trổ mỹ thuật, rèn dao mác và cung tên, vân vân, phát triển rất mạnh. Hiện nay tại vùng xung quanh chùa Tân Giám Bình hãy còn lưu lại nhiều dấu tích và di vật của những ngành nghề cổ truyền của vùng đất nầy hơn 300 năm về trước.

Triều đình xứ Đàng Trong cũng gọi khu nầy là Đại Phố Châu, tức Bãi Đại Phố.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Thượng: “Cù Lao Phố chỗ sông sâu thuận tiện cho tàu biển đậu. Năm 1679, Tổng Binh Trần Thượng Xuyên dẫn theo một đoàn người xin cư trú tại Việt Nam và được chúa Nguyễn chấp thuận cho vào khai khẩn đất Nông Nại. Sau khi khẩn hoang lập ấp, Trần Thượng Xuyên đã chiêu tập thương buôn nước Tàu, xây dựng đường sá, nhà lầu đôi tầng, mái ngói đỏ, tường quét vôi trắng rực rỡ bên sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ, nhai(31)lớn ở giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, và nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng, bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội”. Trần Thượng Xuyên lại khéo chỉ huy và tổ chức, quy tụ các thương nhân người Hoa ở các nước khác đã có mối quan hệ từ trước, các nhà buôn bán chuyên nghiệp có vốn lớn, giàu kinh nghiệm đến xây dựng Cù Lao Phố thành một thương cảng quốc tế phồn thịnh vào bậc nhất thời đó, được mang tên là “Châu Đại Phố Cảng.” Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Nông Nại, ông đã đặt Tổng hành dinh của mình tại Cù Lao Phố để từ đó tiến hành xây dựng bộ máy hành chánh cho toàn vùng đất Nam Kỳ.

Nhờ đó mà Cù Lao Phố nhanh chóng đi vào nề nếp kỷ cương và ổn định tại miền Nam. Hiện tại, trong địa phận Cù Lao Phố còn có một di tích lịch sử khá lâu đời, đó là ngôi mộ và miếu thờ quan Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Quan Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh là con của quan Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật, một danh tướng thời Nguyễn Sơ (Nguyễn Hữu Cảnh sanh năm 1650 và mất vào năm 1700). Ông chính là người đầu tiên thiết lập bộ máy hành chánh cho vùng Biên Hòa nói riêng, và cho cả miền Nam nói chung. Năm 1698, sau , chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Kinh Lược vùng đất Nông Nại. Ông đã vâng lệnh chúa chia đất Đồng Nai ra làm hai huyện Phước Long có dinh Trấn Biên, và huyện Tân Bình có dinh Phiên Trấn. Về sau, miền Nam có loạn Hoàng Tiến, chúa Nguyễn sai Mai vạn Long đem quân đánh dẹp, nhưng không xong; chúa lại sai Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào (anh ruột Nguyễn Hữu cảnh) vào thay, nhưng cũng không xong. Chúa Nguyễn bèn sai quan Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đem quân sang chinh phạt Chân Lạp. Sau khi thắng trận, trên đường trở về, khi đóng quân tại cù lao Ông Chưởng bây giờ, ông lâm bệnh, rồi qua đời trên đường trở về Gia Định. Di hài của ông được mang về chôn cất tại quê hương Quảng Bình.

Trên đường đưa linh cữu về quê quán, quan quân đã ghé lại cù lao Phố, nơi mà ngày trước ông đã đặt đại bản doanh khi còn làm quan Kinh Lược. Dân chúng trong vùng nhớ ơn ông nên lập miếu thờ. Hiện đền thờ của ông tại đình Bình Kính vẫn ngày ngày khói hương nghi ngút. Đến năm 1776, sau cuộc kịch chiến giữa nghĩa binh Tây Sơn và quân đội của Nguyễn Ánh, toàn bộ vùng Cù Lao Phố đã bị tàn phá, đến nay không còn lưu lại dấu vết nào cả.

