Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Biền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Biền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Tái Thượng Ký Gia Huynh 塞上寄家兄 - Cao Biền

Cao Biền

Cao Biền 高駢 (821-887) tự Thiên Lý 千里, tướng đời Hậu Đường, cháu của Nam Bình đô vương Cao Sùng Văn (tướng cầm quân dưới triều vua Đường Hiến Tông Lý Thuần).

Đầu đời vua Ý Tông, Cao Biền trấn giữ biên cương chống sự xâm lược của giặc Thổ Phồn 吐蕃. Năm Cảm Thông thứ 7 (866), Cao Biền trấn giữ An Nam, làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ. Năm Càn Phù thứ 2 (875) đời Hy Tông, chuyển sang trấn giữ Tây Xuyên.

Nguyên tác Dịch âm

塞上寄家兄 Tái thượng ký gia huynh

棣萼分張信使希 Lệ ngạc phân trương tín sứ hy,
幾多鄉淚濕征衣 Kỷ đa hương lệ thấp chinh y.
笳聲未斷腸先斷 Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn,
萬里胡天鳥不飛 Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi.

Chú giải:

Lệ ngạc: Hoa cây đường lệ. Thơ "Đường lệ" trong phần Tiểu nhã của Kinh Thi, "Mao thi" nói là nhạc do Chu Công Đán sáng tác để yến ẩm với anh em, nên sau thi nhân dùng điển này nói về anh em.

Hồ: Từ chỉ chung các dân tộc thiểu số ở phương Bắc như Khang Cư, Đột Quyết, Hung Nô, Hồi Ngột... cũng đặc biệt chỉ Hung Nô. Hung Nô là tên một bộ tộc ở miền bắc, sống du mục, chúa của họ gọi là Thiền Vu (phiên âm theo tiếng Mông Cổ). Từ Hán, Đường trở về sau, Hung Nô mới trở thành ngoại hoạn (hoạn bên ngoài) lớn nhất của Trung Quốc.

Dịch nghĩa

Ngoài ải gửi anh trai

Anh em mình cách xa nhau, tin tức vắng
Bao nhiêu nước mắt nhớ quê làm ướt áo trận
Tiếng kèn hồ chưa dứt hồn đã đứt
Trời Hồ muôn dặm không có bóng chim bay

Dịch thơ

Ngoài Ải Gửi Anh Trai.

Cách biệt anh em đã bấy chầy
Nhớ quê áo trận lệ rơi đầy
Khèn Hồ chưa dứt lòng đã đứt
Vạn dặm trời Hồ vắng chim bay

Con Cò
Ít khi thấy một võ tướng đa cảm như Cao Biền
***
Ngoài Ải Gửi Anh Trai.

Anh em cách biệt đã lâu ngày,
Áo trận nhớ quê thấm lệ hoài.
Chưa đứt tiếng kèn hồn đã dứt,
Trời hồ vạn dặm én không bay.

Mỹ Ngọc.
Jun. 13/2026.
***
Biên Ải Gửi Anh Trai

Anh em cách biệt chẳng thơ chi
Mắt lệ thương quê đẫm chiến y
Kèn ải chưa ngưng lòng đã đứt
Trời Hồ muôn dặm vắng chim di

Lộc Bắc
Jun26
***
Góp ý:

Như anh Tâm và anh Giám đã nói, Cao Biền không có anh theo sử sách. Cao có người anh kết nghĩa là Chu Bảo, và hai người cháu là Cao Kiệt và Cao Tầm. Tầm nổi tiếng hơn, nên khi được về triều, Cao Biền đã tiến cử Tầm làm Tiết Độ Sứ Tĩnh Hải Quân thay mình và được triều đình chấp thuận.

Trong loạn Hoàng Sào, vì Cao chần chừ không chịu đánh giặc nên bị tướng nhà Đường là Chu Ngạn giết chết ở Dương Châu, vậy chuyện mả Cao Biền ở Việt Nam chỉ là truyền thuyết.

Tựa bài thơ là ký gia huynh, mà Cao không có anh nên mình thắc mắc là gửi cho ai.
Bài thơ ngắn, không có chữ khó, trừ chữ Lệ Ngạc thì Thi Viện đã giảng rồi.

