Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưu Vũ Tích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưu Vũ Tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2024

Thị Đao Hoàn Ca 視刀環歌 - Lưu Vũ Tích(Trung Đường)


Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Văn, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.
Mời các bạn đọc bài này đề biết quan niệm của Lưu Vũ Tích về tình yêu.

Nguyên tác Dịch âm

視刀環歌 Thị Đao Hoàn Ca

常恨言語淺 Thường hận ngôn ngữ thiển,
不如人意深 Bất như nhân ý thâm.
今朝兩相視 Kim triêu lưỡng tương thị,
脈脈萬重心 Mạch mạch vạn trùng tâm.

Dịch nghĩa

Bài Hát Trông Con Dao Và Cái Vòng

Thường thường khi ân hận thì lời nói nông cạn,
Nhưng ý nghĩ thì dồi dào.
Sáng nay đôi bên nam nữ nhìn nhau.
Mới thấy chỉ cần nhìn nhau đăm đăm cũng bằng vạn lời tâm tình.

Đao là con dao, trong bài ngụ ý người nam, hoàn là cái vòng ngọc, ngụ ý người nữ.

Dịch thơ

Bài Hát Trông Con Dao Và Cái Vòng

Thường hận lời nông cạn,
Thương ý nghĩ thâm sâu.
Ngồi nhìn nhau đăm đắm,
Bằng vạn lời trao nhau.


Lời bàn 

Con dao và cái vòng là hai vật khác hẳn nhau, lời nói và ý nghĩ cũng thế. Tác giả quan niệm rằng ngôn ngữ nhiều khi không diễn tả hết được tình yêu. Nam nữ chỉ cần đối diện, lặng lẽ nhìn nhau, sẽ hiểu nhau sâu đậm hơn.

Con Cò
***
Bài Ca Nhìn Vòng Trên Đao.

Khi giận nói nông cạn,
Không sâu đủ ý mình.
Sáng nhìn nhau đối mặt,
Thấu hiểu vạn chân tình.


Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Oct. 5/2024.
***
Bài Ca Chiếc Vòng Trên Đao

Lúc giận thốt càng thật hợt hời
Nói rồi mới thấy tiếc buông lời
Hôm nay đôi bạn nhìn nhau mãi
Tình cảm trong tim rạng sáng ngời

Thanh Vân
***
Bài Ca Dao Và Cái Vòng


Khi giận thì nên kiệm lời
Dồi dào ý nghĩ… tạm thời lặng thinh
Hai người trao ánh mắt nhìn
Mà như đã nói vạn nghìn lời yêu


Kiều Mộng Hà
Oct.07.2024
***
Đây là một bài nhạc phủ tân đề. Theo Hán thư, tích Lý Lăng 李陵 (cháu Lý Quảng 李廣) đem 5000 quân đánh Hung Nô (năm 99 tr.CN), đi sâu vào đất địch. Bị vây, quân lính chết gần hết, ngựa bị thương phải đầu hàng. Hán Vũ Đế nghe tin rất phẫn nộ, ra lệnh giết ba họ của Lý Lăng. Đến đời Chiêu Đế (đã hoà hoãn với Hung Nô), bạn đồng liêu của Lý Lăng là Quắc Quang 霍光, Thượng Quan Kiệt 上官桀 phụ chính muốn xin cho Lý Lăng về, sai Nhậm Lập Chính 任立政 (cũng là bạn của Lý Lăng) làm sứ giả qua kêu gọi Lý Lăng trở về. Lúc ngồi nói chuyện, vì có người Hán là Vệ Luật 衛律 làm quan cho Hung Nô cùng ngồi, không tiện nói thẳng nên Nhậm Lập Chính đưa mắt nhìn đao của Lý Lăng và sờ những cái vòng trên sống đao để thăm dò ý tứ. Vòng là “hoàn” 環, phát âm giống “hoàn” 還 (trở về), ý muốn kêu Lý Lăng trở về. Lý Lăng biết ý nhưng không trở về, vì nhục nhã và do ba họ đã bị giết hết. Về sau chữ “đao hoàn” 刀環 dùng để ám chỉ đến chuyện hồi hương. Bài thơ này được viết khi tác giả đang bị biếm trích, thông qua hình ảnh đôi nam nữ để tỏ nỗi lòng mong muốn trở về.
(Trích từ Thi Viện)

Bài Ca Nhìn Đao Vòng 

Thường hận lời nông cạn
Chẳng như ý thẳm sâu
Sáng nay đôi trẻ gặp
Nhìn đắm đuối, tâm đầu!


Lộc Bắc

***
Nguyên tác:  Phiên âm:                           Dịch thơ:

視刀環歌 Thị Đao Hoàn Ca Ngắm Vòng Đại Đao
劉禹錫       Lưu Vũ Tích

常恨言語淺 Thường hận ngôn ngữ thiển Lúc giận lời hời hợt,
不如人意深 Bất như nhân ý thâm            Ý nghĩa không thâm sâu.
今朝兩相視 Kim triêu lưỡng tương thị    Sáng nay nhìn trìu mến,
脈脈萬重心 Mạch mạch vạn trọng tâm   Vạn ý hợp tâm đầu.

Sách xưa có mộc bản bài thơ:

Lưu Tân Khách Văn Tập - Đường - Lưu Vũ Tích 劉賓客文集-唐-劉禹錫
Nhạc Phủ Thi Tập - Tống - Quách Mậu Thiến 樂府詩集-宋-郭茂倩
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao? 唐詩品彙-明-高棅
Ngự Định Toàn Đường Thi Lục - Thanh - Từ Trác 御定全唐詩錄-清-徐倬

Ghi chú:

Thị Đao Hoàn Ca: tựa của một bài nhạc phủ dựa trên truyện Lý Quảng Tô Kiến trong Hán Thư
Hận: oán giận, căm thù, ân hận
Nhân ý: ý nghĩ cảm xúc của con người
Mạch mạch: sự xuất hiện tình cảm âm thầm qua ánh mắt hoặc con tim, đôi mắt trìu mến, và im lặng nhìn nhau
Vạn trùng: nhiều lớp, lớp lớp khi miêu tả núi non cảnh vật
Trọng tâm: điểm quy tụ sức nặng, sự quan trọng, hoặc phần chủ yếu của một vật hay một vấn đề; chữ 重 phiên âm trọng hoặc trùng cùng nghĩa như nhau. Trong bài thơ này, trọng có vẻ hợp lý hơn vì niêm với câu 1; ngoài ra trọng tâm là một từ kép, tiếng Việt không có từ trùng tâm. vạn trọng tâm: sự phức tạp của cảm xúc trong lòng

Dịch nghĩa:

Thị Đao Hoàn Ca Bài Hát Ngắm Vòng Đại Đao


Thường hận ngôn ngữ thiển Thường lời nói lúc giận giữ sẽ hời hợt,
Bất như nhân ý thâm Ý nghĩa không sâu sắc như mình muốn.
Kim triêu lưỡng tương thị Hôm nay hai chúng ta cùng nhìn nhau,
Mạch mạch vạn trùng tâm Tình cảm âm thầm bằng vạn lời tâm tình.

Contemplating the Rings on the Big Knife by Liu Yu Xi

When angry our words are empty/shallow,
Not carrying deep meanings we intended to.
This morning we looked at each other,
True love does not need thousands of words.

Tại sao đại đao có 9 vòng trên sống?

Vòng trên sống đao

Những chiếc vòng (thường là 9) trên một đại đao có nhiều công dụng thực tế. Chúng có 3 chức năng chính là cân bằng, đe dọa và bảo vệ.

