Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

Người Yêu Của Lính

 
  
Dù khác biệt lịch sử, nguồn gốc, phong tục vv nhưng Nhật Bản, Hàn quốc và Việt Nam cùng chia nhau một điểm là chịu sự ‘’ảnh hưởng’’ của văn hóa Trung Hoa trong nhiều phương diện: tôn giáo (đạo Phật), triết học (Nho Giáo), ẩm thực (mì, bún, gạo,nước chấm vv ), múa hát vv Và chữ viết, ngôn ngữ ! Như chữ Nôm của ta, được tạo từ chữ Hán, Hương Trát là chữ viết của người Hàn, và Kanji là chữ viết của người Nhật. Có từ điển Hán-Việt thì cũng có Hán-Nhật, Hán- Hàn.

Hiện nay, trong khi người Nhật, người Hàn vẫn viết chữ ‘’tượng-hình’’ như người Tàu, thì người Việt đã chuyển sang viết theo mẫu tự Latin, công trình của các giáo sĩ ngoại quốc (Bồ, Ý, Pháp vv) từ thập niên đầu thế kỷ 17 (1618 – 1625), trong đó, Francesco de Pina (Bồ đào nha) là người có công lớn nhất, người giỏi tiếng Việt nhất, chứ không phải học trò ông : Alexandre de Rhodes.

Nói đến chữ viết, là nói đến thi ca!

Xuất hiện ở Hàn thời Shilla (cùng lúc với đời Đường, kéo dài 3 thế kỷ : 7,8,9), Hương ca (Hyangka), là những bài thơ-ca Hàn viết bằng chữ Hương Trát, theo 3 thể : 4 câu, 8 câu hay 10 câu. 4 câu, 8 câu làm liên tưởng đến tứ tuyệt, bát cú của Tàu nhưng 10 câu thì đúng là ‘’Hàn tính’’. Như một bài luận văn, 10 câu được chia 3 đoạn : 4-4-2, nhập đề -thân bài (cảm xúc )-kết luận.

Khoảng thời gian đó, ở Nhật, là Hòa ca (Waka), được viết bằng chữ Hán để diễn tả ngôn ngữ Nhật. Waka là thể thơ có 31 âm tiết, chia thành năm dòng, mỗi dòng lần lượt là 5-7-5 -7-7. 31 âm tiết là đã không nhiều nhưng có người (thế kỷ 19e) vẫn còn thấy dài, nên họ sáng tạo thơ Hài cú, chỉ 17 âm tiết, thu gọn trong 3 câu !

Không tìm được nguyên tác bài thơ, viết đúng theo các ‘’thể’’ (dòng , tiết) , chỉ xin ghi lại đây 2 bài Hương ca & Hòa ca dịch sang tiếng Việt .

Bài ‘’Hương ca’’ Hàn trong câu chuyện “Juk Ji Rang (Trúc Chỉ lang) còn gọi là Juk Man (Trúc Mạn) dưới thời Hiếu Chiêu Vương.

Mộ Trúc Chỉ Lang Ca

Mùa xuân đã qua đi,
Nhường chỗ cho phiền muộn.
Trên dung mạo đẹp đẽ, đã xuất hiện nếp nhăn,
Được gặp nhau chỉ trong chớp mắt.
Trên con đường nhớ thương,Người hỡi!
Giữa ngôi làng đông đúc, có thể ngủ ngon? (1)

Bài Hòa ca Nhật ‘’Vạn diện tập’’ ( Yamato ni wa, quyển 1, thơ thiên hoàng Jomei)

Yamato núi bủa giăng,
Dưới trời hỏi núi nào bằng Kagu.
Leo lên đỉnh nhìn tuyệt mù,
Khói lan đồng rộng, chim vù đảo xa.
Đẹp sao là đất nước ta! (2)

Không ai biết chắc chắn chữ Nôm xuất hiện khi nào, chỉ biết, cuối thế kỷ thứ 8, khi vua Phùng Hưng mất, thái tử Phùng An kế vị, tôn cha là ‘’Bố cái Đại Vương’’. Tiếng Nôm đã có từ đó, nhưng, theo một số sử liệu, chữ Nôm chỉ có sớm nhất , là ở thế kỷ thứ 10, khi Ngô Quyền đánh tan giặc Nam Hán.

Bài văn chữ Nôm đầu tiên là ‘’Văn tế cá sấu’’ của Hàn Thuyên ( cuối thế kỷ 13 ) và một trong những bài thơ chữ Nôm đầu tiên là bài bát cú Đường luật viết về lời vua Hán Nguyên Đế khuyên Chiêu Quân (Vương Tường) cống Hồ

Vua Dụ Vương Tường Gả Cho Chúa Thuyền Vu

Hán Hồ vẫn muốn vẹn trăm đường
Há trẫm riêng tây có phụ nường
Bắc quốc tuy rằng ngoài dị vực
Vương đình song cũng một biên cương
Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt
Về đấy sen tàn lỗi cỏ hương
Hơn thiệt thôi đừng ai oán nữa
Chờ ngày áo gấm lại hoàn hương.(3)

Chuyện ‘’Chiêu Quân cống Hồ’’ tưởng đâu chỉ có bên Tàu, thời Hán. Nào ngờ, mấy ngàn năm sau, lại xuất hiện ở miền Nam Việt Nam, sau 1975 : hai câu 5, 6 nói đúng tâm trạng một số nàng Chiêu Quân thời đại, vì hoàn cảnh (cha anh tù tội, mẹ bị sa thải không lương) phải hy sinh đời mình, tự cống …(cháu)’’Hồ’’! ‘’ Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt / Về đấy sen tàn lỗi cỏ hương ‘’. Miền Nam nhiều ‘’cành liễu rũ’’ nên ‘’mai’’ không nổi bật. Nhưng ra Bắc rồi, giữa những ‘’sen tàn’’, nhan sắc nàng sẽ trở nên lỗi lạc.

Khác với những bài thơ ngắn của Hương-ca và Hòa-ca, hai thể thơ Nôm của Việt Nam thoát khỏi ‘’quỷ đạo’’ thơ Đường là: ‘’lục bát’’ và ‘’song thất lục bát’’

Năm xưa ( trước 75), ông Võ Phiến đưa ra một bài lục-bát Chàm làm tôi chới với:

“ Nư lơi nư đí ca hoanh,
Kla mông pat băc pụ pành ten me.
Nư lơi nư ranh đi me,
Nư hia nư chó ngá kề hưở nư.”

Chới với vì trước đó, tôi cứ tưởng lục-bát là tuyệt chiêu của Việt Nam, như Kim Cương Chỉ của phái Thiếu Lâm, như Giáng Long Thập Bát Chưởng của Cái Bang vv trong thi ca thế giới. Chỉ có cái tiếng nói đầy ắp nhạc điệu, bỗng trầm lên xuống nhẹ nhàng ấy, mới làm ra lục bát. Nào ngờ chúng cũng có trong văn chương tiền nhân ông… Chế Linh! Sau này, ở Hà Nội, ông Trần đình Sử đã hạ một câu :’’ … Xét về lịch sử, có người nói lục bát bắt nguồn từ thơ Chăm, nhưng tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết, không thể có thơ lục bát được. Tiếng Việt có cội nguồn Nam Á của nó, quá trình chuyển từ tiếng đa âm tiết sang đơn tiết tính vào khoảng thế kỉ XII - XV, cho nên phải vào khoảng ấy mới hình thành thơ ca đơn tiết của người Việt… ‘’. Chỉ dựa vào cái ‘’ tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết .. "mà dám quả quyết "không thể có thơ lục bát được" thì tự tin quá! Tôi thì tôi.. không biết. Có thể lục-bát phát sinh từ VN nhưng cũng có thể nó phát sinh từ Chàm, mà cũng có thể ‘’thơ lớn’’ gặp nhau thì sao ? ! Không phải cứ dựa vào một yếu tố ‘’ đa âm tiết “ mà phán một câu ‘’không thể’’ được ! Thế, ông Sử xử.. sự như thế nào khi đọc bài viết của thi sĩ Inrasara (1957, người Việt gốc Chàm) về ‘’lục-bát’’ Chàm , mà ông Inrasara gợi là ‘’thể thơ ariya’’?

"Ngay từ cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII được ghi nhận là thời điểm ra đời của sử thi Akayet Deva Mưno, lục bát Chăm đã có mặt. Và trước đó nữa, trong ca dao Chăm, lục bát là thể thơ được độc quyền sử dụng..".

Và ông Inrasara đưa thêm một đoạn thơ Chàm: (4)

“Ta hãy so sánh bài ca dao Việt trên với đoạn thơ (rất nhiều đoạn thơ) sau trong Ariya Bini–Cam của Chăm:

Limưn tơl Bal Lai Bal Huh
Bal glơh ginuh bhap ilimo
Bal đwa danuh khak bilo
Xanak ginrơh ralo halei jang o bboh

( câu này, ông Inrasara gọi là gieo vần lưng, giống như: Trèo lên cây bưởi hái hoa / Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân ).

Sao mà cách gieo vần của 3 câu đầu , đọc lên , nghe giông giống ‘’song-thất-lục-bát’’ thế?
“ .. Nước thanh bình ba trăm năm cũ / Áo nhung trao quan vũ từ đây / Sứ trời sớm giục đường mây.. ‘’
Đấy, lục bát của ‘’đa âm tiết” đấy. Có ‘’ai’’ xin ‘’rút lại câu viết’’ không?!

Ngoài lục-bát Chàm, còn có lục-bát Mường. Tuy cùng nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, nhưng không hiểu sao văn hóa Mường không được phổ biến nhiều (?) mặc dù họ cũng có hát đối, ru em, dân ca vv Tôi chỉ tìm được một câu lục bát Mường do ông Phùng Quỳnh (VN) đưa ra: ‘’Chim quen xỏn lại một canh /Tế con chim lả rắp rành choi môi ‘’(chim quen dọn lại một cành/ để con chim lạ rắp ranh chọi mồi).

Như chữ Nôm, không ai biết lục bát xuất hiện từ lúc nào, theo ông Nguyễn đổng Chi, là ‘’từ thập niên 40s sau Công Nguyên’’, có thể ở thế kỷ 11, 15 vv Điều chắc chắn nhất là, theo bà Phan Diễm Phương (VN), lục-bát ( gieo vần như ‘’hiện nay’’ ) hay ‘’song thất lục bát’’ đã có từ trước năm 1540 là năm ông Lê đức Mao viết tác phẩm ‘’Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào’’ ( Bát giáp thưởng đào văn) trong đó có nhiều thể thơ : lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn vv ‘’.

Với tôi, lục-bát ( không gieo vần đúng cách ) xuất hiện cùng lúc với lục-âm trong tiếng Việt (không, sắc, hỏi, huyền, nặng, ngã). Bởi khi ta nói, đã lắm bỗng trầm, khi ta ‘’ru’’, đã là nhạc điệu. Song-thất-lục-bát là một ‘’biến thể’’ của lục-bát.

Lục bát là cái sườn chính của thi ca Việt Nam nhưng, trước khi có phong trào ‘’thơ mới’’ (1932 -->), dù với đỉnh Everest ‘’Kim Vân Kiều’’, nó không có được cái vị trí như bây giờ. Trong chương trình Việt văn trung học, tôi chỉ nhớ có hai bài lục-bát: 1/ Nguyễn công Trứ : ‘’Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo’’ ; 2/ Tú Xương : ‘’ đêm nghe tiếng ếch bên tai / giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò’’. Có phải vì nó ‘’bình dân’’, ‘’nghe thường’’ (ru em , hò đối đáp vv) quá, nên người ta dùng nó để kể ‘’truyện’’ nhiều hơn là gởi gấm mảnh tình riêng trong đó (?) : Lục Vân Tiên, Hoa tiên ký , Nhị Độ Mai , Sơ Kính tân trang, Lục súc tranh công vv

Song-thất-lục-bát thì không có cái may như lục-bát. Nó ‘’hết cơn bỉ cực vẫn còn.. cực thêm’’! Quá khứ nó, tuy không vàng son như ‘’tứ tuyệt, bát cú’’, nhưng cũng còn hơn lục-bát, ở số lượng các tác phẩm nổi tiếng : Chinh phụ ngâm ( bản dịch ) , Cung oán ngâm khúc ( Nguyễn gia Thiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Nguyễn Du), Tự Tình khúc ( Cao bá Nhạ/ cháu gọi Cao Bá Quát là chú ruột ) vv Nhất là bài thơ ‘’Khóc Dương Khuê’’ của Nguyễn Khuyến ( , hai câu ‘’ rượu ngon không có bạn hiền / không mua, không phải không tiền không mua ‘’ bị đám thanh niên miền Nam nhại rằng : ‘’rượu ngon mà có bạn hiền / muốn mua cũng … hổng có tiền mà mua ‘’! ) ! Sau thời ‘’thơ-mới’’ , song-thất-lục-bát hầu như vắng mặt trong thi ca, có mà như không-có!

Nếu nói lục-bát là nói đến '’Đoạn Trường Tân Thanh’’ thì nói đến song-thất-lục-bát là nói đến ‘’Chinh Phụ Ngâm’’

Chinh phụ ngâm là một sáng tác (Hán tự) của Đặng trần Côn (1710 ? – 1760 ?) gồm những câu thơ dài, ngắn khác nhau. Tập thơ được hình thành khoảng 1755, thời Lê Hiển Tông (1740-1786), là một ngâm khúc bi thương của người chinh phụ , nói về tâm tình của một người vợ , từ khi tiễn chồng lên đường chinh chiến , tiếp theo đó là những ngày dài cô đơn, những đêm phòng không gối chiếc, những tháng năm mòn mỏi trông chồng vv! 

( nguồn : wikipedia )

Năm 1953, trong quyển ‘’Chinh phụ ngâm bị khảo’’, ông Hoàng Xuân Hãn đã chứng minh rằng bản dịch Cung Oán Ngâm Khúc mà người ta thường dùng (và đã đưa vào chương trình bộ Giáo Dục VNCH) là bản của ông Phan huy Ích, không phải bản của bà Đoàn thị Điểm. Tuy bị ‘’Hội Văn Học’’ (Hà Nội) phản đối, nhưng hiện nay, các nhà nghiên cứu đã nghiêng về lập luận của ông Hãn hơn !