Tâm sự của một chinh nhân trấn thủ nơi biên tái nghe cũng thảm lắm, làm Bát Sách nhớ tới lính VNCH, ngày xưa, trấn giữ nơi tiền đồn hẻo lánh, đau khổ không kém, nhưng Việt Nam, trong rừng, còn có chim ca hót…

TRÊN QUAN ẢI, GỬI ANH TRAI.

Anh em xa cách, ít được tin,
Áo chiến bao lần nước mắt in,
Tiếng kèn chưa dứt đà đứt ruột,
Vạn dặm trời Hồ không bóng chim.

Bát Sách.
(Ngày 25/06/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

塞上寄家兄-高駢 Tái Thượng Ký Gia Huynh - Cao Biền

棣萼分張信使希 Lệ ngạc phân trương tín sứ hy
幾多鄉淚濕征衣 Kỷ đa hương lệ thấp chinh y
笳聲未斷腸先斷 Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn
萬里胡天鳥不飛 Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi

Bài thơ có đăng trong sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 万首唐人绝句-宋-洪迈
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa chữ khó:

Tái thượng: Nơi biên cương, vùng biên giới xa xôi phía Bắc.
Lệ ngạc: Hoa thường/đường lệ và đài hoa. Trong văn học Trung Hoa, cụm từ này là điển tích tượng trưng cho tình anh em ruột thịt thắm thiết. Điển tích này bắt nguồn từ Kinh Thi trong bài thơ Thường lệ (常棣) phần Tiểu Nhã. Bài thơ này ca ngợi tình anh em ruột thịt với những câu mở đầu:

Thường lệ chi hoa, ngạc bất vi vi? Phàm kim chi nhân, mạc như huynh đệ. (Hoa thường lệ xum xuê, đài hoa không rực rỡ nâng đỡ hoa sao? Lòng người ngày nay, chẳng ai bằng anh em). Từ hình ảnh hoa và đài hoa thường lệ, người đời sau đã đúc kết thành điển tích Lệ ngạc để nói về tình anh em.

Lệ ngạc phân trương: Hoa và đài hoa bị xé rách, lìa nhau. Đây là một hình ảnh ẩn dụ đau khổ. Anh em ruột thịt vốn cùng một gốc sinh ra, nay người ở quê nhà, người nơi biên ải xa xôi, giống như một bông hoa bị tước đi đài hoa của nó, trái với quy luật tự nhiên.

Tín sứ: Người đưa thư, sứ giả chuyển tin tức.
Chinh y: Áo mặc khi đi chinh chiến, áo lính.
Già/Hồ già: Một loại kèn của các dân tộc phương Bắc ngày xưa, âm thanh trầm buồn, thường gợi nỗi nhớ nhà.

Hồ: Vào thời cổ đại, người Trung Nguyên (Hoa Hạ) dùng từ "Hồ" để chỉ chung các dân tộc thiểu số, du mục sinh sống ở vùng biên cương phía Bắc và phía Tây Bắc Trung Hoa (như người Hung Nô, Đột Quyết, Khiết Đan...). Cách gọi này mang tính phân biệt chủng tộc của người Hán đối với các tộc người ngoại bang. Khi đi vào thơ ca, đặc biệt là Thơ Biên Tái, viết về vùng biên cương, chiến trận như bài thơ này của Cao Biền, từ "Hồ" được dùng như một tính từ hoặc danh từ để chỉ tất cả những gì thuộc về hay đến từ vùng đất hoang vu, lạnh giá, xa xôi này như: Hồ mã 胡馬, Hồ cầm 胡琴, Hồ tiêu 胡椒, Hồ đào 胡桃, Hồ sàng 胡床 …

Hồ thiên: Bầu trời vùng đất Hồ (vùng biên cương phía Bắc, nơi các dân tộc thiểu số sinh sống).

Dịch nghĩa:

Tái Thượng Ký Gia Huynh Gởi Anh Trai Từ Biên Ải

Lệ ngạc phân trương tín sứ hy
Anh em chia cách, tin tức hiếm hoi
Kỷ đa hương lệ thấp chinh y
Biết bao giọt lệ quê hương đã thấm đẫm chiếc áo chinh chiến
Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn
Tiếng kèn Hồ chưa dứt mà khúc ruột đã đứt trước
Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi
Dưới bầu trời đất Hồ muôn dặm, đến chim muông cũng không buồn bay

Bình luận:

Bài thơ là một kiệt tác thơ biên tái, thể hiện sâu sắc nỗi lòng nhớ thương quê hương và gia đình của người lính nơi biên thùy xa xôi. Một bức tranh nghệ thuật tuyệt đẹp nhưng đượm buồn, kết hợp hài hòa giữa tình cảm cá nhân, nỗi nhớ nhà và không gian biên giới hùng vĩ, khắc nghiệt.

