Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Thơ Tranh: Em Ơi!




Thơ: Thế Thôi

Thơ Tranh: Suối Dâu

Kỷ Niệm Ngày Xưa


Kỷ niệm ngày xưa vẫn khắc ghi
Một thời áo trắng với tình si
Mân mê nỗi nhớ đầy rung cảm
Ươm nét thơ hồng theo bước đi

Còn nhớ không EM những mến yêu
Tung tăng sánh bước mộng mơ nhiều
Bên nhau ta kể bao niềm ước
Để ướp tình si luôn mỹ miều

Nhớ mãi trại hè bên suối reo
Rừng thông ghẹo gió, mải mê trèo
Bạn bè đứa lạc, thầy cô sợ
Kỷ niệm thân thương ta mãi đeo

Áo trắng chừ đâu, EM có hay
Nơi đây đất khách mộng bao ngày
Lời thơ dấu ái đầy nhung nhớ
Anh gởi cho đời vạn nét say ...

Hoàng Dũng


Tiểu Sử Ông Tống Phước Hiệp (...-1776)

           
          Vị quan cai quản đầu tiên dinh Long Hồ là Quốc công Tống Phước Hiệp.
         Ông Tống Phước Hiệp còn có tên là Kỉnh, thuộc dòng dõi họ Tống Phước. Họ Tống Phước có công rất lớn đối với nghiệp đế của chúa Nguyễn và trong sự nghiệp mở rộng bờ cõi phương Nam. Ông là cháu của cụ Tống Phước Dự, giữ chức Nội tả Chưởng dinh đời Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế năm 1707, bậc khai quốc công thần của chúa Nguyễn.
         Cụ Tống Phước Dự còn có con trai là phò mã. Qua đó, ta có thể phỏng đoán quê hương của dòng họ Tống Phước ở dinh Quảng Nam.
         Vào giữa thế kỷ 18, vùng đất mới ở hạ lưu sông Cửu Long (bao gồm phần lớn miền Tây Nam bộ) dần dần được tổ chức. Năm 1759, chúa Nguyễn quyết định thành lập ở đây dinh thứ 12 trong 12 dinh thuộc thuộc chúa Nguyễn ở Đàng Trong, lấy tên là Long Hồ dinh. Trụ sở của dinh được tại Vĩnh Long và ông Tống Phước Hiệp được bổ nhiệm làm trấn thủ đầu tiên. Ông là người có công rất lớn trong việc mở mang phát triển kinh tế, giữ gìn và ổn định sinh hoạt xã hội không những cho dinh Long Hồ, mà còn cho vùng đất miền Tây Nam phần, nơi quân Xiêm luôn luôn dòm ngó và nhiều lần đem quân xâm chiếm nhưng đều thất bại.
         Giữa lúc ông đang tổ chức khai hoang, lập ấp, thu phục nhân tâm, bảo đảm an ninh trật tự cho nhân dân an cư lạc nghiệp trên vùng đất mới thì tháng 9/1770, tướng Xiêm là Phi Nhã Tân vây đánh trấn Tây Thành - Hà Tiên rồi xông vào phóng hỏa đốt dinh. Tháng 10/1770, tướng Chiêu Khoa Liên xua quân Xiêm sang chiếm Hà Tiên. Chống cự không nổi, Mạc Thiên Tứ phải lui quân về Cần Thơ. Lợi dụng thời cơ ấy quân Xiêm tiếp tục tràn xuống Cần Thơ, Long Xuyên. Tình thế các vùng lân cận hết sức nguy ngập. Trấn thủ Long Hồ dinh, Cai cơ Kỉnh Thận Hầu Tống Phước Hiệp đem binh tiếp ứng đánh lui giặc; chém 300 thủ cấp. Quân Xiêm đại bại, tướng Chiêu Khoa Liên phải bỏ thuyền lên bờ chạy về Hà Tiên. Nhưng một số quân Xiêm vẫn còn đóng ở mạn Châu Đốc nên tháng 6/1772, Tống Phước Hiệp dẫn quân theo sông Hậu Giang đến Châu Đốc tiếp ứng cho lực lượng của Chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm đuổi quân Xiêm chạy dài về nước. Xong quân ta đưa Nặc Tôn về Nam Vang. Từ đó quân Xiêm bỏ hẳn ý định dòm ngó, cướp phá vùng đất mới của ta. Cũng từ đó, các tỉnh miền Tây thoát khỏi họa xâm lăng của quân Xiêm, dân chúng được an cư lạc nghiệp.
       Năm 1773, trước họa nhiễu nhương, lộng hành của chúa tôi nhà Nguyễn, anh em Tây Sơn nổi lên chiếm thành Quy Nhơn, rồi mở rộng địa bần sang các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận. Năm 1774, tướng Trịnh ở Đàng Ngoài là Hoàng Ngũ Phúc tiến quân vào Nam xâm lấn đất chúa Nguyễn. Tình thế chúa Nguyễn hết sức nguy ngập. Lập tức, Tống Phước Hiệp đốc lãnh tướng sĩ năm dinh, thủy bộ cả thảy 20.000 quân tiến thẳng tới Phú Yên lấy lại được 3 phủ là Bình Thuận, Diên Khánh, Bình Khánh. Nhưng rồi bị quân của Nguyễn Huệ tiến đánh, quân của Tống Phước Hiệp phải bỏ chạy về giữ Vân Phòng, tỉnh Khánh Hòa.
        Mặc dù là võ tướng luôn cầm quân đánh dẹp từ miền Tây Nam phần ra đến miền Trung, nhưng quan Trấn thủ Long Hồ dinh Tống Phước Hiệp hết sức chăm lo đến công việc trị an ở Vĩnh Long. Ông khuyến khích mọi người hăng hái khẩn hoang lập ấp và có biện pháp cụ thể như cấp dụng cụ làm ruộng, chăm lo giữ gìn trật tự, đảm bảo an ninh bên trong cũng như bên ngoài, mở rộng giao thương, khuyến khích buôn bán, trao đổi hàng hóa. Mọi người đều chăm lo sản xuất. Nhờ đó, cuộc sống thanh bình, ấm no lan khắp nơi. Ông còn là một vị quan thanh liêm, chánh trực, áp dụng luật pháp nghiêm minh. Nhờ công đức của ông, dinh Long Hồ trở thành trung tâm của các tỉnh miền Tây, thu hút dân cư các nơi đến lập nghiệp. Trong đó có cả đồng bào người Khmer. Ông yêu thương, chăm lo đời sống của họ với tấm lòng của bậc “chi dân phụ mẫu”, là người có công lớn trong sự nghiệp xây dựng nền móng vững chắc mọi mặt cuộc sống ở dinh Long Hồ. Công đức của ông cảm hóa được người Việt cũng như người Khmer.

