Hiển thị các bài đăng có nhãn Vương Xương Linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vương Xương Linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2 芙蓉樓送辛漸其二 - Vương Xương Linh (Thịnh Đường)


(Diễn đàn LTCD tk 21 chúc niên trưởng Mỹ Ngọc sớm hồi phục sức khỏe)

Vương Xương Linh 王昌齡 (khoảng 698-756) tự là Thiếu Bá (少伯); bạn bè khen là vua thơ. Năm 27 tuổi đỗ Tiến sĩ (cùng tuổi với Lý Bạch khi đậu tiến sĩ). 7 năm sau ông lại đỗ Khoa bác học hoằng từ, chuyển đi làm Quan Uý ở Di Thuỷ. Nhưng do hành vi lãng mạn, bị biếm ra nơi biên ải làm Quan Uý ở Long Tiêu... Rồi về làm chức Thừa ở quê (Giang Ninh=Nam kinh). Ở đây Ông ngâm thơ không biết mệt mỏi. Không may Ông đắc tội với Thứ Sử bản địa Lư Khâu Hiểu nên bị Lư giết. Về sau Trấn thủ Hà Nam là Trương Cảo, điều quân đội các Lộ đến tập hợp, Lư Khâu Hiểu đến chậm bị xử tử (bị kết tội khi quân), coi như đó là báo thù cho Vương Xương Linh (ai bảo Lư dám giết vua thơ!). Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.


Nguyên tác                Dịch âm

芙蓉樓送辛漸其二 Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 2


丹陽城南秋海陰 Đan Dương thành nam thu hải âm,
丹陽城北楚雲深 Đan Dương thành bắc Sở vân thâm.
高樓送客不能醉 Cao lâu tống khách bất năng tuý,
寂寂寒江明月心 Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm.

Chú Giải

陰 âm; rất nhiều nghĩa; một nghĩa là râm mát.
秋海 thu hải: biển thu.
楚雲 Sở vân: đám mây Sở.
寂寂 tịch tịch: hiu quạnh, hoang vắng.
寂寂寒江 tịch tịch hàn giang; sông lạnh hoang vắng.
明月心 minh nguyệt tâm: Lòng trong sáng như ánh trăng.

Dịch nghĩa

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2


Phía nam thành Đan Dương mặt biển mùa thu râm,
Phía bắc thành Đan Dương nhiều mây Sở đen.
Tiễn khách trên lầu cao không tiện uống say,
Lòng ta (với bạn) như vầng trăng chiếu trên sông lạnh hoang vắng.

Dịch thơ

Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm kỳ 2


Đan Dương phía nam mặt biển râm,
Đan Dương phía bắc lắm mây thâm.
Lầu cao tiễn bạn chẳng say khướt,
Vắng lặng sông băng trăng trắng ngần.


Lời bàn 

Xin đọc bài LTCD thế kỷ 21 số 646, để biết rằng Tân đã đi khỏi đây; nay trở về chớp nhoáng để thăm Vương. Lần này cũng ngồi trên lầu Phù Dung uống rượu nhưng Vương không dám uống say (thi nhân Trung Quốc thường là bợm rượu; không dễ nín uống lúc tiễn biệt bạn; chắc phải có lý do, thử tìm xem sao).

Câu 1:
Nhìn về phía nam Đan Dương thấy mặt biển râm (mặt biển râm thì trên trời phải có nhiều mây đen; biển có nhiều mây đen thì dễ có mưa giông; vì thế nên Vương lo cho bạn mà không dám uống say).

Câu 2:
Nhìn về phía bắc Đan Dương thấy mây Sở dầy đặc (phía đối diện cũng chẳng sáng sủa gì, mây Sở: mây trên lục địa nước Tàu).
Hai câu 1 & 2 cho biết bạn rời khỏi Đan Dương về hướng nào (bằng đường biển hay đường bộ) cũng có trở ngại; Đó là lý do Vương lo cho bạn mà cố nín rượu.

Câu 3:
Tiễn bạn trên lầu cao tôi không muốn uống say (Ơ trên lầu cao nên tôi nhìn thấy mây đen dầy đặc bao phủ cả hai phía; bạn đi về phía nào (đường thủy hay đường bộ) cũng sẽ gặp trở ngại; vì vậy cho nên rượu hôm nay không còn quyến rũ tôi như mọi khi).

Câu 4:
Bạn như sông lạnh hoang vắng; lòng tôi như trăng sáng. Trăng sáng mà soi sông lạnh thì giúp được gì? (thấy bạn lâm nguy mà không giúp được nên Vương lo âu).

Không ai có thể đo được lòng của Vương đối với Tân sâu rộng như thế nào bởi vì thơ của Vương mênh mông quá. (Thêm một lý do khiến người đương thời gọi Vương là vua thơ).

Con Cò
***
Cầu chúc chị Mỹ Ngọc sớm bình phục để tiếp tục góp phần văn thơ với nhóm.

Tiễn bạn trên lầu Phù Dung, Kỳ2

Nam thành trời xấu biển âm u
Thành Bắc nhiều mây Sở mịt mù
Tiễn bạn trên lầu ngưng chén rượu
Lòng này trong sáng tựa trăng thu!


Thanh Vân
*** 
Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm kỳ2

Thành nam Đan Dương biển thu râm
Thành bắc Đan Dương mây Sở thâm
Lầu cao tiễn khách không đành khướt
Lặng thinh sông lạnh nguyệt minh tâm

Nam thành Đan, biển thu bóng đổ
Bắc thành Đan, mây Sở chập chùng
Lầu cao tiễn khách vài chung
Lặng yên sông lạnh tấm lòng sáng trăng

Lộc Bắc
Jan26
***
***
(Xin cầu nguyện cho chị Mỹ Ngọc được tai qua nạn khỏi, sớm bình phục để trở về với diễn đàn)

Về bài thơ kỳ này, BS xin giải thích vài ba chữ khó:
- Âm: u ám, tối tăm, âm u, mầu đen nhạt.
-  Thâm: sâu, kín đáo, cất dấu, rất (như thâm hồng là rất hồng), dầy.
- Tịch : yên, im, không có tiếng động.

Tuy ít chữ khó, nhưng câu thơ quá súc tích, không dễ dịch, như thu hải âm chẳng hạn. Và BS cũng thắc mắc: lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Theo ý bài thơ thì Tân Tiệm lại tới thăm Vương, và một lần nữa, Vương tiễn bạn.

Hai câu đầu tả trời âm u, mây vần vũ, chắc sắp có mưa lớn, nên tự nhủ không nên uống say, vì lòng còn như ánh trăng, đi theo bạn, minh nguyệt tâm thôi, chứ trời âm u làm gì có trăng. Xin dịch thoát:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2

Biển thu u ám phía nam thành,
Phía bắc mây dầy vẫn lượn quanh,
Lầu cao tiễn khách không nên khướt,
Lòng như trăng sáng chiếu sông xanh.

Bát Sách.
(Ngày 14/01/2026)
***
Nguyên Tác:             Phiên Âm:

芙蓉樓送辛漸其二 Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2

王昌齡 Vương Xương Linh


丹陽城南秋海陰 Đơn Dương thành nam thu hải âm
丹陽城北楚雲深 Đơn Dương thành bắc Sở vân thâm
高樓送客不能醉 Cao lâu tống khách bất năng túy
寂寂寒江明月心 Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm

Bài Kỳ 2 được đăng cùng với Kỳ 1 và có mộc bản trong các sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Đường Nhân Vạn Thủ Tuyệt Cú Tuyển - Tống - Hồng Toại 唐人万 首绝句选-宋-洪遂
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Phù Dung Lâu: Nguyên thủy do vua nhà Đông Tấn cho xây cất nằm góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), nhìn toàn cảnh sông Dương Tử và khu vực phía bắc sông. Theo tập 26 của *Nguyên Hà Quân Tiên Trí* (Ghi chép về các quận huyện thời Nguyên Hà), trong phần về Nhuận Châu ở vùng Giang Nam, có viết: "Khi Vương Công nhà Tấn làm quan, ông đã đổi tên tháp tây nam thành Tháp Vạn Lý và tháp tây bắc thành Tháp Phù Dung”.

