Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022

Tác Dụng Kỳ Diệu Của Quả Mướp


Tác dụng kỳ diệu của quả mướp

- Tác dụng của quả mướp không thua kém bất cứ loại quả nào về mặt dinh dưỡng, ngoài ra còn có khả năng giúp giãn cơ và giảm viêm khớp. Chưa hết, vỏ của nó cũng rất hữu hiệu trong khử mùi hôi tủ lạnh.

Nhờ hàm lượnց kali ṭronց quả mướp, các cơ bắp được ɫhư giãn do kali cân bằnց được lượnց chất lỏnց ṭronց cơ thể. Nói một cách khác, sự hiện diện của kali sẽ hạn chế được tình trạng chuột rút, đau cơ νà co thắt xảy ra. Kali còn hỗ trợ νiệc phá νỡ protein νà carbs, giúp phục hồi cơ bắp bị tổn thương do νiêm νà cunց cấp nănց lượnց cho cơ thể.

Chất đồnց tronց quả mướp có đặc ṭính chốnց νiêm, có khả nănց làm dịu nhữnց cơn đau do νiêm khớp gây ra. Khônց nhữnց ṭhế, đồnց có thể hỗ trợ sức mạnh cho cơ bắp νà phục hồi các mô liên kết. Chữa bệnh thiếu máᴜ Vitamin B6 ṭronց quả mướp giữ νai ṭrò quan trọnց tronց νiệc sản xuất hemoglobin, giúp νận chuyển oxy đến các tế bào νà ṭănց cườnց hấp thụ chất sắt.

Khi ăn mướp, bạn đừng vội vứt vỏ đi. Hãy giữ lại vì chúng có công dụnց νừa đơn giản lại ṭhiết ṭhực. Bạn hãy lưu lại để ghi nhớ nhé:

Khử mùi hôi tủ lạnh

Do tủ lạnh hoạt độnց liên ṭục suốt nցày đêm để bảo quản ṭhực phẩm, νà bên tronց tủ khá là kín пên rất dễ bị mùi (mùi ṭhức ăn, mùi ṭhực phẩm hỏnց, mùi hoa quả chín, mùi hôi do lâu nցày khônց làm νệ sinh…).

Tách riênց phần νỏ mướp ra rồi cho νào một chiếc bát sạch. Mặc dù chỉ là phần νỏ mỏnց bên nցoài quả mướp ṭhôi nhưnց chúnց cũnց rất ṭhơm. Khi đã nạo ṭách riênց hết phần νỏ mướp, cho bát пày νào bên tronց tủ lạnh νà đặt nó ở nցăn mát.

Lúc пày, νiệc cất bát νỏ mướp νào bên ṭronց ṭủ là có thể dễ dànց ցiải quyết νấn đề mùi của tủ lạnh. Hãy để một ṭhời gian, mùi hươnց của mướp sẽ lan tỏa khắp bên tronց tủ νà át đi nhữnց mùi khó chịu ban đầu. Khi mở cửa tủ lạnh ra, sẽ chỉ nցửi thấy mùi hươnց ṭhơm của mướp hươnց mà ṭhôi!

Dinh dưỡng νỏ mướp không thua kém thịt mướp


Hàm lượnց dinh dưỡnց có ṭronց νỏ mướp khônց hề ṭhua kém so νới thịt mướp νì νậy đừnց νứt đi, sẽ rất lãnց phí. Nếu bạn cảm ṭhấy νỏ mướp khó ăn, νậy ṭhì hãy đun lấy nước để dùnց.

Cách làm rất đơn giản như sau: Trước khi nạo mướp, hãy rửa sạch νỏ bên nցoài, sau đó nạo như bình thườnց, phần νỏ thu được bạn cho νào nồi cùnց một chút nước rồi đun sôi lên. Với cách пày, món canh mướp đã sẵn sànց!

Để tănց ṭhêm mùi νị cho món ăn có ṭhể cho ṭhêm một chút muối, cũnց rất nցon, uốnց một bát canh mướp là có thể ցiải tỏa cơn nցấy khi ăn nhữnց món nhiều dầu mỡ, hoặc bạn có ṭhể dùnց món canh пày để chan cơm như nhữnց món canh rau luộc khác sẽ khá đưa cơm đấy.(Soha News)

Thái Nguyễn Sưu Tầm

Bốn Mùa Mưa(Bàng Bá Lân) - Four Seasonal Rains(Hương Cau Cao Tân)

 

Bốn Mùa Mưa

Ta yêu mưa xuân,
Phơi-phới trên vườn mận nở,
Trên cánh hoa đào rực-rỡ,
Trên áo quần diêm-dúa hội mừng xuân.
Mưa rơi rơi...
Cho cành xuân căng nhựa,
Cho má em tươi hồng.