(Đình Tân Giai nơi thờ Ông Tống Phước Hiệp)

        Sách “Vĩnh Long nhân vật chí” trang 2 ghi: “Khi trước cụ Tống Phước Hiệp trấn tỉnh Vĩnh Long, làm chánh có ơn, dân thương yêu như cha mẹ, vả lại cụ là người khẳng khái, lại có tài lực. Cụ thường lấy việc đánh giặc làm gánh của mình, cho nên ai cũng nương dựa, đến khi cụ mất, dân tình đều than khóc, kẻ làm ruộng ngưng cày, người đi buôn thôi nhóm chợ trọn 3 ngày.” 
         Năm Bính Thân 1776, ông bị bệnh mất vào mùa hạ, được truy tặng “Tả phủ Quốc Công”. Chúa Duệ Tông tặng ông tước hiệu “Hữu phủ Quốc Công”, lập miếu thờ tại Long Hồ.
         Đời vua Gia Long năm thứ 9 đưa tên ông vào miếu Trung tiết Công thần. Đời vua Minh Mạng năm thứ 3, ông được gia tặng “Phù chính Trung đẳng thần liệt” thờ ở miếu Hội Đồng.

(Một ngôi trường mang tên Ông- Trường Nữ Trung Học Tống Phước Hiệp-Vĩnh Long 1972)*

Trương Kỳ Quốc - Sưu tầm

*Hình bìa của quyển Kỷ Yếu niên khoá 1972-1973

Lạc Dòng



Mắt em như dòng  sông xanh biếc
Anh ước làm thuyền nhỏ xinh xinh
Thuyền anh trôi dạt vào sông ấy
Gợn sóng vô tình ướt áo anh

Lê Kim Hiệp


Thoát Chết

      
      