Phù Dung Lâu (Đơn Dương) ở Trấn Giang, Giang Tô

Theo Wikepidia 芙蓉樓 (鎮江), đây là một công trình gỗ hai tầng, mô phỏng theo kiến trúc thời Đường. Tháp nguyên thủy bị phá hủy trong chiến tranh thời nhà Thanh và được xây dựng lại vào năm 1992 dưới chân núi Kim Sơn. Phù Dung Lâu nguyên thủy này nổi tiếng nhờ hai bài thơ của Vương Xương Linh.
Hiện nay, Trung Hoa còn có một Phù Dung Lâu thứ 2 mà nhiều nơi nhầm lẫn với lầu nguyên thủy được bài thơ của Vương nhắc đến. Lầu này nằm trong thành cổ Kiềm Dương, nay là thành phố Hồng Giang, tỉnh Hồ Nam.
Theo Wikepidia 芙蓉樓 - 維基百科, đây là một công trình kiến trúc cổ điển được nhà Thanh xây cất để tưởng nhớ Vương Xương Linh. Vương bị giáng chức xuống làm huyện úy Long Phiêu (nay thuộc Kiềm Thành) vào thời Thiên Bảo nhà Đường gần 1000 năm trước đó.

Phù Dung Lâu (Kiềm Dương) ở Hồng Giang, Hồ Nam

Năm 1701, niên hiệu 40 Càn Long nhà Thanh, Diệp Mộng Lân, huyện trưởng Kiềm Dương, đã xây cất Phù Dung Lâu ở ngoại ô thành phía đông. Năm 1815, niên hiệu 20 Gia Khánh, Tằng Ngọc, quan huyện, đã xây dựng lại Phù Dung Lâu ở phía tây thành phố. Năm 1839, niên hiệu 19 Đạo Quang, quan huyện Long Quang Điền, cùng với con trai Long Khải Thụy và Giáo dụ Hoàng Bổn Ký, đã tu sửa lần thứ hai và đó chính là công trình hiện nay.

Tân Tiệm: bạn của Vương Xương Linh. Lần đó cùng vượt sông từ Nhuận Châu, để Tân Tiệm đi Dương Châu rồi đi về bắc đến Lạc Dương.
Đơn Dương: thành phố tỉnh Quý Châu (ngày nay là huyện Tử Quế, thành phố Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc)
Thu hải: biển thu, chỉ mùa thu bao phủ. Mạnh Giao cũng xài cụm từ này trong bài Phụng Đồng Triêu Hiền Tống Tân La Sứ 奉同朝贤送新罗使 (Cùng quan lại tiễn sứ thần đi Tân La) với 2 câu: Miểu miểu vọng viễn quốc, nhất bình thu hải trung 淼淼望远国,一萍秋海中 (Biển mênh mông, nhìn về quê nhà xa xăm, một cụm bèo đơn độc trôi trên biển thu.)
Cao lâu: lầu cao, chỉ Phù Dung Lâu
Tịch tịch: hoang vắng, yên lặng

Dịch nghĩa:

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2


Đơn Dương thành nam thu hải âm
Phía nam thành Đơn Dương đang mùa thu âm u,
Đơn Dương thành bắc Sở vân thâm
Phía bắc thành mây nhiều trên đất Sở.
Cao lâu tống khách bất năng túy
Tiễn bạn trên lầu cao chẳng thể say khướt,
Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm
Lòng ta với bạn như vầng trăng sáng trên sông lạnh vắng lặng.

Dịch thơ:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2


Nam thành Đơn Dương sương phủ mù,
Thành bắc đất Sở mây âm u.
Trên lầu tiễn bạn không say khướt,
Sông vắng lạnh lòng dưới trăng thu.

Bidding Farewell to Xin Jian at Lotus Tower 2 by Wang Changling

Looking south from Danyang, I see only a vast, overcast autumn sea,
Looking north, I see only deep, layered clouds over Chu lands.
Seeing off my friend from the high tower, I bid him a reluctant farewell, my heart heavy with sorrow, even drinking could not bring me joy.
All around was silence; facing the cold river and sky, my heart toward my friend is as pure as the bright high-hanging moon.

Phí Minh Tâm
***
@ Lộc Bắc nghĩ:

Lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Có lẽ Phù Dung lầu gần cửa biển. Phải vậy không anh Tâm, anh Giám?

@Ý kiến của Phí Minh Tâm:

Thu hải: biển thu, chỉ mùa thu bao phủ. Mạnh Giao cũng xài cụm từ này trong bài Phụng Đồng Triêu Hiền Tống Tân La Sứ 奉同朝贤送新罗使 (Cùng quan lại tiễn sứ thần đi Tân La) với 2 câu: Miểu miểu vọng viễn quốc, nhất bình thu hải trung 淼淼望远国,一萍秋海中 (Biển mênh mông, nhìn về quê nhà xa xăm, một cụm bèo đơn độc trôi trên biển thu.)

Phù Dung Lâu: Nguyên thủy do vua nhà Đông Tấn cho xây cất nằm góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), nhìn toàn cảnh sông Dương Tử và khu vực phía bắc sông. Theo tập 26 của *Nguyên Hà Quân Tiên Trí* (Ghi chép về các quận huyện thời Nguyên Hà), trong phần về Nhuận Châu ở vùng Giang Nam, có viết: "Khi Vương Công nhà Tấn làm quan, ông đã đổi tên tháp tây nam thành Tháp Vạn Lý và tháp tây bắc thành Tháp Phù Dung”. Theo Wikepidia 芙蓉樓 (鎮江), đây là một công trình gỗ hai tầng, mô phỏng theo kiến trúc thời Đường. Tháp nguyên thủy bị phá hủy trong chiến tranh thời nhà Thanh và được xây dựng lại vào năm 1992 dưới chân núi Kim Sơn. Phù Dung Lâu nguyên thủy này nổi tiếng nhờ hai bài thơ của Vương Xương Linh.

Hiện nay, Trung Hoa còn có một Phù Dung Lâu thứ 2 mà nhiều nơi nhầm lẫn với lầu nguyên thủy được bài thơ của Vương nhắc đến. Lầu này nằm trong thành cổ Kiềm Dương, nay là thành phố Hồng Giang, tỉnh Hồ Nam. Theo Wikepidia 芙蓉樓 - 維基百科, đây là một công trình kiến trúc cổ điển được nhà Thanh xây cất để tưởng nhớ Vương Xương Linh. Vương bị giáng chức xuống làm huyện úy Long Phiêu (nay thuộc Kiềm Thành) vào thời Thiên Bảo nhà Đường gần 1000 năm trước đó.

Năm 1701, niên hiệu 40 Càn Long nhà Thanh, Diệp Mộng Lân, huyện trưởng Kiềm Dương, đã xây cất Phù Dung Lâu ở ngoại ô thành phía đông. Năm 1815, niên hiệu 20 Gia Khánh, Tằng Ngọc, quan huyện, đã xây dựng lại Phù Dung Lâu ở phía tây thành phố. Năm 1839, niên hiệu 19 Đạo Quang, quan huyện Long Quang Điền, cùng với con trai Long Khải Thụy và Giáo dụ Hoàng Bổn Ký, đã tu sửa lần thứ hai và đó chính là công trình hiện nay.


Phù Dung Lâu nguyên thủy nằm trên bờ sông Dương Tử. Phù Dung Lâu 2 gần sông Nguyên. Không có lầu nào gần biển. pmt

@Ý kiến Huỳnh Kim Giám:

... lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Đơn Dương không ở gần biển và không thể thấy biển từ đó nên chữ 海=hải trong câu đầu dĩ nhiên không thể có nghĩa là biển hay nói về biển!

Chữ 萍=bình trong ví dụ anh Tâm đưa ra (一萍秋海中=nhất bình thu hải trung) là từ viết tắt cho 浮萍=phù bình, tên của loài bèo tấm (Lemnoideae) chỉ sống ở nước ngọt nên chữ hải trong câu đó cũng không thể có nghĩa là biển! Nhưng thu hải đường không phải là loài cây thủy sinh nên tại sao lại có bèo tấm giữa loài cây này thì cũng khó hiểu, ngoài hàm ý đơn côi, lạc loài.

