Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Giữa Xuân



Xuân! Em Xuân! Em Xuân đến đây rồi!
Tôi ngây-ngất đón chào Em, cảm-động.
Chao, bỡ-ngỡ! -- Ồ, lưng dài, vai rộng:
Tuổi tôi đây, vừa nguyên-vẹn hai mươi.

Bước chân non, tôi chập-chững ra đời,

Thân lạc-lõng trước ngã-ba đường thế:
Bâng-khuâng chọn, chưa tìm ra lối rẽ.
Nằm giữa lòng thế-kỷ thứ hai mươi,

Nghe nhân-gian rên-xiết giữa reo-cười;

Muôn tiếng gọi truyền lan theo cánh gió.
-- Thì ra tôi trót vay nhiều món nợ
Mà hôm nay phải đóng-góp cho Đời!

Mắt nhìn lui Mùa Đông cũ - Đông ơi,
Em đã chết dưới trăm mồ lá úa!
Thời qua ấy: chao ôi là nhung-lụa!
Và thời nay: là gấm-vóc, chao ôi!

Tôi là trai, tôi tự hỏi lòng tôi:
Ôi, ta đã làm chi
Đời trai hai mươi tuổi?
- Muôn xác lá ngập tràn muôn nẻo lối!

Đường mông-mênh lấp-lánh ánh sao tươi,
Mùa xuân hồng phơi trải dưới chân tôi.
Bao thế-hệ bằm môi và trợn mắt
Đẩy, đẩy, đẩy bánh xe Đời vững-chắc

Nghiến lăn dài trên bước tiến thời-gian.
Mồ-hôi, nước mắt, máu, tim, gan;
Bao sức sống tuôn tràn cho cuộc sống.
Đời vĩ-đại, Đời sâu-xa, cao-rộng;

Mỗi sinh-linh là một nét tô-bồi.

Ánh vinh-quang vừa hé mở chân trời.
Mộng -- giấc mộng điên-cuồng say máu lửa,
Mộng thiên-thai ngàn xưa -- còn đâu nữa!

Đây trần-truồng phô dưới Ánh Trời Mai

Một khối đồng-tâm, cả một Loài Người
Đang gắng-gổ, đang bền gan, vững chí
(Tay thô-tháp và linh-hồn bình-dị)
Góp công nhau, nương-tựa sức Muôn Người

Đắp-xây Xuân Hy-Vọng một ngày mai...

Nợ đã trót vay rồi, tôi góp trả.
-- Xuân! Tôi nghe như Em cười dòn-dã?
Lòng hân-hoan, tôi đắp đá, tô vôi...

Thanh Thanh
Ánh Trời Mai
Ấn-Hành Lần Thứ Ba 1954


Thư Tết


Rồi tết đến rồi lòng em nhớ quá
-Nguyễ̃n đình Toàn-

Em xa xôi, trưa nay, mùng một tết ! Cái tết thứ hai mươi mốt của tôi ở xứ người. Trời đổ tuyết từ ban sáng. Mùa xuân đâu không thấy, chỉ thấy lạnh và buồn. Tôi chắc em cũng như nhiều người Việt khác đang mài miệt trong những xưởng thợ hay văn phòng ở đâu đó trên khắp cùng mặt đất, có thấy gì là tết đâu dù rằng trong lòng mình không thiếu một nụ xuân. Sao tôi thấy thương em, thương Lý, Lê, Trần, Nguyễn ... thương hết thảy những người Việt đang ngậm ngùi đón tết ở một nơi không phải chỗ của mình. Sao tự dưng tôi như thấy em đang ngẩn ngơ, thấy chị đang thờ thẩn, thấy anh đang nôn nao như chờ đợi nghe thấy lại một cái gì đã có lần rạo rực dấy lên tự lòng đất, loáng thoáng trong khói hương, chập chờn giữa trời rộng khi chúng ta còn ở đó, quê nhà. Nhớ không em cái lao xao của cây cỏ, cái náo nức của phố phường, cái lung linh của khuya im đêm trừ tịch. Tôi chắc mọi người đang thấp thỏm sống lại cái tình tự của một tết năm nào. Nhưng mà nhớ thì có nhớ nhưng gặp lại thì chắc không bởi vì mình có ở quê mình đâu. Mình đang ở xa quá, xa tới gần nửa thế kỷ, cái quê hương mù mịt cứ nghĩ tới là mũi lòng. Cho nên dù có bắt chước anh con trai trong một bài hát cũ hỏi lầm thầm ... xuân đã về chưa ... thì cũng chỉ thấy đọng lại một chút vị cay trên khóe mắt. Bởi vì xuân có kịp về đâu ở một cõi trời cõi đời quá lạ.


Buổi sáng hôm nay, em thức dậy chắc cũng giống như nhiều buổi sáng khác khi trời còn mờ tối, ngoại ô còn ngái ngủ trong lớp áo đọng sương. Em dậy sớm hơn chồng con vì còn phải sửa soạn thức ăn cho mọi người đến trường sở. Vội vội vàng vàng em đâu thấy kịp mấy đốm sao thưa còn lấp ló ngoài cửa sổ. Em còn phải nhanh tay sửa soạn để kịp chuyến xe điện ngầm thứ nhất. Khi em ra khỏi nhà thì đốm sao đã buồn bã bỏ đi. Một mình em vừa đi vừa chạy, tay quấn vội cái khăn len quanh cổ, tay kéo sát cái áo ấm chùng kín tấm thân bé bỏng co ro. Mùa đông còn lạnh và dài lắm. Bầu trời nhem nhuốc và phố xá còn lấm lem cơn bão tuyết cuối tuần. Chung quanh em bắt đầu có thêm nhiều người khác, cũng đang vội vã chạy theo sau cái tia sáng đầu ngày. Và như vậy, em đi đến hảng tự nhiên như những buổi sáng bình thường khác. Một buổi sáng bình thường như trăm ngàn buổi sáng khác của em, của chồng con em, của bạn bè em, của những người đang sống một mùa xuân giả bộ. Cho nên tôi biết, sáng hôm nay ở trong sở, đầu óc và tay chân thì bận bịu với công việc mà lòng em thì buồn quá đỗi. Bởi vì giữa lòng em nguyên đán đã rộn rịp ngay từ nửa đêm hôm qua khi trời đất ở đây còn đương tối mịt.

Từ một hai tuần trước, mỗi lần ra chợ em đã cố tình mua sắm nhiều hơn lệ thường. Thịt cá, dưa kiệu, dưa chua, bánh mứt, cái gì cũng nhiều hơn chút chút. Bề gì cũng ngày tư ngày tết phải cho chồng con nếm chút hơi hướm quê nhà. Em còn cẩn thận dặn tiệm hoa đầu phố để dành cho em một chậu cúc vàng mặc dầu vẫn chép miệng than đắt loại hoa trái mùa. Em ân cần và chu đáo lắm. Em muốn tạo một không khí tết cho gia đình và cho riêng em. Mới chạng vạng, em đã thu dọn lại nhà cửa, sửa soạn chiếc bàn thờ tổ tiên và cũng đã bày mâm cơm cùng chồng con chờ cúng rước ông bà. Vậy mà giữa hương khói sao có lúc em như thấy cô đơn hơn ngày thường. Giữa lòng em như có gì trống trải. Nhìn quanh em sao như thiêu thiếu một cái gì. À thì ra, ở đây đất trời lạ lẫm làm em không bắt gặp lại được cái lung linh của tối giao mùa thuở trước, khi còn bao bọc chung quanh những tấm thân tình, và nhất là cả nước non đều mang chung một nỗi rạo rực như ngay chính lòng em đang rạo rực. Ở đó, mỗi lượt giao thừa, cỏ cây lay lắt như muốn chuyển mình, sông núi cũng động đậy bừng tỉnh, đừng nói gì con người, hết thảy đều như say say, thấy như vừa nếm một chút rượu nồng cất bằng thứ men cay của trời đất. Người ta như thấy có một cái gì thôi thúc, chộn rộn khiến ngồi đứng không yên, có một cái gì đó bãng lãng lao xao ngay trong không gian lắng đọng làm cho mọi thứ trở nên tươi tỉnh hơn và hơn nữa như xúi bẩy mọi người gần gũi nhau hơn. Ở khắp mọi nơi, người ta như nghe thấy từng nụ mầm đang lật bật trổi dậy, mới tinh, khỏe mạnh và nhất là như truyền nhiễm cái niềm vui trong lành lên từng xó xỉnh của đời sống. Bỗng nhiên người ta quên phứt những phiền toái, những rắc rối, những mắc mớ của phận người. Bỗng nhiên người ta đổi mới trong phút chốc. Em cũng vậy. Có nhớ không ? Em thấy em tươi như một nụ hàm tiếu. Em thấy em vui như một tiếng cười dòn. Và áo mới xúng xính. Và đồng tiền mừng tuổi. Rồi hoa đào hoa mai. Rồi bánh chưng bánh tét. Những năm em lớn lên, chiến cuộc dữ dằn quá, pháo bị cấm đốt. Nhưng có cần đâu, trong lòng em là cả một tràng pháo vô thanh nổ dòn dã, xác pháo đỏ vô hình rưới đầy tấm lòng em mới nguyên. Em mừng thêm một tuổi lớn, hồn mở rộng thênh thang, háo hức chờ đợi những bất ngờ ...