      6 giờ sáng – không hơn không kém bao nhiêu – là tôi ra khỏi nhà đi uống cà phê.
     Mỗi ngày đều đặn như thế. Nơi quán cũ thường ngày - có khi những người bạn đã đến trước tôi. Họ ngồi chung quanh chiếc bàn vuông có nhiều ghế mủ to có tay dựa để chung quanh. Và cũng như thường lệ tôi luôn ăn mặc tươm tất – áo bỏ trong thùng, mang giày. Nhớ ngày … xưa, khi… ra tù, được làm việc lại, tôi ăn mặc chỉnh tề như vầy thật là khác biệt với tất cả mọi người. Tôi mặc kệ. Cứ mặc thế. Lúc đó, khoảng năm 1982, cấp quan to nhất của Việt Nam tiếp khách nước ngoài còn mặc áo ngắn tay, áo bỏ ra ngoài…


      Cà phê xong ra về là hơn 7 giờ sáng. Chúng tôi là những con người đứng tuổi, thất nghiệp và không gặp thời… nên giờ khắc luôn nhàn hạ, rỗi rảnh. Về đến nhà có hai việc : chạy xe 2 bánh vào thẳng trong nhà hoặc đậu lại ngoài cửa nhà nhưng dưới 1 mái hiên bề ngang 12 mét để làm 2 phòng học – dạy thêm. Việc đậu xe bên ngoài có lý do : tôi sẽ đi Cần Thơ sau 9 giờ sáng để tụ tập với bạn bè ngoài đó. Thường 2 hoặc 3 ngày là phải đi. Đi như một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống bình thường của tôi. Sở dĩ phải đi lúc 9 giờ sáng vì từ 7 giờ đến 9 giờ sáng phải ở nhà tiếp khách để… kiếm thêm chút cháo, cũng như chiều từ 5 đên 7 giờ tối là phải trực … ở nhà !


      Hôm nay tôi đã đi Cần Thơ. Gặp mặt bạn bè tại quán cà phê Nhã Quỳnh đường Tự Đức. Ra về có khi tắp vào nhà 1 bạn khác hay ghé vào Siêu Thị dạo chơi hay mua vài món gì đó mà nhu cầu thường là làm cho bà xã hài lòng.
      Hôm nay, trước khi về nhà tôi tắp vào Siêu thị điện máy Nguyễn Kim. Chủ ý của tôi là xem máy ảnh. Trong đời mỗi người có 1 đam mê. Tôi mê máy ảnh từ năm đệ ngũ khi được ông dượng cho 1 máy ảnh cũ. Tôi xuống bến Ninh Kiều chụp hình dạo và khắp vùng Cái Nai, Cái Da, Xóm Chài, Cái Sâu, Cái răng … tôi thầu chụp hình các đám cưới, đám ma…đến thôi nôi, đầy tháng v.v..


      Tôi chúi mũi vào tủ kính trưng bày máy ảnh ở tầng trệt siêu thị Nguyễn Kim. Tôi khoái máy Canon EOS 600D màu đen, ống kính 18-55 mm, 18 Megapixels…Máy nầy năm ngoái giá là 19 triệu đồng VN. Hiện tại chỉ còn 11.499.000$VN. Đây là máy ảnh đã đạt giải thưởng danh giá European Camera 2011-2012 của hiệp hội âm thanh và hình ảnh châu Âu EISA.
      Dù là 1 máy ảnh bán chuyên nghiệp nhưng nó có thể chụp được định dạng lớn nhất với chi tiết và độ nét cao ngay cả khi điều kiện ánh sáng yếu. Tôi khoái nó vì nó còn cho phép định dạng khuôn mặt gấp 3 lần. Máy nầy, khi chụp ngoại cảnh, bạn chỉ cần nâng máy lên là máy sẽ tự động phân tích và cài đặt các thông số như độ phơi sáng, lấy nét…để mang đến tông màu đẹp nhất cho một bức ảnh…

Gần một tiếng đồng hồ ngắm nhìn, nghiên cứu … tôi bịn rịn ra về. Không mua. Tiền đâu mà mua dù với tôi giá nầy đối với mọi người là rẻ… mạt. Và tôi cũng thú nhận: trong năm nay tôi đã chú ý đến máy nầy và xem nó đã 6 lần rồi. Đúng là niềm đam mê của tôi thật ngớ ngẩn và dễ sợ!

      Trên đường về tôi theo đại lộ 30/4 đến trường Cao Đẳng bỗng có 1 xe 2 bánh kèm theo bên ngoài.       Người lái là một thiếu phụ trung niên – khoảng gần U40 – hỏi tôi : Anh ơi giúp em với !...
      Tôi ngừng xe. Cô nói gì ? Em bị giựt túi xách có tiền. Giờ về Vĩnh Long không có tiền đổ xăng…
      Tôi liếc nhanh người cô ta : Ăn mặc lịch sự. Mặt có phơn phớt phấn hồng. Tóc cắt. Phía sau bới cao. Da trắng. Đi xe 2 bánh hiệu Yamaha còn mới, số xe thuộc tỉnh Vĩnh Long…
      - Được rồi. Vĩnh Long đối với tôi có nhiều kỷ niệm của tuổi thơ. Cô theo tôi vào cây xăng tôi sẽ đổ xăng cho cô.
      Tôi gọi đổ 2 lít xăng cho xe cô ta và móc bóp trả tiền.
     - Cảm ơn anh. Em thấy đói. Hay là anh cho xin tiền ăn hay anh em mình đi ăn phở đi anh?
     Tôi liếc nhanh quanh khu vực đổ xăng tìm xe đồng bọn của cô ta. Xe đông quá. Không thể xác nhận được xe nào nhất là chúng tôi đang ở cây xăng trước một trường Cao Đẳng, rất nhiều sinh viên vô ra cửa trường.
      Từ giờ phút nầy tôi không dám nhìn vào mắt cô ta. Tôi nói chậm rãi khi bàn tay cô ta vừa chạm nhẹ vào người tôi :
      - Như cô thấy tôi vừa đi siêu thị về. Còn rất ít tiền. Tôi nghĩ cô đã chọn nhầm đối tượng làm quen. Tôi phải về nhà. Chúc cô thượng lộ bình an.
      - Hay anh cho em số điện thoại được không ?
      Để thử một bài toán vừa phát hiện : một hiễm nguy rình rập - xem có đúng như cãm nghĩ hay không. Tôi cho cô số di động của mình…

      Tôi thanh thản ra về. Và đúng như dự đoán của tôi. Gần 10 ngày sau, điện thoại của tôi chưa bao giờ có một máy lạ gọi. Hú hồn. Không thì tôi đã sụp bẫy… không chết cũng bị thương nặng ! 
Tôi nghĩ là ăn may. Vì tánh tôi dễ mềm lòng và … hảo ngọt.
Thế là tôi thoát chết trong gang tất. Các bạn hãy nghĩ dùm tôi, tôi nói có đúng như vậy không ?

Dương Hồng Thủy

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Nguyên Khang Giọng Vàng Đất Vĩnh


 Anh Còn Yêu Em - Sáng tác Anh Bằng



Thơ Cảm Tác: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh


Đà Lạt Mến Yêu




Tôi đến bên em chỉ một lần
Một lần thôi cũng đủ bâng khuâng
Cam Ly suối bạc vương ghềnh đá
Than Thở chiều xưa tiếng xa gần

Xuân Hương in bóng người năm cũ
Mơ màng ru ngủ những hàng thông
Đêm thâu ánh điện vàng thung lũng
Thương mãi người xa một tấm lòng.


DTTN
(Biện Công Danh)
* Hình phụ bản của tác giả chụp 

Tình Phí...Tình Mẹ

    


      Tin thằng Phú đậu Cao Đẳng Trường Kỹ Thuật Sư Phạm Vĩnh Long, cả nhà ai cũng vui như vừa trúng số. Bà con hàng xóm đến chúc mừng. Ở cái xứ giáp biên giới Campuchia nầy, người dân nghèo chỉ lo cho bát cơm manh áo còn chưa đủ nói chi đến chuyện học hành thi cử.
Vậy mà gia đình chú Tư thật là có phúc có phần, nở mày nở mặt ,...má nó vội vã đi bộ ra chợ xã mua một con vịt về cúng tạ ơn ông bà phù hộ. Ba nó thì lui cui sơn lại chiếc xe đạp cho nó mang lên tỉnh. Ông không quên giặt lại cái balô từ thời đi lính cho nó đựng quần áo, sách vở. 

      Ngày nó lên đường, ba má và chị nó đưa tận bến xe. Má nó đưa hết số tiền vừa mượn được cho con, còn ba vỗ vỗ vào vai con nói.
- Ráng học nhge con, ngày xưa ba thi rớt nên cả đời lận đận.
Nó nắm tay má nó bảo
- Con hứa học tốt, sau nầy có tiền về lo cho ba má.
      Má nó nghe câu nầy khóc ròng thầm nhủ sao mình có phước. Xe đã khuất mà ba má và chị nó vẫn còn dõi trông theo.
      Xuống thành phố Vĩnh Long không biết nó học hành thế nào, chứ ở quê ba nó làm rẫy ngày đêm. Má và chị nó nhận cắt thêm lúa mướn để có tiền gởi xuống Vĩnh Long, cực nhọc nhưng họ vẫn mong ngày con mình thành tài. 

      Sang năm thứ Hai nghe nói thằng Phú bận học lắm nên ít về nhà, nhưng lại xin tiền nhiều hơn, nào tiền nhà trọ lên, học thêm vi tính, Anh văn bằng Abằng B gì đó...Đến năm thứ Ba, nó nhắn về xin một số tiền lớn để thi tốt nghiệp. Ba má nó mấy đêm liền không ngủ, vì làm sao có đủ tiền cho con, thôi thì đành bán một công ruộng mồ hôi nước mắt của gia đình mới đủ tiền cho con thi. 

      Gần đến ngày thi, ba nó tát mương để dành những con cá lớn cho má nó mang lên bồi dưỡng cho con những ngày thi cử. Sau một chuyến xe dài đến Vĩnh Long, đi xe ôm tìm nhà trọ Tuyệt Tình Cốc (trước đây ở quê không có sóng di động nên không báo trước). Sau một hồi tìm số phòng, vừa đến trước lóng ngóng thì bỗng ....xoảng, xoảng ...giọng đứa con gái the thé trong phòng vọng ra.
- Anh lo cho tôi được không thì nói, cả tuần rồi không thấy ông bà già anh gởi tiền lên....tôi hết chịu nổi rồi.
      Tiếng đứa con trai trong phòng nghe quen thuộc quá.
- Anh xin lỗi đang gởi mà chưa tới.
Tiếng đứa con gái quát.
- Sao không về mà lấy.
- Anh bị đuổi học rồi, về lỡ ổng bả biết, tiền đâu mà lo cho em.
Tiếng đứa con gái văng tục một hồi rồi quát.
- Cút đi đồ nhà quê, đỉa mà đòi đeo chân hạc. 

      Người mẹ đứng sửng trước cửa phòng, nước mắt lưng tròng, bà chợt nhớ tới cái lưng còng của chồng giờ sẽ cong hơn. Bà nhìn xuống đôi bàn tay chai khằn giờ sẽ cằn khô hơn và nhớ đến da mặt của đứa con gái sạm nắng lam lũ vì em. 
      Ngoài kia cơn mưa đầu mùa ập đến...

Phủ Hiền

Thơ Tranh: Chén Ngọc


Thơ: Hồ Việt Kim Chi
Thơ Tranh: Kim Quang

Vĩnh Biệt


Chúng ta đứng lại sắp hàng
Đò chiều sẽ rước đưa sang bến chờ
Nay còn trao đổi ý thơ
Cho qua số kiếp hư vô phận người.

Sá gì hơn thiệt lẽ đời
Chỉ mang đến kiếp tôi đòi lai sinh
Chúng ta chung một lộ trình
Tiển người đi trước phận mình đến sau.

Cổ xe tang cũ úa màu
Hai hàng nến đỏ vẩy chào hư không
Lìa xa số mệnh phiêu bồng
Ngàn thu vĩnh biệt đáy mồ lặng im.

Dương Hồng Thủy


Trần Gian Muôn Màu




Khói thuốc xanh
Mày nâu môi đỏ
Ôi bản màu mộng mị trần gian
Anh xa xanh
Rời nâu tìm đỏ
Tìm môi em mộng thắm khoảng trời xưa 


Em về đó
Mong lung mùa mây khói
Bờ mù xa về phía biển đêm
Khói thuốc xanh
Mày nâu môi đò
Đoản khúc buồn lãng đãng du ca.