Người Hoa Lục thời nay hình như cũng không hiểu 秋海=thu hải nghĩa là gì nên mỗi trang mạng "dịch" và giải thích một lối. Thu hải có thể là tên tắt của 秋海棠=thu hải đường (Begonia), hơn 2000 loài cây thân thảo, mọc thành bụi sát đất ở vùng nhiệt đới. Có hơn 200 giống ở Hoa Lục, thường thấy ở Giang Nam, nhất là ở Vân Nam. "... thu hải âm" có thể có nghĩa là thu hải đường mọc rậm rạp ở hướng nam Đơn Dương, và vì đây là loài cây của Giang Nam, nó hàm ý nơi xa lạ với người Hán, đối ngược với từ Sở thân thiết hơn.

Vì có quá nhiều giống mọc hoang, với đủ kiểu hoa và lá, người ni không biết Vương Xương Linh và Mạnh Giao muốn nói đến loài nào. Họ Mạnh ra đời 5 năm sau khi họ Vương lìa trần nên có thể rằng Mạnh mượn từ ngữ của Vương.

Huỳnh Kim Giám



Thứ Năm, 19 tháng 6, 2025

Khuê Oán 閨怨 Vương Xương Linh 王昌齡


(Nhân Ngày Quân Lực 19/6 - Bát Sách Biên Soạn)

Lời phi lộ

Hồi ở Việt Nam, Bát Sách có 7 năm lính. Ngày đó Bát Sách còn độc thân, sống rất tự do, thoải mái, chỗ nào cũng là nhà, ở đâu cũng vui. Tuy phóng túng, ham vui và hời hợt, Bát Sách lại rất yếu lòng, nên có những phút nghẹn ngào xúc động mà suốt đời không quên được: đó là lúc thấy những người vợ tay xách, nách mang, lếch thếch từ quê lên thăm chồng mà không gặp, vì chồng đi hành quân; đó là lúc thấy những người vợ nuôi chồng bị thương, ban đêm nằm co quắp dưới chân giường, thao thức; đó là lúc thấy những người vợ trẻ, mặt mày hốc hác, đầu quấn khăn tang, lên nhận xác chồng, nghẹn ngào khóc không ra tiếng ... Nỗi khổ của người lính VNCH sách vở đã nói nhiều, ai cũng biết. Nhân Ngày Quân Lực năm nay, Bát Sách muốn nói đến nỗi khổ của vợ lính, nỗi lòng chinh phụ. Bát Sách vốn mê thơ Đường, nên trích hầu quí vị mấy bài, mong rằng không đến nỗi làm quí vị thất vọng.

Vương Xương Linh

Mở đầu là bài của Vương Xương Linh, có lẽ ai cũng biết:

Nguyên tác             Dịch âm

閨怨                         Khuê Oán

閨中少婦不知愁     Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
春日凝妝上翠樓。 Xuân nhật ngưng trang thướng thủy lâu,
忽見陌頭楊柳色, Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
悔教夫婿覓封侯     Hối giao phu tế mịch phong hầu.

王昌齡                    Vương Xương Linh

(Thiếu phụ trong phòng khuê không biết sầu; ngày xuân trang điểm bước lên lầu thúy, chợt thấy màu dương liễu xanh tươi ở đầu đường, hối hận rằng đã khuyên chồng đi tìm ấn phong hầu)

Dịch thơ

Phòng khuê nàng chẳng biết sầu,
Ngày xuân trang điểm lên lầu lang thang,
Liễu tươi chợt thấy đầu đàng,
Hối sao lỡ dại khuyên chàng cầu danh.

Bát Sách

Bài này âm điệu nhẹ nhàng, lời thơ trang nhã, quí phái, nỗi buồn của thiếu phụ chỉ thoang thoảng như làn gió xuân lùa qua mái tóc. Bát Sách có cảm tưởng rằng nàng chỉ thấy cô đơn chứ chưa nhớ chồng tha thiết. Trong Chinh Phụ Ngâm, Đặng Trần Côn có mượn 2 câu cuối của bài này mà bà Đoàn thị Điểm dịch như sau:

Chợt ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.

Ngày xưa, phương tiện giao thông còn thô sơ, đi bộ, ngựa, hoặc thuyền, làm gì có xe bus, xe lửa, phi cơ như bây giờ. Chồng đi lính thú ở xa, việc đi thăm là thiên nan vạn nan; lại không có điện thoại viễn liên để lâu lâu tỉ tê tâm sự, do đó các nàng chinh phụ chỉ còn cách gặp chàng trong giấc mộng.

Bát Sách dẫn 2 bài thơ Đường nói về giấc mộng của những người vợ trẻ:

伊州歌-春怨  Y Châu ca - Xuân Oán

打起黃鶯兒, Đả khởi hoàng oanh nhi,
莫教枝上啼     Mạc giao chi thượng đề,
啼時驚妾夢, Đề thời kinh thiếp mộng,
不得到遼西     Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây)

金昌緒            Kim Xương Tự

(Hãy đuổi con chim oanh vàng, đừng để nó hót trên cành cây. Khi hót nó làm kinh động giấc mơ của thiếp, làm thiếp không đến được Liêu Tây để gặp chàng)

Trong ấn bản ở Việt Nam, Thầy Trần trọng San mở đầu bài dịch bằng câu: “Đuổi giùm hộ thiếp con oanh”, Bát Sách rất thích. Trong ấn bản mới ở Canada, Thầy đổi lại như sau:

Đuổi giùm đi cái oanh vàng,
Đừng cho nó hót rộn ràng trên cây,
Làm tan vỡ giấc mơ này,
Thiếp không đến được Liêu Tây với chàng.

Bài này lời đẹp, tình ý nhớ nhung thật nhẹ nhàng, ngây thơ, Bát Sách đoán thiếu phụ còn rất trẻ, và con nhà giàu vì ngôn ngữ cử chỉ của nàng vừa nũng nịu, vừa quí phái. Giấc mơ của nàng cũng nhẹ nhàng như lời thơ, không có tha thiết, đam mê như nàng chinh phụ của Trương Trọng Tố trong bài Xuân khuê tứ:

春閨思             Xuân Khuê Tứ

裊裊城邊柳, Niểu niểu thành biên liễu,
青青陌上桑。 Thanh thanh mạch thượng tang,
提籠忘採葉。 Đề lung vong thái diệp,
昨夜夢漁陽。 Tạc dạ mộng Ngư dương.

張仲素            Trương Trọng Tố

(Người chồng đồn trú tại Ngư Dương. Người vợ là một thôn nữ, ngày ngày ra đồng hái dâu nuôi tằm. Hôm nay một mình giữa thiên nhiên bao la, trước phong cảnh hữu tình, nàng lơ đãng quên cả công việc (hái lá dâu) lòng còn ngơ ngẩn vì giấc mộng đêm qua, được tới Ngư Dương gặp chàng …)

Nỗi nhớ nhung của nàng đậm đà hơn, ray rứt hơn, có ngụ ý đến lòng chung thủy và cả tình chăn gối. Bát Sách mê bài này lắm và dịch như sau đây, mượn lời của Kiều và Chinh Phụ Ngâm:

Bên thành tơ liễu thướt tha,
Ngàn dâu xanh ngắt là đà trên nương,
Quên hái lá, dạ vấn vương,
Đêm qua mộng tới Ngư Dương gặp chàng.

Nàng chinh phụ của Trần Ngọc Lan thực tế hơn, không có mộng mị, nhớ thương vớ vẩn, mà thương chồng bằng hành động. Thấy gió tây lạnh lùng thổi, nàng may áo gởi ra biên cương cho chồng. Nàng viết thư mà lệ rơi tầm tã, chỉ sợ áo đến không kịp.

寄夫                         Ký phu

夫戍邊關妾在吳, Phu thú biên quan thiếp tại Ngô
西風吹妾妾憂夫    Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu,
一行書信千行淚, Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ,
寒到君邊衣到無?   Hàn đáo quân biên, y đáo vô.