3 tác phẩm lớn của thi ca VN đã được đưa vào học đường miền Nam (VNCH) với nhân vật chính là người phụ nữ. Nếu Đoạn Trường Tân Thanh, Cung Oán Ngâm Khúc nói về ‘’tài mệnh tương đố’’, ‘’hồng nhan đa truân’’, thì nỗi đau của người chinh phụ, trong Chinh Phụ Ngâm, vẫn là một nỗi đau có thật, ở Việt Nam, kéo dài từ lúc tác phẩm hình thành (1755 ?) cho đến … 1975. Nên, không phải ‘’Kiều’’ của thi hào Nguyễn Du, mà ‘’Chinh phụ ngâm’’ mới là tác phẩm phản ánh miền Nam, thời Việt Nam Cộng Hòa, thời mà biết bao chinh phu đã lên đường bảo vệ non sông, để lại sau lưng, bao nhiêu là chinh phụ, như Y Vân đã dựa vào, viết nên ca khúc ‘’Tình chàng, ý thiếp’’ (Từ chàng xa vắng , lên đường ruổi dong chiến chinh … )

Trong 21 năm (54-75), văn-chương-văn-nghệ-miền-Nam là văn chương, văn nghệ thời chiến nhưng, khác với nền văn chương, văn nghệ phục vụ chính trị ngoài Bắc, văn chương, văn nghệ miền Nam phục vụ nghệ thuật và con người: người Lính và người Dân

Nếu nói về số lượng và phẩm chất, nhạc Lính miền Nam là hiện tượng duy nhất trong âm nhạc thế giới. Tôi dám khẳng định: không có quốc gia nào trên thế giới mà nhạc Lính nhiều hơn, hay hơn nhạc Lính Việt Nam Cộng Hòa !

Không có nhạc sến, nhạc ‘’sang’’, chỉ có nhạc hay và nhạc không hay. Những ca khúc hay thì vẫn ở mãi với thời gian, trong đó, có ‘’Tưởng như còn người yêu’’ (1970) , Phạm Duy phổ thơ Lê thị Ý (1939). Bao nhiêu năm đi qua, nhưng mỗi lần nghe (lại), tôi vẫn nghe với cái xúc động của lần đầu, của chàng thiếu niên mới lớn, nhất là mấy câu cuối : ‘’… Em không nhìn được xác chàng / Anh thêm lon giữa hai hàng nến trong / Mùi hương cứ tưởng hơi chồng / Ôm mồ cứ tưởng , ôm vòng người yêu …’’. Và đoạn cuối, từ nốt ‘’ré’’ (‘’trung’’) trong âm giai Ré thứ ( ‘’bây giờ anh phủ màu cờ ‘’), là một âm giai buồn, nốt “ré” kế tiếp ( ‘’em không nhìn được xác chàng’’) được tác giả đẩy lên cao hẳn một octave , tuy chuyển sang Ré trưởng ( thường cho nhạc ‘’vui’’ ) nhưng đó là một mũi dao đâm thẳng vào trái tim người nghe !

Theo ký giả Ngo-Kalynh:

‘’ Năm 1965, nữ sĩ rời Sài Gòn. Bà về Pleiku làm việc trong một trại lính. Năm năm ở phố núi bé nhỏ này, mỗi một ngày bà đối diện với vô vàn những câu chuyện không tên về cuộc đời người lính. Lúc này, cũng là thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh. Thế giới xung quanh bà khi ấy chỉ toàn lính, và lính. Lính và vợ. Lính và vũ khí. Lính và đạn bom. Lính và tử trận. Từ đó, tình yêu bà dành cho người lính, cuộc đời người lính, càng thêm cao dầy. Đôi khi, chỉ những câu chuyện trò ngắn ngủi đời thường với vợ lính cũng làm cho trái tim nữ sĩ chạnh lòng.

Bà nhớ lại, rồi kể:
“Chúng tôi, những người phụ nữ nói chuyện vui đùa với nhau. Có người nói:
-Trời lạnh thế này mà được ở nhà ôm ông xã thì sướng biết mấy.
-Thế ông xã đâu?
-Ông xã đi đánh trận.”
….
“Tôi đi ngang nhà xác, nghe tiếng khóc vọng ra. Tôi nhìn vào thấy người ta đang nhận xác… đau lắm. Không phải chỉ khi của mình, mình mới đau…” bà kể. “Nó (nỗi đau) không phải là của mình nhưng đã hóa thành của mình.”


Thương Ca 1

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ơi thèm nụ hôn quen
Đêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng
Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.” (5)
(Lê Thị Ý)

Không phải chỉ khi của mình, mình mới đau…! “

Vâng đau lắm, thưa chị Ý! Dù cuộc chiến đã kết thúc gần 50 năm qua, nhưng nỗi đau đó vẫn còn âm ỉ trong lòng người miền Nam chúng ta!

Chinh phu là tiếng Hán Việt, tiếng thời xưa. Sau này, người ta nói : chiến sĩ, chiến binh, binh sĩ ( ‘’chúc người binh sĩ lên đàng ‘’), quân nhân vv Chữ ‘’Lính’’ có lẽ xuất hiện lần đầu năm 1959 trong ca khúc ‘’Tình anh Lính chiến’’ của Lam Phương(?) . Từ đó, người quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được người miền Nam gọi vỏn vẹn một chữ thân tình là Lính.


Khoảng giữa thập niên 60s, khi cuộc chiến bắt đầu trở nên khốc liệt, nhiều ‘’chàng tuổi trẻ’’ đã phải ‘’xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung’’, đi Lính nhiều hơn đi học! Tuổi học trò, tuổi ‘’trăng tròn’’, có ai mà không một lần ‘’một hôm trận gió tình yêu lại ‘’ (Huy Cận )? Không ít những cô nữ sinh, sinh viên là người yêu của Lính, tạo nên nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ, nhất là giới âm nhạc. Người Lính Chung Tình ( Khánh Băng ) , Tình Lính ( Y Vân), Lính mà em ( Anh Thy), Lính nghĩ gì ( Hoài Linh ), Lính trận miền xa ( Bằng Giang – Châu Kỳ), Lính xa nhà (Trịnh Lâm Ngân ), Lính dù lên điểm (Vũ Chương = Lê Minh Bằng) , Lính thành phố (Song Ngọc) vv , nổi tiếng nhất là ‘’Tình thư của Lính’’ và ‘’Người Yêu của Lính’’. Hai sáng tác đều của anh Thần Thiện Thanh nhưng ‘’Tình thư của Lính’’ thì anh ghi thêm tên người em trai kế anh : Trần Thiện Thanh Tâm & Anh Chương (= Trần thiện Thanh) với những dòng cho người yêu ghi dưới tên ca khúc : ‘’Em ! Anh đã viết cho em rất nhiều lần: ‘Đời lính không hào hoa như nhiều người vẫn tưởng’. Nhưng, Em yêu anh bởi anh là lính, và anh viết cho em cũng bằng… Tình yêu của lính, thế thôi ! ‘’

Nói đến Lính, là nói đến người vợ Lính! Trước khi trở thành vợ Lính, người phụ nữ là ‘’người yêu của Lính’’.Đời Lính rày đây, mai đó, sống nay, chết mai, nên đa phần, ít lập gia đình : ‘’người yêu của Lính’’ nhiều hơn ‘’người vợ Lính’’. Nếu Dạ Lan là ‘’em gái hậu phương’’ của các anh trai tiền tuyến thì ca sĩ Ngọc Minh (1946) được mệnh danh là ‘’người yêu của Lính’’, do chị chuyên hát nhạc Lính, và cũng đã từng là người yêu của Lính (phu quân chị là Lính)
( nguồn : Internet )


‘’ Nếu em không là người yêu của lính / Ai đem cánh hoa rừng về tặng em / Ai băng gió sương cho em đợi chờ / Và những lúc anh về / Ai kể chuyện đời lính em nghe … ‘’. Nghe mấy câu này, có ai mà không muốn làm ‘’người yêu của Lính ‘’ ? Ngay cả những nữ .. quân nhân (như Chuẩn Úy Nhảy Dù Dương thị Kim Thanh, tử nạn phi cơ cùng chồng là cố Chuẩn Tướng Nhảy Dù Trương quang Ân / 1968)(?)

Vợ Lính là vợ của Lính nhưng người yêu Lính thì khác với ‘’người yêu của Lính’’. Có những ‘’người yêu của Lính’’ trở thành vợ Lính và cũng có những ‘’người yêu (chung tình) của Lính’’ không bao giờ trở thành vợ Lính, khi ‘’người Lính’’ (đó) đã hy sinh ! Nhưng không phải vì người Lính không ‘’còn’’ (sau ngày 30/4/1975 chẳng hạn), thì không còn ‘’người-yêu-của-Lính’’. ‘’Yêu ai yêu cả một đời’’! Bản thân tôi biết một vài ‘’người yêu của Lính’’ trước 75 ( chị Lê thi Ý chẳng hạn) , vẫn còn ‘’ở vậy’’ đến hôm nay! Xin gởi đến các chị những bông hồng ngưỡng mộ !

Nói theo cách nói của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh (1909-1974), làm người phụ nữ Việt Nam đã là khó, làm người phụ nữ Việt Nam trong thời chiến càng khó gấp trăm lần, nhưng làm ‘’người yêu của Lính’’ thì nỗi khó đó là vô biên ! Khó trong thời chiến. Khổ cả thời bình! Khổ từ mẹ già khổ xuống con trẻ. Khi người Lính trở thành người Tù ! Một người tù không có án. Một người tù bị bắt, bị lăng nhục, bị đày ải vì đã thi hành bổn phận công dân: cầm súng bảo vệ quê hương !

Ngày 30/4 năm nay, xin được vinh danh những ‘’người yêu của Lính’’: những nàng Tô Thị tân thời, không muốn chờ người yêu, chờ chồng đến hóa đá, mà xông xáo, lăn lốc trong cuộc‘’đổi đời’’, vừa nuôi gia đình, vừa thăm nuôi chồng / người yêu, vừa phải chống chọi trước những chiêu dụ, hăm dọa của đám ‘’khỉ-rừng-xanh’’!

Miền Nam không phố Kỳ Lừa
Chỉ có cả nước bị ‘’lừa’’ (*) tháng Tư
Người tự sát, kẻ đi tù (!)
Bao năm trại-ngục mịt mù ‘’thăm-nuôi’’ :
Những nàng Tô Thị tân thời
Người-yêu-của-Lính là người … Dân yêu!

BP

(*) Mỹ lừa đồng minh Việt Nam Cộng Hòa / Hà- Nội lừa dân miền Nam (lệnh‘’học tập’’)‘’ .. cảnh sát, tình báo biệt phái từ thiếu uý đến đại úy: “Phải mang giấy bút, quần áo, mùng màn, các vật dụng cá nhân, lương thực, thực phẩm [bằng tiền hoặc hiện vật] đủ dùng trong mười ngày kể từ ngày đến tập trung”. “Sĩ quan cấp tướng, tá” mang theo “thực phẩm, lương thực đủ dùng trong một tháng”.

(1): HYANG KA (HƯƠNG CA) TRONG “TAM QUỐC DI SỰ” (Phần 1) - Trung Tâm Nghiên Cứu Hàn Quốc (inas.gov.vn)
(2) : https://gakumonsusume.wordpress.com/2015/10/05/waka-%E5%92%8C%E6%AD%8C/
(3) : https://vantholacviet.com/cac-bai-tho-nom-dau-tien-trong-van-hoc-chu-nom/
(4) https://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1786
(5) https://vietpen.org/le-thi-y-3/

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

Sàigòn Mưa Nắng - Lời & Nhạc: Phương Khanh( Trần Văn Khang) - Tiếng Hát:Hạnh Nguyên & Tuấn Huy


Lời & Nhạc: Phương Khanh( Trần Văn Khang)
Tiếng Hát:Hạnh Nguyên& Tuấn Huy

Kiếp Luân Hồi

 

Trót sinh ra kiếp làm người.
Có ai thoát khỏi lụy đời cưu mang.
Xác thân trả nợ mọi đàng .
Thất tình lục dục vô vàn truân chuyên.
Một mai xuống dưới Hoàng Tuyền.
Linh hồn mới được thênh thang đi về .
Thế là thoát khỏi sông Mê .
Tùy theo nghiệp dẫn mà về quê xưa .
Ai ơi đừng nghĩ dư thừa.
Lánh xa nghiệp dữ mà ưa nghiệp lành.
Để rồi đến kiếp lai sinh .
Sẽ được hưởng phước do mình tạo thôi.
Phước nhiều hay ít tùy đời.
Phước nhiều sẽ được về nơi thanh nhàn.
Phước ít trở lại trần gian .
Là lò tinh luyện cho hồn thăng hoa .
Trải qua nhiều kiếp ta bà .
Hồn thêm thăng tiến Liên Hoa nhập vào.
Từ nay hồn hết lao đao.
Thảnh thơi thanh-tịnh ngạt ngào Hương Sen.


Lâm Hoài Vũ
(Trích thi tập Giấc Mơ Hoa)

Nhà Xưa

 

Về lại xóm nhà xưa,
Gió trăng giờ đây đã đổi mùa.
Gát chuông buồn quạnh quẻ!
Lá vàng theo gió đong đưa!
Nhớ lại một thời bướm hoa,
Tiếng tơ lòng, ánh mắt lại qua...
Trái tim ngây thơ đã cầu nguyện
Xin dòng đời ngiệt ngã chớ trôi xa!
Bao lần anh lại về đây,
Nhìn dàn hoa lý xơ xác héo gầy...
Bướm trắng tìm hoa tím cũ,
Hương sắc tàn phai theo gió mây!!
Giờ đây anh lại quay về,
Xóm Đạo buồn trong gió lê thê!
Áo đời thay vào áo Đạo...
Tiếng ve sầu rĩ rã tái tê!
Chấp tay anh lại nguyện cầu,
Giữa dòng đời tan nát bèo dâu!
Xót thương những tâm hồn tan vỡ!
Đội ơn Cha kỳ diệu nhiệm màu!!

Tô Đình Đài

Nhớ Bạn Xa

 
Chạnh buồn nhớ bạn buổi tân xuân
Bao kỷ niệm xưa tái hiện lần
Thương buổi trái thời, san sớt khổ
Mến ngày mạt thế, sẻ chia bần
Đang khi cô độc, phùng tri kỷ
Vướng lúc ngặt nghèo, ngộ quý nhân
Nay mắt đã mờ, đầu điểm bạc
Dặn chừng sương gió, giữ gìn thân


nhất hùng

Lối Thu Xưa...

 
 (Thu Melbourne 2023)
Lối Thu Xưa... 

Một mùa thu cũ vẫn đây
Tìm trong nỗi nhớ đong đầy hương xưa
Công viên lá đổ chợt vừa
Gọi mùa vàng chín lòng chưa quên người...

Kim Oanh
***

Cố quên sao mãi nhớ người
Mỗi mùa thay lá mưa rơi buồn buồn
Hương xưa còn thoảng thơm hương
Cành thu vàng lá ngàn thương nhớ người!

Yên Dạ Thảo
 

Nhớ Em

 

Một tình khúc ngày xưa lãng mạn
có câu này em nhớ không em
anh nghe ca khúc ấy từng đêm:
" nhớ em nhiều, nhưng anh chẳng nói
vì nói ra cũng chỉ vậy thôi!" (*)
giờ hai ta mỗi đứa một nơi
đành cháp nhận phương trời cách biệt!
nỗi nhớ ấy nói sao cho hết
thôi ta đành cất giữ trong tim
kìa phương nam chim trắng đi tìm
một con sáo sổ lồng qua trời Mỹ!
Em ở lại Sài Gòn mộng mị
với muộn phiền giấc ngủ cô đơn
phương trời anh gió tuyết buồn hơn
với tay trắng đi trong buốt giá
tình khúc ấy nghe sao buồn quá
đường em đi là đúng phải không?
bởi chúng ta không phải vợ chồng
nên anh chỉ biết ca niệm khúc!
vì mải miết đuổi theo hạnh phúc
nhưng bạc tiền có nghĩa gì đâu
để rồi em thổn thức canh thâu
anh đánh mất mùa xuân tuổi trẻ
dù mai đây xa lìa đất mẹ
anh vẫn còn gọi mãi tên em
anh vẫn mơ ngày tháng êm đềm
một cuộc sống trong căn nhà nhỏ
chúng ta có thảo nguyên cây cỏ
cánh đồng xanh đẹp tựa thiên đường
anh không mơ ánh sáng phố phường
mà chỉ ước đôi tim gắn bó
thôi em hãy rời con đường đó
tới bên anh rau cháo qua ngày
đời tự do như cánh chim bay
như dã thú thương yêu sỏi đá
ham muồn chi cuộc đời chắp vá
toàn mưu toan gian dối lọc lừa
ôi đời người như giấc ngủ trưa
khi tỉnh dậy thấy bàn tay trắng
mới chợt biết đường đời cay đắng
và cuộc đời chẳng đẹp như mơ
gọi ông trời, trời cứ làm ngơ
đành chấp nhận làm người đi biển
Ôi đi mãi dường đi không đến
cứ quẩn quanh một cõi đi về
chỉ thấy em trong một giấc mê
nên có nhớ cũng vậy thôi em ạ!

Mường So Đèo Văn Trấn
Altoona, United States
04/23/2024
* Theo lời nhạc Bài Không Tên Cuối Cùng - Vũ Thành An

Lệch


Trời ạ! bỗng dưng vợ tôi ôm mộng trở thành thi sĩ và điều kinh khủng là cô ấy đang tập tành làm thơ. Cứ mỗi khi vợ có một niềm đam mê mới thì đời tôi coi như… trầy trụa bấy nhiêu ngày.

Để xem…
Có một ngày vợ đi “shopping” về, vừa bước vào nhà, vừa hỗn hễn thở:
-Anh! ra xe mang đồ vào dùm em.
-Em lại mua cả trăm thứ quần áo, phấn son nữa phải không?
Vợ nháy mắt với tôi kèm theo một nụ cười… hờ hững như mây trôi:
-Không, những món em mua hôm nay rất lạ, vì… em chưa từng mua bao giờ.
-Là cái gì?
-Ra xe, đem vào rồi sẽ biết.
Và tôi đã choáng váng mặt mày khi nhìn thấy khung vải, cọ, sơn, sách dạy vẽ cùng những thứ lỉnh kỉnh khác mà tôi không can đảm hỏi… cái này để làm gì?

Những ngày, những tuần và những tháng sau đó, nhà cửa mỗi ngày thêm bề bộn, còn cha con tôi thì bữa no, bữa lưng lững với các món ăn nấu vội vàng, mặn không ra mặn, ngọt không ra ngọt, cứ lơ lớ như những tác phẩm dang dở nửa chừng xuân, đang nằm la liệt trong “garage”. Cứ mỗi lần vợ lôi tôi vào “phòng nghệ thuật” hí hửng hỏi, anh thấy bức tranh này em vẽ ra sao, tôi lại nghiêng đầu, nghiêng cổ -không phải để ngắm nghía mà thật ra tôi đang tập thể dục đầu, cổ, vai. Và câu kết của tôi bao giờ cũng là:
-Tài nghệ của em quá siêu, anh không đủ khả năng để phê bình, chỉ thấy… nó… đẹp.
Vợ chỉ cần một chữ đẹp là đủ. Cô nàng vênh mặt lên, cứ y như nhà danh họa đại tài:
-Anh nói đúng, đâu phải ai cũng có trình độ thưởng thức lối vẽ trừu tượng của em.

Tôi muốn phá lên cười “cái kiểu quẹt màu lên vải như em thì cần gì trình độ. Bảo đảm anh quẹt sẽ đẹp hơn em, vì anh đã từng là thợ sơn mà”. Nhưng tôi vốn “biết người, biết ta” nên chọn cách “im lặng là vàng” để con cái có được một mái nhà che nắng, che mưa.
Cũng may, ông thần nhức mỏi ngự xuống tay vợ vào một sáng mùa đông. Sau mấy tuần đi bác sĩ tây lẫn bác sĩ ta, châm cứu đủ kiểu không kết quả, vợ cử động “bàn tay năm ngón” -trông chẳng kiêu sa chút nào- mắt nhìn chăm chăm vào tác phẩm đủ màu, đủ sắc của mình, giọng ngậm ngùi:
-Em định vài ngày nữa sẽ gửi bức tranh này tham dự cuộc thi, nhưng chưa xong đã đau tay. Tiếc quá… nếu không hết đau, chắc em phải gác lại niềm đam mê này.
Tôi xuống ngay “một câu vọng cổ”:
-Ừ! tiếc thiệt… đúng là trời cao ghen ghét phận má hồng… ông trời mà cũng ghen với tài năng của em… thì phải biết.
Vợ đưa tay ôm ngang lưng tôi, dúi đầu vào ngực tôi, nũng nịu như chú mèo con đáng yêu.
-Không sao, chỉ cần anh nhận ra tài năng của em là đủ rồi.

Trời ạ! tôi “xạo” vậy mà vợ cũng tin… Thật là tội nghiệp. Nhưng cha con tôi còn đáng tội nghiệp hơn, vì nếu vợ còn tiếp tục làm bạn với cọ, với sơn thì cả nhà sẽ tiếp tục được nuôi sống bằng mì gói, pizza, sandwich.

Từ ngày gác cọ, vợ lại quay sang ôm cái radio suốt ngày để nghe chương trình phát thanh Việt Nam. Nhưng tiết mục vợ ghiền nhất là chương trình nhạc yêu cầu. Mỗi ngày, cứ bốn giờ chiều, từ hãng trở về, bước chân vào nhà là tôi lại nghe giọng vợ ong ỏng trên điện thoại “Cho tôi yêu cầu nhạc phẩm… để tặng chị bạn tên…”. Lắm lúc không giấu được sự bực bội khi nhìn cái bếp lạnh tanh, tôi cằn nhằn:
-Nhà thiếu giống gì băng nhạc mà em phải yêu cầu.
Vợ chu mỏ giải thích:
-Thời buổi này ai mà chẳng có băng nhạc đầy nhà, nhưng vui ở chỗ tuy không ngồi cạnh nhau, nhưng nhờ tặng qua, tặng lại mà mình biết bạn bè cũng đang nghe nhạc với mình.
-Hứ! mất thì giờ lãng nhách.
Vợ đứng lên ngoe nguẩy:
-Đúng là người không biết giao thiệp.
Tôi lên giọng mai miả:
-Ai mà chẳng biết em giỏi về cái khoa giao thiệp rộng.
-Biết vậy thì ráng mà học hỏi người ta.

Nhìn thấy vợ mở tủ lạnh, lấy rau, lấy thịt ra chuẩn bị nấu nướng, tôi liền êm giọng nịnh nọt, vì cái bao tử đang rột rẹt kêu nài:
-Ừ! chắc mai mốt anh phải theo em “học nghề” mới được.
Chẳng cần đợi lâu, ngày hôm sau… vừa bước vào nhà, vừa cởi giày, vợ đã lôi tôi ngồi xuống ghế, giọng hớn hở:
-Nghe nè! nghe nè.
Một giọng nói quen thuộc phát ra từ radio:
-Bài hát này tôi xin tặng anh chị Sô, chúc anh chị một buổi chiều vui vẻ, hạnh phúc.
Trong lúc nhạc được phát đi, vợ thì thầm vào tai tôi:
-Em chọn bài hát rồi, anh gọi lên đài tặng lại anh chị Thinh nhe.
Tôi trợn mắt:
-Chi cho phiền vậy?
-Phiền cái gì, người ta tặng mình thì mình phải tặng lại. Đây là một hình thức giao thiệp. Anh muốn “học nghề” của em thì phải bắt đầu từ chỗ này. Nghe chưa?
“Nghe chưa?”. Sao y như má tôi thường lên giọng dạy dỗ khi tôi còn bé. Tôi ngồi yên mà trong lòng ấm ức. Ít phút sau, vợ nhét vào tay tôi mảnh giấy, ra lệnh tôi đọc nguyên văn những gì vợ đã ghi. Tôi nhìn vợ, đầu gật gù với nụ cười nửa miệng. Sau khi tôi giới thiệu tên mình và bản nhạc muốn yêu cầu, cô xướng ngôn viên cất giọng trong trẻo:
-Anh có muốn gửi tặng bài hát này cho người thân hay bạn bè nào không?
Tôi liếc mắt nhìn theo ngón tay của vợ đang di chuyển trên hàng chữ viết sẵn, rồi ngẩng đầu nhìn lên trần nhà, giả giọng chân quê:
-Tui yêu cầu để nghe mình ên chớ hổng tặng ai hết.
Tiếng cười khúc khích vang lên từ máy thu thanh:
-Anh vui tính ghê. Chúc anh nghe nhạc vui vẻ nhé.

Vui thế nào được khi mắt vợ long lanh lửa, bàn tay móng đỏ chói chang xé toang mảnh giấy nhỏ xíu. Tôi hả hê cúi xuống, xách giày đi thẳng vào phòng tắm, dù biết rằng chiều nay mình bị đói meo vì “thợ nấu” chắc chắn sẽ đình công, để treo mỏ anh chồng không biết thế nào là lễ độ đối với vợ.

Trong lúc tôi đang tính kế để đối đầu với cuộc chiến tranh lạnh sẽ xảy ra thì vợ gõ cửa phòng tắm, giọng “khẩn trương”:
-Anh ơi! thằng Ray đang ở thư viện, năm giờ anh nhớ đón nó. Em đi công chuyện, chút nữa sẽ mua thức ăn đem về cho ba cha con.
Hả? Tôi đang tỉnh hay mơ? Có thể nào… tôi chẳng những không bị chì chiết mà lại còn được ăn ngon. Chuyện khó tin… nên không biết có thật hay không. Tôi thấp thỏm chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ dài lê thê. Cuối cùng bài toán khó đã được giải đáp.
-Anh nhớ vợ chồng chị Thu Ân không?
Miếng cánh gà chiên nước mắm thơm ngậy chưa kịp đưa lên miệng tôi phải vội vàng buông xuống, ra vẻ chăm chú nghe.
-Nhớ chứ… nhưng lâu lắm mình không gặp.
-Bởi vậy, lúc nghe chị Ân gọi điện thoại em ngạc nhiên vô cùng. Và càng ngạc nhiên hơn khi chị vừa khóc, vừa nói muốn gặp em gấp, vì ngoài em ra, không ai có thể giúp được chị. Biết chuyện quan trọng nên em không dám chần chờ.

Tôi nhâm nhi món ăn khoái khẩu với nụ cười đồng tình. Thì ra, nhờ cú điện thoại đúng lúc của chị Thu Ân mà tôi đã thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Ha! Ha!!! còn ai hiểu vợ hơn tôi. Khi được bốc lên tận mây xanh, vợ sẵn sàng làm tất cả mọi chuyện để chứng tỏ những lời được khen tặng rất đúng, dù cái đúng đó chưa đến năm mươi phần trăm.
-Anh biết chuyện gì đã xảy ra không?
-Chuyện gì vậy em?
-Chồng chị Thu Ân có nhân tình. Chị quá đau khổ chỉ muốn chết mà thôi. Nhưng em nói, nếu có chết thì trước khi chết chị cũng phải trừng trị anh chồng cho đích đáng.
Tôi hớp một ngụm bia -ân huệ vợ ban cho:
-Trừng trị bằng cách nào?
-Ly dị!… cái thứ đàn ông phản trắc đó làm sao có thể sống chung được nữa. Nhưng nếu đã ly dị thì cũng phải làm cho ra lẽ. Làm sao cho “nó” không cất đầu lên nổi. Làm sao cho “nó” thân bại danh liệt. Làm sao cho “nó” bước ra khỏi nhà chỉ có cái quần xà lõn mà thôi.
Vẻ hùng hổ của vợ làm tôi có cảm tưởng “nó” chính là tôi.
-Chi mà ác vậy em?
-Chưa hết đâu, em còn đề nghị chị Ân đăng lên báo để “nó” ê mặt với những người từng quen biết và nể trọng “nó”.
-Ác quá em à!
Vợ nghiến răng:
-Chưa đủ ác đâu anh. Em sẽ còn nhiều chiêu ngoạn mục nữa, nếu người đó là anh.
Tôi nghe xương sống mình lạnh toát. Nhưng chưa lạnh bằng lúc chồng chị Thu Ân hét như muốn đập vỡ cái điện thoại:
-Anh Sô!… sao anh có vợ mà không biết dạy, để chị ta phá gia cang người khác. Vợ tôi đã có tính đa nghi bệnh hoạn mà vợ anh còn đổ thêm dầu vào lửa. Tôi đã thâu được tất cả những lời của vợ anh nói qua điện thoại. Nếu vợ anh còn tiếp tục xúi giục vợ tôi làm điều xằng bậy, gây thiệt hại cho danh dự và hạnh phúc gia đình tôi, tôi sẽ đưa chị ta ra tòa. Còn anh.. lo mà dạy dỗ vợ đi. Tôi cảnh cáo vợ chồng anh đó.

Dù là người vô can, tôi vẫn muốn nói lời xin lỗi. Nhưng chưa kịp mở miệng thì anh đã dập máy một cách giận dữ. Như thế có nghĩa là tôi cũng chưa kịp nói với anh, trong nhà này, tôi là người bị dạy dỗ chứ làm gì được quyền dạy dỗ ai. Tối đến, tôi kể lại nguyên văn những lời hằn hộc của chồng chị Thu Ân. Vợ không sợ còn vênh mặt tự đắc:
-Như vậy là cái chiêu của em đã làm cho “hắn” rúng động.
Tôi xuống giọng năn nỉ:
-Thôi em ơi, đừng làm quân sự quạt mo nữa, coi chừng có ngày mang họa.
– Bộ anh tưởng ai cũng có thể làm quân sư được sao. Tại anh cứ xem thường em, chứ từ hồi đi học tới giờ, bạn bè em, đứa nào gặp chuyện buồn phiền, rắc rối đều tâm sự với em để nhờ giúp ý kiến.
-Nói thật… anh thấy ý kiến của em lạ hơn mọi người. Trong khi những người khác luôn khuyên can nên “chín bỏ làm mười“ thì em lại chủ trương phải đánh lớn, đánh mạnh, đánh cho đá nát vàng phai.
-Cái kiểu anh nói là xưa rồi. Bây giờ thời đại nào mà người phụ nữ phải nhẫn nhục, cam chịu, lại còn cúi đầu phục tùng, hầu hạ chồng như thời bà nội, bà ngoại của mình. Nè! chiều nay Hải Minh gọi em cho biết, nó có ý định ra một tờ báo và ngỏ ý mời em cộng tác. Anh chờ mà xem tài nghệ của em. Em sẽ thổi một luồng gió mới vào tờ báo qua mục “gỡ rối tơ lòng”.

Hy vọng đây chỉ là tin vịt, chứ nếu không…tờ báo nào đó chưa thấy ngày sinh nhưng tôi đã đoán được ngày tử của nó.

***
Ước gì tôi biết độn thổ để có thể biến mất sau khi nghe vợ hí hửng đọc bốn câu thơ mới sáng tác trong lúc ngắm nghía tôi đang chén thù, chén tạc với bạn.

Xin anh đừng uống rượu
Vì khi anh uống rượu
Tóc tai anh dựng đứng
Mặt mũi anh đỏ lè…

Một trận cười nắc nẻ vang lên, vợ hứng chí khoe khoang:
-Từ hổm tới nay em làm được hai mươi bài thơ rồi. Bữa nào em tổ chức một đêm thơ ở vườn hồng nhà em, mời các anh chị đến tham dự để nghe em đọc thơ….
Tiếng vỗ tay lại vang lên đôm đốp, vợ thích chí cười toe toét nhưng không để ý đến những cái nháy mắt đầy vẻ chế giễu của một vài người.

Vợ mê làm thơ không thua gì lúc mê vẽ, cha con tôi lại phải ăn “cao lương mì vị” đều đều. Vì, có khi đang nấu nướng, vợ phải dẹp nồi niêu, xoong chảo qua một bên, khi hồn thơ lai láng bất chợt trỗi dậy. Khổ nỗi, nếu như đánh đổi bữa cơm ngon, để được thưởng thức một bài thơ tuyệt vời thì tôi cũng vui lòng. Đằng này, chữ đi đằng chữ, vần đi đằng vần. Khi tôi hỏi “Ủa! thơ gì mà vần điệu kỳ cục vầy nè”, thì liền bị “nàng thơ” mắng mỏ “Làm thơ mà cứ theo kiểu bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng trắc là xưa rồi. Thơ của em là thơ tự do, phóng khoáng. Anh chưa đủ trình độ để thưởng thức đâu, nên có nghe thì cũng như vịt nghe sấm thôi”. Tôi còn nói gì được nữa khi bị xếp vào loại thiếu trình độ.
Có lần tôi hỏi vợ:
-Em đã đọc truyện ngắn “Tình không đẹp như thơ”của nhà văn Nguyễn thị Thanh Dương chưa?
-Nguyễn thị Thanh… Dương… cái tên quen quen. Ồ! có phải cô nhà văn có cặp mắt liếc sắc lẽm mà lúc trước anh hay nói, nhìn thấy là nhớ ngay bài hát “hồn lỡ sa vào đôi mắt em” đó không?
-Ư…ừ…ừ… nhưng điều anh muốn hỏi là em có đọc…?
Tôi chưa dứt lời vợ đã nghiêm nghị chất vấn:
-Chắc người xưa của anh có đôi mắt giống cô Thanh Dương này, nên anh khen hoài phải không?
-Đừng kiếm chuyện lãng xẹt. Anh muốn đọc cho em nghe một câu văn trong truyện ngắn của cô ấy “Mấy đứa làm thơ toàn là mấy đứa dở hơi, sống trên mây”….
Lần này, tôi cũng chưa dứt lời, vợ đã thút thít:
-Anh đang xiên xỏ em đó phải không? Vợ người ta làm gì cũng được chồng ủng hộ. Còn anh… lúc nào cũng muốn ém nhẹm tài năng của em. Hu hu!!! Có ai vô phúc như tôi không này?
– Em hiểu lầm ý anh rồi! anh định nói… cô nhà văn này, xưa nay viết rất hay, nhưng lần này thì… “dở ẹt”.
-Anh đừng có ngụy biện, đừng có xỏ lá.
Vợ đứng lên vùng vằng bỏ đi sau khi ném cho tôi cái liếc mắt sắc hơn dao.

Ông bà ta thường bảo, nồi nào úp vun nấy, nhưng ông tơ bà nguyệt ơi! ngày se tơ, kết tóc cho vợ chồng tôi, chắc ông bà đang say say, xỉn xỉn, nên nồi, vun lệch lạc cho đời tôi nhiều khi… cười ra nước mắt []

Ngân Bình

 

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

Trang Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Chị Kiều Mộng Hà Và Tang Quyến

 

 

Nỗi Buồn Cách Xa - Nhạc Và Lời: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Thụy Long


Nhạc & Lời: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Thụy Long

Nửa Viền Trăng

 

Xin đổi thu vàng lấy nhớ nhung
Nhìn chiều lá đổ sắt se lòng
Thương trăng ai xé mà trăng khuyết
Khuyết cả hồn tôi nỗi nhớ mong.

Vẫn nhớ mùa thu yêu dấu cũ
Sánh bước nhau đi khắp nẻo đồi
Anh gỡ lá vàng vương tóc rối
Em hát tình ca thật ngậm ngùi!

Chao ôi buồn lắm khúc tango
Như sông cạn nước quạnh đôi bờ
Phải chăng báo trước: lời chia biệt
Giờ phút gần nhau trong cõi mơ!

Em trách người đi quên ước hẹn
-Quê người tôi nặng nỗi hoài mong:
Nước không còn bóng cây cờ đỏ
Dệt lại tình ta với sợi lòng!

Ðâu chỉ mình em sầu ly biệt
Mà còn se thắt cả người đi
Chia em một nửa viền trăng cũ
Hai nửa thành nguyên lúc trở về!

Hàn Thiên Lương

Hùng Ca Bất Tử



(Thiếu úy Huỳnh Văn Thái cùng bảy lính Nhảy Dù dưới quyền
đã tuẫn tiết - 30/4/75 tại Ngã 6 Chợ Lớn)

Lính Nhảy Dù
Quý vị đã đi vào thiên thu...!!
Lính Nhảy Dù
Quý vị đã đi vào thiên thu...!!

Lính Nhảy Dù
Quý vị đã bình thản đi vào thiên thu
Lính Nhảy Dù
Quý vị đã lẫm liệt đi vào thiên thu

Với hàng chữ: Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm
Quý vị đã thực thi
Quý vị đã chứng minh Quân Lực VNCH: Anh hùng

Anh Hùng hỡi... những Anh Hùng
Quốc dân non nước muôn trùng xót thương
Anh hùng hỡi... những Anh Hùng
Hồn thiêng sông núi soi chung đời đời
Anh Hùng hỡi... những Anh Hùng:
" Anh Hùng mạc bả doanh thu luận
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu "*
( Hãy lắng nghĩa trung lưu vũ trụ
Chớ đem thành bại luận Anh Hùng )

Phúc: cho cha mẹ đã sinh ra qúy vị
Phúc cho trường học đã tôi luyện qúy vị
Phúc cho dân tộc có những người con như qúy vị:
- Qúy Anh Hùng
Quý vị đã bình thản đi vào thiên thu
Quý vị đã lẫm liệt đi vào thiên thu

Hùng Ca Bất Tử
Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm chung
Việt Nam Cộng Hòa những Anh Hùng
Tử sinh sợi nhỏ đường tơ tóc
Danh dự đỉnh cao núi trập trùng
Tuẫn tiết non sông lòng chí đại
Hy sinh quý thể dạ ung dung
Trường Sơn Thu úa ngùi thương tiếc
Cảm kích Cửu Long sóng bập bùng...!!

Nguyễn Minh Thanh
( Cảm tác theo Nguoiviettudo - QH 2024)
----------
Phụ Chú:
* Thủ Khoa Huân tức Nguyễn Hữu Huân ( 1830 - 1875 ), Định Tường, nay tỉnh Tiền Giang.
Ông đổ đầu khoa thi Hương dưới triều Tự ̣Đức năm 1852, thường gọi : Thủ Khoa Huân.
Là sĩ phu yêu nước đã chiêu mộ nghĩa binh kháng Pháp. Binh bại, bị giặc bắt, dụ hàng cự tuyệt. Giặc hành hình Ông...!!!
Dưới đây là TMT của Thủ Khoa Huân:

Tuyệt Mệnh Thi

Hãn mã nan kham vị quốc cừu,
Chỉ nhân binh bại trí thân hưu.
Anh hùng mạc bả doanh thâu luận,
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu.
Vô bố dĩ kinh Hồ lỗ phách,
Bất hàng cam đoạn tướng quân đầu.
Đương niên Tho thuỷ ba lưu huyết,
Long đảo thu phong khởi mộ sầu.

Thủ Khoa Huân
***
Dịch thơ:

Thơ Tuyệt Mạng

Gian nan vó ngựa diệt thù chung
Chỉ tại thua binh mạng phải cùng
Hãy lắng nghĩa trung lưu vũ trụ
Chớ đem thành bại luận anh hùng
Nổi xung giặc dữ kinh hồn khắp
Liều thác thân tàn rạng tiếng chung
Sóng nước Mỹ Tho pha máu đỏ
Gío Thu chiều úa nhuộm cồn Rồng..!!

Nguyễn Minh Thanh cẩn dịch
 

Chiêu Hồn Tử Sĩ - Anh Linh Còn Mãi

  

Chiêu Hồn Tử Sĩ

Nước mất nhà tan luống nghẹn ngào
Mệnh chung tổ quốc vấn tang nhau
Đời tù không tội mồ hoang lạnh
Chim Việt cành Nam ngấn lệ trào
Đất khách ly hương trọn ý tình
Chiêu hồn tử sĩ thác anh linh
Trung kiên tuẫn tiết còn lưu đấy
Tô đẹp muôn đời gót chiến chinh

Kim Phượng
30.4.2024
***
Thơ Cảm Tác;

Anh Linh Còn Mãi


Hỡi anh chiến sĩ Việt Nam ơi!
Xin được sẻ chia số phận người
Vị quốc vong thân nơi chiến trận
Yêu đời bỏ xác chốn ngàn khơi
Anh linh còn mãi trong tâm trí
Thể phách hiện nguyên giữa đất trời
Xin tiến kính dâng hương một nén
Tỏ lòng ngưỡng mộ của dân tôi.

Thái Huy
 5/01/24


Cách Gởi Hàng Trăm Tấm Ảnh Qua Email


Hỏi:

Thưa Giáo sư,

Xin giáo sư vui lòng chỉ giúp làm cách nào để có thể gởi nhiều tấm hình (cả trăm tấm chẳng hạn) qua email được. Cám ơn giáo sư nhiều.

ToanNhu

***
Thả Lời

HCD: Thưa anh hiện giờ email gởi hạn độ lớn gởi đi do đó chỉ gởi được năm ba tấm ảnh mỗi lần thôi
Muốn gới nhiều ảnh hay gởi video thì phải dùng trung gian nào đó. Tôi thấy Mediafire là hay nhất, không gây rắc rối nhiểu như những trung gian khác.
Anh bỏ hết ảnh vào mediafire, cho link để người nhận download về computer nhà, nhanh và gọn nhất.

Vào đây nó hướng dẫn anh mọi thứ.

Huỳnh Chiên Đẳng

Cò Xanh Bắt Cá!

 


(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Nhiếp Ảnh Gia taotran Trần Đức Tạo đã chuyển đến bộ ảnh mới, đặc sắc mang tựa đề “Cò Xanh Bắt Cá”.Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.)

Ai dám “trực ngôn” nói tôi là “cò xanh bắt cá’?
Tôi có “bắt” đâu? Chỉ “quá giang xuyên táo” mà thôi!
Tôi có “xanh” đâu? “Bộ Com Lê” của tôi đẹp hơn “xanh” nhiều! Nhuyễn nhừ màu sắc “không tồi”!
Để cho con mồi của tôi “mờ mắt”! Không nhận ra “Ông Cò” đang rình rập!

Mắt sắc nhìn theo mồi để “bập”!
Chân dài chụp tới bóng cho “bung”!
Ngó “bộ vó” của tôi chưa? Vừa “rất bén”, lại “rất xung”!
Chẳng cần để ý đến ai! Mặc cho “Bác Phó” vẫn “lăm lăm” săn lùng, “bơi lội”!

Đừng “tội” cho chú cá mập mạp, đẹp đẽ đang nằm trong miệng tôi dữ dội!
Tôi đang “làm phước” cho nó được đầu thai sang kiếp khác! Thoát tội! Vui sống thênh thang!
Quan Âm phò độ dễ dàng!


Hình Ảnh: Trần Đức Tạo
Thơ: Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 07/06/2023