8/2004
Tín Đức


Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Mộc Lan Tiếng Hát Cô Đơn






Thơ cảm tác: Võ Phan Trung
Thơ Tranh: Kim Oanh

Rau Muống Đồng

      Rau muống đồng là loại rau có màu sậm so với rau muống Tàu.  Miền Tây Việt Nam nơi nào cũng tìm được loại rau nầy. Nó mọc ở những vùng đất thấp, tràn lan ở các thửa ruộng vừa hết trầm thủy,trên các bờ ranh, dưới các lung, đầm , đám mạ, dọc theo các kinh rạch.
      Đặc điểm của loại rau nầy sanh xôi nẩy nở rất nhanh. Hột khô nẩy mầm thành cọng rau con, hay lấy khúc rau gần gốc cắm trong môi trường ẩm hay nước sâu chừng một phân thì cọng rau sẽ ra rễ, khi đủ dài thì từ các nách lá sẽ đâm chồi non, cứ như thế rau muống trở thành từng đám dày đặt. Ở miền quê,  những cơn mưa đầu mùa vào khoảng tháng tư âm lịch,ở các đám mạ, chỗ đất trủng trong ruộng,  rau muống mọc và lớn nhanh, vắng mặt vài ba hôm, khi trở lại chúng ta sẽ thấy một đám rau muống, đọt có khi dài hơn năm tấc, non mơn mởn bò trên mặt nước.


      Quê tôi thuộc vùng trầm thủy, quanh năm ẩm ướt, các kinh rạch có nơi nước chảy thông thương, có nơi sông còn chưa đủ sâu,  hai bên bờ sông đất phù sa nhiều chỗ bồi  ra xa khiến cho con sông hẹp và cạn dần như cái lạch chỉ ghe xuồng nhỏ mới vận chuyển được. Sát bờ có nơi rau mác tụ thành từng đám cũng sanh nở mau chóng. Ở chỗ doi, do đất bồi,  rau muống mọc, lớn theo con nước, đọt mập dài,  chỉ ở chót có ít lá nhỏ, đó là mầm của cọng rau. Ở những kinh rạch,hay sông nước chảy lờ đờ, rau muống túa ra,  nhiều  nơi rau muống chiếm gần một phần ba bề rộng. Nhìn đọt rau dài thượt, mơn mởn, lả lướt trên mặt nước tự nhiên chúng ta muốn bẻ một mớ vì phần tươi non quyến rủ của nó dù chưa biết ăn cách nào: bóp gỏi, luộc chấm mắm, ăn sống hay chiên mỡ chấm  nước mắm ớt.

      Rau muống có công dụng khử phèn rất tốt. Trẻ nhỏ miền quê, em nào cũng biết công dụng nầy của rau muống.Vào tháng tư, tháng năm âm lịch, đi ngoài ruộng đôi khi khát nước, chỗ có nước như bào, lung, đám mạ, trên mặt nước đóng một lớp phèn màu vàng sậm, nếu quá khát, bạn tìm bẻ một cọng rau muống để mủ rau nhỏ xuống chỗ có nước, bạn sẽ thấy lớp phèn vẹt ra tạo thành một vùng  nước trong ngần, bạn không ngại thì cứ kê miệng xuống ực một hơi cho no, bảo đảm bạn sẽ không bị đau bụng vì chỗ nước đó đã được khử phèn.
      Muốn ăn rau muống đồng, bạn nên nhớ một điều là phải lặt bỏ cái đọt có hai ba lá nhỏ tí ngoài chót của ngọn rau, dù ăn sống hay đã luộc chin. Bạn quên điều vừa nói, nếu bạn ăn nhiều đọt bạn chắc chắn sẽ bị tào tháo đuổi chạy không kịp.
       

      Người nông dân họ ăn uống giản dị nhưng cũng đầy đủ chất đạm, chất sơ. Buỗi trưa từ ngoài ruộng lội về nhà, họ tiện tay bẻ một nắm rau muống  về nhà rửa sạch chấm với mắm chưn cũng xong một bữa trưa ngon lành. Vào những tháng khan hiếm cá tôm, nông dân có thể lội đến mấy cái lung,hoặc đám mạ, bắt năm bảy con ốc bươu, bẻ một mớ đọt rau muống,  vài trái xoài sống,ốc vừa kho mặn, nấu canh chua rau muống xoài, ăn với nước mắm thật cay. Canh chua nóng, nước mắm cay  chan húp mồ hôi nhuễ nhại, thật vô cùng khoái khẩu, thiết nghĩ cao lương mỹ vị cũng đến thế là cùng.