Cao Biền không dùng ngôn từ mạnh bạo của một vị tướng, mà dùng tiếng lòng của một người em, một người con ly hương. Nỗi đau trong thơ gia tăng theo từng câu: từ cái "hiếm hoi" của tin tức, đến cái "ướt đẫm" của chinh y, và cao điểm là tiếng kèn làm "đứt ruột". Câu cuối cùng Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi là một nét vẽ xuất thần. Không gian mở ra vô tận nhưng lại đóng băng mọi sự sống. Đến cánh chim, biểu tượng của tự do, cũng không thể bay nổi dưới bầu trời ấy, càng tôn lên nỗi cô đơn của con người trước thiên nhiên vùng biên ải.

Dịch thơ:

Gởi Từ Biên Ải

Thể thất ngôn:

Anh em ly tán nhận tin thưa,
Lệ đẫm chiến bào tợ gió mưa.
Tiếng địch chưa ngưng lòng đã đứt,
Dưới trời rộng lớn cánh chim thưa.

Thể lục bát:

Anh em xa cách lâu ngày,
Bặt tin buồn nhớ lệ đầy y trang.
Kèn chưa dứt, lòng nát tan,
Trời Hồ muôn dặm chẳng màng chim bay.

Sending a Poem to My Brother from the Frontier by Gao Pian

Separated like flower and calyx, letters from home are rare,
Countless tears for my homeland have soaked my battle coat.
Before the mournful sound of the nomad flute even fades, my heart breaks,
Across ten thousand miles of the northern sky, not a single bird flies.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Cao Biền sinh năm 821 và sử liệu không nói ông ta có anh em gì chăng, nhưng thời đang còn làm tướng lãnh của Thần Sách Quân - một loại cấm quân được thành lập để chống lại người Thổ Phồn - ông quen thân Chu Bảo (周寶, sinh năm 814) và hai người kết nghĩa huynh đệ. Về sau Chu thay Cao làm tiết độ sứ ở vùng Thanh Hải, Cam Túc ngày nay. Vùng này là cứ địa của người Đảng Hạng (党項) và sự nghiệp của Cao bắt đầu trỗi dậy khi ông ta thành công trong việc trấn áp người Đảng Hạng trong năm đầu (859) thời Đường Ý Tông rồi được phái xuống La Thành năm sau để chống việc xâm lăng của Nam Chiếu. Tình bạn giữa Cao và Chu sứt mẻ dần về sau vì tranh giành quyền lực rồi hai người ra mặt tranh chấp nhau để rồi cuối cùng chết cách nhau một năm (887-888).

Nếu gia huynh (家兄) trong tựa đề bài thơ là Chu Bảo thì sự đời nghĩa cũng ... buồn! Họ Cao khóc vì nhớ bạn hay vì buồn thân phận ở xứ Hồ lúc đã gẩn 40 tuổi. Phải chăng đây là một bài thơ nữa thổ lộ việc muốn có cơ hội tiến thân ở triều đình?
棣萼 Lệ ngạc

Ngạc là đài hoa; lệ là tên tắt của lệ đường hoa (棣棠花-Kerria japonica). Đây là một loài hoa hồng màu vàng ở Đông Á, trông tựa như vạn thọ, nhưng không có ở Việt Nam và không thấy liệt kê trong sách Phạm Hoàng Hộ, có thể vì loài hoa kép không kết quả. Mặc dù người Tàu có thành ngữ "lệ ngạc" để chỉ tình huỵnh đệ [đài hoa nâng đỡ cánh hoa] (xuất phát từ Kinh Thi và Tấn thư) hoa này được trang ヤマブキ - ja.Wikipedia nói đến hoa này nhiều hơn


笳聲 già thanh
Già thanh là tiếng (kèn) Hồ già (胡笳). Già là một loại kèn của người Mông Cổ dùng hai lưỡi gà, không có lỗ như tiêu.