陳玉蘭                    Trần Ngọc Lan

(Chồng làm lính thú tại quan ải biên thùy, thiếp ở đất Ngô. Gió tây thổi vào thiếp, thiếp lo lắng cho chồng. Một hàng thư, ngàn hàng lệ. Lạnh đã đến biên cương rồi, áo có đến không?)

Bài này ý tình chan chứa, thật cảm động, nhưng lời thơ thì không được mỹ lệ, bay bướm như mấy bài trước, do đó Bát Sách dịch thoát ý theo thể lục bát cho có vẻ Việt Nam:

Võ vàng em ở đất Ngô,
Anh đi gìn giữ cõi bờ xa xôi,
Gió tây thổi đến tơi bời,
Làm em lo lắng cho người quan san,
Viết thư mà dạ ngổn ngang,
Một hàng thư cả hàng ngàn lệ rơi,
Biên cương giờ đã lạnh rồi,
Áo kia biết kịp đến nơi cho chàng?

Người con gái chỉ có một thời xuân sắc, tựa như đóa hoa phù dung, sớm nở tối tàn ... sự chờ đợi làm da thêm nhăn, mắt thêm quầng, mái tóc bớt mịn màng, óng ả. Mối ưu tư chính của chinh phụ là sự lo sợ cho dung nhan tàn tạ ... Bát Sách xin dẫn 2 bài:

自君之出矣其二 Tự quân chi xuất hỹ kỳ 2

自君之出矣      Tự quân chi xuất hỹ
不復理殘機      Bất phục lý tàn ky (cơ)
思君如滿月,  Tư quân như nguyệt mãn,
夜夜減清輝      Dạ dạ giảm quan huy

張九齡            Trương cữu Linh

(Từ khi chàng ra đi, thiếp không còn sửa sang khung cửi cũ, nhớ chàng như bóng trăng đầy, đêm đêm bớt dần ánh sáng.).

Lúc đầu đọc bài này, Bát Sách thấy ngang dạ vì cách ví von của tác giả: nàng nhớ chàng mà càng ngày càng giảm thì nguy quá, chẳng lẽ xa mặt cách lòng? Nỗi thắc mắc của Bát Sách được gia phụ giải thích như sau: Nàng chinh phụ lúc này đang độ xuân thì, xinh đẹp mỹ miều như trăng tròn. Nếu nàng phải sống cô đơn, mỏi mòn chờ đợi chinh phu thì nhan sắc của nàng sẽ dần tàn phai như mảnh trăng kia, mỗi ngày một khuyết... Nghe ra có vẻ hợp tình, hợp lý. Tại ông thi sĩ họ Trương làm thơ khó, hay tại Bát Sách lờ quờ? Có lẽ tại cả hai. Đây là bản dịch của Bát Sách:

Từ anh cất bước lên đàng
Từ anh cất bước lên đàng
Chiếc khung cửi cũ chẳng màng nhúng tay
Giờ em như mảnh trăng đầy,
Đêm đêm thương nhớ hao gầy dung nhan.

Trong bài Khuê Tình của Lý Bạch, chinh phụ nói rõ ý hơn: Chàng đi xa em cô đơn, sầu muộn, đến nỗi dệt gấm mà lòng ngổn ngang, khêu đèn mà nước mắt chan hòa. Em tiều tụy đến nỗi soi gương không nhận ra mình, huống hồ khi chàng trở về, liệu có nhận ra em? Có còn yêu em như thuở trước? Đây là 4 câu cuối của bài thơ:
織錦心草草, Chức cẩm tâm thảo thảo,
挑燈淚斑斑。 Khiêu đăng lệ ban ban,
窺鏡不自識, Suy kính bất tự thức,
況乃狂夫還。 Huống nãi cuồng phu hoàn.

閨情李白         Khuê Tình, Lý Bạch

Bát Sách dịch:

Ngồi dệt gấm, dạ ngổn ngang,
Khêu đèn mà lệ dâng tràn lung linh
Soi gương chẳng nhận ra mình
Ngày chàng trở lại, biết tình còn chăng?

Thành thật mà nói, những bài thơ Đường tuy rất hay, nhẹ nhàng, bay bướm và thơ mộng, nhưng không nói được những nỗi vất vả, sự hy sinh, cái tài đảm đang của người chinh phụ, đã thay chồng, một mình quán xuyến việc nhà ... Trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn thị Điểm, chỉ mấy câu mà nói lên được hết những nỗi nhọc nhằn của chinh phụ:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân,
Nay một thân nuôi già dạy trẻ

Vả lại cái khổ của vợ lính đâu phải chỉ có sự cô đơn, vất vả, đâu phải chỉ có nhớ thương, đâu phải chỉ có lo nhan sắc tàn phai ... chiến tranh mãnh liệt và tàn khốc quá, tính mạng người lính như chỉ mành treo chuông. Cái khổ nhất của chinh phụ là nỗi thấp thỏm, hoang mang, không biết chồng mình nằm xuống lúc nào!! Khổ nhưng vẫn can đảm chịu đựng, và can đảm chấp nhận sự thật khi bất hạnh xảy đến cho chồng. Bát Sách xin ngã mũ trước những nàng chinh phụ Việt Nam.

Bát Sách

***
Những Bài Thơ Dịch: Khuê Oán -Vương Xương Linh 

Phòng The Hối Hận

Phòng the thiếu phụ chẳng quen sầu,
Xuân đến bâng khuâng đứng trước lầu.
Bỗng thấy cuối đường dương liễu thắm,
Hận khuyên chàng dạo bước công hầu.

Con Cò
***
Tiếng Than Thở Nơi Phòng Khuê.

Phòng the nàng chẳng biết buồn phiền,
Trang điểm, lầu xuân dạo bước lên.
Bỗng thấy bên đường mầu liễu đổi,
Tiếc xui chàng kiếm chút danh quyền.

Mỹ Ngọc  
Jun. 7/2025.
***
Trong phòng khuê thiếu phụ không sầu
Trang điểm ngày xuân bước tới lầu
Chợt thấy bên đường dương liễu thắm
Hối khuyên chồng gắng kiếm công hầu

Lạc Thủy Đỗ Quý Bái
***
Buồn Hận Khuê Phòng

Khuê phòng vợ trẻ chẳng u sầu
Trang điểm ngày xuân bước tới lầu
Dõi mắt bên bờ nhìn sắc liễu
Tiếc chồng xa cách kiếm công hầu

Thanh Vân
***
Oán Khuê Phòng

1-

Phòng khuê thiếu phụ chẳng u sầu
Trau chuốt ngày xuân bước thúy lâu
Bỗng thấy đầu đường dương liễu biếc
Tiếc chàng nghe thiếp mộng công hầu!

2-

Chẳng u buồn phòng khuê kiều diễm
Lầu hoa xuân trang điểm ngát hương
Nhác trông liễu biếc một phương
Tiếc chàng nghe thiếp lên đường cầu danh

Lộc Bắc
***
Khuê Phòng Oán Than

Phòng khuê nàng chẳng vương sầu
Điểm tô nhan sắc tựa lầu thưởng xuân
Xa trông dương liễu xanh màu
Tiếc xui chàng kiếm tước hầu mà chi.

Kim Oanh
*** 
1.

閨怨-王昌齡       Khuê Oán-Vương Xương Linh

閨中少婦不知愁 Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
春日凝妝上翠樓 Xuân nhật ngưng trang thướng thủy lâu
忽見陌頭楊柳色 Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
悔教夫婿覓封侯 Hối giao phu tế mịch phong hầu

Tạm dịch thơ:

Oán Hận Phòng The

Vợ trẻ phòng the chưa biết sầu
Ngày xuân trang điểm xong lên lầu
Đầu bờ chợt thấy liễu xanh thẳm
Hối đã khuyên chồng kiếm tước hầu.

Phóng tác:

Vợ quê tuổi trẻ đã nhiều sầu,
Ngày Tết thăm chồng có gặp đâu.
Chợt thấy bên đường anh hạ sĩ,
Hiên ngang hơi giống gợi niềm đau.

Sorrow of a Young Bride by Wang Chang Ling

In her room,the young bride has not yet learned what sorrow means.
One spring day, while putting on makeup on the upper floor
She advertently noticed the dark green willows on the roadside
And regretted having urged her husband to seek opportunities in the capital.