Vùng Cù Lao Phố còn được dân chúng một truyền tụng rất nhiều về ông ‘Thủ Huồng’. Thủ Huồng tên thật là Võ Thủ Hoằng, một thương gia giàu có khét tiếng dưới thời chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn. Tuy nhiên, ông không có con cái, mà vợ lại chết sớm, nên ông tỏ ra buồn rầu trong cuộc sống hiu quạnh của mình trong lúc tuổi về già. Khi sống trong cô quạnh, ông tỏ ra hối hận về những hành động bất chánh của mình lúc sinh thời. Từ đó, để chuộc lại lỗi lầm của mình, ông đã cho trả hết ruộng vườn cho những ai đã cầm cố cho ông. Bên cạnh đó, ông bỏ ra hết số tiền của của mình để làm phước đức như làm đường, bắc cầu, xây chùa, cất chợ, dựng nhà tế bần. Đáng kể nhất là việc ông lập nên một chiếc nhà bè thật lớn trên sông Đồng Nai, trên nhà bè có đầy đủ gạo, mắm, than, củi, vân vân, nhằm giúp đỡ những khách lỡ đường trên dòng sông nầy. Về sau nầy, nhiều người đã tới đây lập nghiệp bằng cách xây dựng một khu nhà bè trên khúc sông nầy, và danh từ ‘Nhà Bè’ cũng từ đó mà có.

Sau khi ông Thủ Huồng mất rồi, người dân trong vùng đem bài vị của ông vào thờ trong chùa và gọi đó là chùa ‘Thủ Huồng’. Khoảng năm 1845, vua Đạo Quang (1821-1850) có gửi qua cúng cho chùa Thủ Huồng 3 pho tượng Phật bằng vàng(32).

Vùng Cù Lao Phố còn là quê hương của Trịnh Hoài Đức, một trong ba nhân vật kiệt xuất(33) của vùng đất Gia Định vào cuối thế kỷ thứ XVIII. Trịnh Hoài Đức(34) là hậu duệ của Trịnh Khánh, một trong những người Minh Hương đã theo tướng Trần Thượng Xuyên đến khai phá vùng Cù Lao Phố. Vì thân phụ mất lúc ông vừa tròn 10 tuổi, nên thân mẫu của ông phó thác ông cho cụ Võ Trường Toản dạy dỗ. Ông đậu cử nhân vào năm 1778 tại Gia Định. Sau khi thi đỗ, ông được tiến cử chức Hàn Lâm Chế Cáo, rồi được Nguyễn Ánh cho sung chức Đông Cung Thi Giảng. Năm 1794 được thăng chức Ký Lục dinh Trấn Định, tức vùng Định Tường ngày nay. Năm 1801, nhậm chức Hộ Bộ Tham Tri.

Năm 1802, Thượng thư Bộ Hộ. Cùng năm đó, ông đã cùng Ngô Nhơn Tịnh đi sứ sang Trung Hoa để dâng quốc thư cầu phong lên vua nhà Thanh. Dưới thời vua Minh Mạng, ông được cử làm Lại Bộ thượng thư, rồi Phó Tổng Quốc Tử Giám, Hiệp Biện Đại Học Sĩ, Thượng Thư Bộ Binh. Trong các kỳ thi tại Huế, ông đều được nhà vua cử làm chánh chủ khảo. Ngoài ra, ông còn là một nhà biên khảo nổi tiếng với những tác phẩm ‘Lịch Đại Kỷ Nguyên’, ‘Khương Tế Lục’ và ‘Gia Định Thành Thông Chí’. Riêng bộ ‘Gia Định Thành Thông Chí’ là một bộ biên khảo quí giá về cả địa lý lẫn lịch sử của miền Nam vào khoảng thế kỷ thứ XVIII và XIX. Đây là một trong những kho tàng tài liệu vô giá cho tất cả những nhà biên khảo về sau nầy. Trịnh Hoài Đức mất tại Huế vào năm 60 tuổi. Thi hài của ông được đưa về an táng tại vùng Bình Trước, thuộc tỉnh Biên Hòa ngày nay. Ông là một vị quan tài ba xuất chúng, tài đức vẹn toàn; một vị quan thanh liêm giản dị, luôn luôn hết lòng vì vua vì nước và luôn chăm lo làm những việc ích nước lợi dân. Trải qua hai triều Gia Long và Minh Mạng, lúc nào ông cũng hoàn thành trọng trách được nhà vua giao phó.

Người Long Hồ 
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011 
Copyright © 2012 by Ngoc Tran. All rights reserved.