Ta yêu mưa hè,
Ào-ào như thác đổ.
Lá tre rơi đầy ngõ,
Nước đồng giăng trắng xoá mênh-mông.
Cây xanh màu mới,
Người vui giải nồng.

Ta yêu mưa thu,
Mưa giăng sầu ly-biệt,
Mưa nhắc mãi mối hận tình bất-diệt,
Của chàng Ngưu ả Chức bên sông Ngân.
Ta yêu mưa đông,
Mưa phùn câm lặng.
Mưa xoá mờ rặng cây trên đường vắng,
Mưa đem trời nằng-nặng xuống gần ta.

Ta yêu mưa bốn mùa,
Nghe nhạc trùng rên-rỉ,
Giun khóc chân tường, dế than dưới cỏ,
Nhạc sầu dâng buồn-bã suốt năm canh.
Ta thích đêm mưa, nằm sát cửa sau mành.
Nghe gió rít từng hồi qua kẽ hở,
Nghe gió đập tàu tiêu, mưa nức-nở...
Nghe hồn mưa than-thở với hồn ta!
Ta yêu mưa bốn mùa,
Vì lòng ta gió mưa chẳng ngớt!
Ta muốn đêm dài mưa không ngưng hạt,
Cứ mưa hoài, mưa mãi... Mưa, mưa, mưa.

Bàng Bá Lân 
(Sài-Gòn 05-1957)
***
Bài Dịch:

Four Seasonal Rains

by Bàng Bá Lân (Sài Gòn 05-1957)

I love spring rain that freshly comes
That slightly excites the plum yard to blossom,
On the resplendently beautiful peach blossoms is it falling,
On the gaudy costumes worn to celebrate spring.
The rain is drizzling ...
For the sap in the branches is swelling,
For your cheeks to become rosy and shining.

I love summer rain which often
Comes as impetuously as does waterfalls’ current
Causing bamboo leaves fall and cover walkways fully,
And turn the fields into white colour so immensely.
The plants have a new green colour to stay,
People are enjoying as the heat fades away.

I love autumn rain in its appearance,
Which spreads the sorrow of separation,
The rain that reminds us of the love feud which lasts forever,
Of the Herdsman and the Weaver Girl on the Milky Way River.
I love winter rain which often
Comes drizzling in quiet silence.
And blurring the rows of trees on the road in emptiness,
Bringing the heavy sky to me in closeness.

I love the rain of all four seasons,
Listening to the insects’ music in their lamentations,
The worms’ at walls’ bottom, the crickets’ in the grass,
The sad music is melancholically rising as five watches of the night pass.
I like rainy nights when I can lie next to the door behind the blinds,
Listening to the winds whistling through cracks every once in a while,
To their beatings on banana leaves; the rain is sobbing ...
Listening to the rain’s soul and mine unifying in their lamenting!
I love the rain of all four seasons,
Because inside me rains and winds are always in continuation!
I want the long nights to be rainy incessantly,
Let it keep on raining ... Let it be rainy, rainy, rainy.

Translated into English by Hương Cau Cao Tân

Tản Mạn Xóm Chùa


TU LÀ CÕI PHÚC

Nhà tôi có một quán nước ở mặt đường khu Xóm Đạo, và căn nhà trong hẻm, nằm giữa Xóm Chùa.
Tôi đã viết về Xóm Đạo qua bài NGỌC LAN, nay xin hầu quý vị về Xóm Chùa!

Năm ấy, ở xóm trên có một gia đình, vợ vừa mất, chồng đi bước nữa, có đứa con gái chừng 9-10 tuổi, được nhà người bác ruột đem về nuôi, rồi sau đó nghĩ sao, đem nó vào gửi trong Chùa, hy vọng nó sẽ có đường tu, tránh xa khổ ải trần đời. Rồi nó được cạo đầu, chừa 3 chỏm tóc, mặc áo nâu, có tên pháp danh là Diệu Vinh, xóm chúng tôi cứ gọi nó là Tiểu Vinh.