- Trả lời về Hồ già :

Không ai biết rõ hồ già thời Đường-Tống ra sao cả vì các sách về nhạc cụ chỉ nói nó trông tựa loại kèn nào đó. Hồ già đầu tiên là loại sáo làm bằng cách cuốn tròn lá cây sậy thành một cái ống; lá sậy có thể dài tới 6o cm và rộng 6 cm. Thời còn bé tôi không biết đến hồ già nhưng đã từng cuốn lá làm sáo/kèn. Và dĩ nhiên không thể xoi lỗ trên loại kèn này. Wiktionary dịch 笳 thành reed-leaf whistle, sáo lá lau.

Trần Dương (陈旸 thời Tống), tác giả bộ Nhạc Thư (乐书, 200 cuốn!) viết rằng hồ già có thể (khả năng-可能) trông giống (kèn) tất lật (觱篥) và nói tất lật là một loại hồ già làm bằng ống trúc với lá sậy ở đầu, có 9 lỗ. nhưng hồ già không có lỗ và người đời sau dùng trong diễn binh của cấm quân

陈旸《乐书》說胡笳可能和觱篥很像:“觱篥,一名悲篥,一名笳管...竹为管,以芦为首,状类胡笳而九窍”、“胡笳,似觱篥而无孔,后世卤簿用之” Trần Dương《Nhạc Thư》 thuyết hồ già khả năng hòa tất lật ngận tượng:“ tất lật, nhất danh bi lật, nhất danh già quản... trúc vi quản, dĩ lô vi thủ, trạng loại hồ già nhi cửu khiếu”. “Hồ già, tự tất lật nhi vô khổng, hậu thế lỗ bộ dụng chi." [trích từ zh.Wikipedia]

Rất có thể rằng trong ngữ nguyên già là tên của bộ phận lưỡi gà làm bằng lá sậy.

Huỳnh Kim Giám
***
@ Phí minh Tâm bổ túc thêm về anh em của Cao Biền:

Không thấy có tài liệu lịch sử nào nói đến người anh trai của Cao Biền. Như thế ta phải hiểu hai chữ gia huynh trong tựa bài thơ như thế nào? Có thể có 3 cách hiểu khác nhau phù hợp với lịch sử và văn học.

1-Cao Biền thật sự có một người anh không có chức phận trong quan trường nên không được lịch sử nhắc đến.
2- Một người anh em họ trong gia tộc quan quyền Bột Hải Cao Chi 渤海高 氏. Họ thường gọi nhau là gia huynh trong thư từ và thơ ca.

3- Hiểu theo biểu tượng văn chương thuần túy, nhất là trong thơ ca biên tái, các thi sĩ/tướng lĩnh thường mượn hình tượng người thân (vợ, anh em, mẹ già…) ở quê nhà để làm chỗ dựa tinh thần và bộc lộ khía cạnh mềm yếu trong tâm hồn mình. Bằng cách đề tựa gửi cho gia huynh, Cao Biền muốn nhấn mạnh rằng: Bỏ chiếc áo giáp của một vị tướng oai phong lẫm liệt nơi trận mạc, ông là một người cô đơn và khát khao hơi ấm gia đình khi đang ở giữa vùng biên thùy lạnh giá.

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2025

Khuê Oán - Cao Biền 閨怨 高駢

  


Cao Biền 高駢 (821-887) tự Thiên Lý 千里, tướng đời Hậu Đường, cháu của Nam Bình đô vương Cao Sùng Văn (tướng cầm quân dưới triều vua Đường Hiến Tông Lý Thuần).

Đầu đời vua Ý Tông, Cao Biền trấn giữ biên cương chống sự xâm lược của giặc Thổ Phồn 吐蕃. Năm Cảm Thông thứ 7 (866), Cao Biền trấn giữ An Nam, làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ. Năm Càn Phù thứ 2 (875) đời Hy Tông, chuyển sang trấn giữ Tây Xuyên.

Nguyên tác          Dịch âm

閨怨                     Khuê Oán


人世悲歡不可知 Nhân thế bi hoan bất khả tri,
夫君初破黑山歸 Phu quân sơ phá Hắc Sơn quy.
如今又獻征南策 Như kim hữu hiến chinh nam sách,

早晚催縫帶號衣 Tảo vãn thôi phùng đới hiệu y.