2.

伊州歌- 金昌緒  Y Châu Ca* - Kim Xương Tự

打起黃鶯兒 Đả khởi hoàng oanh nhi
莫教枝上啼 Mạc giao chi thượng đề
啼時驚妾夢 Đề thời kinh thiếp mộng,
不得到遼西 Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây)

*Còn có tựa là Xuân Oán

Tạm dịch thơ:

Ghét Xuân

Hãy đuổi hoàng oanh này,
Om xòm trên nhánh cây.
Làm cho thiếp tỉnh mộng,
Không đến được Liêu Tây.

Spring Sigh by Jin Chang Xu

Please drive the oriole away
Don't let it sing on the branch
It wakes me up from my sleep
When I dream to visit my husband in Liaoxi

3.

春閨思-張仲素 Xuân Khuê Tứ - Trương Trọng Tố

裊裊城邊柳 Niểu niểu thành biên liễu
青青陌上桑 Thanh thanh mạch thượng tang
提籠忘採葉 Đề lung vong thái diệp
昨夜夢漁陽 Tạc dạ mộng Ngư dương

Tạm dịch thơ:

Ý Nghĩ Mùa Xuân Trong Khuê Phòng

Phất phơ liễu trên cành,
Bên ruộng đám dâu xanh.
Mang giỏ quên hái lá,
Đêm qua thấy Ngư thành.

Thoughts of Spring in the Bedroom by Zhang Zong Su

The willows at the city limit swing in the wind
Next to the mulberry green field
Carrying the basket I forgot to pick the leaves
Last night I dreamt of Yu Yang (where my husband station).

4.

寄夫-陳玉蘭        Ký Phu-Trần Ngọc Lan

夫戍邊關妾在吳 Phu thú biên quan thiếp tại Ngô
西風吹妾妾憂夫 Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu
一行書信千行淚 Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ
寒到君邊衣到無 Hàn đáo quân biên, y đáo vô

Tạm dịch thơ:

Gởi Cho Chồng

Chàng đóng biên thùy, thiếp ở Đông
Gió Tây thiếp lạnh, thiếp thương chồng
Một hàng thư viết, ngàn dòng lệ
Mùa lạnh đến chàng, áo đến không?

To My Husband by Chen Yu Lan

You station at the frontier, I remain at home in Wu
The western wind chill my body and I think of you
Each line I wrote is accompanied by thousands of tears
The cold weather has already arrived, has the coat I sent you?

5.

自君之出矣其二-張九齡 Tự Quân Chi Xuất Hỹ Kỳ 2 - Trương Cữu Linh

自君之出矣 Tự quân chi xuất hỹ
不復理殘機 Bất phục lý tàn ky (cơ)
思君如滿月 Tư quân như nguyệt mãn,
夜夜減清輝 Dạ dạ giảm quan huy

Toàn Đường Thi có 29 bài thơ với tựa Tự Quân Chi Xuất Hỹ 自君之出矣, bài nào cũng xài câu thơ Tự quân chi xuất hỹ trong câu 1. Trong 29 bài thơ này, chỉ có một bài tứ tuyệt duy nhất của Trương Cửu Linh với tựa là Phú Đắc Tự Quân Chi Xuất Hỹ.

Tạm dịch thơ:

Từ Thuở Chàng Ra Ði

Từ lúc chàng tòng quân
Khung cửi không đến gần
Nhớ chàng như trăng sáng
Đêm đêm lu mờ dần.

From The Time You Left Home by Zhang Jiuling

From the time you left home
I have not touched the loom
I miss you just like the full moon
Loosing its halo night after night.

6.

閨情-李白 Khuê Tình - Lý Bạch

織錦心草草 Chức cẩm tâm thảo thảo
挑燈淚斑斑 Khiêu đăng lệ ban ban
窺鏡不自識 Suy kính bất tự thức
況乃狂夫還 Huống nãi cuồng phu hoàn

Bài ngũ ngôn tứ tuyệt bên trên là 4 câu cuối của bài thơ cổ thể 14 câu.

Tạm dịch thơ:

Dệt gấm dạ long đong,
Khêu đèn lệ ngập tròng.
Soi gương tiều tụy rõ,
Chồng nhận có ra không?

Tôi đồng tình với anh Bình về sự hy sinh cao cả, không kém các nam nhi đã bỏ xác thân ngoài chiến tuyến, của chinh phụ Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ tự do dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa.

Cảm hứng bài viết của Bát Sách:

Chinh Phụ VNCH

Ba con một mẹ già,
Chồng lính chiến đồn xa.
Năm tháng chống xâm lược
Khổ đau chẳng nệ hà.

Phí Minh Tâm
***
Bài Dịch Khác:

伊州歌-春怨  Y Châu ca - Xuân Oán

打起黃鶯兒, Đả khởi hoàng oanh nhi,
莫教枝上啼     Mạc giao chi thượng đề,
啼時驚妾夢, Đề thời kinh thiếp mộng,
不得到遼西     Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây)

金昌緒            Kim Xương Tự

Bài Hát Y Châu- Kim Xương Tự

Hãy đuổi chim oanh vàng,
Trên cành đang hót vang.
Làm tan vỡ giấc mộng,
Hết tới Liêu thăm chàng.

Nhớ Xuân Trong Phòng The.
Mơn mởn liễu ngoài nương,
Thắm xanh dâu cạnh đường.
Giỏ mang quên hái lá,
Đêm trước mộng Ngư Dương.

Gửi Chồng,

Thiếp ở Ngô chàng trú ải đông,
Gió Tây thổi lạnh thiếp lo chồng.
Một hàng thư gửi ngàn giòng lệ,
Rét tới bên người aó đến không?

Khuê Tình.

Dệt gấm lòng cỏ rối 
Khêu đèn lệ chan hòa 
Soi gương tự thấy khác 
Chàng về sao nhận ra 

Chàng Ra Đi.

Từ thủa chàng lên đàng,
Khung tơ chẳng sửa sang.
Nhớ chàng như nguyệt tỏ,
Mỗi tối thêm võ vàng.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Jun. 8/2025.
***
Góp ý của Quản Mỹ Lan:

Hi anh Bát Sách và các anh chị,

Đọc đến câu: vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai của anh tự nhiên nhớ ngày xưa quá!
Ngày trước ru con và ngày nay ru cháu mà thường thì đến câu 65 thì con hay cháu đã thiu thiu và bà ráng kéo đến câu 72 là hết sức và cũng đi vào giấc ngủ với cháu luôn!
Cũng nhân câu đó nhớ tới một bản nhạc của Y Vân mà từ 75 đến nay không hề được nghe lại.

"Ngày anh xa vắng,
em không trang điểm đợi chờ,
những đêm gió lạnh đầu hè
khuê phòng ủ kín tâm tư... "

Tâm sự não lòng của những người phụ nữ Việt Nam thời chinh chiến, ngay trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 chứ không phải chỉ ở thế kỷ thứ 18, thời Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm.
Vấn kế ông Google thì ông ấy mách cho:
https://nhac.vn/bai-hat/xa-vang-tam-doan-sozQP1N

Vào nghe thì thấy cô Tâm Đoan (tên hay quá: cái tâm đoan chính) hát kiểu như ngày xưa.
Những ai đã học Chinh Phụ Ngâm và nghe Xa Vắng thì chắc không thể không thương những người vợ lính, những người ở hậu phương mòn mõi trông ngóng người chồng đi đánh giặc phương xa. Những người vợ "tâm đoan" quên cả điểm trang vì thương nhớ chồng, không biết bao giờ chàng về hay không bao giờ về nữa vì đã bỏ thây nới chiến địa!

Đất nước Việt Nam đau thương của chúng ta đó! Những người lính đã chiến đấu cho ta có cơ hội ngồi đây, hôm nay... Dành một phút nhớ tới những người chiến sĩ vô danh đã không bao giờ trở về nữa vì họ đã nằm xuống ở một nơi nào đó trên quê hương...