Cô (Tiểu) Vinh này thiệt là lí lắc và sôi động. Không biết thời khoá biểu trong chùa của Tiểu ra sao, mà hầu như cả ngày tôi thấy Tiểu ở ngoài đường, lúc thì nhí nhố đi học với lũ trẻ trong xóm, lúc thì chơi nhảy dây, chơi tạt lon….Cái tà áo nâu của nhà Chùa chưa bao giờ làm Tiểu vướng bận, khi chơi bịt mắt bắt dê, Tiểu cột hai tà áo lại trước bụng cho chặt để tha hồ chạy nhảy. Chơi tạt lon, Tiểu xắn quần lên tận đùi, và khi chơi nhảy dây, mái tóc “ba vá” của Tiểu cứ lắc lư theo cái đầu và đôi mắt lanh lợi, láo liên của Tiểu thật dễ thương. Cho nên màu da của TiểuVinh ngày càng ngăm ngăm, rám nắng, với hàm răng trắng tươi có chiếc răng khểnh lồ lộ, chưa kể cái miệng nói “không lành da non” của Tiểu làm ríu rít, ồn ào bất cứ nơi đâu Tiểu có mặt. Không biết nó tu tập tới đâu, mà nghe trẻ con trong xóm kể rằng, hầu như ngày nào Tiểu cũng bị Sư Bà phạt quỳ nhang (tức là quỳ trước chánh điện, cho đến khi cây nhang tàn thì thôi). Quỳ đau gối, Tiểu khóc nức nở, nhưng ngày mai…đâu lại vào đấy, vẫn mải chơi say mê, quên cả lời Sư Bà dặn dò.

Một sáng chúa nhật, tôi thấy Tiểu tung tăng hớn hở đi từ phía chợ về xóm, trên tay lủng lẳng con khô lóc, tôi chạy lại hỏi: “Tiểu Vinh ơi, đi tu Chùa đâu được ăn thịt cá”, Tiểu trả lời ngon ơ: “Dạ Tiểu biết, mà lâu quá hổng ăn nên thèm quá, bữa nay ghé nhà bác cho tiền, Tiểu muốn ăn miếng cá khô chiên”. Chẳng biết hôm đó Tiểu có được ăn cá hay bị quỳ nhang gì không, chỉ biết một thời gian sau, gia đình người bác đến xin Chùa được mang Tiểu về nhà, hoàn tục, trở về cuộc sống đời thường.

Thế là từ đó, Tiểu Diệu Vinh, hay đúng hơn là cô bé Trần Thị Hoa Hồng, mặc chiếc áo đầm xanh, cột tóc đuôi gà, đeo cặp táp, tươi tắn bước chân sáo với đám bạn trên đường đi học, nhăn mặt ăn cóc ngâm hay xuýt xoa nhai khô bò, toác miệng cười, mới chính là hình ảnh của một cô bé, đang sống đúng với tuổi thơ của mình.

Dẫu biết rằng “Tu là cõi phúc”!

TÌNH LÀ DÂY OAN

Thực ra, trước khi Tiểu Vinh có mặt, thì ngôi Chùa không phải lúc nào cũng êm ả như dòng sông, mà có lúc, bỗng nổi sóng ba đào.

Chùa chỉ có hai người, là Sư Bà Đàm Nhung và Sư Cô Diệu Huyền. Cô Huyền cũng được gia đình, là dân ở xóm bên, đưa đến Chùa tu lúc bé xíu. Khi tôi lớn lên thì Sư Cô Huyền là một Sư Cô xinh đẹp, nhan sắc nổi bật dù khoác áo chàm, đâu đội khăn tu. Khuôn mặt trái soan, nước da trắng, đôi mắt đen hình hạt dẻ, lông mày đậm trên sóng mũi cao thanh tú, cùng nụ cười duyên và giọng nói ngọt ngào thánh thót, làm bất cứ người đối diện nào cũng đem lòng cảm mến.

Người ta nói, thanh niên xóm chợ và xóm chùa, thường không phải…dạng vừa. Xóm tôi, vừa là Xóm Chợ vừa là Xóm Chùa nữa cơ, nên có đám thanh niên rảnh rỗi, làm ít chơi nhiều, thường hay tụ tập ngay gò mả cạnh Chùa, đờn ca hát xướng, ăn nhậu và chọc ghẹo những thiếu nữ nào đi ngang qua khu này. Nhiều buổi tối đi học thêm về, chạy xe vào đầu ngõ Chùa, tôi cũng bị mấy anh thả lời đùa giỡn là chuyện bình thường, nhưng với Sư cô Huyền, mấy ảnh cũng…không tha. Hễ thấy bóng cô, là các anh trổ tài hát nhạc bolero (có sửa chút lời) đoại loại như: “ Em tôi xinh đẹp hơn người tưởng, không áo xanh áo đỏ thơm hương, nhưng khi vườn Chùa lá thu rơi, ôi dịu dàng đôi mắt em tôi …”, có khi còn cao hứng lên sáu câu vọng cổ tha thiết chuyện tình Lan và Điệp, “Sao em nỡ cắt dây chuông, để anh mang một nỗi buồn thiên thu?”…Lần nào sư cô cũng nhẹ nhàng mỉm cười, bởi dù sao cũng toàn là người cùng xóm, chớ có xa lạ gì đâu nà. Thành ra mỗi khi Chùa có dịp lễ lớn như Tết nhứt, Vu Lan, Phật Đản là bà con thấy mấy anh có chút máu giang hồ, “phá làng phá xóm” đó hì hục dọn dẹp sân Chùa, cắt cỏ, quét lá, tưới cây dưới sự chỉ đạo của Sư cô Huyền. Trời nắng chang chang, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt, và đôi má ửng hồng của Sư Cô thiệt là duyên dáng. Còn mấy anh, thì khỏi nói, lao động hăng say, chạy qua chạy lại như con thoi, có nụ cười của Sư cô thì…hổng biết mệt là gì hết á! (Bởi ta nói, dù ở bất cứ nơi đâu, ngoài xã hội, công sở, xưởng thợ, hay ngay chốn cửa Phật này, có chút nhan sắc là khác liền hà!)