Nhấp vào Links:

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2018

Xót Xa - Nhạc Sĩ Tô Thanh Tùng - Tiếng Hát: Trang Mỹ Dung


Sáng Tác: Nhạc Sĩ Tô Thanh Tùng
Tiếng Hát: Trang Mỹ Dung
Thực Hiện: Đặng Hùng


Từ Em Theo Chồng Bỏ Thơ


Dòng chữ xưa, nhánh phượng hồng
Từ em sang bến theo chồng bỏ thơ
Là hoa rụng đỏ bến bờ
Tình ta rụng nhánh sông lờ lững trôi
Là vần âm lạc mất rồi
Như cơn gió thoảng qua đồi gió tan
Là thơ ngày tháng mơ màng
Hình với bóng! Lệ hai hàng lệ rơi
Là hè buồn lắm ai ơi
Màu hoa phượng thấm một trời máu tim

Nhị(Cố Quận)

Màu Nắng Mới



Anh ơi nắng toả bên thềm
Thấm vào môi mắt chắc tìm hương xưa
Nhớ không bao chuyện nắng mưa
Cái thời áo trắng còn chưa bận lòng

Thế rồi thế cuộc tạo dòng
Bao người trôi nổi những mong sống còn
Chân quê tôi ngóng mõi mòn
Sáo nay bỏ bến nắng buồn trẽn trơ

Đong đưa vạt nắng em mơ
Những ngày bên Ấy ươm tơ nắng về
Viễn xứ mưa tuyết ê chề
Ngồi trông nắng mới tưởng mê đếm ngày

Tháng năm giọt nắng ấm tay
Giọt soi kỷ niệm giọt đầy nhớ thương
Dang tay bắt nắng soi gương
Tung tăng chân sáo nắng vương gót hồng

Trúc Lan KTP

Chút Kỷ Niệm Cùng Lâm Chiêu Đồng

Nơi nhà anh Đồng(Anh Đồng là người đeo kính)

Vào khoảng tháng tư của năm 2017, được anh Lương Minh mời uống cà phê cùng các bạn, tôi không nhớ dịp nào. Đến quán cà phê Window đã thấy LM đang ngồi chuyện với 1 người bạn, anh giới thiệu cùng tôi – Đây là anh Lâm Chiêu Đồng, tôi và anh chào nhau, tôi gọi nước . Anh Đồng có phương pháp kể chuyện rất hấp dẫn và có duyên, anh tiếp tục câu chuyện đang kể dỡ dang về họa sĩ Thế Đệ, dân Vĩnh Long, vừa mới mất ngoài Bắc do ngã dàn giáo khi đang vẽ tranh cho một ngôi chùa, anh nói về Thế Đệ. 

- Thằng này tánh nó ẩu vô cùng, có lẽ nó đóng dàn để đứng vẽ không cẩn thận nên gãy khi đang thi công. Hồi trước, cả đám cùng uống cà phê nơi quán, khi ra về, người bạn trong bàn dặn nó chạy xe nhớ đội nón kẻo bị công an giao thông phạt, nó lên xe chạy bất cần nón, 200.000 nó tặng cho CA liền khi đó “ anh kết luận “ – cái thằng này nó chuyên làm ngược, không nhắc nó đội nón thì nó đội, còn như nhắc, nó không đội.

Quán Cà phê Khởi Nguyên
Tôi nhớ trong Fb của anh Đồng có bài thơ anh viết, tôi viết một dòng phản hồi, anh trả lời rất chân tình, từ đó tôi có ý mến anh. Trong thời gian này, tôi tìm thấy tranh giấy cuộn của nữ họa sĩ Yulia Brodskaya, trình bày chân dung một bà lão suy tư, rất có thần, tôi đưa lên Fb của tôi chia sẻ cùng các bạn. Anh Đồng thấy bèn gởi đường dẫn đến tôi về tranh collage mà anh đã thực hiện, chủ đề trên mọi khía cạnh của quê hương đồng bằng sông nước miền nam, khi xem xong, tôi xin cái hẹn đến nhà anh, anh cho tôi địa chỉ, và ngày sau tôi đến nhà anh.

Cô Bạch Lan đến thăm anh Đồng, mang theo càphê nước đá từ nhà. Dạo này anh rất ốm chờ hoá và xạ trị. Khoảng thánh 3 năm 2018.
Anh pha trà, tôi cùng anh đàm đạo, luận bàn về tôn giáo, cùng mọi ngóc ngách sinh kế của anh. Sau vài lần đến nhà anh, rồi vài lần cùng các bạn đến quán, chúng tôi cởi mở nhiều hơn, anh kể. 