Quản Mỹ Lan
------------
@ Bát Sách hồi âm:

Bát Sách photo2019_LB

ML ơi, Chinh phụ ngâm là nghề của BS mà. Trong phần góp ý của BS, dù đang đi du lịch mà cũng dẫn thơ của Đặng Trần Côn, và Đoàn Thị Điểm, Đái Thúc Luân... Cách đây mấy tháng, học giả Nguyễn Bá Triệu diễn thuyết về Chinh Phụ Ngâm mà tới trễ, BS lên nói khơi khơi, không chuẩn bị gì mà được gần 1 giờ, đem thơ của ông Côn, bà Điểm, thơ Tầu dẫn giải tùm lum, hôm đó có mặt thư ký Lộc Bắc. BS rất hãnh diện về việc này, nên về nhà có viết một bài rất dài về ảnh hưởng của thơ Tầu trong Chinh Phụ Ngâm, phân tích những chỗ hay dở của bản dịch ... Bài này BS đã gửi cho một đồng nghiệp đăng báo, nên không gửi cho nhóm, sợ lộ ra ngoài, bạn mình buồn.

Bát Sách
***
@ Lộc Bắc hỏi BS về kỷ niệm lính, và được Bát Sách trả lời:

Mũ đen một thủa ngang tàng,
Bây giờ như thể lá vàng gặp mưa,
Để đời cho gió đong đưa,
Vẩn vơ ngồi dịch thơ xưa giải sầu.

Bình.
***
Bài Dịch:

Trong lần đầu được thăm nuôi “cải tạo” LB rất vui được mẹ già đến thăm. Buổi tối đó hai mẹ con nói chuyện suốt, sáng mẹ về con nhận được gói quà nhỏ: một hũ mắm ruốc xào sả ớt, một nải chuối, một áo len lính và 2 đồng bạc mới (đủ để mua góc tư gói thuốc lào). Mẹ nói tay mẹ đau không xách được nhiều, nhưng con hiểu và thương mẹ vô cùng!

Những bài viết thêm của Bát Sách đã được chị Mỹ Ngọc và anh Phí Minh Tâm đã xuất thần phỏng dịch hết. Riêng bài Khuê Tình của Lý Bạch chỉ dịch có 4 câu chót như BS trích đoạn. Thư ký xin làm tiếp cho trọn bài

Nguyên tác      Dịch âm

閨情                 Khuê Tình

流水去絕國, Lưu thuỷ khứ tuyệt quốc,
浮雲辭故關。 Phù vân từ cố quan
水或戀前浦, Thuỷ hoặc luyến tiền phố,
雲猶歸舊山。 Vân do quy cựu san.
恨君流沙去, Hận quân Lưu Sa khứ
棄妾漁陽間。 Khí thiếp Ngư Dương gian.
玉箸夜垂流, Ngọc trợ dạ thuỳ lưu,
雙雙落朱顏。 Song song lạc châu nhan.
黃鳥坐相悲, Hoàng điểu toạ tương bi.
綠楊誰更攀。 Lục dương thuỳ cánh phan?
織錦心草草, Chức cẩm tâm thảo thảo,
挑燈淚斑斑。 Khiêu đăng lệ ban ban.
窺鏡不自識, Khuy kính bất tự thức,
況乃狂夫還。 Huống nãi cuồng phu hoàn.

Dịch nghĩa:

Dòng nước chảy tận miền xa khuất,
Đám phù vân rời cửa ải xưa.
Nước còn lưu luyến bến bờ xưa cũ,
Mây còn trở lại chốn núi xưa.
Giận chàng đi đến Lưu Sa,
Bỏ lại thiếp một mình ở Ngư Dương
Đũa ngọc đêm đêm tuôn chảy
Đôi dòng lệ tràn trên vẻ mặt trẻ trung.
Ngồi buồn thương cùng chim hoàng oanh,
Cây dương liễu xanh kia còn ai vin nhánh?
Dệt bức gấm mà lòng sao rối bời,
Khêu ngọn đèn mà lệ đẫm chứa chan!
Soi gương không còn nhận ra mình nữa,
Huống chi lúc chàng trở về.
(Trích Thi viện)

Phỏng Dịch:

Khuê Tình

1/
Nước trôi lìa cố quốc
Mây nổi rời ải quan
Nước còn thương bờ bến
Mây còn về núi ngàn

Hận chàng Lưu Sa bãi
Bỏ thiếp Ngư Dương làng
Đũa ngọc đêm tuôn tràn
Đôi dòng nhạt dung nhan

Cùng chim ngồi bi thương
Liễu dương ai vin cành?
Dệt gấm lòng tan nát
Khêu đèn lệ chứa chan
Soi gương khôn tự nhận
Huống chi cuồng điên chàng!

2/
Dòng nước chảy dần xa cố quốc
Mây nổi trôi rời trước ải quan
Nước còn lưu luyến bờ tràn
Mây còn trở lại đăng san quê nhà

Sầu hận chàng Lưu Sa chốn nọ
Nơi Lưu Dương chàng bỏ thiếp đây
Đêm đêm đũa ngọc hao gầy
Song song hàng lệ đẫm đầy dung nhan

Cùng chim vàng thở than ngồi ngắm
Cành liễu dương, ai dám uốn cong?
Dệt bức gấm, rối ren lòng
Đèn khuya khêu bấc, lệ hồng phiêu linh
Soi gương chẳng nhận ra mình
Huống chi chàng đã chiến chinh lâu về!

Lộc Bắc
***
Góp ý của HM Giám:

Dị bản: *bất tằng 不曾 = chưa từng
Mộc bản của Đường Nhân Vạn Cú Tuyệt Thủ Tuyển trong Tứ Cố Toàn Thư chỉ cho chữ 知=tri. Hai chữ tri và tằng viết và phát âm khác nhau quá nên không thể bảo rằng người đời sau chép nhầm mà có thể nghĩ rằng ai đó cố ý đổi thơ Vương Xương Linh.


Cũng như trong những bài Đường thi khác với hình ảnh cây liễu, 柳=liễu và 留=lưu là hai từ đồng âm từ thời Trung cổ nên rất có thể rằng khi thiếu phụ lên lầu thấy cây liễu liền liên tưởng đến việc thay vì ngày xưa ta khuyên chàng đi tìm việc phong hầu nếu đã khuyên chàng lưu chân thì biết đâu ngày nay ta không sầu muộn như thế này! Từ làm thiếu phụ đứt ruột có thể là 教=giáo vì giáo hàm ý rằng chính nàng xúi chồng đi; đã xúi người thì giờ biết trách ai!

Viết thêm cho BS.

Những bài thơ BS chọn diễn tả tâm sự người chinh phụ, hay người vợ có chồng đi làm ăn xa, nhưng tâm sự người vợ đơn côi không hẳn phản ảnh tâm sự người tương tư. Phụ nữ Hoa Lục thời cổ cũng như phụ nữ Việt thời Đoàn Thị Điểm thường thành vợ theo lối môn đăng hộ đối và đa số có thể không hề biết mặt chồng tương lai cho tới ngày hợp cẩn. Có bao nhiêu người thành vợ lối đó sẽ được hạnh phúc hôn nhân vì yêu được chồng? Được biết yêu như người vợ trong bài Khuê Oán của Vương Xương Linh có thể hơi ... hiếm!

Ừ thì rằng ta có thể thấy những câu thơ hàm ý tình yêu chồng trong bài thơ Chinh Phụ Ngâm nhưng những câu thơ BS trích chỉ nói đến trách nhiệm người đàn bà làm vợ theo lối tam tòng tứ đức, không phải tâm sự của người vợ đang tưởng nhớ người chồng yêu quý; và có lẽ ta nên nhớ rằng Chinh phụ Ngâm là tâm sự của người chinh phụ Hoa Lục theo cảm nghĩ của tác giả Đặng Trần Côn. Không có cách gì so sánh tâm sự của người chinh phụ với tâm sự của người vợ nhớ chồng được, phải không?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2024

Hoán Sa Nữ 浣紗女 - Vương Xương Linh(Thịnh Đường)


Vương Xương Linh 王昌齡 (khoảng 698-756) tự Thiếu Bá 少伯, người đất Giang Ninh (tỉnh Giang Tô), năm 727 (đời Ðường Huyền Tông), thi đậu tiến sĩ, được bổ làm chức hiệu thư lang. Sau vì sơ suất về hành vi, bị biếm ra làm chức úy tại Long Tiêu, ở phía Tây sông Tương. Khi trở về quê nhà, gặp lúc loạn lạc, bị Thứ sử Lư Khâu Hiển giết chết vì tư thù.

Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.

Lời phi lộ

Vương Xương Linh không muốn tả cảnh Tây Thi giặt lụa mà chỉ muốn nói tới cái duyên đã gài cô gái xinh đẹp, hiền hậu này vào một màn bi hùng kịch vô tiền khoáng hậu của lịch sử Trung quốc. Mời các bạn đọc và suy tư.

Nguyên tác Dịch âm

浣紗女 Hoán sa nữ


錢塘江畔是誰家 Tiền Đường giang bạn thị thuỳ gia,
江上女兒全勝花 Giang thượng nữ nhi toàn thắng hoa.
吳王在時不得出 Ngô vương tại thì bất đắc xuất,
今日公然來浣紗 Kim nhật công nhiên lai hoán sa.

Chú giải:

Tiền Đường: Tên khúc cuối của sông Phú Xuân, chảy qua thành phố cảng Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, rồi ra cửa biển. Sông này cách suối Nhược Da ở huyện Thiệu Hưng, nơi Tây Thi xưa giặt lụa, khoảng 60 km.

Ngô vương: Tức vua Phù Sai nước Ngô, được vua Câu Tiễn nước Việt dâng người đẹp Tây Thi làm ái phi.

Dịch nghĩa

Gái Giặt Lụa


Bến sông Tiền Đường có nhà (ai),
Có cô gái đẹp hơn hoa (giặt lụa) trên bờ sông.
Lúc vua Ngô đang tại vị thì cô chưa ra đời,
Hôm nay nghiễm nhiên ra giặt lụa (để bước vào lịch sử).

Dịch thơ

Gái Giặt Lụa

Tiền Đường bến nước gái nhà ai,
Người đẹp thắng hoa trên bến dài*
Vua Ngô trị vì nàng chửa có,
Nay bỗng hồn nhiên giặt lụa chơi. **

Lời bàn:

Bài thơ này hay nhất trong chủ đề vịnh Tây Thi. Lời thơ trang nhã. Súc tích. Ý thơ kín đáo, gợi cảm. Âm điệu hài hòa.
* Câu 2 muốn nói trên khắp nước Việt rộng lớn này không ai đẹp bằng Tây Thi.
** Câu chót có nhiều ẩn ý: Nàng đang hồn nhiên vui chơi giặt lụa thì lọt vào mắt xanh của Phạm Lãi, từ đó số phận đưa đẩy tới vinh quang rồi chết thảm (nàng hoàn toàn vô tội).

Con Cò
***
Mỹ Nhân Giặt Lụa

Mỹ nữ sông Tiền, suối Nhược Da
Nét thanh tuyệt sắc đẹp hơn hoa
Phù Sa vừa thấy đà ngây ngất !!!
Nghiêng nước nụ cười… nhạn cũng sa


Kiều Mộng Hà

Aug.10.2024

Gái Giặt Lụa

Bến nước Tiền Đường tại những nhà,
Bờ sông gái đẹp át trăm hoa.
Ngô Vương còn sống không người hiện,
Giờ cứ ngang nhiên giặt lụa là.

Mỹ Ngọc 
Aug. 10/2024.
***
Cô Gái Giặt Lụa

Tiền Đường vang tiếng, một dòng sông
Kiều nữ bên bờ giặt lụa bông
Nhan sắc thời Ngô nàng giấu kín
Bây giờ khoe nét, thẹn hoa hồng


Thanh Vân
***
Gái Giặt Lụa

Tiền Đường bến nước ấy nhà ai
Gái đẹp, hoa tươi chẳng sánh tày
Tại vị Ngô Vương không dám đến
Tự nhiên giặt lụa thỏa giờ đây!

Lộc Bắc
***
Nguyên tác:        Phiên âm:

浣紗女-王昌齡    Hoán Sa Nữ


錢塘江畔是誰家 Tiền Đường giang bạn thị thùy gia
江上女兒全勝花 Giang thượng nữ nhi toàn thắng hoa
吳王在時不得出 Ngô vương tại thì bất đắc xuất
今日公然來浣紗 Kim nhật công nhiên lai hoán sa

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷 代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁

Chú thích:

Hoán: giặt.
Sa: thuật ngữ chung cho vải và lụa
Tiền Đường: tên của dòng sông mằm ở vùng hạ lưu của tỉnh Chiết Giang phía nam huyện Hàng Châu, dòng sông ngoằn ngoèo, vì vậy nó còn được gọi là Khúc Giang 曲江

Thắng: vượt qua, giành chiến thắng
Ngô Vưong: Ngô Phù Sai, quốc vương nước Ngô trong thời Xuân Thu.
Bất đắc xuất: (các cô gái trên sông đẹp hơn hoa) không dám ra ngoài vì sợ Ngô Phù Sai, với bản tính háo sắc, bắt vào cung
Công nhiên: nghiễm nhiên, công khai.

Dịch nghĩa:

Các Cô Gái Giặt Lụa


Sông Tiền Đường là quê hương xứ sở của ai?
Những cô gái trên sông đều xinh đẹp hơn cả hoa.
Lúc Ngô vương cai trị, các cô gái đẹp không dám đi ra ngoài,
Nhưng bây giờ, các cô công khai đến giặt lụa bên bờ sông.

Bài thơ ẩn dụ chuyện Tây Thi giặt lụa bên suối, nhưng không trực tiếp nói gì đến Tây Thi và Phạm Lãi. Thi Viên dịch sai ý nghĩa bài thơ, nhất là câu 3: Ngô vương tại thì bất đắc xuất mà dịch là Lúc vua Ngô còn tại thế cô chưa ra đời thì có ý nghĩa gì? Câu 4 có vẻ như ca ngợi triều đại Đường, hơn ngàn năm sau, với các cô gái an lòng công khai đi giặt lụa trên sông Tiền Đường.

Dịch thơ:

Các Cô Gái Giặt Lụa


Sông nước Tiền Đường đất nước ta,
Các cô giặt lụa đẹp hơn hoa.
Ngô vương cai trị không ai dám,
Xuống bến công nhiên giặt lụa là.*

*câu này chê nhà Ngô, câu nguyên tác hàm ý khen nhà Đường

The Girls Washing Clothes by Wang Changling
Whose country is the Qian Tang river?
The girls washing clothes on the river are more beautiful than flowers.
During the reign of emperor Wu, they would not dare to go out,
But nowadays, they publicly wash clothes on the river.

Phí Minh Tâm

***
 Góp ý:
浣紗女=Hoán sa nữ

Bài thơ dĩ nhiên hàm điển tích Tây Thi và Ngô vương Phù Sai, nhưng 女, cô gái trong bài thơ này là ai? Điều thường gặp khi đọc các bài thất ngôn tứ tuyệt này là văn phạm cô đọng quá nên khó mà suy ra các antécédant (tiên hành từ) và chủ từ là gì.

是誰家=thị thùy gia trong câu đầu nghĩa là (con) nhà ai? nhưng truyền thuyết cho biết rằng Tây Thi là con của nhà họ Thi ở thôn hướng Tây dưới chân núi Trữ La [苧蘿山, hình như cũng là một tên huyền thoại vì người ni chỉ tìm thấy một ngọn núi dưới tên đó ở Đài Loan] nên Vương Xương Linh đang tả một, hay những, cô gái khác giặt lụa trên bờ sông Tiền Đường; trạng từ 全=toàn trong câu “toàn thắng hoa" cho ta biết là thi nhân đang ngắm nhiều cô gái, không phải một và thế có nghĩa rằng họ Vương đang tả cảnh đương thời của mình, không phải tả Tây Thi của 10 thế kỷ trước.