Chúng là vật đối trọng, nhằm tăng quán tính của đao. Nếu vung hai thanh đao cùng tốc độ với trọng lượng khác nhau, vũ khí nặng hơn sẽ gây ra nhiều thiệt hại hơn. Chúng giúp điều chỉnh trọng tâm, do đó dễ kiểm soát đao hơn.

Người sử dụng lắc đao, tạo ra tiếng leng keng lớn, kết hợp với tiếng hét để hù dọa kẻ thù.
Những chiếc vòng trên sống đao cũng đóng vai trò bảo vệ người sử dụng bằng hai cách:

Không để đao ăn quá sâu bị kẹt vào vật chém, dễ bị đối phương gây thương tích khi cố gắng rút đao ra. Nếu đao có bị kẹt, dễ bám vào các vòng để rút đao ra.

Dùng những chiếc vòng để bám giữ những thanh kiếm mỏng dài của đối phương. Đây không phải là mục đích chính của những chiếc vòng trên đao, nhưng những người dùng đao với vòng lớn đã sử dụng chiến thuật này có lợi cho họ.
***
Phí Minh Tâm
***
Góp ý:


Thành ngữ "đao hoàn". 刀環=đao hoàn là tên các vòng (7 hoặc 9) trên sống đao bộ binh thời cổ (刀/đao là tĩnh từ bổ nghĩa cho danh từ 環/hoàn).

九環刀=cửu hoàn đao

và theo một lời giải thích trên một trang về vũ khí của Tàu thì vị trí của các vòng thay đổi tùy trường hợp - tùy lúc đao cầm dựng đứng lên hay lúc đang chém tới - và làm thay đổi trọng tâm của đao - gần cán hay gần mũi đao - nên việc sử dụng đao có hiệu lực hơn (và cũng có thể rằng vũ khí của địch vướng vào các vòng và không chém tuột xuống cán đao).

Hai chữ 環 (vòng) và 還 (trở về) là chữ viết cho các từ đồng âm /hoàn/ với các bộ 玉/辵 và âm 睘=hoàn. Đây là lý do mà chữ 環 hiện diện trong nhiều bài thơ nói về sự chia ly, nhung nhớ và chuyện mong người đi xa trở về. Người xưa có tục bẻ nhành 柳=liễu (từ đồng âm trong tiếng Tàu cho 留=lưu, nghĩa níu kéo, cầm giữ), lột một lớp vỏ cuốn lại thành 環=hoàn/vòng tặng người yêu để tỏ ý muốn mong thấy người trở về. Và trong trường hợp xa quê thời chiến thì người ta dùng thành ngữ 'đao hoàn' dể diễn tả sự nhớ quê hương.

Huỳnh Kim Giám

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

Kim Lăng Ngũ Đề 金陵五題 - Thạch Đầu Thành

 

Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Vân, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Vân bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Nguyên tác               Dịch âm

金陵五題-石頭城 Kim Lăng Ngũ Đề - Thạch Đầu thành

山圍故國周遭在 Sơn vi cố quốc chu tao tại.
潮打空城寂寞回 Triều đả không thành tịch mịch hồi
淮水東邊舊時月 Hoài thủy đông biên cựu thời nguyệt
夜深還過女牆來 Dạ thâm hoàn quá nữ tường lai.

Dịch nghĩa

Năm Bài Về Kim Lăng -  Thành Thạch Đầu*

Núi bao bọc thành cũ, vây kín chung quanh
Ngọn thủy triều đập vào thành trống rồi rút lui lặng lẽ
Vầng trăng xưa, ở phía đông sông Hoài (sông Tần Hoài)
Ðêm khuya chiếu ánh sáng vượt qua bức tường thấp.
*Thành Thạch Đầu ở phía nam núi Thạch Đầu, thuộc tỉnh Giang Tô.

Dịch thơ

Năm Bài Về Kim Lăng - Thành Thạch Đầu

Non bao quách cũ vây quanh kín,
Triều đập thành không lặng lẽ lui.
Đông có trăng sông Hoài thời cũ
Đêm khuya chiếu vượt tường thấp thôi.

Lời bàn

Bài thơ có một ý chê bai mờ nhạt rất khó bàn (lời bàn dễ thành mơ hồ, gượng ép). Thành Thạch Đầu gần giống như một thành ma.

Câu 1:
Thành bị núi bao quanh kín mít.
Câu 2:
Sóng đập vào chân thành rồi lặng lẽ lui ra không gây tiếng vang, giống như sóng ma. Sóng biển thường vọng đi xa lắm; ở xa vài dặm còn nghe thấy. Dường như tác giả ngồi ngắm thành rất xa từ trên cao và ngược gió nên không nghe thấy tiếng sóng vỗ, chỉ nhìn thấy ngọn sóng xô vào chân thành rồi lui ra thôi. Cũng dường như ông muốn nói điều gì đây (tỷ dụ như điều gì đã xảy ra trong 20 năm ông bị biếm).
Câu 3 & 4:
Ánh trăng từ phía đông sông Tần Hoài (vẫn là ánh trăng của thời cũ) vượt tường thấp vào trong thành như thuở xa xưa (Trăng vừa mới ngoi lên, chiếu nghiêng, phải vượt cái tường thành thấp mới chiếu được vào trong thành. Cái tường vẫn thấp như xưa, không có dấu vết của việc tu sửa, tăng thêm nét hoang sơ của thành Thạch Đầu).

Con Cò
***
Kim Lăng  Năm Bài - Thành Thạch Đầu

Núi vây nước cũ vòng quanh khắp
Sóng dập thành không lặng lẽ lui
Hoài thủy bờ đông, trăng thuở trước
Đêm khuya tường nhỏ vẫn về soi!

Lộc Bắc
***
Thạch Đầu Thành 

Sơn quanh… thành quách tiêu điều
Thuỷ triều sóng dập xanh rêu từng mành
Sông Tần đông lộ trăng thanh
Nguyệt xưa rạng chiếu trường thành đêm khuya

Kiều Mộng Hà
Sept.28.2024
***
Thành Thạch Đầu.

Non vây nước cũ kín vòng quanh,
Lặng lẽ triều lên xuống phế thành.
Đông ngạn sông Hoài trăng thủa trước,
Vượt qua tường đổ chiếu thâu canh.

Mỹ Ngọc
Sept. 28/2024
***
Thạch Đầu Thành

Núi quanh chốn cũ tư bề
Sóng xô lặng lẽ vỗ về thành hoang
Sông Hoài xưa ánh trăng vàng
Đêm thanh thấp thoáng tường loang chiếu vào

Kim Oanh
***
Thạch Đầu Thành

Thành xưa quách cũ núi bao quanh
Sóng lớn đập vào lặng rút nhanh
Trăng sáng sông Hoài như nguyệt cũ
Chiếu tường lồi lõm quái ma thành

Thanh Vân
***
Kim Lăng Ngũ Đề - Lưu Vũ Tích 金陵五題-劉禹錫

Nguyên tác: Phiên âm:

石頭城                 Thạch Đầu Thành

山圍故國周遭在 Sơn vi cố quốc chu tao tại
潮打空城寂寞回 Triều đả không thành tịch mịch hồi
淮水東邊舊時月 Hoài thủy đông biên cựu thời nguyệt
夜深還過女牆來 Dạ thâm hoàn quá nữ tường lai

Mộc bản trong sách:

Lưu Tân Khách Văn Tập - Đường - Lưu Vũ Tích 劉賓客文集-唐-劉禹錫
Đường Nhân Vạn Thủ Tuyệt Cú Tuyển - Tống - Hồng Toại 唐人萬首絕 句選-宋-洪遂
Đường Âm - Nguyên - Dương Sĩ Hoằng 唐音-元-楊士弘

Năm Bảo Lịch thứ hai (826), Lưu Vũ Tích rời chức thứ sử Hòa Châu (nay là huyện Hòa, tỉnh An Huy) trên đường về Lạc Dương, đi qua Kim Lăng (nay là thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô), viết tập thơ vịnh hoài di tích này, tên là Kim Lăng Ngũ Đề 金陵五題, trong đó có 5 bài thơ: Thạch Đầu Thành, Ô Y Hạng, Đài Thành, Sinh Công Giảng Đường, và Giang Lệnh Trạch.