- Có một cô nhờ anh giới thiệu giùm một họa sĩ vẽ chân dung, là một doanh nhân đã có gia sản khá lớn, khoảng ngoài bốn mươi, anh giới thiệu, cô nói nét cọ ông này không đạt, ông kia không khéo, hóa ra cô biết khá rộng các họa sĩ nơi Vĩnh Long, anh giới thiệu tiếp dường như Thế Đệ, cô bằng lòng, sau vài tuần ngồi làm mẫu, tay Thế Đệ đến nhà thăm anh và nói “ Em vẽ chân dung khỏa thân của chỉ, nay đã gần xong còn thiếu màu đen, em ra chợ mua rồi tiếp tục cho xong “. Kể đến đây, anh cười chúm chím, tôi cũng cười nhẹ theo anh. 

Anh kể tiếp, tôi có đến nhà thăm cô ấy, cô tiếp tôi nơi phòng khách, cô ngồi ghế chủ nhà nhìn ra, tôi ngồi nơi ghế khách, nhìn thẳng vào chân dung của cô ấy treo chính diện giữa nhà, tôi thấy ngượng vội đổi ghế, nhìn lên khung kiếng to lại phản chiếu cũng chân dung của cô ấy. Anh kết luận – Cô này mặc dù ít học, song rất thông minh.

Anh vẽ từ rất sớm, chuyên tranh thủy mặc, sơn dầu rất thành công, do vì sinh kế từ năm 1985 anh làm đủ nghề, lên vùng gần Hà Tiên, nơi Xa Ảo, cách núi tô châu khoảng chục cây số, anh làm mứt bí, vì đường từ Hà tiên rất rẻ, bí do người địa phương trồng tại chổ, anh khen dân địa phương đối xử rất tốt, dù biết anh là khách phương xa đến làm ăn. Khi mứt bí hết ăn khách, anh về Vĩnh Long, đóng khung cây làm bàn máy may, anh nói đóng rất đắt, hàng giao không kịp, đến khi bàn máy may bảo hòa, anh chuyển sang làm tranh sơn mài, anh nói 

- Sơn do mủ cây sơn ngoài bắc, mình phải biết lựa dùng loại nhứt làm mới được, nếu không rành mua nhằm sơn phế phẩm, tụi nó làm còn không được, nói chi đến mình. 

Thuở này cơ sở anh làm nơi khu văn thánh thuộc phường tư, thức ăn là mì gói hai buổi ăn chánh mỗi ngày, rồi anh bị dị ứng nặng với sơn mài, đến độ sưng hết thân thể, bà xả phải đưa anh đi Sài Gòn trị bệnh, lúc này bà xả anh khuyên anh không được tiếp xúc sơn mài, và anh đành ngưng công việc. Đến năm 2000 anh bị ung thư ruột, lại phải lên Sài Gòn cắt một đoạn, sau trị liệu anh khỏi bệnh về vĩnh Long. Từ đó anh phát triển tranh xé dán ( Tranh collage ), ngoài khởi đầu là giấy màu có sẵn, sau này anh nhận thấy màu tìm không đa dạng cho tranh của anh, anh tự tạo màu trên giấy đặc biệt do anh tìm ra. Anh có giới thiệu cho tôi, màu tự tạo, anh cắt thành hình chử nhật nhỏ, dán đầy mặt cột xi măng, khung cửa rào ngoài trời, anh chỉ cho tôi thấy và nói – Tôi dán đây lâu rồi, đến nay trãi mưa nắng, không phai, không rả rời, vậy là tranh của tôi sẽ rất thọ đây. Tranh của anh ngoài trình bày và bán trong nước. anh cũng được mời triển lãm. tranh ngoài nước trong khu vực các nước Mã Lai, Singapore

Giá tranh collage tùy theo cở và đề tài có giá dao động trong khoảng 400 – 1400 tiền USA. Trong giai đoạn này anh tạc tượng, làm bình bông bằng giấy. với chất liệu phế thải, loại mốp chèn thùng, anh làm tượng vũ nữ chàm Apsara giả đá, giả cảm thạch trắng, giả đồng v..v.. 

Người xưa nói, con chim trước khi chết tiếng kêu của nó rất bi thương. Tôi từ khi biết anh cho đến khi anh lìa đời khoảng gần một năm, chúng tôi ứng xử nhau trong lễ và quý trọng nhau. 

Những tác phẩm anh tạo ra trước khi mất.


- Tranh xé dán có bức mang tên “ Buồn Tàn Đông “, anh chuyển tên lại “ Mùa Đông Cuối Cùng “, theo ý anh là sẽ không làm tranh mùa đông nữa- Điềm báo chăng!


(Bên trái bình hoa được tạc từ giấy - Giữa, tượng Phật giả đồng bằng mốp  
- Bên phải: Tranh trên ly thủy tinh) 

- Hai bức tượng cuối đã hoàn thành. Tượng Thích Ca ngồi trên tòa sen màu ngọc thạch – Tượng đầu con min, con bò rừng, được đặt phía trên sau lưng bàn vi tính anh thường ngồi xem tin và viết.

ầu con Min Bằng mốp, tượng cuối cùng của anh Đồng)  

- Bài thơ cuối, anh viết sau lần xạ và hóa trị, như một lời trối, mời các bạn xem bài thơ mang tên: 


Trương Văn Phú

  

Trằn Trọc



Xướng:
Trằn Trọc

Vắt tay lên trán suốt đêm qua
Càng nghĩ lòng càng thấy xót xa
Sáu chục năm dư dời đất tổ
Ba trăm tháng lẻ biệt quê cha
Hương Sơn nghe tích thêm thương nước
Quán Sứ nhìn tranh lại nhớ nhà
Cha mẹ về trời khôn vuốt mắt
Nước nào rửa sạch hận lòng ta?


Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái
***
Các Bài Họa:

Trăn Trở


Cách trở đôi bờ gió sóng qua
Sinh ly tử biệt vạn trùng xa
Tương tư bất tận sầu non nước
Ức niệm vô cùng xót mẹ cha
Chọn hướng sào nam gìn gốc cội
Làm thân nhạn bắc vọng quê nhà
Đoàn viên giấc mộng hoài thao thức
Mãi vết thương lòng rỉ máu ta!


Lý Đức Quỳnh
21/1/2018
***
Thao Thức

Vun vút thời gian đã lướt qua!
Nỗi niềm thao thức chốn trời xa...
Chiến chinh tao loạn ly sông núi.
Thời thế chuyển luân biệt mẹ cha.
Nghe quốc kêu đêm thương đất cũ.
Lắng quyên gọi bạn nhớ quê nhà
Song thân viên tịch tim đau nhói !
Sóng nước nào đây rửa hận ta..?


Trúc Lệ-Trần Lệ Khánh.

27-5-2018. 
***
Tự Ngẫm 

Thoắt đón ngày sang,thoắt vụt qua
Chim chiều mòn mỏi mút trời xa...
Đền bồi cúc dục vương tình Mẹ
Báo đáp cù lao đắm nghĩa cha!
Bến tạnh bóng sào sầu bãi xú
Cầu im tăm cá lạnh ao nhà!
Cái nhìn vuốt mắt ngày ly biệt...
Hận rửa ai hay ?thấu dạ ta?!


28-05-2018
Nguyễn Huy Khôi
***
Trong Cuộc Trần Ai

Trong cuộc trần ai năm tháng qua,
Bao lần tang tóc cứ dần qua.
Quê hương buồn khổ đau lòng mẹ,
Dặm khách ngùi thương khổ xác cha!
Phương cũ nhớ người xao xuyến dạ,
Đường xưa khóc cảnh luyến lưu nhà!
Một đời tan tác đường hoa mộng…
Càng nghĩ càng rơi nước mắt ta!


Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2018

Thơ Tranh: Tình Ca Mùa Đông

Sáu thương! Em gửi Sáu thay nén nhang tưởng nhớ một ngày Đông buồn 6/6
nha. (9Oanh)


Thơ: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh

Vẫn Hoài Mưa Tháng Sáu




Mưa tháng Sáu lòng âm thầm mong đợi
Đồi đớn đau lầy lội tiếp qua mau
Làn gió reo cây nén tiếng rì rào
Dáng cô phụ lẫn sâu màng mưa lệ

Gợi giấc mơ chửa nhạt nhòa ước vọng
Đời cho em thêm cuộc sống nồng say
Hay bắt mãi tiếp nối kiếp đọa đày
Cho tháng Sáu mưa hoài trong nỗi nhớ

Khóc cho vơi dòng thanh âm dang dỡ
Người vội đi trăn trở cõi ngàn thu
Trời vào đông giăng mắc khúc u tình
Mưa tháng Sáu rưng rưng mờ kỷ niệm

Nghiệt ngã hồn đang phiêu diêu trong mộng
Đìu hiu xa ngược nước cảnh huyền mơ

Xót xa thêm lòng khắc khoải mong chờ
Mây lũ lượt đưa vầng hồng thoáng chốc

Kim Phượng