Chủ từ của 得出 trong câu 'bất đắc xuất' (không dám, hay không thể, ra khỏi nhà) không phải là vua Ngô mà từ ẩn dụ ám chỉ các thiếu nữ đồng thời với Tây Thi, Ngô Phù Sai và Việt vương Câu Tiễn; và chủ từ của lai hoán sa (來浣紗) là các cô gái đang giặt lụa trên bờ Tiền Đường cho thi nhân ngắm.

Trạng từ kép công nhiên (公然) trong câu cuối cho ta hiểu rằng các cô gái không còn sợ bị bắt cóc để hiến cung như trong thời xa xưa. Đây là lý do mà một số người bình luận nghĩ rằng họ Vương làm bài thơ trong thời bị thất sủng và biếm truất để ca tụng cảnh thái bình thịnh trị của thời Đường và mong được cho hồi kinh. Có thật thời loạn An Lộc Sơn có thái bình hay thịnh trị chăng là chuyện khác vì nếu thật thịnh trị thì thi nhân đã không chết oan uổng!

Ý tưởng trong bài Hoán sa nữ này đi tiếp theo ý của hai bài Cung từ. Thân phận cung nhân là thứ thân phận hẩm hiu mà họ Vương không muốn xảy ra cho các cô gái giặt lụa bên sông thời Đường. Nhưng cho dù thụy hiệu của Đường Huyền Tông là Minh Hoàng, ông ta có thật sáng suốt chăng trong lãnh vực này lúc cuối đời với hành động loạn luân của chính ông ta theo những gì sử liệu để lại về Dương Quý Phi?

Huỳnh Kim Giám


Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

Thái Liên Khúc - 採蓮曲 - Vương Xương Linh


採蓮曲                    Thái Liên Khúc
王昌齡                    Vương Xương Linh


荷葉羅裙一色裁, Hà diệp la quần nhất sắc tài,
芙蓉向臉兩邊開。 Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.
亂入池中看不見, Loạn nhập trì trung khan bất kiến,
聞歌始覺有人來。 Văn ca thủy giác hữu nhân lai !

* Chú Thích:
1. Hà Diệp 荷葉 : là Lá của hoa Sen. Sẵn xin nói luôn về các tên gọi của hoa Sen như sau :
* Hà Hoa 荷花 : là Hoa Sen. Trong Bát Tiên có một cô Tiên rất đẹp, tay cầm một nhánh bông sen, chính là HÀ TIÊN CÔ đó!
* Liên Hoa 蓮花 : cũng là Hoa Sen, ta thường thấy 2 loại, hay được dùng đặt tên cho các nàng là Hồng Liên (sen hồng) và Bạch Liên (sen trắng).
* Thủy Phù Dung : là Hoa Phù Dung ở dưới nước, cũng là tên riêng của Hoa Sen đó. Ta sẽ gặp từ này trong bài thơ trên.
2. La Quần 羅裙 : là Cái Quần Là. Một loại Lụa ngày xưa thường dùng để may quần (váy) cho các bà các cô.
3. Văn 聞: Chữ nầy gồm có bộ Môn bên ngoài và chữ Nhĩ bên trong, có nghĩa : Chỏ cái lổ tai ra ngoài cửa để... nghe ngóng.
Văn Ca 聞歌 : là Nghe có tiếng ca hát.
4. Thủy Giác 始覺 : Mới có cảm giác, có nghĩa : Mới biết rằng...

* Nghĩa Bài Thơ :
Khúc Hát Hái Sen

Lá sen và quần lụa của nàng cũng cùng một màu xanh xanh, gương mặt đẹp đẻ của nàng giống như hoa Phù Dung dưới nước, hai bên đều cùng nở ra khoe sắc. và... cùng lẫn vào nhau ở trong ao, nên khi nghe thấy có tiếng ca... mới biết là có một nàng hái sen đang bơi đến....

Diễn Nôm:

Khúc Hát Hái Sen


Lá sen quần lụa xếp hai hàng,
Mặt tựa phù dung mới điểm trang.
Lẫn khuất trong ao nào ai thấy,
Nghe ca mới biết có người sang!.

Lục bát:

Lá sen quần lụa một màu,
Phù dung mặt đẹp thua nào sen tươi.
Lẫn trong ao chẳng thấy người,
Nghe ca mới biết ai cười hái sen!

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

... Thừa "nắng" xông lên, Đỗ Chiêu Đức xin thổi thêm một luồng gió mát nữa cho... đủ mát nhé ! Kính mời cùng thưởng thức Bài 2 của Thái Liên Khúc sau đây cho đủ bộ :

採蓮曲                    Thái Liên Khúc
其 二                       Kỳ Nhị

吳姬越豔楚王妃, Ngô cơ Việt diễm Sở vương phi,
爭弄蓮舟水濕衣。 Tranh lộng liên chu thủy thấp y.
 來時浦口花迎入, Lai thời phố khẩu hoa nghinh nhập,
采罷江頭月送歸。 Thái bãi giang đầu nguyệt tống quy.
王昌齡                     Vương Xương Linh.

* Chú Thích:

1. Ngô Cơ, Việt Diễm, Sở Vương Phi 吳姬越豔楚王妃 : là ba người đẹp của ba nước thuộc miền Giang Nam nhiều sông ngòi kinh rạch, và dĩ nhiên có... nhiều ao sen, và những người đẹp nầy lại rất thích hái sen vào mùa hè nóng bức ! Xin được cung cấp thêm một tên nữa của Hoa Sen là : Phù Cừ Vương Phi 芙蕖王妃.
2. Liên Chu 蓮舟( Châu ) : là Thuyền hái sen.
3. Phố khẩu 浦口 : là Bến nước, Bến sông, Nơi để xuống thuyền.

* Nghĩa Bài Thơ:

Ba người đẹp của đất Giang Nam tranh nhau đi hái sen, và tranh nhau bơi thuyền hái sen, làm nước bắn tung tóe ướt cả áo xiêm. Khi đến bờ sông thì hoa sen cười đón mời chào, và khi hái xong ra về thì lại có vầng trăng sáng đưa ra đến đầu sông.

* Diễn nôm:
Khúc Hát Hái Sen Bài 2.


Gái Ngô, gái Việt , Gái vương công,
Tranh chống thuyền sen ướt áo bông.
Khi đến cả đầm sen cười đón,
Lúc về trăng sáng tiễn đầu sông!

Lục bát:

Gái Ngô Việt sánh Vương công,
Tranh nhau ướt áo chèo không buông nào.
Đến thì hoa đón mời chào,
Hái xong trăng sáng ngàn sao đưa về!

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
***
Dịch thơ

Thất ngôn


Nàng Việt nàng Ngô nàng Sở ngoan
Thuyền sen nghịch giỡn ướt y trang
Bến sông điểm đến hoa chào đón
Xong việc đầu sông nguyệt dẫn đàng

Lục bát

Nàng Việt nàng Sở nàng Ngô
Nghịch vui áo ướt, nước xô mạn thuyền
Bến sông hoa đón tình sen
Đầu sông trăng rọi đường men lối về.

Nguyễn Đắc Thắng
220814

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

Thái Liên Khúc Kỳ 1 採蓮曲其一 - Vương Xương Linh



採蓮曲其一 Thái Liên Khúc Kỳ 1

吳姬越艷楚王妃﹐Ngô cơ, Việt diễm, Sở vương phi,
爭弄蓮舟水濕衣。Tranh lộng liên chu, thuỷ thấp y.
來時浦口花迎入﹐Lai thì phố khẩu, hoa nghinh nhập,
採罷江頭月送歸。Thái bãi giang đầu, nguyệt tống quy.
王昌齡                     Vương Xương Linh

Dịch Thơ:

Mấy cô tố nữ đùa vui nhỉ
Áo ướt giành sen đang độ mùa
Lúc đến hoa cười nhộn nhịp đón
Ra về trăng tiễn áo khô chưa 

Phạm Khắc Trí
08/01/2018
***
Thái Liên Khúc Kỳ 1

Gái xinh Ngô, Việt, Sở vương phi
Giỡn nước thuyền sen áo ướt đià
Cửa bến khi vào hoa đón tiếp
Đầu sông, thôi hái, nguyệt đưa về!!!


Lộc Bắc
Aug2018