      Rau muống còn chế thành một món ăn nữa cũng hết xẩy: rau muốn bóp dấm, chấm với mắm kho, cơm gạo Nàng Hương ăn bới không kịp. Mùa đông 1953, bộ đội Việt Minh về đóng quân ở xóm tôi, buổi sáng sau khi tập thể dục xong, hai anh mượn xuồng nhà tôi, không biết họ làm gì , họ không ngồi trên xuồng bơi  mà họ lội dưới sông kéo xuồng theo, thì ra hai anh đó bẻ rau muống non dọc theo hai bờ sông, họ  bẻ một số nhiều nên cần xuồng để chở. Đem về nhà họ mượn thau, rỗ ,tốp lặt bỏ lá,tốp chẽ, xong đem rửa sạch họ bóp dấm. Hột vịt luộc quậy nước mắm,  cơm trưa và chiều chỉ có chừng ấy thức ăn, nhưng các anh ây ăn đổ mồ hôi. Từ dạo đó xóm tôi quý bà biết ăn rau muống bóp dấm. Sau nầy tôi lên tỉnh đi học cũng  đôi lần chủ nhà trọ cho ăn rau muống bóp dấm nhưng có lẽ ngon hơn nhiều vì chủ nhà mua rau muống tàu cọng trắng thay vì rau muống đồng mộc mạc.

      Trước tháng tư năm 1975 vài tháng, tự nhiên bà xã tôi cũng đem rau muống tàu cắm dọc theo bờ cái mương dài cạnh nhà. Rau muống tàu gặp nước tốt cũng bò, cũng sanh sôi nẩy nở thành ao rau muống thật lớn, nhờ vậy sau  30 tháng tư  năm 1975 các con tôi nấu cơm độn chuối, ăn với rau muống trồng ở ao nhà chấm với nước mắm đắp đổi qua ngày.
      Trước kia rau muống đồng dân quê cũng ăn nhưng số lượng ít.  Ở An Phú Thuận, cách làng tôi vài cây số, một anh nông dân làm giàu nhờ rau muống. Anh  đào ao lớn nuôi cá tra, thức ăn cho cá toàn rau muống từ ngoài ruộng anh gom lại chở về nhà, chặt khúc ngắn nấu nhừ đoạn trôn với cám. Hầm cá đủ mồi mau lớn, thức ăn sạch, ao nước thông thương, cá trắng phau,  anh bán được giá hêt đợt nầy tiếp đợt khác. Đám tiệc trong vùng toàn mua cá tra  của anh.
      Một ông khác thấy anh nuôi cá sử dụng rau muống làm mồi, ông ta nghĩ đến việc nuôi heo lấy rau muống làm thức ăn. Ông làm chuồng nuôi heo, ban đầu cho ăn với tấm cám, lần lần ông  chỉ nấu rau muống với cám cho heo ăn. Trại heo của ông không mau lớn như những người nuôi với thức ăn chế tạo theo công thức nhưng bù lại ông chi ít tiền về thức ăn cho bầy heo, nhờ vậy ông cũng  thu vào lợi nhuận đáng kể.
      Rau muống đồng tài nguyên thiên nhiên phong phú, nếu biết tận dụng có thể ăn nên làm ra được

Viết xong November 25, 2013.
Nguyễn Thành Sơn

Ca Khúc Lá Vàng- Thơ Lý Thừa Nghiệp - Nhạc Thông Nguyên Văn Giảng


Thơ: Lý Thừa Nghiệp
Phổ Nhạc: Nguyên Thông Văn Giảng
Tiếng Hát: Hà Trâm

Lý Thừa Nghiệp


Đuổi Bóng




ta mòn hơi chạy hoài theo bóng
đuổi càng xa càng mệt thời gian
em cứ chạy và ta cứ đuổi
bóng của ta hay bóng mây tàn

có một bận ta gần bắt kịp
đưa bàn tay nắm chặt thấy như
trong hư vô nghe tiếng giã từ
nghe ảo vọng cuộc đời huyễn tưởng

cũng có lúc thấy lòng sung sướng
chạy lòng vòng chẳng có lối ra
em càng xa ta càng gắng sức
từ bình minh cho tới chiều tà

rồi bóng ta bóng em thành một
chạy trên đường vĩnh cửu ngàn năm
chạy hoài chạy hoài không biết mệt
rồi cuối cùng ta và em và hết.


Trần Phù Thế