Ghi chú:

Thạch Đầu Thành: tên thành cổ ở phía nam núi Thạch Đầu, tỉnh Giang Tô. Còn được gọi là Thành Thạch Thủ. Địa điểm ngày nay nằm ở Thanh Lương Sơn, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô. Ban đầu là thành Kim Lăng của nước Sở thời Chiến Quốc, sau được Tôn Quyền xây dựng lại và, vào năm Kiến An 17 (năm 229) của nhà Hán thời Tam Quốc, đổi tên thành Kiến Nghiệp, với ý nghĩa "kiến công lập nghiệp". Tựa lưng vào núi, mặt tiếp giáp với cửa sông Tần Hoài ở phía nam, thành là đầu mối giao thông và trấn quân sự quan trọng ở Kiến Khang trong thời Lục Triều. Đến thời nhà Đường, thành đã bị bỏ hoang.

Cố quốc: thủ đô cũ của nước Sở và 6 triều đại sau đó
Không: hoang vắng
Tịch mịch: im lặng
Hoài thủy: sông Hoài, sông Tần Hoài
Nữ tường: bức tường nhỏ có hình dạng lồi lõm trên tường thành

Dịch nghĩa:

Thạch Đầu Thành Thành Thạch Đầu

Sơn vi cố quốc chu tao tại     Núi bao bọc thành đô cũ, vẫn còn vây kín vòng quanh,
Triều đả không thành tịch mịch hồi Nước lớn vẫn đập vào thành trống rồi lặng lẽ rút lui
Hoài thủy đông biên cựu thời nguyệt Phía đông sông Hoài, cũng vầng trăng xưa đó,
Dạ thâm hoàn quá nữ tường lai Leo (chiếu) qua những bức tường lồi lõm trên thành vào đêm khuya.

Dịch thơ:

Thành Thạch Đầu

Thành xưa có núi bọc bao quanh,
Nước lớn vỗ thành lặng rút nhanh.
Trăng cũ đông Hoài vờn sóng nước,
Đêm khuya chiếu sáng đỉnh tường thành.

The Stone City by Liu Yuxi
Translation by Andrew W.F. Wong (Huang Hongfa)

Surrounded by hills, this old capital, its environs still in place,
Flood-tides still storm the empty city, and ebb, and quiet befalls.
East of the waters of Qinhuai River, that same old ancient moon,
Deep in the night, still climbs across the jagged battlement walls.

Phí Minh Tâm
***
Góp Ý:

石頭城=Thạch Đầu thành

Thạch đầu thành nguyên thủy là tên của một thị trấn của nước Sở trên đồi Thanh Lương (清凉山, cao chừng 100 mét) thời Chiến Quốc. Tôn Quyền thời Tam Quốc lập một yếu điểm quân sự ở đó để bảo vệ sông Trường Giang; đây cũng là nơi Chu Du tập luyện thủy quân. Thạch Đầu thành được khuếch tán trong thời nhà Tùy nhưng rồi sử liệu về địa điểm này dần biến mất từ thời Tống và người đời sau không còn biết rõ thành ở đâu cho tới gần cuối thể kỷ XX khi địa điểm được khảo cổ khai quật và xác nhận ở Nam Kinh (Kim Lăng/金陵 ngày xưa); vì thế Nam Kinh ngày nay tự xưng là Thạch Đầu Thành. Hình dưới là một phần của di tích có tên là Quỷ Diện Tường (鬼面牆)

Hoài Thủy (淮水) và Kim Lăng (金陵) Kim Lăng là tên cổ của Nam Kinh và còn có tên Kiến Khang (建康) trong đời Tấn; Hoài Thủy thời xưa là một con sông lớn chảy độc lập giữa hai sông Hoàng Hà và Trường Giang. Bây giờ, vì thiên tai liên miên, Hoài Thủy hết còn là một con sông độc lập mà chỉ là một nhánh sông của Trường Giang gần Dương Châu (扬州). Hoài Thủy ở trên 50 km hướng Bắc của Kim Lăng và không dính dáng gì đến Thạch Đầu thành, thế thì họ Lưu nhắc đến biên giới lịch sử của Hoa Lục trong bài thơ này làm gì? Hoài Thủy và dãy núi Tần Lĩnh được xem trong lịch sử như biên giới thiên nhiên giữa hai vùng Bắc và Nam đất Hoa Lục và thường được thấy trong các tác phẩm hoài cổ để nhắc đến các nước Sở, Ngô, Việt đã bị người Hán tiêu diệt.

Có biết nguồn gốc của điển tích Thạch Đầu thành mới có thể hiểu thi nhân họ Lưu muốn nói đến chuyện vật đổi sao dời và lẽ vô thường của cuộc đời trong bài thơ này, cũng tựa như trong bài Ô Y hạng.

Huỳnh Kim Giám

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024

Kim Lăng Ngũ Đề - Ô Y Hạng 金陵五題-烏衣巷 - Lưu Vũ Tích (Trung Đường)


Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Vân, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Lưu Vũ Tích
Trong hai bài trước (Huyền Đô Quán Đào Hoa và Tái Du Huyền Đô Quán) Lưu Vũ Tích tỏ ra ngạo nghễ, bài này phô bày thái độ thanh cao của ông.


Nguyên tác                Dịch âm

金陵五題-烏衣巷 Kim Lăng ngũ đề - Ô Y hạng

朱雀橋邊野草花 Chu Tước kiều biên dã thảo hoa,
烏衣巷口夕陽斜 Ô Y hạng khẩu tịch dương tà.
舊時王謝堂前燕 Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,
飛入尋常百姓家 Phi nhập tầm thường bách tính gia.


Dịch nghĩa

Năm Bài Về Kim Lăng - Ngõ Ô Y

Bên cầu Chu Tước, cỏ dại đầy hoa,
Trong ngõ Ô Y mặt trời xế bóng.
Chim én nơi lâu đài họ Vương, họ Tạ ngày trước,
Nay bay vào những nhà của thường dân.

Chú giải

Ngõ Ô Y:
Ở bên bờ nam sông Tần Hoài, huyện Giang Ninh (Nam Kinh ngày nay), đời Tấn là nơi ở của những danh gia vọng tộc. Vào thời đó, con cháu những nhà này thường mặc áo đen, từ đó có tên gọi ngõ Ô Y.

Chu Tước:
Cầu bắc qua sông Tần Hoài, đi vào trung tâm ngõ Ô Y phải qua cầu này. Xưa trên cầu, Tạ An cho xây một ngôi lầu có trang trí hai con chim sẻ bằng đồng; nên gọi là cầu Chu Tước.

Vương Tạ:
Vương Ðạo 王導 và Tạ An 謝安, là hai thế gia vọng tộc ở ngõ Ô Y. Vương Đạo là khai quốc công thần đời Tấn, Tạ An là tướng chỉ huy trận chiến Phì Thuỷ.

Dịch thơ

Năm Bài Về Kim Lăng - Ngõ Ô Y

Trong ngõ Ô Y nắng đã tà,
Bên cầu Chu Tước cỏ đầy hoa.
Yến thời Vương, Tạ ngày xưa ấy,
Bay tới nhà dân đậu tỉnh bơ.

Lời bàn 

Lại một bài thơ bất hủ nữa của Lưu Vũ Tích. Bài thơ, dùng thể tỷ, nói về sự thăng trầm của quan chức theo thời thế và tính xu thời của bọn tiểu nhân cơ hội (xin đọc chú giải). Hai họ quyền quý Vương và Tạ nay đã sa sút. Những chim yến ngày xưa phè phỡn ở đó, nay bay hết sang nhà thường dân để kiếm ăn. (bọn tiểu nhân nịnh bợ bỏ hai họ này vì không còn nhờ vả được nữa). Cụm từ “tỉnh bơ” của Việt Nam rất đắc địa cho bài này.

Con Cò
***
Năm Bài Kim Lăng. Hẻm Áo Đen

Bên cầu Chu Tước cỏ hoa tràn
Trong ngõ Ô Y chút nắng tàn
Chim én lâu đài Vương, Tạ trước
Bay vào làm tổ chốn dân gian!

Lộc Bắc
***
 Năm Bài Kim Lăng

Nơi cầu Chu Tước có nhiều hoa
Trước ngõ Ô Y bóng xế tà
Vương/Tạ danh gia chim Én đậu
Nay thời Én trú chỗ dân gia

Kiều Mộng Hà
Sept.21.2024
***
Ngõ Ô Y

Bên cầu Chu Tước cỏ hoa vươn
Chiều ngõ Ô Y khuất bóng dương
Vương, Tạ dinh xưa chen chúc én
Nay chim tụ tập chốn dân thường


Thanh Vân
***
Năm Bài Về Kim Lăng- Ngõ Ô Y

Bên cầu Chu Tước cỏ hoa đầy,
Trong ngõ Ô Y nắng ngả tây.
Én đậu lâu đài Vương Tạ cũ,
Nay nhà dân giã tới lui bay.

Mỹ Ngọc 
Sept. 21/2024.
***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

烏衣巷-劉禹錫 Ô Y Hạng - Lưu Vũ Tích

朱雀橋邊野草花 Chu tước kiều biên dã thảo hoa
烏衣巷口夕陽斜 Ô y hạng khẩu tịch dương tà
舊時王謝堂前燕 Cựu thì Vương Tạ đường tiền yến
飛入尋常百姓家 Phi nhập tầm thường bách tính gia

Bài thơ có mộc bản trong sách:

Lưu Tân Khách Văn Tập - Đường - Lưu Vũ Tích 劉賓客文集-唐-劉禹錫
Tài Điều Tập - Thục - Vi Hộc 才調集-蜀-韋縠

Năm Bảo Lịch thứ hai (826), Lưu Vũ Tích rời chức thứ sử Hòa Châu (nay là huyện Hoà, tỉnh An Huy) trên đường về Lạc Dương, đi qua Kim Lăng (nay là thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô), viết tập thơ vịnh hoài di tích này, tên là Kim Lăng Ngũ Đề金陵五題, trong đó có 5 bài thơ: Thạch Đầu Thành, Ô Y Hạng, Đài Thành, Sinh Công Giảng Đường, và Giang Lệnh Trạch.

Ghi Chú:

Ô Y Hạng: ngõ Áo Đen. Đời Đông Tấn (265 – 420 trước công nguyên), con cháu hai họ Vương và Tạ sống trong ngõ này mặc áo quần màu đen, từ đó có tên ngõ Áo Đen. Vương Đạo và Tạ An là hai Tể Tướng danh tiếng của nhà Tấn. Vào thời Tam Quốc, trên bờ phía nam của cầu Văn Đức (ngày nay là đông nam của thành phố Nam Kinh), là nơi Đông Ngô đóng quân. Vì lúc đó cấm quân mặc quân phục màu đen, cho nên tục gọi nơi này là Ô Y Hạng. Lục Triều (Đông Ngô, Đông Tấn, Nam Tống, Tề, Lương, Trần) lần lượt xây dựng đô thị ở Kiến Khang tức Nam Kinh ngày nay. Vào thời Đường, Ô Y Hạng trở thành phế tích. Ngày nay, quận Giang Ninh, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, trải dài trên sông Tần Hoài, là nơi hội tụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dân gian.

Chu tước: một loại chim sẻ màu đỏ đậm
Cầu Chu Tước: cầu trên sông Tần Hoài, bên ngoài phía nam thành phố Kim Lăng (nay là huyện Giang Ninh, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô). Khu Ô Y Hạng nằm bên cạnh cầu Chu Tước.
Cựu thì: ngày xưa, đời nhà Tấn
Vương Tạ: Vương Đạo và Tạ An, tướng nhà Đông Tấn, thế gia đại tộc, hiền tài đông đảo, đều ở trong ngõ Ô Y
Đường tiền: phía trước ngôi nhà chính
Yến: chim yến, én
Tầm thường: bình thường
Bách tính: người dân, bá tánh

Dịch Nghĩa:

Cỏ hoa dại mọc chung quanh cầu Chu Tước
Mặt trời lặn chiếu sáng ngõ Ô Y
Ngày xưa là nhà của họ Vương và họ Tạ, nơi chim tước đến làm tổ
Nay chúng bay vào nhà dân bình thường mà đậu.

Dịch Thơ:
Ngõ Áo Đen

Quanh cầu Chu Tước cỏ chen hoa
Ngõ phố Áo Đen rạng ánh tà
Vương Tạ lâu đài xưa cất tổ
Nay cùng dân thứ yến làm nhà.


Black Shirt Alley by Liu Yu Xi

Grass and flowers has run wild around the Red Sparrow bridge,
The setting sun shines the entrance of the Black Shirt Alley.
Where once were the great homes of Wang Dao and Xie An and where red sparrows came to perch.
Now they have to perch on the doorway of the common people's homes.

Notes:
Red Sparrow Bridge: is in the Jiangning county, Jiangsu province..

Black Shirt Alley: It still exist in NanJing City. It was in the southern area of Jiangning county, Jiangsu province. During the Jin Dynasty (265AD to 420AD), the children of the two families of Wang and Xie were wearing all black. Therefore people called the lane where they lived Black Shirt Alley. Wang Dao and Xie An were great Prime Ministers during the Jin Dynasty.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

Lưu Vũ Tích đỗ tiến sĩ lúc mới có 21 tuổi nhưng phải thi bác học hoành từ khoa (博學宏辭科) để được ra làm quan; sự kiện này và việc sử liệu (Cựu và Tân Đường Thư) nói khác nhau về quê quán của họ Lưu cho ta biết rằng ông không được triều đình chú trọng cho lắm, một phần có lẽ vì là người gốc Hung Nô. Ông đã từng bị giáng chức và đày ra khỏi triều đình hai lần, rất có thể vì không chịu làm quan theo lối tham nhũng và nịnh bợ.

Họ Lưu làm bài thơ Ô Y hạng này với mục tiêu gì? Các điển tích Chu Tước và Ô Y hạng nhắc đến hai gia tộc, Vương Ðạo (王) và Tạ An (謝安), thời Đông Tấn (tk4) được người dân biết đến như sang trọng và quyền thế không thua gì vua; nhưng đó là chuyện 4 thế kỷ trước. Tới thời họ Lưu thì khu phố Ô Y chỉ còn là nơi đầy hoa đồng cỏ dại và câu ‘tịch dương tà’ là hình tượng của sự tàn phế cuối thời đại. Ngày xưa chim én làm tổ dưới mái lầu các nhà Vương-Tạ nhưng bây giờ lầu các không còn nữa, và thay vì cảnh én liệng lầu không thì nhà thơ thấy én ra vào nhà thường dân. Én bắt mồi khi đang bay và chỉ làm tổ trên tường, dưới mái hiên ngoài nhà nên hình tượng ‘phi nhập bách tính gia” cho người đọc hiểu là nhà thường dân cũng không có người ở.

Lưu Vũ Tích là người thời Trung Đường nhưng bài thơ tả tình cảnh suy sụp của đất Hoa Lục thời Vãn Đường và có thể muốn nói rằng những người như Vương Đạo, Tạ An không còn nhập thế.

Huỳnh Kim Giám


Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

Hột Na Khúc Kỳ 1 紇那曲其一 - Lưu Vũ Tích (Trung Đường)Từ

 

Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Văn, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Nguyên tác   Dịch âm

紇那曲其一   Hột Na Khúc Kỳ 1

楊柳郁青青 "Dương liễu" uất thanh thanh,
竹枝無限情 "Trúc chi" vô hạn tình.
周郎一回顧 Chu lang nhất hồi cố,
所唱紇那聲 Sở xướng "Hột na" thanh.

Chú giải

楊柳 Dương-Liễu: Tức "Dương liễu chi", tên một khúc dân ca. Khục dân ca này rất cũ.
竹枝 Trúc-chi: Tức "Trúc chi từ", tên một khúc dân ca. Khúc dân ca này cũng rất cũ.
紇那 Hột-na: Tức Hột-na khúc, tên một khúc dân ca. Khúc dân ca này mới hơn hai khúc trên.
郁 uất: thơm tho, rực rỡ, lộng lẫy, ngào ngạt.
周郎 Chu lang*: Tức Chu Du, danh tướng Đông Ngô thời Tam Quốc, đã đánh thắng Tào Tháo trong trận Xích Bích. Ông rất thạo âm nhạc; mỗi khi một nhạc công tấu sai một nốt nhạc thì ông ngoảnh mặt lại nhìn họ. Điển này rất thông dụng từ thời Tam-Quốc và sau này được dùng rất biến báo tùy trường hợp; thí dụ có trường hợp một nữ nhạc công muốn khách chú ý đến mình thì cố tình gảy sai một nốt để khách ngoảnh mặt nhìn mình.
回顧 hồi cố: ngoảnh mặt lại. Dùng điển của Chu Lang (nói ở trên) ám chỉ người điều khiển chương trình ra hiệu đổi bài.
唱 xướng: hát trước để cho người ta hát theo gọi là xướng.
所 Sở: (danh từ) Nơi chốn, xứ sở. (đại danh từ) Chỉ người làm chủ sự gì, vật gì. Trong bài này ám chỉ người điều khiển chương trình hòa nhạc.
回顧 hồi cố: ngoảnh mặt lại.

Dịch nghĩa

Hột Na Khúc Kỳ 1

Bài ca “Dương liễu" xanh xanh thơm lừng,
Bài ca “Trúc chi" cũng vô cùng tình tứ.
Chu Lang ngoảnh mặt lại, (Lấy điển của Chu Du ám chỉ rằng người điều khiển chương trình ra hiệu muốn đổi bài khác)
Sẽ được chuyển sang điệu mới "Hột na".
(“Dương liễu” và “Trúc chi” là hai khúc dân ca cũ. “Hột-na” là một khúc dân ca mới).

Năm 805, đang làm đồn điền viên ngoại trong triều, tác giả có lỗi bị biếm ra làm tư mã Lãng Châu (nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hà Nam) gần 10 năm mới được triệu hồi kinh. Trong thời gian này, ông đã lợi dụng nhàn rỗi, nghiên cứu các điệu khúc và ca khúc dân gian nhuần nhuyễn. Ông đã phổ thơ Đường vào các điệu khúc và ca khúc dân gian và để lại nhiều bài từ theo các điệu "Hột na khúc", "Dương liễu chi" và "Trúc chi từ".

Dịch từ

Hột Na Khúc Kỳ 1

“Dương liễu” ngạt ngào xanh,
“Trúc chi” vô hạn tình.
Chu Lang* một ngoảnh mặt,
“Hột Na” đổi âm thanh.

Lời bàn của Con Cò

Lưu Vũ Tích dùng điển Chu Lang* trong bài này không sáng sủa nên rất khó hiểu (xin đọc kỹ điển Chu Lang*): Con Cò tóm tắt toàn bài như sau:

- Câu 1: Thoạt đầu chơi bài “Dương liễu chi” thật là ngào ngạt xanh,
- Câu 2: Rồi chuyển sang bài “Trúc chi từ” rất tình tứ.
- Câu 3: Bỗng Chu lang* (ám chỉ người điều khiển chương trình) ra hiệu đổi bài,
- Câu 4: Thì khúc “Hột Na” được chơi để kết thúc buổi hòa tấu.

Con Cò dịch hai câu 3 & 4 đại ý nói rằng tác giả dùng điển Chu Lang* để ám chỉ người điều khiển chương trình lúc này ra hiệu cho ban nhạc đổi sang khúc “Hột Na”.
(Ngũ ngôn tứ tuyệt rất súc tích & cô đọng: điển tích dùng trong thể thơ này rất khó khăn; muốn hiểu cách dùng điển trong ngũ ngôn tứ tuyệt thì nên đọc thơ của Lý Bạch và Lý Thương Ẩn và nên đọc cách giải thích về điển của Chu Hy)

Con Cò
***
Hột Na Khúc Kỳ 1

"Dương liễu" biếc hương bay,
"Trúc chi" tình tự dài.
Chu Lang một ngoảnh mặt,
Khúc "Hột Na" đàn sai.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Jun. 28/2022.
***
Góp ý:

Kỳ này ÔC chọn một bài thật lạ, BS chưa đọc bao giờ, lạ vì đọc hai chữ hột na thì giật mình tưởng là tiếng Việt!!!

Thật ra bài này chẳng có gì đặc sắc, nhưng là dịp để ta thấy sự cẩu thả của Thi Viện, vì họ giảng chữ uất trong câu đầu là thơm lừng, và hồi cố là trở lại. Uất là sum xuê, rậm rạp, uất ức, buồn bã, không phải thơm, và hồi cố là quay đầu lại (nhất cố khuynh nhân thành, thơ của Lý Diên Niên)

BS không những biết điển Chu Lang Hồi Cố, mà còn biết cả bài Minh Tranh của Lý Đoan, có 2 câu chót giải thích điển tích đó như ÔC giải thích:

Dục đắc Chu Lang cố,
Thời thời ngộ phất huyền.

Hột Na Khúc Kỳ 1

Dương liễu rậm xanh xanh,
Trúc Chi chan chứa tình,
Khi Chu Lang quay mặt,
Sẽ nghe Hột Na thanh.

Bát Sách
(Ngày 29 tháng 06 năm 2022)

@ Phí Minh Tâm xác nhận:

Anh Bát Sách,

Anh nói đúng Lý Đoan mới là người đầu tiên xài điển tích Chu Lang cố trong bài Thính/Minh Tranh. Hai thi nhân khác, không mấy có tên tuổi, có xài điển tích này là Lưu Canh trong bài Hòa Chủ Tư Vương Khởi 和主司王起 và Pháp Tuyên trong bài Hòa Triêu Vương Quan Kỹ 和趙王觀妓.