Vậy đó mà tối hôm qua, trong ngôi nhà nhỏ rất ấm cúng mà vợ chồng đã tậu được sau nhiều năm cày cục, bên cạnh chồng con, ngay lúc em sắp sửa cúng giao thừa, bỗng dưng em cảm thấy như có một vẻ gì tẻ lạnh quá, cứ quạnh quẽ quanh đây. Nước mắt chực hờ nhưng rồi em cố giữ lại. Làm như em linh tính được mọi ước nguyện chân thành của em trong buổi tối thiêng liêng này rồi sẽ chìm mất vào một cõi lặng vô tình. Chậu bông cúc, vàng mấy đốm lẻ loi, không thắp nỗi một niềm vui lẻ mọn giữa cái màn ẩm đục và mốc thếch của khí trời bị đọng kín lâu ngày. Còn mấy dĩa đồ cúng nữa, dù em đã lo lắng nấu nướng sẵn từ ngày nghĩ cuối tuần trước, dọn ra rồi sao càng làm lộ thêm cái vẻ lạc lõng như bày ra không phải chỗ. Tội nghiệp em, em đâu có rảnh rổi. Ở sở về, em vừa đi vừa chạy, ghé qua rước con ở nhà trẻ, về tới nhà là chỉ kịp cởi vội khăn áo xùng xình rồi là lúi cúi xào nấu cho kịp bữa tối. Bởi vậy, em đã bắt chước mẹ kho sẵn một nồi thịt với lon nước dừa Đài Loan dù lạt lẽo vẫn cho ra vẻ đúng điệu, nấu một tô canh khổ qua dồn thịt với dĩa đồ xào hải sản. Em nhớ mẹ cũng đã làm giống như vậy. Bới thêm ba chén cơm trắng, dọn đủ muổng đủa sắp dài hai bên cạnh bàn. Em còn làm giống như ba, khui chai rượu quý rót đầy ba cái chung nhỏ, rót thêm một tách nước lạnh để ông bà súc miệng trước khi dùng cơm, rồi em thắp cháy lung linh hai ngọn đèn cầy. Mâm cơm cúng dòm qua cũng tươm tất giống như của ba mẹ em đã làm. Vậy mà sau khi đã sửa lại quần áo bộ điệu ngay ngắn, thắp nắm nhang sắp sửa van vái nhưng chỉ mới vừa lẩm nhẩm trong đầu mấy chữ “ đất nước ông bà cữu huyền thất tổ ” như ba đã dạy là tiếng khóc em bật ra, tức tưởi. Đứa con lẫm đẫm bên chân thấy mẹ khóc cũng mếu máo khóc theo. Ngó lại thì mắt chồng cũng rươm rướm. Tết đâu không thấy chỉ thấy cả nhà ôm nhau khóc mùi mẫn. Em khóc mà biết mình không nên khóc. Dường như em tủi thân, dường như em tiếc nuối. Em thấy như không có ông bà nào chịu khó cất công vượt ngàn trùng qua đây với em. Đường xá xa xôi quá mà ông bà thì quê mùa làm sao biết ngõ đi lối về. Còn đất nước, đất nước em thì bị kềm kẹp bởi lũ người vong bản thì làm sao thoát được mà dong ruổi. Cha mẹ và bầy em nhỏ thì đang lây lất đón cái tết nghèo đói chắc cũng đang nhớ em mà phải bấm bụng cho quên. Đêm vây chung quanh thì tối mịt, đặc quánh hơi lạnh mà lại trống hoang không một bóng người qua. Tết đó sao ? Đâu phải mùa xuân của em như em đã chờ đợi và đã gặp gỡ khi còn ở bên nhà. Cả một tuổi thiếu nữ em sống ở đó. Mùa xuân dậy thì như bông búp thẹn thùng. Em theo mẹ đi chùa hái lộc đêm giao thừa, lòng thấy hoang mang sung sướng mà không rõ vì sao. Mà có cần biết lý do đâu, em thấy mọi người chung quanh hớn hở thì lòng em cũng nở rộ đóa hạnh phúc. Trong hương trầm nghi ngút, mọi tấm lòng như mở ra cho tiêu vong hết mọi uẩn khúc và thay vào đó nỗi cảm thông bắt nhịp với người và với trời đất. Trong một tích tắc người ta như bắt gặp lại hồn thiêng sông núi, người ta thấy mình hòa tan vào cái thăm thẳm của vũ trụ không cùng. Phút giao thừa như sát na hội ngộ. Gặp lại lòng mình, gặp lại lòng người và còn tìm gặp lại cái nguồn cội sâu xa của chính đời mình nữa.

Vậy mà ở đây, em không cảm thấy gì hết. Em chỉ thấy lòng mình trống trải như một cõi không mà lại nặng nề như mộ địa. Cái gì chớ cái này thì chồng con em không an ủi được gì cho em hết. Tội nghiệp V. Nó cũng thẫn thờ như em vậy thôi. V. đưa tay vỗ nhẹ vai em rồi ôm em và con siết chặt. Cặp mắt V. sụp xuống như có cả núi sông đè lên đó. Phải rồi, từ lúc nãy chính V. cũng thấy như thiêu thiếu một cái gì. Nó đã cẩn thận kiểm soát lại gian phòng, bàn ghế, chậu hoa, tấm lịch Tam Tông Miếu mua ở chợ tàu đã gỡ tới tờ lịch cuối cùng, bức hình gia đình ở quê chụp chung lúc lên mười tuổi đã vàng ố ... tất cả vẫn y nguyên vậy. Kể cả mâm cơm cúng mà em đã sửa soạn với hết lòng thành khẩn. Có thiếu gì đâu. Ba chén cơm với ba đôi đủa, mấy cái muổ̀ng, mấy cái dĩa đồ ăn bốc khói, nhang đèn ... tất cả đều ở đó. Có thiếu gì đâu. Vậy mà sao V. vẫn thấy thiêu thiếu. Cho đến khi nó thấy em bật khóc nó mới nhận ra cái thiếu sót đó, nằm ngay chính trong lòng mình, và bây giờ phả ra váng vất trong không gian tù tùng của căn nhà đóng kín cửa. Có một sự vắng mặt lớn lắm mà dường như V. đã mường tượng đâu từ chiều hôm qua khi lái xe về ngang con dốc ở đầu bên kia thành phố. Từ vị trí đó, V. thấy cái xóm nhỏ của họ đạo Tin Lành với mấy chục căn nhà nằm xúm xít như úp mặt vào nhau dưới cái bóng núi đe dọa. Xa hơn một chút, con sông nhỏ mặt nước đóng băng lẫn khuất giữa cánh rừng thông tua tủa rồi mất hút đằng sau khúc ngoặt cuối đảo. Lúc đó chiều chưa tắt hẵn, đêm còn vung vẩy vạt áo choàng đen dùng dằng với chút nắng cuối ngày vừa kịp cho V. thấy mấy làn khói mỏng vất vưởng bốc lên từ những mái nhà trắng tuyết. V. đã dửng dưng qua lại nhiều lần đoạn đường đó, lúc mới tới có lần cũng đã thấy giông giống một góc cảnh xưa. Rồi thôi, rồi quên khuấy dưới lớp lớp lo toan của đời sống tất bật. Vậy mà buổi chiều hôm qua, ngay đúng lúc đang nhớ lại câu nhắc của người bạn về chuyện bên nhà lúc cuối năm thì xe vừa trờ tới đỉnh đồi ngó xuống khu nhà quen thuộc, sao bỗng dưng V. nhận diện được rõ ràng cái quen thuộc ở đây đã từng quen thuộc lâu lắm, lâu đâu từ lúc còn ở quê nhà. Có một cái gì tiềm tiệm góc phố xưa, nơi V. đã sống một tuổi ấu thơ êm đềm, với cha mẹ anh chị bạn bầy ... Chiều u tịch, khói bay từ một góc tối xa xăm, cộng thêm cái âm vang buồn bã của mấy chữ “ cuối năm ” làm lòng V. quặn nhớ. Sao tự dưng V. thấy như ai đó cắc cớ vừa bứng nguyên một góc phố nhỏ quê mình đem sang dựng lại y hệt ở đây, ngay phút này, lúc buổi chiều một ngày cuối năm sắp tắt. Sao tự dưng nó thấy giống đến thê thiết cái xóm nhỏ ở một tỉnh vùng cao nguyên nước Việt, nơi nó đã được sanh ra và lớn lên giữa bao nhiêu là thân thích ruột rà. Thành phố với những con dốc mù sương đi về lẫn khuất, với lọn nắng sương mai màu hổ phách mà có lần nó đã ví von với tia nhìn trong vắt của người yêu dấu đầu đời. Thành phố mà V. đã bỏ lại để đi xa dù có bao giờ thôi thương nhớ. Lây lất gần hai mươi năm ở xứ người tưởng đã quên lâu. Vậy mà không. Vậy mà chiều hôm qua V. bỗng nhớ lại. Nhớ như mới bỏ đi đâu chừng mấy bữa. Nhớ như mới hôm nào cắt ruột bỏ đi. Nhưng sợ em buồn lây, nó giữ kín trong lòng. Rồi lu bu chuyện sở, rồi hấp tấp dọn dẹp cho kịp buổi cúng giao thừa, nó cứ nghĩ thấy bần thần là tại trời trở gió. Mãi đến khi thấy mấy giọt nước mắt tủi hờn của em, V. mới bàng hoàng cảm lại nỗi hụt hẩng trong lòng mình. Chút lao đao trong lòng dìm lại từ hôm qua, bỗng chốc vực dậy, dựng lên hình ảnh cái xóm nhỏ đìu hiu từ độ bỏ đi, thoáng chốc rõ ràng như trước mặt. À thì ra, có quên được đâu, cái phố cũ buồn vui một thuở. Góc quê hương bị vùi nông dưới mấy lớp tâm tư, giấu mặt đằng sau tầng tầng ngày tháng, nép mình giả bộ như xác bướm khô bỏ quên giữa mấy trang sách ố vàng. Người ta cứ vô tình sống, làm ăn, vô tình đi tới lui loanh quanh trong cõi tạm mà không ngờ vẫn mang theo bên mình cái xác bướm xác xơ mà vẫn chực chờ hồi sinh. Để rồi, một khuya im trở mình bất chợt, một tiếng chim kêu lạc cuối chiều, một vệt nắng vàng sót quên trên ngõ lá, một bước chân lạc lỏng giữa chợ đời ... từng ấy thứ, tưởng chẳng ăn nhằm gì với cố hương đã xa mù xa mịt mà oái oăm lắm em, thứ tình cố thổ nó giăng nhện không ngờ. Nó níu, nó kéo, nó ép người ta ngoảnh lại, nhìn lui, từ một nét, một chấm, một góc, một cảnh đời đã thấy, đã sống, đã hạnh phúc, đã trầm luân ... từ một thuở nào, khi còn ở đó, quê nhà. Từ đó, những hình ảnh đã quên sâu, những kỷ niệm đã lặn chìm, những phần đời đã ngủ yên, những khuôn mặt vóc dáng, những con đường góc phố, những bờ bãi hàng lau, những bến nước cầu ao, nhịp mùa thời tiết ... mọi thứ mọi điều tưởng đã quên lâu nhưng rồi ra vẫn nhớ, nhớ hoài. Nó có thể nằm đó, im hơi lặng tiếng, vài ba năm, mười mươi năm, có khi suốt cả đời không chừng. Để rồi có khi chỉ là một hơi gió nhẹ làm lung lay một ánh trăng khuya, một tiếng chim trời kêu lẻ bạn, hay có khi đơn giản hơn nữa, chỉ cần mấy tiếng “cuối năm” ai đó thốt ra giữa khi chiều đang rưng rưng sắp tắt mà chân đang bước lỡ một độ đường, bao nhiêu đó thôi cũng đủ lảm động đậy đôi cánh mỏng đang thúc thủ, chấp chới bay lên và xô dạt chao đảo cả những tâm hồn đã từng phen gió bụi. Cái tình quê cay như gừng như quế, mặn như muối, nồng như ướp tiêu thấm sâu trong tận cùng xương tủy, óc não, tim gan ... Có khi nó loảng ra nhẹ nhàng như sương như khói, bãng lãng như có như không, có khi quánh đặc như mạch nha kẹo dẻo nhùng nhằng nhủn nhẳn không chừng không đỗi, tưởng như dính không chặt mà lại bứt không rời ... Khổ một nỗi, người ta càng lơ là thì nó càng đeo đuổi trêu ghẹo, y như bóng chơi đuổi bắt với hình. Ngày qua ngày, tháng theo tháng, năm tàn năm, cái bóng quê hương lấp la lấp lửng có đó mà như khuất mặt, chấp chới chực chờ bên cạnh một niềm vui, trong cuối một nỗi buồn và chắc chắn, trong một lúc không ngờ nhất, sẽ chường cái bộ mặt thảm sầu của nó ra trong một ngày cuối năm, một ngày đầu năm ... khi chân còn đang lỡ bước giữa một độ đường lữ thứ.

Vậy đó em. Trong suốt con đường lưu lạc tìm đất sống hơn ngàn năm của nhân loại đã có bao nhiêu lần dòng đời đang bương chảy bỗng nhiên bị khựng lại, một giây, một phút, một thoáng ... chỉ vì bất chợt người ta nhận ra ... dấu dạng cố hương. Một thoáng thôi cũng đủ làm buồn một đỗi. Từng chút đó thôi nhưng sẽ làm người ta ray rứt hoài hoài. Tôi nhớ đã có lần kể em nghe chuyện của hai chàng du tử, mãi vui đường mà lạc cảnh tiên, tưởng sẽ sung sướng ở cõi đào nguyên, nhưng rồi ai đời lại cứ nhong nhóng đòi về trần. Cái trần gian của họ, thật ra cũng chẳng có ý nghĩa triết lý gì hết mà chỉ là quê nhà của họ đó thôi em. Cái cõi quê mùa luộm thuộm, người ngợm lôi thôi, nẻo đời trắc trở mới chính là quê hương đích thực của kiếp người. Người ta chỉ thấy an lòng ở giữa đồng loại. Cũng như chúng ta vậy thôi. Chúng ta cũng chỉ là mấy chàng Lưu Nguyễn lạc lối thiên thai nên lòng trần cứ bức rức, uống nước suối tiên trong vắt mà cứ thèm thuồng con nước đục phù sa, coi điệu múa nghê thường lại thấy lòng cứ vấn vương mấy câu hò thôn dã. Nhưng biết làm sao hơn khi túi nhau ta đã lỡ chôn dưới gốc một cội tre già thì cả đời ta sẽ mắc míu hoài với mấy nhịp cầu tre lắt lẻo. Chỉ chừng đó thôi cũng đủ làm lòng ta thắc thẻo rồi em. Mặc dầu ở xa, tôi cũng biết em buồn ra sao. Bởi vì nỗi buồn của em cũng chính là nỗi buồn của tôi, từ hơn mấy chục năm nay.

Em biết đó có ai đếm được nỗi sầu đâu em. Vậy mà mấy ông thi sĩ vô danh hồi xưa cứ giả bộ như rành rọt lắm. Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu. Làm như mỗi một nhịp cầu là chừng ấy lần sầu. Làm như mình có thể hỏi thăm nhau một cách rạch ròi như vậy chớ bữa nay em sầu bao nhiêu nhịp. Vậy chớ mấy bữa nay em nhớ nhà dài bao nhiêu dặm. Khổ một nỗi là giữa chúng ta và quê hương có chiếc cầu nào đâu mà đo dài đo ngắn. Giữa chúng ta và quê nhà có khoảng cách nào đâu mà tính được thiên lý đây em. Bởi vì thật ra cái ngàn trùng đó nằm ngay chính trong lòng ta. Ôi tấm lòng xa cách lớn rộng hơn trời biển làm sao dang chân ra mà thâu ngắn lại đường dài.

Mùng ba tết năm ngoái, ngồi trơ trọi một mình nhìn mâm cúng tất nấu dọn sơ sài sao tôi thấy buồn quá đỗi. Cho tới chừng nào chúng ta mới ăn được một cái tết vui vầy. Nhắp ngụm rượu thừa tôi viết mấy câu thơ, dẫu tết mà nghe cay đắng lắm em :

Rồi tết qua đi, buồn ở lại
Quê nhà xa huốt một đường bay
Rượu xuân ai ướp mùi quan ải
Mà thấy xa thêm những dặm dài

Vậy đó em. Mấy chuyến bay hình như vẫn bay qua bay lại nhưng đâu phải vậy mà nối được lòng ta với quê hương. Khoảng cách đâu còn là không gian nữa. Khoảng cách chính ở lòng ta đó. Đâu phải chúng ta ruồng bỏ một quê hương nghèo nàn, chúng ta chỉ không thể chấp nhận một chế độ bất nhân vô đạo. Làm gì mà mấy chục năm sau khi bức tử một quốc gia, cướp đoạt cả linh hồn một dân tộc, với tất cả oai quyền tột đỉnh sinh sát trong tay mà họ không dựng dậy được một quê hương đủ sánh vai cùng thiên hạ. Kẻ thù như họ đã rêu rao không còn một mống ở đó. Những kẻ-bị-chối-bỏ đã tống khứ ra biển dữ. Đất nước thâu về một mối nắm gọn trong tay. Bao nhiêu vốn liếng có sẵn trong nước cộng với bao nhiêu tiền bạc của đám con tha phương cầu thực bị bắt chẹt gởi về nuôi cha nuôi mẹ, rồi cả cái mớ đô-la muối mặt ngửa tay xin xỏ khắp cùng thế giới ... mà không cứu nỗi một đất mẹ tang thương. Đến lúc ngay cả những kẻ dễ dãi nhất hoặc khờ dại nhất ngoại trừ bọn đồng lỏa cấu kết cũng phải nghi ngờ sự lương thiện của mọi kẻ cầm quyền ở bên đó. Họ làm gì mà sau khi giết chóc tàn phá để cướp cho được trọn phần đất nước, mấy chục năm sau mà đất nước vẫn èo uột như con bệnh nan y bất trị. Và con người, đại đa số con người ở đó vẫn gầy héo như từng niềm tuyệt vọng.

Vậy đó em, chúng ta không trốn chạy một quê hương nghèo đói. Chúng ta chỉ không thể thỏa hiệp với một chế độ bất công, độc đoán, miệt thị giá trị con người và phỉ báng truyền thống nhân ái của dân tộc, và thêm nữa ... bán nước đợ dân ...

Vì vậy mà giờ này chúng ta không có một chỗ đề về, chúng ta phải đón thêm một cái tết trong dáng vẻ thờ ơ của người và trời đất quanh đây. Tôi biết em buồn lắm. Tôi biết em hờn em tủi. Tôi biết nhiều người Việt đã ứa nước mắt trong đêm qua, sáng hôm nay khi thấy mình thêm một lần lỡ hẹn với quê hương. Tuy nhiên chúng ta có làm khác được đâu em. Chúng ta đã chọn tự do làm lẽ sống thì chuyện sinh ly chỉ là một cách thế chẳng đặng đừng. Sự chọn lựa nào cũng có mất mát. Ăn miếng cơm nhờ chúng ta còn biết hổ thẹn thì làm sao chung đụng với những kẻ chỉ biết ăn chặn miếng cơm đói của người đồng chủng. Có khóc bữa hôm nay chúng ta vẫn còn may mắn hơn ngàn lần bạn bè chúng ta còn khóc hận từng ngày, ở đó. Bởi vậy hãy khóc cho nguôi đi em rồi lau khô nước mắt. Giọt lệ ly hương dẫu sao vẫn là giọt lệ chung tình. Chúng ta khóc nhớ vì chúng ta thương tiếc lắm. Chớ em thấy đó, còn rất nhiều kẻ sống ngay tại chính quê hương mình mà vẫn đành lòng ghét bỏ quê hương.

Xin cho tôi được khóc cùng em những giọt nước mắt nghịch thường này.

Cao Vị Khanh

Tản Mạn Về Ngựa

 

I. TỔNG QUÁT VỀ NGỰA

Ngựa nhỏ nhất là ngựa Falbella cao khoảng 48cm, chỉ nặng 14kg. Ngựa to nhất là ngựa Belgian cao 1 met 8, nặng 1.450 kg.
Ngựa có lông màu đen, nâu, xám, màu kem, vàng và trắng.
Ngựa đực có 40 răng, ngựa cái có 36 răng. Giữa răng cửa và răng hàm là một khoảng trống nên người ta đặt 1 hàm thiếc ở đó. Tốc độ tối đa của ngựa là 70 cây số/giờ.
Khi ngựa từ 1 tuổi trở lên có thể kết bạn, chu kỳ giao phối của ngựa cái là 21 ngày, mùa Xuân là mùa ngựa sinh sản.

II. SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA GIỐNG NGỰA

Khoảng 700 năm sau Tây Lịch, nhà tiên tri Mohammed đã đi rao giảng đạo Hồi bằng cách chỉ huy đoàn kỵ mã Ả-Rập giẫm nát Châu Âu mở rộng tới bờ Địa Trung Hải, sang Phi Châu, bao gồm cả Tây Ban Nha. Trước khi đế quốc nầy sụp đổ, Tây Ban Nha đã bị cai trị hàng trăm nam, do đó, ngựa Ả-Rập pha giống ngựa Tây Ban Nha thành một giống ngựa tốt, là tổ tiên của ngựa Châu Mỹ.
Mấy trăm năm sau, Thành Cát Tư Hãn bằng kỵ binh chiếm gần hết nước Trung Hoa, Tây Hạ, Triều Tiên, Ba Tư, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và một phần đất Nga. Quân Mông có tài cưỡi ngựa cả ngày không biết mệt, vó ngựa tới đâu cỏ không mọc nổi!
Ngựa lai giống của Hồi Giáo và Mông Cổ lan khắp thế giới, trong đó ngựa Ả-Rập lai giống ngựa Tây Ban Nha được gây giống ở châu Âu, còn ngựa Mông Cổ thì được gây giống ở Á Châu.
Năm 1518, một người Tây Ban Nha tên Don Hermando Cortés dẫn một đoàn kỵ binh 16 con ngựa đổ bộ lên Mexico tìm vàng. Dân Da Đỏ học lóm cách cưỡi ngựa của Tây Ban Nha để săn bắn và đánh trận, chống lại người da trắng. Sau nhiều trận đánh, người Mỹ thấy ngựa chiến lợi hại của người Da Đỏ nên Đại tá Ronard Mckenzie đã nhận lệnh, chỉ huy đoàn kỵ binh thứ 4 đã thảm sát toàn bộ lạc Kiowas và 1.400 con ngựa!
Định cư ở Mỹ một thời gian, vào khoảng thế kỷ 16, di dân Tây Ban Nha rút về nước, bỏ lại tất cả gia súc, trong đó có ngựa, chúng trở thành ngựa hoang.
Gần một thế kỷ sau, người Châu Âu trở lại Mỹ thì ngựa hoang có đàn gần cả chục ngàn con.
Năm 1918, nước Mỹ có 29 triệu con ngựa.

III. NGỰA TRONG VĂN CHƯƠNG, ÂM NHẠC VIỆT NAM

-Chinh Phụ Ngâm: nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn do Bà Đoàn Thị Điểm dịch sang chữ Nôm:

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao,
...
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
...
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
...
Tiếng nhạc ngựa lần xen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
...
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon,
...
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.
...
Chàng ruỗi ngựa dặm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in

-Đoạn Trường Tân Thanh: của Nguyễn Du

Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha màu áo, nhuộm non da trời.
...
Gió chiều như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người còn trông theo.
...
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong Thu đã nhuốm màu quan san.
...
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.

-Mòn Mỏi: bài thơ của Thanh Tịnh

-Em ơi! nhẹ cuốn bức rèm tơ
Tìm thử chân mây khói tỏa mờ
Có bóng tình quân muôn dặm ruỗi
Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ

-Xa nhìn trong cõi trời mây
Chị ơi! em thấy một cây liễu buồn

-Bên rừng em hãy lặng nhìn theo
Có phải chăng em ngựa xuống đèo?
Chị ngỡ như chàng lên tiếng gọi
Trên mình ngựa hí, lạc vang reo

-Bên rừng ngọn gió rung cây
Chị ơi! con nhạn lạc bầy kêu sương

-Ô kìa bên cõi trời Đông
Ngựa ai còn ruỗi dặm hồng xa xa

-Nầy lặng em ơi! lặng lặng nhìn,
Phải chăng mình ngựa sắc hồng in
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống
Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm

-Ngựa hồng đã đến bên hiên
Chị ơi! trên ngựa chiếc yên...vắng người

-Ngựa Tiêu Sương: bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu

Tiếng đồn ngàn dặm ngựa Tiêu sương,
Lầm đứa gian mưu nghĩ khá thương.
Giậm vó chẳng màng ăn cỏ Tống,
Quay đầu lại hí nhớ tàu Lương.
Chẳng cho chủ khác ngồi lưng cổ,
Thà chịu vua ta nắm khớp cương.
Ngựa nghĩa còn cứu nhà nước cũ,
Làm người bao nở phụ quê hương.

-Bài cổ thi “Lương Châu từ”:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Bài dịch thơ (của Tô Kiều Ngân):

Rượu Bồ đào, chén dạ quang,
Mới vừa muốn uống đã vang tiếng tỳ.
Say nằm trận địa, cười chi?
Xưa nay chinh chiến người đi không về.

-Ca dao Việt Nam:

Rồng chầu xứ Huế
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người xa xứ lạc loài tới đây
Tới đây thì phải ở đây
Bao giờ bén rể xanh cây mới về.

-Lục súc tranh công:
Ngựa nghe nói tím gan, nổ phổi
Liền chạy ra hầm hí vang tai
“Ớ nầy nầy, tao bảo chúng bây
Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa?
...
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia
Ông Quan Công sáu ải thoát qua
Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố
. . . . . . . . . . . . . .
-Hai câu thơ của vua Trần Thánh Tông:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
Dịch nôm:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông thiên cổ vững âu vàng

-Âm nhạc VN:

Cổ Nhạc có những bản như Lý Ngựa Ô Nam, Lý Ngựa Ô Bắc, Hướng Mã Hồi Thành, Sơn Đông Hướng Mã...
Tân nhạc có nhiều bài đề cập tới ngựa như:
-Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang (của Ngọc Chánh và Phạm Duy)
-Ngựa Phi Đường Xa (của Lê Yên)
-Người Kỵ Mã Trong Sương Chiều (của Văn Sanh)
-Ngẫu Hứng Ngựa Ô (của Trần Tiến)
-Chàng Dũng Sĩ Và Con Ngựa Vàng (tức Đạo Ca 3 của Phạm Thiên Thư và Phạm Duy )
-Ngựa Hồng (tức Rong Ca 9 của Phạm Duy)
-Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa (của Lê Uyên Phương)

-Chuyện Phù Đổng Thiên Vương và con ngựa sắt:

Đời vua Hùng Vương thứ 6, giặc Ân sang xâm chiếm nước ta, Vua sai sứ đi rao tìm nhân tài ra dẹp giặc. Ở làng Phù Đổng (Bắc Ninh) có một đứa bé xin đi đánh giặc Ân. Đứa bé xin đúc cho một con ngựa sắt và 1 cái roi sắt, khi đúc xong, đứa bé vươn vai cao một trượng nhảy lên lưng ngựa, cầm roi đi đánh giặc. Sau khi phá tan giặc Ân, người và ngựa đến Sóc Sơn thì biến mất. Vua nhớ ơn, lập đền thờ ở làng Phù Đổng, sau phong là Phù Đổng Thiên Vương.

-Chuyện Tái Ông Thất Mã:

Xưa có một ông già mất ngựa. Mọi người tỏ ý tiếc cho ông. Ông nói: “Biết đâu đó lại chẳng là điều may mắn!”. Ít lâu sau, con ngựa ấy dẫn một con ngựa Hồ về nhà ông. Mọi người đều mừng cho ông già. Ông nói: “ Biết đâu đó chẳng là cái hoạ”.
Đứa con trai của ông cưỡi con ngựa Hồ, bị ngã què chân. Mọi người lại đến an ủi, Ông nói “ Biết đâu đó lại chẳng là phúc lớn”.
Năm sau, quân Hồ tràn vào, trai tráng bị bắt lính, ra trận chết rất nhiều, riêng con trai của ông già bị què chân nên không bị bắt lính.

-Chuyện con ngựa thành Troy:

Xưa ở mạn Bắc Tiểu Á Tế Á có thành Troy giàu có, dân cư đông đúc, Hy Lạp muốn đánh chiếm đã 10 năm mà không được. Tướng Odyssey của Hy Lạp bày mưu làm một con ngựa bằng gỗ rất lớn, rỗng ruột, có bánh xe để di chuyển cho một toán quân sĩ núp trong bụng ngựa rồi đẩy con ngựa gỗ đến trước cửa thành Troy khiêu chiến, nhưng quân Hy Lạp bỗng rút quân bỏ lại con ngựa gỗ trước mặt thành.
Quan quân của thành Troy thấy vậy ra đẩy con ngựa gỗ vào thành, mở tiệc ăn mừng chiến thắng thu được ”chiến lợi phẩm”, đêm ấy quan quân say vùi. Đến khuya, toán quân trong bụng ngựa gỗ mở nắp chạy ra giết chết lính canh rồi mở của thành cho quân Hy Lạp mai phục bên ngoài tràn vào đánh chiếm thành Troy.

Vinh Hồ sưu tầm & Biên Soạn
30/11/2025

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

Rộn Ràng Là Xuân


Thơ: Quang Hà
Thơ Tranh: Kim Oanh

Xuân Mơ - Xuân Ước

 

Bên ngoài đông vẫn còn đây
Tất lòng ta biết Xuân đầy quê hương
Những người ly xứ viễn phương
Nhìn bông tuyết trắng tưởng hoa mai vàng
Đó rồi hoài tưởng dậy lan
Nhớ ngày thơ ấu xuân sang quây quần
Bao giờ tương ngộ người thân
Đông Tây hai hướng lựa lần buâng khuâng
Đi mãi cũng sẽ mõi chân
Chim bay mõi cánh chao thân bao lần

Tết Bính Ngọ đã vào sân
Cầu cho trăm họ vạn phần khá hơn
Những ai còn cảnh Neo đơn
Gặp Người tri kỷ như đờn có dây
Sức khỏe tốt cho mỗi ngày
Tâm an trí suốt khoan thai nhìn đời
Hạnh phúc gia đạo an ngơi
Ba Ngài Phước - Lộc - Thọ thỉnh mời vào đây
Năm Ngọ xin mang vận may
Nông - Công- Thương được lộc đầy hạnh thông

Kim Trúc
Tết 2026


Bắt Chước Cụ Tú Xương,‘’Cảm Tết’’ - Tết Viễn Phương


Xướng:

Bắt Chước Cụ Tú Xương,‘’Cảm Tết’’

‘’Anh em đừng nghĩ tết tôi‘’.. giàu!
Hưu bỗng bây giờ có được bao!
Rượu đỏ mua, khi đang bớt giá
Champagne, con gái mới mang vào
Chợ trời, ngũ quả: dăm đồng bạc
Vườn xóm, xin chia: mấy nhánh đào
Tết ở quê người, lòng chẳng ''Tết''!
''Ăn'' thì ''ăn'' vậy, có vui đâu! 

Chỉ là dịp để ''chúc mừng'' (*) nhau!

BP
12-2-2026
(*) Năm mới
***
Hoạ:

Tết Viễn Phương

Bằng hữu lâu nay chẳng dám giàu
Đời hưu cơm áo đáng là bao
Mừng xuân, rượu nhắp vơi bình cũ
Đón Tết, trà pha đượm chén vào
Cánh hữu dăm tờ mua nải chuối
Vườn nhà một gốc ngắm cành đào
Tương tri thấu hiểu lòng lữ thứ
Gượng nở môi cười, chẳng sướng đâu!

VQH
 

Xuân Ở Chân Mây

 

(Xin phép được tặng nhị vị hiền tỷ
Cao Minh Nguyệt và Ngọc Hạnh
VTS hoa khôi của làng văn)

  

Chị ơi, nếu chị biết rằng 

Ngày xưa, khi mới trăng rằm, đã yêu

Rồi tình cứ lớn lên theo

Tuổi đời với biết bao nhiêu cuộc tình


Chị ơi, ngày tháng chúng mình 

Rong chơi không chán, trở thành thói quen

Chúa Xuân đứng đợi bên rèm 

Mình còn khoá cửa buồng tim, chờ Người 


Hỏi thầm nhau khách xa xôi

Còn đang chinh phạt phương trời nào đây

Ngựa hồng mù mịt chân mây

Nhớ nhung mòn mỏi, hao gầy dáng thơ


Mình yêu cuộc sống sông hồ

Của Người nên đợi, nên  chờ đã lâu

Xuân này, rồi lại Xuân sau

Mấy mươi năm tựa bóng câu qua thềm


Chị ơi, tóc bạc màu thêm

Mà tình yêu cứ nõn mềm như tơ

Vòng tay ấp ủ mộng mơ

Từ hoa niên đến bây giờ cho ai


Vẫn trong tha thiết, u hoài 

Vẫn yêu thương đến tuyệt vời phải không 

Những gì trừu tượng, mông lung

Vượt xa tầm mắt, cánh hồng vút bay...


Cao Mỵ Nhân
  


Nhạc Xuân (Nguyễn Bính)


Trước thêm năm mới xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ “Nhạc xuân” Nguyễn Bính sáng tác năm Canh Thìn (1940) cách nay hơn nửa thế kỷ:

Bài thơ Nhạc Xuân (Nguyễn Bính)

Mùa xuân năm Canh Thìn (1940) ở xóm Trạm, Nguyễn Bính đã viết một bài thơ dài, treo lên tường như một bức tranh trang trí Tết. Bài thơ Nhạc xuân như những lời tâm sự của các cô gái quen của ông đã lấy chồng hoặc tha phương cầu thực. Tuy nhiên, nhà thơ nhớ thì cứ nhớ, cố nhân đi thì cứ đi, không thể ngăn cản được bước chân của Huyền Trân về với chồng. Người đi rồi chỉ còn cánh hoa đào rơi như đệm thêm vào nỗi buồn của thi sĩ::

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Xuân đã sang đò nhớ cố nhân
Người ở bên kia sông cách trở
Có về Chiêm Quốc như Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân
Phận gái ví theo lề ép uổng
Đã về Chiêm Quốc như Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Lăng lắc đường xa nhớ cố nhân
Nay đã vội quên tình nghĩa cũ
Mà về Chiêm Quốc như Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Pháo đỏ đầy thềm nhớ cố nhân
Cung nữ như hoa vườn thượng uyển
Ai về Chiêm Quốc hộ Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Rượu uống say rồi nhớ cố nhân
Đã có yêu nhau là đến thế
Đừng về Chiêm Quốc nhé Huyền Trân?

Đừng về Chiêm Quốc nhé Huyền Trân
Ta viết thơ này gửi cố nhân
Năm mới tháng giêng mồng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.

Huyền Trân ơi!
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi

Mở đầu bài thơ “Hôm nay là xuân, mai còn xuân. Xuân đã sang đò nhớ cố nhân” Mùa Xuân với thi nhân là vĩnh cửu là bất tận. Chẳng những hôm nay, ngày mai mà có lẽ là mãi mãi.:

Điệp khúc: “Hôm nay là xuân, mai còn xuân” được lập đi lập lại nhiều lần và đặt ở đầu mỗi khổ thơ như khẳng định xuân còn mãi với nhà thơ. Thật đúng là: “Xuân khứ, xuân lai, xuân bất tận. Xuân đi xuân lại mãi còn xuân (Du xuân – Lữ Liên)

Thật là tuyệt vời

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Một cánh đào rơi nhớ cố nhân

Qua lý thú và cũng rất bất ngờ ở đây có sự hội ngộ kỳ diệu của nhà thơ Nguyễn Bính và Thôi Hộ, hai nhà thơ hai thế hệ cùng một ý tưởng với cố nhân:

“Nhân diện bất tri hà xứ khứ.
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong”

(Năm nay hoa nở người đâu thấy
Chỉ còn hoa đào cợt gió đông)

Hơn nửa thế kỷ đi qua đọc lại bài thơ “Nhạc xuân” chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động :
“Năm mới tháng giêng mồng một tết Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.”

Nguyễn Bính sinh vào cuối xuân Mậu Ngọ (1918) và từ giả cõi đời trong một chiều 29 Tết Bính Ngọ (1966), năm ấy không có ngày 30, còn phơi phới sức xuân ở tuôi 49, “cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc” thi nhấn đã để lại cho đời nguyên vẹn cả một mùa xuân…

Có lẻ đây cũng là sự trùng hợp ngầu nhiên mà thú vị của cuộc đời nhà thơ với thời gian định mệnh cái duyên kỳ ngộ, ta càng có quyền để cho sự liên tưởng được đẩy đi xa hơn nữa… Giai thoại Nguyễn Bính kể: một người bạn của Nguyễn Bính là Trần Lê Văn cho rằng tác giả “Lỡ bước sang ngang” đã tiên liệu trước sự ra đi của mình ngay từ thời viết mấy câu thơ trong bài Nhạc xuân:

Năm mới tháng giêng mùng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.

Chúng ta có thể không hoàn toàn nghĩ như Trần Lê Văn song phải công nhận là giữa Nguyễn Bính với cái thời khắc trời đất giao hoà này, đúng là có mối duyên nợ thầm kín nào đó…

Quý Tử Sưu Tầm
***
Góp Ý:

Bài thơ " Nhạc Xuân" của Nguyễn Bính tiêu biểu cho thân phận hay định mệnh của người tha hương nhớ về quê cũ. Nỗi nhớ cố nhân lặp đi lặp lại: Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân, Một cánh đào rơi nhớ cố nhân, Rượu uống say rồi nhớ cố nhân...
"Huyền Trân" là biểu tượng của số phận bị đẩy đi xa, vì vậy "Nhạc Xuân" là khúc ngâm của một đời lưu lạc.

Theo Thụy Khuê khoảng 1941–1942 Nguyễn Bính rời Hà Nội, lang bạt Thanh Hóa – Huế – Rạch Giá – Hà Tiên – Sài Gòn; ngủ đình, ngủ chợ, sống đời phiêu bạt của một thi sĩ nghèo.

Hoàng Yến
***

Ai về Chiêm Quốc hộ Huyền Trân? - Thơ Nguyễn Bính - Ảnh CPA - Thực Hiện Bùi Minh Cương

Kim Oanh xin cập nhật sáng tác Thơ Phổ Nhạc của Nhạc Sĩ Bùi Minh Cương do một độc giả ẩn danh đã gửi vào trang Blog Long Hồ Vĩnh Long. Xin cảm ơn toàn Ban.

Trân trọng.

Kim Oanh

 


Thưa Rằng Son Sắc Xuân Xanh


Sáng nay vườn ta nở những đóa thủy tiên đầu tiên, trời ơi cái màu vàng rực rỡ, màu trắng tinh khiết thanh tân. Đất trời đông giá mà sao thấy sắc xuân long lanh trên đầu ngọn cỏ. Những đóa thủy tiên nở sớm là dấu hiệu của mùa xuân đang đến.

Thưa rằng xuân xanh vẫn son sắc vĩnh hằng, có đi đến bao giờ! Nhựa xuân âm ỉ chảy trong từng thớ gỗ, mạch lá. Sắc xuân ngủ trong củ hoa chỉ đợi khi trời ấm thì bừng lên. Xuân không đi không đến. Xuân vẫn ngụ giữa trời đông, ẩn trong vô số nụ và chồi. Xuân có ngay giữa hạ với sắc lá xanh biếc. Xuân hòa trong muôn hồng nghìn tía của mùa thu. Xuân ở trong đất mẹ, vi vu cùng làn gió vô tận đất trời. Xuân ấm áp tia nắng và dĩ nhiên róc rách lưu chuyển trong dòng nước miên viễn kia. Xuân chan hòa khắp nhân gian, sáng rực rỡ dung thông ba cõi mười phương.

Mùa xuân đã không sanh không diệt, không đến không đi, không tăng không giảm…Cớ sao ta lại bảo xuân về? Thưa rằng cái tâm cảm em ơi! Vì chúng ta chấp vào cái tướng mà không thấy cái tánh ấy thôi. Phần nữa vì thế gian này là thế giới đối đãi, thế giới nhị nguyên. Vì chúng ta thô nên mới sanh tâm ra vậy.

Năm xưa Lục tổ Huệ Năng đã từng thốt lên “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Cái tâm (soul, spirit, mind, thought…) khi không trụ vào bất cứ vật gì, việc gì… thì nó trở nên kỳ diệu vô cùng, diệu dụng không sao nói hết được! Hầu hết mọi người chúng ta tâm trụ vào tiền bạc của cải, nhan sắc sắc dục, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ chơi bời. Trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên tâm chúng ta không thể dụng được cái diệu. Tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần nên mới sanh tâm xấu – đẹp, đến – đi, tăng – giảm… và từ đó mới có xuân khứ, xuân lai, xuân đáo, xuân này hơn xuân kia…và dĩ nhiên không thể thấy đóa hoa mai ngoài sân trong đêm tối như ngài thiền sư Mãn Giác. Càng không thể “ngộ” đóa hoa sen như ngài Ca Diếp.


Mùa xuân đất trời, mùa xuân đời người còn không mất thì mùa xuân chánh pháp cũng không thể diệt, dù rằng quy luật thịnh - suy vẫn có đấy. Quy luật thành – trụ - hoại – không vẫn tồn tại. Sở dĩ vinh viễn son sắc xuân xanh là vì nhân duyên, nhân duyên vốn không nên son sắc xuân xanh cũng không sanh không diệt. Sanh diệt là cái tướng, tướng có tánh không. Có lẽ cũng từ đây mà đời có gã du tử mới làm thơ mùa xuân son sắc vĩnh hằng

Dẫu vô thường thật
hãy còn
Mong manh cái đẹp sắc son xuân về
Ùn lên khí vị bốn bề
Đất trời cao rộng
chưa hề thịnh suy

Mùa xuân son sắc vĩnh hằng, dù là thời gian này vốn vô thường. Chúng ta đến đi vô số lần rồi em hỡi và sẽ còn tiếp tục như thế. Thời gian vô thủy cô chung, quốc vận và thế vận thịnh suy liên lỉ. Vậy thì mình hãy vui trong phút giây hiện tại này, bây giờ và ở đây.

Mùa xuân đẹp lắm em ơi! Mùa xuân muôn hoa đua nở, hương sắc ngọt ngào, bướm ong vờn quanh, chim ca ríu rít…Đã là xuân thì hẳn nhiên thế. Em về trẩy hội xuân, tha thướt tà áo dài, lên chùa lễ Phật. Nói chuyện sắc – không hay Bát Nhã e cao xa quá. Mọi người chỉ cần cầu quốc thái dân an, binh đao chẳng động, sống chan hòa tương thân tương ái là tốt lắm rồi. Cầu cho cha mẹ sống đời an lạc, gia đạo thuận hòa là thiết thực nhất ha em. Nếu mình khá hơn chút thì cầu và làm theo lời Phật “Không làm các điều ác/ làm các điều lành/ giữ tâm ý trong sạch…” (Kinh Pháp Cú). Làm được nhiêu đây thì mùa xuân sẽ đẹp biết bao, bốn mùa đều đẹp, trọn đời đẹp làm sao! Đây cũng là bổn hoài chư Phật ba đời mười phương. Mọi người ở thế gian này không làm các điều ác, làm các điều lành, tâm ý thanh tịnh thì thế giới này là tịnh độ rồi còn gì và khi ấy thì vĩnh viễn son sắc xuân xanh.


Mình sống trong trời đất, vay mượn dưỡng khí từ không khí để duy trì làn hơi. Ánh sáng và hơi ấm mặt trời, cơm gạo từ đất mẹ. Mình có hình hài này từ tinh cha huyết mẹ, mình nên người nhờ thầy cô. Mình biết sống đời thiện lành nhờ Phật pháp soi đường. Mình sống ở vùng lãnh thổ tiếp nhận những người thất cơ lỡ vận. Mình sống ở quốc độ nào thì nhờ ơn quốc độ đó. Nước Việt của mình từ bao đời nay là nơi nương thân của tộc việt. Để có được mảnh đất này thì tổ tiên đã đổ ra biết bao xương máu, mồ hôi và sinh mạng để tài bồi. Mùa xuân dân tộc cũng nhiều bận thăng trầm. Có những mùa xuân tang tóc đau thương và cũng có những mùa xuân hào hùng biết mấy. Ba trăm năm trước, vua Quang Trung với áo bào vàng nhuộm đen bởi khói súng đã hiên ngang cỡi voi vào thành Thăng Long. Có lẽ đây là mùa xuân hiển hách nhất, rực rỡ nhất của tộc việt ta:

Em về trẩy hội tháng giêng
Cờ đào phất phới trống chiêng rộn ràng
Ngày xưa vua mặc áo vàng
Nhuộm đen khói súng khải hoàn hoan ca

Em ơi! Mình có mùa xuân dân tộc, mùa xuân cố quận nhưng thật sự thì tộc Việt vẫn chẻ chia Bắc - Nam, nghi kỵ trong - ngoài, kỳ thị sang - hèn, phân biệt trí - ngu…giá mà mình có được mùa xuân thống nhất, mùa xuân cảm thông, mùa xuân an lạc, mùa xuân yêu thương… thì hay biết mấy. Ấy là chưa nói đến mùa xuân tỉnh thức, mùa xuân chánh pháp…Một mai có được thì không chỉ tộc Việt mới an lạc thái hòa mà sức ảnh hưởng, sóng từ trường sẽ lan tỏa đến với mọi người ở thế gian này.

Em biết không? Giữa mùa đông hải ngoại các vị sư đi bộ vì hòa bình, dẫn đầu bởi sư Tuệ Nhân (Bhikkhu Pannakara) đã thực hiện hành trình đi bộ vì hòa bình đi xuyên qua lòng nước Mỹ. Các sư đã làm cho nhân duyên khởi sắc một mùa xuân Phật pháp ở quốc độ này. Sức ảnh hưởng lan rộng, hình ảnh ảnh các nhà sư lay động lòng người. Thông điệp của cuộc đi bộ vì hòa bình đã làm nên mùa xuân yêu thương, mùa xuân cảm thông, mùa xuân hy vọng, mùa xuân tỉnh thức trong lòng nước Mỹ.


Các nhà sư đi bộ vì hòa bình đã làm nên một sự kiện có một không hai ở quốc độ này. Toàn bộ các đài truyền thông chính thống đưa tin. Tất cả mạng xã hội đu trend ăn theo…Tất cả tràn ngập hình ảnh của quý sư, đưa tin từng phút, dõi theo từng bước chân trên hành trình của các sư. Ấy vậy mà người cố quận mình không mấy ai biết. Các cơ quan truyền thông trong nước đều im lặng. Cố quận mình đã vào xuân, mùa xuân thiên nhiên chứ chưa hưởng được mùa xuân tự do, mùa xuân cảm thông, mùa xuân yêu thuơng và mùa xuân hy vọng, và dĩ nhiên cũng chưa hưởng được mùa xuân an lạc nảy nở theo từ những bước chân vì hòa bình của quý thầy.

Mùa xuân son sắc vĩnh hằng, dù rằng đời có thế nào đi nữa, dù quốc độ có thjnh – suy, dù rằng lòng người có chẻ chia…nhưng mùa xuân vẫn là mùa xuân.

Đóa mai vàng của thiền sư Mãn Giác vẫn nở trong đêm trường. Cành đào của Thôi Hộ vẫn vĩnh hằng cười trong gió đông. Cành hoa sen mà đức Thế Tôn giơ lên trong pháp hội Linh Sơn vẫn mãi mãi trong tâm trí mọi người chúng ta dù có là mùa xuân hiện hữu hay không hiện hữu.

Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0226

Nguyện Ước Đêm Giao Thừa


Tìm đúng số bàn, tôi nép mình ngồi vào chỗ để đừng làm phiền những người đang lắng tai nghe người MC bắt đầu chương trình gây quỹ cho những người kém may mắn vào mùa Giáng Sinh tại quê hương thứ hai của chúng tôi.

Tiếng vỗ tay rào rạt vang lên khi cô MC vừa dứt lời, tôi quay sang trái cùng lúc với cặp mắt của chị ấy cũng nhìn tôi như thôi miên, rồi cả hai chúng tôi cảm động vỡ òa vui sướng, ôm chầm lấy nhau:
-Linh!… Linh phải không?
-Cũng đã trên 30 năm mình không gặp lại nhau rồi Uyên nhỉ!… Linh giới thiệu đây là chồng của Linh.
Tôi gật đầu chào người đàn ông bên cạnh cô bạn gái, tôi nhớ đã đi dự đám cưới của Linh cách đây 35 năm, Linh lấy chồng rất sớm khi chúng tôi vừa xong trung học, và hình như khuôn mặt của người này không giống người mà tôi đã từng thấy trong ngày đám cưới của nàng, vả lại có phần trẻ hơn khá nhiều.
Chúng tôi vừa ăn uống, nghe nhạc, tâm sự kể lể những gì đã làm trong 30 năm qua. Bây giờ cả hai đứa đều về hưu ở tuổi 60 để còn sức khỏe thực hiện những điều mình ao ước bấy lâu nay.

Khi Tuệ, chồng của Linh xin phép ra ngoài gặp mấy người bạn ngồi ở bàn cuối phòng để nhậu nhẹt với nhau, Linh mới khều tôi:
-Linh không nhận ra…ông xã mình… không phải là người Uyên đã gặp cách đây 35 năm sao?
-Mình… biết là không phải người trước rồi, nhưng chưa dám hỏi!
Khuôn mặt Linh trở nên buồn, xa xăm:
-Không biết mình có phải là người cao số không đó Uyên! Đây là người thứ… tư của mình rồi đó!
-Người thứ tư!
-Nói nhỏ thôi chứ, muốn cho cả phòng này biết hay sao?!
-Ừm! Xin lỗi nhe, mình… hơi giật mình!… Anh có vẻ trẻ tuổi?
-Người đầu tiên là anh Tuấn như Uyên biết đó, hồi đó mình lấy nhau nhanh quá, không kịp tìm hiểu, thật ra mình chỉ muốn ra khỏi nhà ba mẹ, tránh sự kìm kẹp khó tính của ba, nên lấy đại Tuấn, hơn mình có hai tuổi, cũng mới lớn nên còn ham chơi, không có bổn phận với gia đình, cũng may tụi mình không có con… Rồi chia tay. Người thứ hai thì tụi này đều rất yêu nhau, nhưng về làm dâu không hợp tí nào với gia đình chồng, họ còn khó hơn ba mẹ mình nữa, chồng thì lại nghe lời mẹ của ảnh, mình cứ phải khóc ngày đêm vì tủi thân, ảnh thì phải giằng co giữa mẹ và vợ… Tụi mình lại ly dị. Vì kinh nghiệm hai lần đầu, nên người thứ ba mình đã bằng lòng với một ông lớn hơn mình đến 15 tuổi, để được yêu thương chiều chuộng, vật chất không thiếu, con cái ổng đã lớn hết, mình không có trách nhiệm, nhưng ông ấy lại gia trưởng vô cùng, ổng nói điều gì cũng bắt mình phải làm theo, mình không được có ý kiến gì cả, như con chim sống trong chiếc lồng sơn son thếp vàng, vài năm đầu mình còn nhịn, nhưng đến năm thứ năm thì mình hết chịu nổi…Mình lại chủ động làm đơn! Ai cũng có một đời để sống, tại sao lại phải đày đọa mình quá.

Mình chán ngán số phận, định ở vậy luôn, nhưng ba năm sau, thì gặp Tuệ…
Tuệ là người thứ tư, mình thấy không có gì là hoàn hảo cả, nhưng hai tụi mình rất hợp về bất cứ điều gì, đi chơi, party, nhảy nhót, không thích có con nhỏ, làm bếp cả hai đứa cùng làm, ban đầu còn gọi mình bằng chị, Tuệ rất chiều mình, mình nghĩ chỉ là bạn đi chơi cùng thôi…
Tôi ngắt lời bạn:
-Hợp nhau là chính Linh ơi, có giàu sang cách mấy, sống gia trưởng cũng không thể nào bền lâu được, Uyên thấy hai bạn xứng đôi lắm!
-Nhưng mà Linh hơi buồn một điều…
-Điều gì mà cứ úp mở từ nãy giờ vậy?
-Ảnh nhỏ hơn mình đến năm tuổi lận đó! Đã thế cái bề ngoài trẻ trung, galant lắm nên nhiều cô “lăm le,” mình cứ phải “để mắt” đó, nên cũng khổ!
-Trời ơi sống mà không tin nhau 100%, cứ phải canh me thì khổ lắm đó nhen.
-Bởi vậy nên mình cứ sợ mình già nhanh hơn ổng đó… Uyên có thấy điều đó khi mới gặp mình với ổng không?
Trong lòng tôi cũng cảm thấy Tuệ trẻ hơn Linh, nhưng không muốn làm bạn buồn, tôi trấn an:
-Linh trẻ trung năng động, không thấy già chút nào, hồi xưa và bây giờ Linh không thay đổi gì hết đó, nên khi gặp là Uyên nhận ra ngay, chứng tỏ đâu có già tí nào đâu!

Linh hớn hở vui tươi ngay:
-Phụ nữ mau già hơn đàn ông, lại thêm lo lắng nữa thì chẳng bao lâu sẽ thành “chị hai.” Uyên biết không, hôm nọ tụi mình đi vô tiệm ăn phở, ổng vô trước mình để giữ chỗ, cô receptionist ở nhà hàng hỏi ảnh “anh đi một mình hả?” đến khi mình vừa bước vô thì cổ hỏi “cô ơi cho cháu biết cô có làm reservation chưa?,” chứng tỏ là cô gái đó thấy ổng trẻ, gọi ổng là anh mà gọi mình bằng cô lận đó, chứng tỏ mình già hơn ổng, bữa đó đi ăn mà mình không vui.
-Haha Linh thiệt tức cười đó nhen, có gì mà buồn chứ, nhiều khi mình không sửa soạn, ra đường gặp người quen, họ nhận không ra luôn vì họ quen nhìn mình trong party với mái tóc chải bồng bềnh, lông mi giả dài ngoằng cong vút, đôi môi bóng lộn đỏ chót, nước hoa thơm lừng, chả lẽ đi chợ mình cũng phải giữ hình ảnh lộng lẫy như trong party hay sao chứ, thôi kệ đi, có lúc này lúc kia chứ!
-Không hiểu sao mình vẫn cứ không kệ được! mình biết lấy chồng trẻ là phải canh chừng, phải vật vã đau khổ tưởng tượng lung tung khi ổng đi làm về trễ, phải nhìn nét mặt vui buồn của ổng mỗi bữa cơm ngon dở ra sao, mình cảm thấy như mình phải “phấn đấu”gấp đôi so với những người trước, nhiều lúc mình lên giường nằm mà thấy mệt cả người…
-Ủa sao Linh nói là hai vợ chồng hợp nhau lắm mà bây giờ có vẻ bi quan thế?
-Đã nói là mình hay suy nghĩ mà! ổng rất chiều mình…Nhưng dù gì mình cũng đã trải qua bốn đời chồng rồi, nên hễ ổng đối xử với mình có một chút gì là mình “nhạy cảm” liền; hay nhiều khi mình cứ nghi oan cho ổng… hổng biết chừng!
***

Mùa xuân Linh nhí nhảnh hiện ra trước mặt chúng tôi với những chiếc váy ngắn trẻ trung, ôm sát thân hình, đầu tóc cột những chiếc ruban nơ mà cho tiền tôi cũng không dám cột! Linh phải đi tập gym mỗi ngày để giữ thân hình luôn rắn chắc gọn gàng, ba vòng đâu ra đấy, nàng muốn làm cho mình trẻ lại để hợp với người chồng luôn yêu đời và yêu người ấy.

Nàng khoe những tấm hình chụp nằm lăn trên những sườn đồi cỏ dại đầy hoa thật đẹp, lãng mạn mà khi nhìn, tôi tưởng mình phải là bà ngoại của lũ trẻ ấy, tuy tôi cũng ngang bằng tuổi nàng! những hành động đó thật tự nhiên chỉ dành cho lứa tuổi hồi xuân, mộng mơ.
Tôi vui với niềm vui của bạn, hùa vào với niềm hạnh phúc của nàng, thầm nghĩ họ giỏi quá, biết cách sống, chỉ có tôi là tự ti mặc cảm già nua với số tuổi 60 của mình, không dám sống thực với đời, họ tận hưởng hạnh phúc giữa thiên nhiên mà chẳng mang chút mặc cảm tuổi tác, họ thật biết hưởng thụ!
Thi thoảng, tôi an ủi bạn mỗi khi nàng than:
-Mi có thấy gò má ta cao không?… nếu không thì sao ta lại cao số thế!? Ta nghĩ nếu có dịp sẽ đi gọt gò má để không bị cao số nữa!
-Ở bên đây người ta không sợ cao số đâu, mà chỉ sợ lấy không đúng người, ở cả đời với một người mình không yêu hoặc bị bạo hành ức hiếp mới sợ, chứ không hợp thì lấy người khác có sao đâu, chuyện bình thường mà!
-Nhưng tại sao có những người chỉ có một chồng một vợ thôi, chứ có ai đến bốn đời đâu chứ! Ta nghĩ mà tủi thân.
-Có nhiều khi mình mua vài chiếc áo vẫn không vừa ý, phải đến cái thứ năm, thứ sáu mới đúng ý mình về màu sắc, kiểu cọ, cho nên lấy chồng/vợ cũng vậy thôi, chưa đủ duyên để gặp người trong mộng, mi đừng tự trách làm gì, miễn sao cuối đời mình sống hạnh phúc bên người hợp với mình mới gọi là cuộc sống thành công viên mãn của đời người đó.

Khi bên ngoài mùa tuyết trắng phủ đầy trên những cây thông xanh, những giọt mưa đá đọng lại trên những cành cây khô trụi lá như những hạt kim cương long lanh giữa mùa đông, mọi người ra đường phải trùm kín mít như những con robot biết đi; tháng hai còn rất lạnh ở quê hương thứ hai, nhưng đó là mùa xuân tươi trẻ của những người Châu Á , tháng của Tết Nguyên Đán năm Bính Ngọ 2026, mùa lễ lộc, đặc biệt của người Việt, mùa sum họp gia đình, của những ban phát, sẻ chia yêu thương cho tất cả muôn loài.
Một buổi sáng, Linh phone rủ vợ chồng tôi lại nhà ăn uống vào ngày 30 Tết âm lịch, vì năm nay ai cũng về Việt Nam chơi hết, nhóm bạn chỉ còn lại có mỗi tôi và nàng mà thôi:
-Tụi này mới về từ Việt Nam, hai ông bà chiều 30 Tết lại ăn uống những món mà tôi mới đem từ quê hương sang nhé, nhân tiện sẽ gởi biếu ông bà gói măng khô luôn.
-Hèn chi mà cả tháng nay không thấy Linh phone cho Uyên, tụi này cứ đoán non đoán già mãi, nay thì yên tâm rồi.
-Vậy hẹn Uyên 6 giờ chiều bữa đó nhen.
Mới 5 giờ 30 chúng tôi đã bấm chuông, có mặt trước cửa nhà Linh-Tuệ, người ra mở cửa cho tôi là Linh. Mới thấy khuôn mặt nàng hiện ra ở ngưỡng cửa, hai tay tôi bụm miệng để đừng la lớn cho cả xóm biết:
-Trời ơi Linh!… Linh bị … ai đánh vậy? hay bị té ở đâu mà hai mắt bầm tím hết cả? thêm cái mũi thì sưng vù?… Đã đi bác sĩ chưa? … Té ở Việt Nam hả? bảo hiểm có trả không? Đưa Uyên xem nào…
Tôi tiến lại gần Linh, hai tay vén mái tóc lòa xòa trước mặt cô ta để xem vết thương, còn chồng tôi thì đứng bên cạnh tôi mặt mày lo lắng. Linh cản tôi lại vừa xua tay:
-Uyên! Uyên à… không phải mình bị té hay ai đánh đập gì đâu… Mà là… mà là…
Linh nhìn xung quanh nhà mình rồi tiện tay kéo vợ chồng bạn vào nhà, hạ giọng:
-Linh hổng muốn nói lớn sợ ổng nghe, ổng hông muốn mình “làm,” nhưng mình thì thích, vì muốn kéo lại vài tuổi, với lại đã về bển rồi thì mấy đứa cháu nó nói mình cũng xiêu lòng, tụi nó dẫn mình đến những tiệm rất có tiếng và bảo đảm thì mình mới dám, chứ đâu phải chỉ ham rẻ đâu; ổng biết nên đã cằn nhằn mình từ hôm về tới giờ đó…
-Vậy Linh có còn đau không?
-Muốn đẹp thì phải hy sinh đó Uyên, đâu có cái gì trên thế gian này mà free không đau đớn, không khổ ải đâu Uyên!
-Vậy mà Linh làm Uyên hết hồn, tưởng bị cướp giựt ở bên Việt Nam làm trầy mặt và bầm mũi đó chứ, nhìn thấy…
Tôi không dám nói tiếp câu “sợ quá” nhưng giữ miệng lại, Linh nói tiếp:
-Về đây phải kiêng đồ biển, chứ không sẽ bị ngứa và sưng thêm …
-Vậy sao còn mời tụi này đến ăn hôm nay làm chi cho mệt thân vậy? không chờ vài tuần nữa cho khỏi đi?
-Nhớ bạn bè quá, với lại thấy nó cũng êm êm rồi; tụi mình là người trong nhà không mà, có ai lạ đâu! Trước sau gì Uyên cũng biết, thì mình gặp nhau ăn uống rồi Linh kể cho nghe luôn. Bữa nay Linh chỉ mời có hai cặp thân thôi, cặp Uyên và chị Cẩm nữa thôi à.
-Ủa mà hỏi thật Linh nha, mũi Linh đâu có thấp đâu mà phải làm cho cao lên thêm vậy… Muốn thành bà đầm hả? còn làm mắt cắt da và mỡ thừa thì ok.
-Thiệt ra mà nói lẽ ra cũng không định làm mũi nhưng vì người ta tư vấn là thấy gò má mình hơi cao, để tránh cao số, nên phải nâng mũi cao hơn nữa thì sẽ không thấy cái gò má này, chứ làm gò má thấp xuống thì vừa đau lại vừa complicated lắm!

Tuệ bước từ trong bếp ra, với tấm tạp dề trước bụng, như người bếp trưởng:
-Bữa nay phải thưởng thức món lẩu hải sản do tui làm từ A tới Z đó nhe, mọi khi Linh đều gia lệnh, sai tui chạy đông chạy tây, rửa cái này, lấy cái kia, nhưng hôm nay tui hổng cho bả đụng vào cái gì nữa vì sợ còn mệt, chưa lại sức… Thiệt tình hổng biết cắt cứa làm chi cho khổ thân, đẹp xấu gì ván đã đóng thuyền rồi, tui đâu phải là người chỉ yêu cái sắc đâu chứ, hổng biết bả nghĩ gì nữa!
Chồng tôi cười cười:
-Chắc sợ ông thích ngắm người trẻ đẹp hơn nên bả mới phải “hy sinh” đi làm như vậy, với lại làm cho mình trẻ hơn vài tuổi cũng tự tin hơn chứ!
-Tôi không giống những cậu trẻ khác đâu, “đồ” càng “cổ” tôi càng quý, tôi thích những người phụ nữ dày dạn kinh nghiệm, đằm thắm chứ không thích phải chiều chuộng những ý thích, đòi hỏi ngông cuồng trẻ con của những cô gái mới lớn đâu, bả sống cạnh tôi bao lâu nay mà còn không hiểu… Thôi tụi mình vào bàn đi nhé, anh chị Cẩm cũng đã đến rồi!
Ở phòng ăn, trong góc một cây đào giả cao lớn đến tận trần nhà với những đóa hoa đào hồng trắng nở rộ thật xinh, trên những cành cây có treo lủng lẳng những bao lì xì đỏ lấy hên, chiếc bàn nhỏ bên cạnh được bày một cặp bánh chưng với chữ “Hỷ” đỏ trên mặt, hai trái dưa hấu và hộp bánh mứt sen, dừa xanh đỏ, thèo lèo và kẹo gương, tất cả đều là sản phẩm từ Việt Nam mà Linh vừa mang về.

Lần đầu tiên tôi thấy một người đàn ông đảm đang, vén khéo, biết sắp xếp bàn ăn thật chu đáo, dao, nĩa, muỗng, khăn ăn với những hoa tiết của ngày Tết, nước thật đầy đủ cho mỗi vị khách, không quên để thêm mỗi phần một cái đĩa nhỏ để xương, anh rót rượu đỏ Pinot noir cho mọi người, nhập tiệc với món gà quay sauce nâu, mật ong, dùng với rau salad; món thứ hai là lẩu hải sản, món này Linh không ăn được nên nàng vẫn nhâm nhi món gà quay mà tấm tắc khen chồng nêm rất vừa miệng:
-Không ngờ anh làm món gà quay da giòn này thật vừa ăn, đậm đà, da giòn rụm…
-Chỉ có em mới xem thường tài nghệ của anh thôi, không bao giờ cho anh đụng tay vào bếp cả, bây giờ mới biết!
Chị Cẩm có nhà hàng chuyên bán đồ ăn cho khách Mỹ, thêm vào:
-Sauce salad của anh làm thật tuyệt đó, không quá chua cũng không quá ngọt, sau này có muốn đổi nghề thì gọi tụi mình nhé!
Cả bàn cười vang:
-Chúng ta nâng ly chúc mừng năm mới Bính Ngọ nhé!
-Cầu mong cho tất cả chúng ta thật nhiều sức khỏe, đầm ấm trong mùa lễ, một năm mới thật bình an, vạn sự như ý!
Chị Cẩm đề nghị:
-Mỗi cặp chúng mình hãy nói lên một điều ước duy nhất của mình trong đêm nay để sáng mai mùng một năm Bính Ngọ, những điều ước đó sẽ thành sự thật! Bắt đầu là tụi này để làm ví dụ luôn… Tôi cầu mong cho nhà hàng tôi luôn đông khách để có được nhiều tiền cho các con vào đại học sau này. Rồi đến vợ chồng Uyên đi.
Chồng nắm hai bàn tay tôi, khuôn mặt nghiêm trang:
-Chúng tôi chỉ mong một điều duy nhất: cho tất cả chúng ta sống ở quê hương thứ hai này luôn được bình an!… Rồi đó! đến cặp Linh-Tuệ chủ nhà đi.
Tuệ đang ngồi ở đầu bàn, vội vã đổi chỗ đến ngồi cạnh vợ ở đầu bàn đối diện, nhìn vào mắt vợ một cách âu yếm chân thành làm như chúng tôi là những vị thánh sống chứng giám cho lời cầu nguyện của họ:
-Em hãy nói điều em mong ước đi!
-Mỗi cặp chỉ được một lời duy nhất thôi đấy.
-Vâng! Em mong rằng… mong rằng…
-… Nói đi!

Tất cả chúng tôi đều hướng về Linh, một tay Tuệ choàng qua vai nàng, một tay nắm bàn tay còn lại, cặp mắt họ nhìn nhau vẻ rất tin yêu cho lời ước cuối năm:
-Em mong… số em sẽ ngưng ở người chồng thứ tư này!

… Xuân sang gõ cửa hiên nhà
Mai vàng hé nụ, đào hoa thắm hồng
Gió đưa hương Tết mênh mông
Mang theo ước nguyện ấm nồng đầu năm…

(Montreal, 2026)
Sỏi Ngọc

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

Tiếng Thơ Hoa Vàng - Thơ Xuân Và Nỗi Nhớ - Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ

Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ 

Chớm Xuân

 

Một chút hơi ấm đến
Nụ mầm đã vươn lên
Như giấc ngủ triền miên
Bàn tay nhẹ đánh thức

Đất hé từng kẻ nứt
Có mùi ươm hương hoa
Linh hồn sâu bé nhỏ
Nghe ngóng gió đầu mùa

Đêm qua cây rũ tuyết
Sáng nay đã đâm chồi
Chim hùa nhau đếm nụ
Nghe tim bỗng bồi hồi

Hàng cỏ dại chớm xanh
Dưới làn sương mong manh
Còn miên man giấc mộng
Gót bước màu thanh tân

Trời xanh mây lơ lửng
Chút gió về hây hây
Chim én từ đâu đến
Tung tăng lượn cả bầy

Khoác áo màu len mỏng
Cười với nắng ban mai
Xuân vừa trên vai nở
Đông tàn nhẹ trong tay

Lê Mỹ Hoàn

Xuân Ước Vọng

 

Tuyết rơi vẫn ngập lối Xuân sang 
Thông đứng bơ vơ xếp thẳng hàng 
Đất khách ta còn mang lận đận 
Quê nhà dân chẳng được an khang 
Nếu như thời thế xoay vần lại 
Có lẽ cuộc đời tiếng hát vang 
Mong ước có mùa Xuân Nguyễn Huệ 
Ta về quê Mẹ bước thênh thang 

Lâm Hoài Vũ

Mơ Một Mùa Xuân

 

Không biết xuân nầy ta ở đâu
Mà sao cây lá lại nhạt màu
Chung quanh tuyết đổ và sương trắng
Chẳng bóng người qua lạnh chiếc cầu!

Bạn cũ ngày xuân đà vắng biệt
Ngậm ngùi độc ẩm chén chờ mong
Thao thức bao đêm nhiều luyến tiếc
Xuân đến mà sao xót cả lòng?

Ta ước ngày mai được trở về
Lòng ta thao thức trọn tình quê
Nay còn lưu lạc phương trời lạ
Xuân lạnh ngàn hoa rụng tứ bề!

Mong lắm một mùa xuân hội ngộ
Vang khúc hùng ca buổi dựng cờ
Ấy chính mùa xuân,- xuân vạn thuở
Ai người vong quốc lại không mơ?


Hàn Thiên Lương

Đạp Xe Vòng Quanh Phố

  

(Cho Mình yêu dấu)

Qua cầu dư sức nha anh
Anh còn đủ khỏe để giành sừng trâu.
Sài Gòn ngày đó thách nhau
Anh nào dư sức qua cầu chở em?
Xe leo cao dốc, chân rêm
Cô em bé tí rối rem… tay mềm
Anh cầu gió tiếp sức đêm
Cầu thêm em (mãi, chẳng thèm ôm eo)
Bây giờ eo ốm tong teo
Em ôm, có nhớ Tết nghèo năm xưa?
Mồng Ba đạp hết buổi trưa
Loanh quanh khắp phố, chỉ chừa… nhà em.

Á Nghi
16.1.2019