Chú giải

Hắc sơn: Tức giặc Hoàng Cân cuối thời Đông Hán, do Trương Ngưu Giác cầm đầu, quân sĩ có hàng trăm vạn.

Dịch nghĩa

Người đời vui buồn khó mà biết được!
Chồng dẹp xong giặc ở Núi Đen mới trở về.
Hôm nay lại vừa trình lên kế sách bình định phương nam,
Tối ngày cứ thúc giục mau may xong áo trận.

Dịch thơ

Nỗi Oán Khuê Phòng

Trần thế buồn vui đoán được gì
Chàng vừa phá giặc Hắc Sơn về
Hôm nay lại hiến bình Nam kế
Áo trận giục em may lẹ đi!

Lời bàn 

Cao Biền thay lời vợ oán trách chồng lúc nào cũng để hết tâm trí vào việc đánh giặc và bỏ bê vợ hiền. Câu kết rất khéo, ngụ ý rằng: “(Cả năm vắng nhà), vừa phá xong giặc Hắc Sơn về; chàng (không màng giao hoan với em), chỉ giục em may gấp áo trận để (ngày mai đi) bình định phương Nam!”.

Bài thơ này độc đáo ở điểm: một võ tướng lừng danh tả nỗi lòng của vợ oán mình đã bỏ bê nàng.
Bài thơ còn tiềm ẩn một nỗi ân hận (như một bài thú tội ngoại tình) của một võ tướng với vợ hiền: “Chỉ có mình em chịu cành phòng không gối chiếc; ta, với quyền bính trong tay, vẫn có gái đẹp để vui vầy ngay tại chiến trường”.

Con Cò
***
 Khuê Oán, Cao Biền.

Phỏng the than vãn.
Trần thế vui buồn thật khó hay,
Núi Đen chàng dẹp mới về đây.
Bình Nam chiến lược nay dâng kế,
Áo trận đêm ngày giục giã may.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Jun. 14/2025.
***
Than Oán Khuê Phòng - Cao Biền

Thế sự vui buồn khó biết thay
Hắc Sơn chàng dẹp mới quay về
Nam chinh nay lại dâng mưu kế
Áo trận đêm ngày vội vã may.

Kim Oanh
***
Góp Ý Cho Bài Khuê Oán Của Cao Biền.

Theo Thi Viện, tiểu sử của Cao Biền quá sơ sài. Sau đây là tiểu sử chi tiết hơn một chút: Cao Biền, tự Thiên Lý, người U Châu, sinh năm 821, chết năm 887, được 66 tuổi. Biền là con nhà tướng, giỏi văn chương, nhưng cũng làm tướng giống như ông, cha (Hữu Thần Sách Đô Ngu Hầu của Thần Sách Quân).

Vì có công dẹp Đảng Hạng, được làm Thứ Sử Tần Châu.
Năm 863, làm An Nam Đô Hộ Kinh Lược Chiêu Thảo Sứ.

Năm 865, vì có hiềm khích với Lý Duy Chu, bị xàm tấu, suýt bị tội. Nhưng vì đánh được Nam Chiếu, giết Đoàn Tù Thiên và Chu Đạo Cơ nên không mất chức.
Năm 866, Đường Ý Tông đổi An Nam Đô Hộ Phủ thành Tĩnh Hải Quân, cử Biền làm Tiết Độ Sứ.
Năm 868, về Trường An, làm Hữu Kim Ngô Đại Tướng Quân, rồi Kiểm Hiệu Công Bộ Thượng Thư, Vận Châu Thứ Sử, Thiên Bình Tiết Độ Sứ.

Năm 874, bị sai đi đánh Tây Xuyên.
Năm 875, làm Tây Xuyên Tiết Độ Sứ.
Năm 876, đánh và dẹp yên nước Đại Lễ
Năm 878, làm Kinh Nam Tiết Độ Sứ, rồi làm Tiết Độ Sứ Trấn Hải và Hoài Nam.

Trong thời gian này, Cao Biền có góp sức đánh Hoàng Sào, nhưng không thành công, được cử làm Diêm Thiết Chuyển Vận Sứ, coi về muối và sắt.

Vì có hiềm khích với Đường Hy Tông, Cao Biền cáo bệnh, không chịu đánh Hoàng Sào.
Năm 882, được phong làm Thị Trung, nhưng mất chức Diêm Thiết Chuyển Vận Sứ.

Trong nhiều năm, Cao Biền chỉ lo tranh chấp quyền lực với Lã Dụng Chi, Tất Sư Đạc, Tần Ngạn, đánh nhau lung tung. Đến năm 887, Tần Ngạn sai người tới giết Cao Biền và toàn gia.

Nhìn tiểu sử Cao Biền, mình mới hiểu là Cao lo chiến trận, công danh, không còn thì giờ cho vợ nên trong lòng có chút hối hận, mà làm bài Khuê Oán, thay vợ tỏ nỗi lòng của nàng.

Cao Biền là người có rất nhiều huyền thoại ở Việt Nam, như chôn đậu thành binh sĩ, cưỡi diều đi coi địa lý, trấn yểm hay phá các long mạch của mình..

Năm 866, Biền làm Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ, trực tiếp cai trị Việt Nam.
Lý Nguyên Hy đã đắp La Thành, nhưng nhỏ và không kiên cố. Cao Biền đắp Đại La Thành năm 866, rất rộng lớn, phong Long Đỗ làm thành hoàng.
Năm 1010, Lý Thái Tổ rời đô về đây, vì thấy rồng bay lên nên đổi tên là Thăng Long, vẫn giữ Long Đỗ làm thành hoàng, phong Cao Biền làm Cao Vương.

Trong đền Bạch Mã ở Hà Nội, bên cạnh tượng Long Đỗ, có tượng một người cưỡi ngựa trắng, người ta cho đó là Cao Biền.

Bài thơ ngắn, dễ hiểu, không có chữ khó. Hắc Sơn, ÔC theo Thi Viện, nói rằng chỉ giặc khăn vàng, cuối đời Hán. BS không biết nên phải chấp nhận, nhưng có 2 Hắc Sơn, một ở Tân Cương, phía Tây Bắc của Tầu, là nơi đánh nhau với Hung Nô, mà Trần Đào nhắc đến trong bài Lũng Tây Hành kỳ 4.

Hắc Sơn chỉ khăn vàng chắc ở Trực Lệ (Sơn Đông?). Người lập ra giặc khăn vàng là Trương Giác, không phải Trương Ngưu Giác như Thi Viện và ÔC. Ngưu Giác chỉ là một đầu mục của Trương Giác.

Đây là bài dịch của BS :

Khuê Oán Của Cao Biền.

Nhân thế vui buồn khó biết thay,
Hắc Sơn dẹp giặc mới về đây,
Hôm nay dâng kế bình nam nữa,
Áo trận tối ngày thúc dục may.

Bát Sách.
(Ngày 15/06/2025)
***

Nguyên tác: Phiên âm:

閨怨-高駢 Khuê Oán - Cao Biền

人世悲歡不可知 Nhân thế bi hoan bất khả tri
夫君初破黑山歸 Phu quân sơ phá Hắc Sơn quy
如今又獻征南策 Như kim hữu hiến chinh nam sách
早晚催縫帶號衣 Tảo vãn thôi phùng đới hiệu y

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句 -宋-洪邁
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Cao Biền: danh tướng nhà Đường, có thời làm đô hộ An Nam. Xem thêm Cao Biền – Wikipedia tiếng Việt

Khuê oán: than vãn của người phụ nữ sống cô đơn, lo lắng, bực bội...
Nhân thế: thế giới loài người, cuộc sống
Bi hoan: vui buồn, đề cập đến tất cả các loại cảm xúc của con người
Hắc Sơn: địa danh, nay là ở Cẩm Châu 錦州, Liêu Ninh. Đây là vùng nông dân nổi dậy chống nhà Hán năm 184 do Trương Ngưu Giốc 張牛角 thống lãnh, còn được gọi là loạn Hoàng Cân 黃巾之亂 hay giặc Khăn Vàng.
Chinh Nam: chiến tranh chinh phục miền nam Trung Hoa, có thể liên quan đến trấn an và cai trị An Nam
Tảo vãn: sáng tối, sớm muộn
Hiệu y: áo quần của binh sĩ, một bộ đồng phục được đánh số

Dịch nghĩa:

Khuê Oán Oán Hận Phòng The

Nhân thế bi hoan bất khả tri
Thật khó hiểu được niềm vui và nỗi buồn của con người!
Phu quân sơ phá Hắc Sơn quy
Chồng tôi mới trở về nhà sau khi dẹp xong giặc ở Hắc Sơn.
Như kim hữu hiến chinh nam sách
Hôm nay lại vừa trình lên kế sách chinh phục miền Nam,
Tảo vãn thôi phùng đới hiệu y
Tối ngày cứ kêu gọi mọi người mau may quần áo trận.

Bình luận:

Ai cũng biết Cao Biền là một danh tướng nhà Đường, từng dẹp Bắc đánh Nam. Nội dung bài thơ hơi gượng ép vì mâu thuẫn với cuộc sống của người làm thơ. Bài thơ này chủ yếu miêu tả nỗi vui buồn và khao khát trong lòng của người phụ nữ có chồng là chiến binh xa nhà. Nàng khao khát và mong đợi chồng về, nhưng bất lực không đoán trước được thời cuộc, niềm vui và nỗi buồn của thế gian. Nhưng chính người chồng là nguyên nhân của chia ly vì muốn lập công danh. Mới về nhà lại chuẩn bị ra đi theo ý trong câu 3 và 4.

Dịch thơ:

Oán Hận Phòng The

Thể thất ngôn:

Cuộc sống vui buồn khó biết thay,
Giặc yên chàng mới về nhà đây.
Hôm nay Nam tiến chàng dâng kế,
Áo trận sớm chiều thúc giục may.

Thể song thất lục bát:

Ai đoán được vui buồn thế cuộc,
Giặc mới yên chàng được về nhà.
Hôm nay kế hoạch lại ra,
Miền Nam xâm lược dân ta khổ dài.

Sorrow of a Woman by Gāo Pián
The sorrows and joys of people are unpredictable.
My husband has just returned home from conquering a peasants’ uprising at Black Mountain.
Now he is offering a plan to conquer the south lands,
Day and night, he urges the completion his battle garments.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý của Lộc Bắc:

Từ khi đến với Đường thi và nhờ có Internet tôi mới biết thêm nhiều điều về Cao Biền. ngoài việc là một danh tướng có thời cai trị nước ta, ông còn là một nhà thơ khá tiếng tăm. Lúc nhỏ tôi thường nghe bà nội và mẹ tôi kể tài phù thủy của ông và những điều ông làm khi cai trị nước ta. Chuyện kể từ lâu nay không còn nhớ rõ, nhưng nội dung thì tương tự như những trích đoạn từ Internet như sau:

Truyền thuyết Cao Biền với Thần Long Đỗ. Xưa Cao Biền Nhà Đường, làm An Nam đô hộ phủ, khi xây thành Đại La, một hôm đi ra chơi cửa Đông, thấy mây năm sắc từ đất đùn lên, ánh sang chói mắt, có bậc dị nhân cưỡi con rồng đỏ, tay cầm kim - giảm, lượn lờ theo mây, hồi lâu chẳng lặn. Biền kinh sợ định yểm. Đêm đến Biền nằm mơ thấy một vị thần tướng cưỡi ngựa trắng, từ trên trời tới thẳng Cao Biền mà nói rằng:" Ta là thần Long Đỗ ở đây đã lâu, nghe tin ông xây thành Đại La, nên đến gặp nhau cớ sao phải yểm". Biền kinh sợ giật mình tỉnh giấc than rằng:" Ta chẳng thể chinh phục được người phương xa sao! Cớ sao mà đến nỗi có yêu quái như vậy!". Bèn làm bùa bằng đồng để yểm. Đêm đó mưa to sấm chớp đùng đùng. Hôm sau ra xem thì thấy bùa đồng đều bị nát thành tro bụi. Biền càng thấy làm lạ, bèn dựng miếu ở cửa Đông để thờ và sắc phong cho Ngài làm Linh Lang Bạch Mã Tôn Thần."

Thần Long Đỗ đền thờ Bạch Mã Hanoi

Truyền thuyết núi Cánh Diều" (Ninh Bình) kể khi sang Giao Châu, thấy long mạch nước Nam rất vượng, muốn phá đi, Cao Biền thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy xem địa thế, rồi lập đàn cúng tế lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, sau đó đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Một lần cưỡi diều giấy bay đến Hoa Lư thì bị một đạo sĩ cùng dân chúng dùng tên bắn. Cao Biền trọng thương, diều gãy cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó núi mang tên Cánh Diều.

Cột đá chùa Dạm, theo truyền thuyết là của Cao Biền.

Thành ngữ "Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non" thực ra "thoát thai" từ truyền thuyết cùng tên kể chuyện Cao Biền có phép thuật "tản đậu thành binh". Biền gieo đậu vào đất, ủ kín một thời gian, đọc thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hóa thành một tên lính. Để yểm bùa và triệt hạ long mạch, Biền thường nuôi 100 âm binh. Một lần ông ta ở trọ nhà một bà hàng nước, nhờ bà mỗi ngày thắp một nén hương. 100 ngày thắp 100 nén hương sẽ gọi dậy 100 âm binh. Biết được tà ý, bà lão thắp cả 100 nén hương trong một ngày. Thành ra Biền có đủ 100 âm binh nhưng do "dậy non" nên chẳng làm được trò trống gì...

Lại có "Truyền thuyết mả Cao Biền" kể sau khi trấn yểm Đại La không thành, Biền sợ linh khí nước Nam mà đi mãi về phương Nam, đến tận Phú Yên. Đến một làng nhỏ ven biển thấy có long mạch, Biền bèn sinh sống tại đây rồi giúp dân nhiều việc, xem đất dựng nhà, để mồ mả…Khi chết, Biền được dân làng chôn cất tử tế. Ngày nay, ở huyện Tuy An còn dấu tích mả Cao Biền nằm trên một ngọn đồi. Hình ảnh ấy được sinh động hóa trong câu ca dao:

Nhìn ra thấy mả Cao Biền
Nhìn vào thấp thoáng Ma Liên, Chóp Chài

Thần tích làng Phương Nhị kể nhiều về công lao của Cao Biền và nhắc chuyện ông được nhân dân tôn kính gọi là Cao Vương-tên gọi này trùng với câu “thành của Cao Vương” trong Chiếu Dời Đô của của vua Lý Thái Tổ: “Sự tích ngài chép ở trong quốc sử, ngài lưu trấn ở Châu Giao ta 7 năm; dảm (giảm) sưu thuế, bớt tạp dịch, yêu dân như con, cho nên người trong nước điều (đều) kính trọng, mà tôn người là Cao Vương, cũng ví như ông Sĩ Vương về đời Đông Hán, sang làm quan thú Châu Giao ta thuở xưa. Mà dân điều (đều) tôn ngài là Vương. Sau ngài lại đổi về trấn đất Thiên Bình. Ngài có người cháu là ông Cao Tầm, từng theo ngài có công giẹp (dẹp) giặc. Ngài dưng (dâng) sớ về tâu vua, để lấy ông Cao Tầm thay ngài 10 năm”. Thần tích này kể tiếp: “Sau này, nước Nam ta, tưởng nhớ công đức ngài, có tới 3,4 chăm (trăm) xã lập đền thờ ngài; ở hạt tỉnh Bắc Ninh có hơn chăm (trăm) xã thờ ngài, cờ (cầu) đảo việc gì điều (đều) linh nghiệm cả. Chải (Trải) các chiều (triều) vua điều (đều) có sắc phong tặng là Thượng đẳng phúc thần”.

Theo thần phả làng Vạn Bảo (nay là phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội), Cao Biền có một người vợ tên là Lã Thị Nga (còn gọi là Ả Lã, Ả Lã Thị Nương, Lã Đê nương), theo ông sang Việt Nam. Bà không ở cùng Cao Biền trong thành Đại La mà ở làng Vạn Bảo dệt lụa và truyền dạy nghề dệt lụa cho dân ở đây, trở thành bà tổ nghề dệt lụa Hà Đông. Cao Biền về Bắc, bà vẫn ở lại Hà Đông. Sau nghe tin Cao Biền mất ở Trung Quốc, bà gieo mình xuống sông tự vẫn. Bà Ả Nương sinh ngày 10/8 Âm lịch, mất ngày 25 tháng Chạp. Sau khi bà mất, được thờ làm Thành hoàng làng tại Đền thờ làng Vạn Phúc.
(Trích từ Internet)

Phỏng dịch bài Khuê Oán của Cao Biền.

Oán Phòng Khuê

Trần thế vui buồn khó biết thay
Hắc sơn phá trận mới về đây
Hôm nay hiến kế bình nam chiến
Áo trận tối ngày giục giã may!

Lộc Bắc
Jui25