Lý Đoan chết khá lâu Lưu Vũ Tích mới bắt đầu làm thơ và viết từ. (Phí Minh Tâm)
***
Hột Na Khúc Kỳ 1

“Dương liễu” tốt xanh xanh
“Trúc chi” vô hạn tình
Chu lang quay đầu hướng
Nơi xướng “Hột Na” thanh!

Tốt tươi Dương Liễu xanh xanh
Trúc chi từ khúc long lanh tình người
Chu lang quay mặt về nơi
Hột na ngâm khúc một thời xướng sai!

Lộc Bắc
***
Nguyên tác: Phiên âm:

紇那曲其一-劉禹錫 Hột Na Khúc Kỳ 1 – Lưu Vũ Tích

楊柳郁青青 Dương liễu uất thanh thanh
竹枝無限情 Trúc chi vô hạn tình
周郎一回顧 Chu lang nhất hối cố
所唱紇那聲 Sở xướng hột na thanh

Sách có mộc bản bài thơ/từ:

Lưu Tân Khách Văn Tập - Đường - Lưu Vũ Tích 劉賓客文集-唐-劉禹錫
Nhạc Phủ Thi Tập - Tống - Quách Mậu Thiến 樂府詩集-宋-郭茂倩
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Hột Na khúc: các khúc ca dân gian; sau đó trở thành từ khúc, một điệu, hai mươi chữ, bốn câu, và ba vần bằng (xem thêm bên dưới).

Hột Na: các hình thức ca múa nhạc truyền thống của nhiều dân tộc, có đặc điểm chung là tính tập thể, người tham gia đứng thành vòng tròn hoặc sắp xếp thành hàng, nắm tay hoặc vịn vai nhau, động tác thân không nhiều, chủ yếu là động tác chân, vừa hát vừa nhảy, chân đạp đất làm nhịp điệu (do đó có tên đạp ca).
Uất: đẹp đẽ, tươi tốt, sum sê, sầm uất
Chu Lang cố: Chu Lang ngoảnh đầu; điển cố miêu tả tâm tình của người đàn - cố tình gảy sai để được chú ý. Chu Lang là Chu Du, tướng nước Ngô thời Tam Quốc, 24 tuổi đã làm Đô Đốc thống lĩnh toàn quân đội nước Ngô. Chu Lang tinh thông âm nhạc, khi nghe đàn sai chỗ nào, cho dù đang say, cũng sẽ quay đầu nhìn người đàn. Do đó có câu nói: Khúc hữu ngộ, Chu Lang cố 曲有误,周郎顾.

Lý Đoan là người đầu tiên xài điển tích Chu Lang cố trong bài Thính Tranh. Hai thi nhân khác, không mấy có tên tuổi, có xài điển tích này là Lưu Canh trong bài Hòa Chủ Tư Vương Khởi 和主司王起 và Pháp Tuyên trong bài Hòa Triêu Vương Quan Kỹ 和趙王觀妓. Lý Đoan chết khá lâu Lưu Vũ Tích mới bắt đầu làm thơ và viết từ.

Dịch nghĩa:

Hột Na Khúc Kỳ 1                Khúc Đạp Ca

Dương liễu uất thanh thanh    Dương liễu xanh xanh tốt tươi,
Trúc chi vô hạn tình               Cành trúc dễ thương vô cùng.
Chu lang nhất hối cố              Nếu Chu Lang có chiếu cố,
Sở xướng hột na thanh           Chắc ộng sẽ khởi xướng khúc Hột Na.

Dịch thơ:
Khúc Đạp Ca

Dương liễu đẹp tươi xanh,
Trúc tình cả ngọn cành.
Chu Lang nếu có mặt,
Sẽ xướng khúc ca thanh.

He Na Folk Song by Liu Yu Xi

The green willow is beautiful
While the bamboo is extremely lovely.
If Zhou Lang were present,
He would start the He Na song.

Thơ và Từ:

Bị biếm làm Tư Mã Lãng Châu (nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hà Nam), Lưu Vũ Tích đã để 10 năm nghiên cứu các ca khúc dân gian và phổ nhiều bài thơ vào từ khúc trong đó có các bài từ được nêu trong bài này: Hột na khúc, Dương liễu chi, Trúc chi từ…

Bản bên dưới đối chiếu yêu cầu của luật thi và từ phổ. Luật thi khắt khe hơn từ phổ nếu không áp dụng biệt lệ nhất tam bất luận cho bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt. Khi áp dụng biệt lệ từ phổ trở nên khắt khe hơn. Thanh trắc của chữ 1 trong câu 4 đúng cho bài thơ tứ tuyệt, nhưng chưa đạt được yêu cầu của từ phổ.


Phí minh Tâm
***
Âm Giai Hát Xướng

Khúc ca "Dương liễu" thanh tao,
Thơm lừng xanh biếc, dạt dào bên tai.
"Trúc Chi", điệu nhạc trang đài,
Vô cùng tình tứ - ngân dài tiếng vang.
Chu lang để ý giọng đàn,
Ngâm nga âm vực, dịu dàng "Hột Na".

Khánh-Hưng
***
Hột Na Khúc Kỳ 1

Dương liễu mơn non xanh
Trúc chi biêng biếc tình
Chàng Chu vừa xoay mặt
Vang khúc Hột Na thanh

Lục Bát

Liễu xanh, dương biếc tươi cành
Trúc thanh yểu điệu khua nhành đong đưa
Chu lang ngoảnh mặt… chào thua
Tiếng đàn Na Khúc như thừa… một âm

Kiều Mộng Hà
June22th2023
***
Góp ý:

Cũng tựa như kỳ 1 của 授經臺=Thụ Kinh Đài, nếu không thấy kỳ 2 của 紇那 曲=Hột Na khúc thì người đọc không hiểu gì cả!

周郎一回顧=Chu Lang nhất hồi cố không có nghĩa là Chu Du ngoảnh mặt lại mà có nghĩa là (chính) Chu Du cũng phải để ý. Điển cố trích từ Chu Du truyện của Tam Quốc Chí với câu 瑜少精意于音乐虽三爵(酒器) 之后其有阙 (缺)误,瑜必知之,知之必顾, 故时人谣曰:曲有误,周郎顾。 Du thiểu tinh ý vu âm , tuy tam tước (tửu khí) chi hậu kỳ hữu khuyết (khuyết) ngộ, Du tất tri chi, tri chi tất cố, cố thì nhân dao viết: khúc hữu ngộ, Chu Lang cố.[Từ thuở nhỏ Du đã hiểu âm nhạc, và sau ba chén rượu, nếu có chỗ thiếu Du (cũng biết) liền, biết thì để ý, vì thế người đồng thời có ca dao: nhạc có chỗ sai, Chu Lang để ý.] Về sau các thi nhân dùng điển cố này để nói muốn làm Chu Du để ý thì cố ý đàn sai, hay nếu đàn đúng thì không sợ Chu Du để ý.

Hột na khúc xuất hiện từ đời Đường nên không có lý do gì liên hệ đến hay do Chu Du sáng tác cả. Theo Đường Âm Quý Thiêm của Hồ Chấn Hanh, 崔成甫= Thôi Thành Phủ (tk 8, bạn của Lý Bạch) dịch Đắc Thể Ca trong đó có câu “得體紇那 也,紇囊得體那”=đắc thể hột na dã, hột nang đắc thể na, và đó là nguồn gốc của hai từ 紇那=hột na. Bài Hột Na Khúc kỳ 2 cho ta biết là Lưu Vũ Tích làm bài khúc này để khen (hay chê?) một nhạc sĩ nào đó bằng cách so sánh nó với những điệu nhạc nổi tiếng khác.

Điều lạ về hai bài khúc là thế này: nếu điển cố bảo Chu Du chỉ để ý nếu có gì sai trong bài hát thì bài Hột Na của người nào đó đúng hay sai?!

Huỳnh Kim Giám



Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

Tuế Vãn Vịnh Hoài 歲夜詠懷 - Lưu Vũ Tích

 

歲夜詠懷

彌年不得意,
新歲又如何。
念昔同遊者,
而今有幾多。
以閒為自在,
將壽補蹉跎。
春色無新故,
幽居亦見過。

Tuế Vãn Vịnh Hoài

Di niên bất đắc ý
Tân tuế hựu như hà
Niệm tích đồng du giả
Nhi kim hữu kỷ đa
Dĩ nhàn vi tự tại
Tượng thọ bổ tha đà
Xuân sắc vô tân cổ
U cư diệc kiến qua

Lưu Vũ Tích
***
Bài Dịch:
Cảm Nghĩ Cuối Năm

Năm rồi không toại ý
Năm mới rồi ra sao
Nhớ nhóm bạn ngày trước
Không biết giờ thế nào
Lấy nhàn mà vui sống
Lần lữa tháng ngày qua
Xuân sắc không cũ mới
Bóng hình xưa nhạt nhòa

Phạm Khắc Trí
***
Bài Cảm Tác:

Nhân vào đầu năm, đọc “Cảm nghĩ cuối năm” của bác Phạm Khắc Trí, ngẫm nghĩ cái bất đắc ý của đời người là do đâu: Mình bất tài hay do định mệnh? Cảm khái làm một bài thơ tặng bác. Mời đọc:

Mình Là Ai?

Mỗi con người, một kiếp nhân sinh.
Giầu có, nghèo hèn, tuỳ cảnh tình.
Số mệnh ai bày? Ôi đáng sợ!
Cuộc đời nó khiến, Quả là kinh!
Phải chăng kiếp trước gieo nhân quả,
Mà khéo đời nay hưởng thiện vinh?
Câu chuyện luân hồi, ta nghĩ mãi:
Mình Là Ai ? Trong cõi muôn hình.

Danh Hữu
Paris, 29.01.2023
***
Kính Thầy Phạm Khắc Trí ,Thầy Danh Hữu cùng quý thi hữu của Vườn Thơ Thẩn đáng yêu của tôi
Song Quang đọc qua bài thơ của 2 Thầy Phạm Khắc Trí &Danh Hữu nên cũng có một vài ý thô thiền “ Cảm nghĩ đầu năm “gởi đến Vườn Thơ Thẩn  xem chơi mấy ngày đầu năm cho vui
Thơ cảm nghĩ đầu năm của Song Quang có mượn vài vận và ý của thơ thầy Phạm Khắc Trí qua thể thơ tự do.Đây chỉ là cảm nghĩ riêng tư của SQ không có một ý gì khác mong thông cảm

Cảm Nghĩ Đầu Năm

Nhớ làm chi chuyện gì năm cũ ?!
Khiến buồn lòng ủ rũ việc ngày qua
Ta ngày nay tuổi cũng đã già
Giữ thanh thản vui lên mà sống

Sao lần lựa tháng ngày trông ngóng ?
Chờ đợi gì khi Xuân sắc trôi qua !
Kỷ niệm xưa trí óc đã nhạt nhoà
Cứ nuối tiếc khiến cõi lòng sầu khổ !

Không danh lợi thì chẳng cần toại ý
Bên gia đình hoan hỉ với cháu con
Mảnh quê hương giữ vẹn tấm lòng son
Thờ chính nghĩa sống trong hồn dân tộc

Vài cảm nghĩ đầu năm xin làm gốc
Sống nhân từ ,bác ái lẫn vị tha
Chữ “nhẩn “ kia đạo lý của ông bà
Xin sống nốt trong cõi đời còn lại

songquang
20230130

Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2021

Lưu Vũ Tích Và Huyền Đô Quán

 

Dưới thời Đường Thuận Tông, Lưu Vũ Tích cùng với Liễu Tông Nguyên giúp Vương Thúc Văn chấp chính, có đề ra một số biện pháp đổi mới. Chính sách canh tân bị nhiều người chống đôi. Không lâu sau, Thuận Tông mất, Đường Hiếu Tông lên ngôi, các quan lại trong triều và thái giám gièm pha, nên truyền chiếu, giáng chức Vương Thúc Văn và 8 vị quan, trong đó có ông và Liễu Tông Nguyên. Tất cả bị đưa đi làm Tư Mã nơi xa. Riêng ông bị đưa đi làm Tư mã Lãng Châu (nay là Thường Đức, tỉnh Hồ Nam), bấy giờ ông 33 tuổi. Lần chuyển này kéo dài 10 năm, do Ông và Liễu Tông Nguyên là người có tài, nên cùng được triệu về Kinh làm quan tại triều. Trở lại Trường An, thấy đào nơi Huyền Đô quán vẫn khoe sắc rực rỡ, Ông liền viết bài thơ với ngụ ý mỉa mai:

玄都觀桃花          Huyền Đô Quán Đào Hoa

紫陌紅塵拂面來   Tử mạch hồng trần phất diện lai
無人不道看花迴    Vô nhân bất đạo khán hoa hồi
玄都觀裡桃千樹    Huyền Đô quán lý đào thiên thụ
盡是劉郎去後栽。Tận thị Lưu lang khứ hậu tài.

劉禹錫                    Lưu Vũ Tích  
***
Dịch nghĩa : Hoa Đào ở quán đạo Huyền Đô

Con đường tím bụi hồng như quét trên mặt
Mọi người đều nói vừa đi ngắm hoa đào mới về
Đường đi nơi quán đạo Huyền Đô có hàng ngàn cội Đào
Tất cả đều được trồng sau khi chàng Lưu đã ra đi.

Dịch Thơ:

1/
Đường tím mặt đang phủ bụi hồng
Người người đều mới thưởng hoa xong
Đường Huyền Đô quán đào nghìn gốc
Tự thuở chàng Lưu vắng mới trồng.

2/
Lời gièm che lấp nẻo công danh
Xu nịnh a dua khéo giựt giành
Mới được thăng quan từ cái thuở
Lưu ta bị biếm khỏi kinh thành.

Quên Đi

Vốn là nhà thơ rất nổi tiếng đương thời, nên bài Thơ Huyền Đô Quáng Đào Hoa được mọi người truyền cho nhau thưởng thức. Một số quan trong triều cho bài thơ tuy nói về hoa đào, ngụ ý mỉa mai họ:
- Câu 1: Đường công danh bị bụi trần che lấp
- Câu 2: Những người xem hoa đều là kẻ xu nịnh, theo đóm ăn tàn.
- Câu 3: Những gốc đào tượng trưng cho những quan lại nhờ vào thời thế mà được trọng dụng.
- Câu 4: Khi chàng Lưu (Lưu Vũ Tích) đi rồi, các người này mới được thăng quan tiến chức.

Vì thế họ cùng tấu lên vua, và lần nữa Ông bị biếm đi làm Thứ Sử Liễu Châu nay là huyện Liên, Quảng Đông.
Sau 14 năm bị đổi nhiều nơi, khi Bùi Độ lên làm Tể tướng, Ông được trở lại Trường An. Lúc này trời vào độ cuối Xuân, Ông nhớ tới những cây đào nơi Huyền Đô Quán, đến nơi mới biết vị Đạo sĩ trồng đào đã mất, những cây đào không người chăm sóc, cây thì khô héo, cây thì gãy đổ. Khắp nơi mọc đầy hoa cỏ dại, không còn cảnh hoa đào rực rỡ thuở nao. Nhớ tới bọn quyền thần từng hãm hại, lòng đầy cảm xúc, ông viết bài thơ thứ hai về Huyền Đô Quán với đầy tự hào:

再遊玄都觀          Tái Du Huyền Đô Quán

百畝庭中半是苔   Bách mẫu đình trung bán thị đài
桃花淨盡菜花開   Đào hoa tịnh tận thái hoa khai
種桃道士歸何處   Chủng đào đạo sĩ quy hà xứ
前度劉郎今又來   Tiền độ Lưu lang kim hựu lai.

劉禹錫                   Lưu Vũ Tích 
***
Dịch nghĩa:

Hằng trăm mẫu đất trong sân một nửa đã phủ đầy rêu
Hoa đào đã hoàn toàn mất hết chỉ có hoa rau đang nở
Không biết đạo sĩ trồng hoa đào đã đi về nơi đâu
Chàng Lưu của thuở nào nay lại đến đây.

Dịch Thơ:

1/
Năm mươi mẫu đất phủ rêu đầy
Chẳng thấy đào đâu chỉ cỏ vây
Đạo sĩ trồng hoa đà vắng bóng
Chàng Lưu thuở trước trở về đây.

2/
Một nửa triều ca lũ nịnh quan
Điều hay lẽ thiệt sắp suy tàn
Người bày chính sự còn đâu nữa
Lưu Tích về đây tiếp dựng dàn.

Quên Đi
***
1/ Huyền Đô Quán

Tím cả đường đi bụi phủ đầy
Thưởng hoa người ngắm mới về đây
Đường Huyền Đô quán đào ngàn gốc
Trồng lúc chàng Lưu khuất chốn nầy

2/ Tái Du Huyền Đô Quán

Nửa trăm mẫu đất rêu xanh phủ
Chẳng thấy đào đâu cỏ tứ bề
Đạo sĩ trồng hoa nay vắng bóng
Chàng Lưu ngày trước lại quay về

Kim Phượng
***
1 /Huyền Đô Quán Đào Hoa

Đường tím mịt mù lớp bụi hồng
Bao người ngắm bảo thưởng hoa xong
Huyền Đô quán mọc đào nghìn gốc
Từ lúc chàng Lưu khuất đã trồng.

2/ Tái Du Huyền Đô Quán

Nửa trăm mẫu đất rêu dầy
Hoa đào tàn rụi chỉ đầy cỏ rau
Đạo sĩ trồng đào nay đâu
Chàng Lưu thuở trước đã lâu mới về.

Kim Oanh
***
1/ Hoa Đào Quán Huyền Đô

Đất đỏ bụi bay rát mặt người
Ai ai cũng nói viếng hoa rồi
Huyền Đô ngàn gốc đào xuân rộ
Hết thảy trồng sau Lưu viếng trời!

2/ Lại Đến Chơi Huyền Đô Quán

Nửa sân trăm mẫu biếc rêu màu
Rụng hết hoa đào, nở cỏ rau
Đạo sĩ trồng đào đâu mất nhỉ?
Chàng Lưu thuở trước lại thăm chào!

Lộc Bắc
Nov21
***
Huyền Đô Quán Đào Hoa Lưu Vũ Tích.

紫陌②紅塵③拂面來 Tử mạch hồng trần phất diện lai,
無人不道④看花回。 Vô nhân bất đạo khán hoa hồi.
玄都觀裡桃千樹,      Huyền Đô Quán lý đào thiên thọ,
盡是劉郎⑤去後栽。 Tận thị Lưu Lang khứ hậu tài.

① 玄都觀:觀,音ㄍㄨㄢˋ,道院。玄都觀在長安。
Huyền Đô Quán : là Đạo Viện ở Trường An, nơi các đạo sĩ tu tiên.
② 紫陌:京師的道路。
Tử mạch: Đường ở Kinh Thành.
③ 紅塵:路上揚起的灰塵略帶紅色,故稱紅塵。
Hồng Trần: Bụi bên đường bốc lên hơi gợn đỏ, nên gọi là Hồng trần. Ở trên Trời nhìn xuống cũng thấy toàn bụi đỏ bốc lên, nên Hồng Trần còn có nghĩa là Cõi Dưới Thế Gian nầy.
④ 道:說。
Đạo: Động Từ : Có nghĩa là Nói.
⑤ 劉郎:即劉晨。傳說他和阮肇上天台山採藥,遇一仙女,結為夫妻。此處劉禹錫用以影射遭貶官的自己。
Lưu Lang : là Chàng Lưu, tức Lưu Thần, theo truyền thuyết cùng với Nguyễn Triệu lên Thiên Thai hái thuốc, gặp Tiên nữ, kết làm vợ chồng. Ở đây Lưư Vũ Tích dùng để ví mình vì cùng họ Lưu khi bị biếm quan.

Diễn Nôm:

Gió bụi kinh thành tỉnh giấc mê,
Ai ai cũng bảo ngắm hoa về.
Huyền Đô Quán ấy đào ngàn gốc,
Trồng lúc chàng Lưu trở lại quê.

Lục bát:

    Bụi hồng mát mặt tỉnh mê,
Người người đều ngắm hoa về kháo nhau,
    Huyền Đô Quán , ngót nghìn đào,
Đều trồng từ thuở chàng Lưu quay về.

再 游 玄 都 觀① Tái Du Huyền Đô Quán

百畝庭中半是苔②, Bách mẫu đình trung bán thị đài,
桃花淨盡菜花開。③ Đào hoa tịnh tận thái hoa khai.
種桃道士歸何處④, Chủng đào đạo sĩ quy hà xứ ?
前度劉郎今又來。     Tiền độ Lưu Lang kim hựu lai.

②百畝庭中:指玄都觀百畝大的觀園。苔:青苔。
Bách Mẫu Đình Trung : Sân vườn của Huyền Đô Quán rộng lớn đến cả trăm mẫu.
ĐÀI: là Rêu xanh.
③淨盡:淨,空無所有。 盡:完。
Tịnh tận: Tịnh, là sạch sẽ không còn gì cả.
Tận: là Hết.
Tịnh Tận: là Hết sạch.
④種桃道士:暗指當初打擊王叔文、貶斥劉禹錫的權貴們。
Chủng Đào Đạo Sĩ: Ám chỉ bọn quyền quý lúc đầu đã đả kích Vương Thúc Văn và biếm Lưu Vũ Tích.

Diễn Nôm:

Nửa vườn trăm mẫu đầy rêu phủ,
Đào đã tàn phai cải mọc đầy.
Đạo sĩ trồng đào đâu vắng bóng?
Chàng Lưu ngày trước lại về đây!

Lục bát:

     Trăm mẫu nửa phủ rêu xanh,
Đào hoa tàn hết, cải dành nở hoa.
     Trồng đào đạo sĩ đâu ta ?
Chàng Lưu ngày cũ lại qua chốn nầy!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2019

Tuế Dạ Vịnh Hoài - Lưu Vũ Tích 772-842



Tuế Dạ Vịnh Hoài 

Di niên bất đắc ý
Tân tuế hựu như hà
Niệm tích đồng du giả
Nhi kim hữu kỷ đa
Dĩ nhàn vi tự tại
Tương thọ bổ tha đà
Xuân sắc vô tân cố
U cư diệc kiến qua

(Lưu Vũ Tích 772-842)

***
Dịch Thơ:

Suốt năm không toại ý
Năm mới biết ra sao
Nhớ đám bạn ngày trước
Nay còn được mấy nào
Lấy nhàn mà sống vậy
Yên phận cảnh tào lao
Xuân mới rồi xuân cũ
Vướng chi còn xốn xao


Phạm Khắc Trí