Một buổi tối, khi cả xóm đang chuẩn bị đi ngủ, thì nghe bên Chùa có tiếng la mắng rất lớn của Sư Bà, kèm theo tiếng khóc thút thít của Sư Cô sau mỗi làn roi đánh của Sư Bà. Tôi cũng nhanh chân hoà nhập vào nhóm người có mặt ngay cánh cổng sắt của Chùa, dòm qua khe hở, thấy xa xa, Sư Cô quỳ chắp tay van xin, trả lời lí nhí những câu chất vấn của Sư Bà:

- Tại sao xài kem Hoa Lan?
- Dạ …dạ …
- Tu hành không cần làm đẹp, nghe chưa? Mà muốn dưỡng da, sao không xin tiền nhà Chùa đi mua mà lấy của người ta! Ai cho?!…

Bên ngoài, nghe câu được câu không, chỉ nghe rõ tiếng khóc của Sư Cô và giọng hét như lệnh vỡ của Sư Bà. Không cần chờ đợi lâu, một "bà Tám" lớn tuổi đã giải toả thắc mắc của đám đông tò mò:
- Biết ai tặng mấy hộp kem Hoa Lan cho cô Huyền không? Hùng Đại Ca đó!

Thì ra là Hùng Đại Ca, nhà ngay sát bên hông Chùa. Sau năm 1975, gia đình Hùng đi vùng kinh tế mới, còn anh gia nhập Thanh Niên Xung Phong theo lời kêu gọi đi tìm “lý tưởng” của ông Võ Văn Kiệt. Chẳng bao lâu, gia đình anh bồng bế nhau trở lại vì chẳng thấy “có sức người sỏi đá cũng thành cơm” gì ráo, mà ba anh còn để lại xác thân nơi đồng khô cỏ cháy. Anh cũng bỏ Thanh Niên Xung Phong về nhà, làm nghề “mánh mung chợ trời”, hay theo như lý lịch ngoài phường ghi là “nghề nghiệp không ổn định”. Chiều tối thì tụ tập đám thanh niên trong xóm ngồi đàn ca giải sầu. Công bằng mà nói, Hùng Đại Ca không phải là người xấu. Ở đâu không biết, chớ ở cái xóm Chùa này, anh sống có tình, hành động nghĩa hiệp, giúp đỡ hàng xóm khi có ai cần nhờ vả những chuyện tay chân đàn ông. Có lần tôi đi học về khuya, khi ngang qua “ban nhạc bolero” của anh, bị mấy thanh niên trêu ghẹo, tôi vừa bối rối vừa run, làm rớt chiếc kẹp tóc. Sáng hôm sau, anh sai người mang đến tận quán nước nhà tôi trả lại. Hùng, chàng Đại Ca vì thời cuộc, Lục Vân Tiên không gặp thời, và trận đòn của Sư cô Huyền tối nay, cho chúng tôi biết thêm, anh còn là chàng lãng tử, lãng mạn…không đúng chỗ!
Sau đêm đó, cư dân Xóm Chùa đợi chờ ngày Cô Huyền khăn gói ra khỏi Chùa, về đời thường trần tục, nhưng chỉ thấy Sư Cô vẫn đều đặn đạp xe đi tu học hàng ngày trên Chùa Vĩnh Nghiêm, rồi về Chùa sinh hoạt kinh kệ, gõ mõ, thỉnh chuông đều đặn. Chỉ có điều, Hùng Đại Ca bỏ đi biệt xứ, nghe đâu lên tận Bảo Lộc trồng cà phê phụ giúp người quen.

Giờ đây, ở tuổi xấp xỉ 60, Sư Cô Huyền đang là trụ trì của Chùa, sau khi Sư Bà qua đời. Vậy là Cô Huyền có căn tu, dù trên con đường ấy, có lần Cô thoáng chút vấn vương nhẹ nhàng với luyến ái. Và như cơn gió chợt đến rồi đi, Sư Cô đã vượt qua được cái quyến rũ phù du của “Tình Là Dây Oan”

Kim Loan




Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

Em Chợt Đến - Sáng Tác: Dương Hồng Kỳ - Hòa Âm Nguyễn Anh Huy - