Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2 芙蓉樓送辛漸其二 - Vương Xương Linh (Thịnh Đường)


(Diễn đàn LTCD tk 21 chúc niên trưởng Mỹ Ngọc sớm hồi phục sức khỏe)

Vương Xương Linh 王昌齡 (khoảng 698-756) tự là Thiếu Bá (少伯); bạn bè khen là vua thơ. Năm 27 tuổi đỗ Tiến sĩ (cùng tuổi với Lý Bạch khi đậu tiến sĩ). 7 năm sau ông lại đỗ Khoa bác học hoằng từ, chuyển đi làm Quan Uý ở Di Thuỷ. Nhưng do hành vi lãng mạn, bị biếm ra nơi biên ải làm Quan Uý ở Long Tiêu... Rồi về làm chức Thừa ở quê (Giang Ninh=Nam kinh). Ở đây Ông ngâm thơ không biết mệt mỏi. Không may Ông đắc tội với Thứ Sử bản địa Lư Khâu Hiểu nên bị Lư giết. Về sau Trấn thủ Hà Nam là Trương Cảo, điều quân đội các Lộ đến tập hợp, Lư Khâu Hiểu đến chậm bị xử tử (bị kết tội khi quân), coi như đó là báo thù cho Vương Xương Linh (ai bảo Lư dám giết vua thơ!). Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.


Nguyên tác                Dịch âm

芙蓉樓送辛漸其二 Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 2


丹陽城南秋海陰 Đan Dương thành nam thu hải âm,
丹陽城北楚雲深 Đan Dương thành bắc Sở vân thâm.
高樓送客不能醉 Cao lâu tống khách bất năng tuý,
寂寂寒江明月心 Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm.

Chú Giải

陰 âm; rất nhiều nghĩa; một nghĩa là râm mát.
秋海 thu hải: biển thu.
楚雲 Sở vân: đám mây Sở.
寂寂 tịch tịch: hiu quạnh, hoang vắng.
寂寂寒江 tịch tịch hàn giang; sông lạnh hoang vắng.
明月心 minh nguyệt tâm: Lòng trong sáng như ánh trăng.

Dịch nghĩa

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2


Phía nam thành Đan Dương mặt biển mùa thu râm,
Phía bắc thành Đan Dương nhiều mây Sở đen.
Tiễn khách trên lầu cao không tiện uống say,
Lòng ta (với bạn) như vầng trăng chiếu trên sông lạnh hoang vắng.

Dịch thơ

Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm kỳ 2


Đan Dương phía nam mặt biển râm,
Đan Dương phía bắc lắm mây thâm.
Lầu cao tiễn bạn chẳng say khướt,
Vắng lặng sông băng trăng trắng ngần.


Lời bàn 

Xin đọc bài LTCD thế kỷ 21 số 646, để biết rằng Tân đã đi khỏi đây; nay trở về chớp nhoáng để thăm Vương. Lần này cũng ngồi trên lầu Phù Dung uống rượu nhưng Vương không dám uống say (thi nhân Trung Quốc thường là bợm rượu; không dễ nín uống lúc tiễn biệt bạn; chắc phải có lý do, thử tìm xem sao).

Câu 1:
Nhìn về phía nam Đan Dương thấy mặt biển râm (mặt biển râm thì trên trời phải có nhiều mây đen; biển có nhiều mây đen thì dễ có mưa giông; vì thế nên Vương lo cho bạn mà không dám uống say).

Câu 2:
Nhìn về phía bắc Đan Dương thấy mây Sở dầy đặc (phía đối diện cũng chẳng sáng sủa gì, mây Sở: mây trên lục địa nước Tàu).
Hai câu 1 & 2 cho biết bạn rời khỏi Đan Dương về hướng nào (bằng đường biển hay đường bộ) cũng có trở ngại; Đó là lý do Vương lo cho bạn mà cố nín rượu.

Câu 3:
Tiễn bạn trên lầu cao tôi không muốn uống say (Ơ trên lầu cao nên tôi nhìn thấy mây đen dầy đặc bao phủ cả hai phía; bạn đi về phía nào (đường thủy hay đường bộ) cũng sẽ gặp trở ngại; vì vậy cho nên rượu hôm nay không còn quyến rũ tôi như mọi khi).

Câu 4:
Bạn như sông lạnh hoang vắng; lòng tôi như trăng sáng. Trăng sáng mà soi sông lạnh thì giúp được gì? (thấy bạn lâm nguy mà không giúp được nên Vương lo âu).

Không ai có thể đo được lòng của Vương đối với Tân sâu rộng như thế nào bởi vì thơ của Vương mênh mông quá. (Thêm một lý do khiến người đương thời gọi Vương là vua thơ).

Con Cò
***
Cầu chúc chị Mỹ Ngọc sớm bình phục để tiếp tục góp phần văn thơ với nhóm.

Tiễn bạn trên lầu Phù Dung, Kỳ2

Nam thành trời xấu biển âm u
Thành Bắc nhiều mây Sở mịt mù
Tiễn bạn trên lầu ngưng chén rượu
Lòng này trong sáng tựa trăng thu!


Thanh Vân
*** 
Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm kỳ2

Thành nam Đan Dương biển thu râm
Thành bắc Đan Dương mây Sở thâm
Lầu cao tiễn khách không đành khướt
Lặng thinh sông lạnh nguyệt minh tâm

Nam thành Đan, biển thu bóng đổ
Bắc thành Đan, mây Sở chập chùng
Lầu cao tiễn khách vài chung
Lặng yên sông lạnh tấm lòng sáng trăng

Lộc Bắc
Jan26
***
***
(Xin cầu nguyện cho chị Mỹ Ngọc được tai qua nạn khỏi, sớm bình phục để trở về với diễn đàn)

Về bài thơ kỳ này, BS xin giải thích vài ba chữ khó:
- Âm: u ám, tối tăm, âm u, mầu đen nhạt.
-  Thâm: sâu, kín đáo, cất dấu, rất (như thâm hồng là rất hồng), dầy.
- Tịch : yên, im, không có tiếng động.

Tuy ít chữ khó, nhưng câu thơ quá súc tích, không dễ dịch, như thu hải âm chẳng hạn. Và BS cũng thắc mắc: lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Theo ý bài thơ thì Tân Tiệm lại tới thăm Vương, và một lần nữa, Vương tiễn bạn.

Hai câu đầu tả trời âm u, mây vần vũ, chắc sắp có mưa lớn, nên tự nhủ không nên uống say, vì lòng còn như ánh trăng, đi theo bạn, minh nguyệt tâm thôi, chứ trời âm u làm gì có trăng. Xin dịch thoát:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2

Biển thu u ám phía nam thành,
Phía bắc mây dầy vẫn lượn quanh,
Lầu cao tiễn khách không nên khướt,
Lòng như trăng sáng chiếu sông xanh.

Bát Sách.
(Ngày 14/01/2026)
***
Nguyên Tác:             Phiên Âm:

芙蓉樓送辛漸其二 Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2

王昌齡 Vương Xương Linh


丹陽城南秋海陰 Đơn Dương thành nam thu hải âm
丹陽城北楚雲深 Đơn Dương thành bắc Sở vân thâm
高樓送客不能醉 Cao lâu tống khách bất năng túy
寂寂寒江明月心 Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm

Bài Kỳ 2 được đăng cùng với Kỳ 1 và có mộc bản trong các sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Đường Nhân Vạn Thủ Tuyệt Cú Tuyển - Tống - Hồng Toại 唐人万 首绝句选-宋-洪遂
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Phù Dung Lâu: Nguyên thủy do vua nhà Đông Tấn cho xây cất nằm góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), nhìn toàn cảnh sông Dương Tử và khu vực phía bắc sông. Theo tập 26 của *Nguyên Hà Quân Tiên Trí* (Ghi chép về các quận huyện thời Nguyên Hà), trong phần về Nhuận Châu ở vùng Giang Nam, có viết: "Khi Vương Công nhà Tấn làm quan, ông đã đổi tên tháp tây nam thành Tháp Vạn Lý và tháp tây bắc thành Tháp Phù Dung”.

Phù Dung Lâu (Đơn Dương) ở Trấn Giang, Giang Tô

Theo Wikepidia 芙蓉樓 (鎮江), đây là một công trình gỗ hai tầng, mô phỏng theo kiến trúc thời Đường. Tháp nguyên thủy bị phá hủy trong chiến tranh thời nhà Thanh và được xây dựng lại vào năm 1992 dưới chân núi Kim Sơn. Phù Dung Lâu nguyên thủy này nổi tiếng nhờ hai bài thơ của Vương Xương Linh.
Hiện nay, Trung Hoa còn có một Phù Dung Lâu thứ 2 mà nhiều nơi nhầm lẫn với lầu nguyên thủy được bài thơ của Vương nhắc đến. Lầu này nằm trong thành cổ Kiềm Dương, nay là thành phố Hồng Giang, tỉnh Hồ Nam.
Theo Wikepidia 芙蓉樓 - 維基百科, đây là một công trình kiến trúc cổ điển được nhà Thanh xây cất để tưởng nhớ Vương Xương Linh. Vương bị giáng chức xuống làm huyện úy Long Phiêu (nay thuộc Kiềm Thành) vào thời Thiên Bảo nhà Đường gần 1000 năm trước đó.

Phù Dung Lâu (Kiềm Dương) ở Hồng Giang, Hồ Nam

Năm 1701, niên hiệu 40 Càn Long nhà Thanh, Diệp Mộng Lân, huyện trưởng Kiềm Dương, đã xây cất Phù Dung Lâu ở ngoại ô thành phía đông. Năm 1815, niên hiệu 20 Gia Khánh, Tằng Ngọc, quan huyện, đã xây dựng lại Phù Dung Lâu ở phía tây thành phố. Năm 1839, niên hiệu 19 Đạo Quang, quan huyện Long Quang Điền, cùng với con trai Long Khải Thụy và Giáo dụ Hoàng Bổn Ký, đã tu sửa lần thứ hai và đó chính là công trình hiện nay.

Tân Tiệm: bạn của Vương Xương Linh. Lần đó cùng vượt sông từ Nhuận Châu, để Tân Tiệm đi Dương Châu rồi đi về bắc đến Lạc Dương.
Đơn Dương: thành phố tỉnh Quý Châu (ngày nay là huyện Tử Quế, thành phố Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc)
Thu hải: biển thu, chỉ mùa thu bao phủ. Mạnh Giao cũng xài cụm từ này trong bài Phụng Đồng Triêu Hiền Tống Tân La Sứ 奉同朝贤送新罗使 (Cùng quan lại tiễn sứ thần đi Tân La) với 2 câu: Miểu miểu vọng viễn quốc, nhất bình thu hải trung 淼淼望远国,一萍秋海中 (Biển mênh mông, nhìn về quê nhà xa xăm, một cụm bèo đơn độc trôi trên biển thu.)
Cao lâu: lầu cao, chỉ Phù Dung Lâu
Tịch tịch: hoang vắng, yên lặng

Dịch nghĩa:

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2


Đơn Dương thành nam thu hải âm
Phía nam thành Đơn Dương đang mùa thu âm u,
Đơn Dương thành bắc Sở vân thâm
Phía bắc thành mây nhiều trên đất Sở.
Cao lâu tống khách bất năng túy
Tiễn bạn trên lầu cao chẳng thể say khướt,
Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm
Lòng ta với bạn như vầng trăng sáng trên sông lạnh vắng lặng.

Dịch thơ:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2


Nam thành Đơn Dương sương phủ mù,
Thành bắc đất Sở mây âm u.
Trên lầu tiễn bạn không say khướt,
Sông vắng lạnh lòng dưới trăng thu.

Bidding Farewell to Xin Jian at Lotus Tower 2 by Wang Changling

Looking south from Danyang, I see only a vast, overcast autumn sea,
Looking north, I see only deep, layered clouds over Chu lands.
Seeing off my friend from the high tower, I bid him a reluctant farewell, my heart heavy with sorrow, even drinking could not bring me joy.
All around was silence; facing the cold river and sky, my heart toward my friend is as pure as the bright high-hanging moon.

Phí Minh Tâm
***
@ Lộc Bắc nghĩ:

Lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Có lẽ Phù Dung lầu gần cửa biển. Phải vậy không anh Tâm, anh Giám?

@Ý kiến của Phí Minh Tâm:

Thu hải: biển thu, chỉ mùa thu bao phủ. Mạnh Giao cũng xài cụm từ này trong bài Phụng Đồng Triêu Hiền Tống Tân La Sứ 奉同朝贤送新罗使 (Cùng quan lại tiễn sứ thần đi Tân La) với 2 câu: Miểu miểu vọng viễn quốc, nhất bình thu hải trung 淼淼望远国,一萍秋海中 (Biển mênh mông, nhìn về quê nhà xa xăm, một cụm bèo đơn độc trôi trên biển thu.)

Phù Dung Lâu: Nguyên thủy do vua nhà Đông Tấn cho xây cất nằm góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), nhìn toàn cảnh sông Dương Tử và khu vực phía bắc sông. Theo tập 26 của *Nguyên Hà Quân Tiên Trí* (Ghi chép về các quận huyện thời Nguyên Hà), trong phần về Nhuận Châu ở vùng Giang Nam, có viết: "Khi Vương Công nhà Tấn làm quan, ông đã đổi tên tháp tây nam thành Tháp Vạn Lý và tháp tây bắc thành Tháp Phù Dung”. Theo Wikepidia 芙蓉樓 (鎮江), đây là một công trình gỗ hai tầng, mô phỏng theo kiến trúc thời Đường. Tháp nguyên thủy bị phá hủy trong chiến tranh thời nhà Thanh và được xây dựng lại vào năm 1992 dưới chân núi Kim Sơn. Phù Dung Lâu nguyên thủy này nổi tiếng nhờ hai bài thơ của Vương Xương Linh.

Hiện nay, Trung Hoa còn có một Phù Dung Lâu thứ 2 mà nhiều nơi nhầm lẫn với lầu nguyên thủy được bài thơ của Vương nhắc đến. Lầu này nằm trong thành cổ Kiềm Dương, nay là thành phố Hồng Giang, tỉnh Hồ Nam. Theo Wikepidia 芙蓉樓 - 維基百科, đây là một công trình kiến trúc cổ điển được nhà Thanh xây cất để tưởng nhớ Vương Xương Linh. Vương bị giáng chức xuống làm huyện úy Long Phiêu (nay thuộc Kiềm Thành) vào thời Thiên Bảo nhà Đường gần 1000 năm trước đó.

Năm 1701, niên hiệu 40 Càn Long nhà Thanh, Diệp Mộng Lân, huyện trưởng Kiềm Dương, đã xây cất Phù Dung Lâu ở ngoại ô thành phía đông. Năm 1815, niên hiệu 20 Gia Khánh, Tằng Ngọc, quan huyện, đã xây dựng lại Phù Dung Lâu ở phía tây thành phố. Năm 1839, niên hiệu 19 Đạo Quang, quan huyện Long Quang Điền, cùng với con trai Long Khải Thụy và Giáo dụ Hoàng Bổn Ký, đã tu sửa lần thứ hai và đó chính là công trình hiện nay.


Phù Dung Lâu nguyên thủy nằm trên bờ sông Dương Tử. Phù Dung Lâu 2 gần sông Nguyên. Không có lầu nào gần biển. pmt

@Ý kiến Huỳnh Kim Giám:

... lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Đơn Dương không ở gần biển và không thể thấy biển từ đó nên chữ 海=hải trong câu đầu dĩ nhiên không thể có nghĩa là biển hay nói về biển!

Chữ 萍=bình trong ví dụ anh Tâm đưa ra (一萍秋海中=nhất bình thu hải trung) là từ viết tắt cho 浮萍=phù bình, tên của loài bèo tấm (Lemnoideae) chỉ sống ở nước ngọt nên chữ hải trong câu đó cũng không thể có nghĩa là biển! Nhưng thu hải đường không phải là loài cây thủy sinh nên tại sao lại có bèo tấm giữa loài cây này thì cũng khó hiểu, ngoài hàm ý đơn côi, lạc loài.

Người Hoa Lục thời nay hình như cũng không hiểu 秋海=thu hải nghĩa là gì nên mỗi trang mạng "dịch" và giải thích một lối. Thu hải có thể là tên tắt của 秋海棠=thu hải đường (Begonia), hơn 2000 loài cây thân thảo, mọc thành bụi sát đất ở vùng nhiệt đới. Có hơn 200 giống ở Hoa Lục, thường thấy ở Giang Nam, nhất là ở Vân Nam. "... thu hải âm" có thể có nghĩa là thu hải đường mọc rậm rạp ở hướng nam Đơn Dương, và vì đây là loài cây của Giang Nam, nó hàm ý nơi xa lạ với người Hán, đối ngược với từ Sở thân thiết hơn.

Vì có quá nhiều giống mọc hoang, với đủ kiểu hoa và lá, người ni không biết Vương Xương Linh và Mạnh Giao muốn nói đến loài nào. Họ Mạnh ra đời 5 năm sau khi họ Vương lìa trần nên có thể rằng Mạnh mượn từ ngữ của Vương.

Huỳnh Kim Giám



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét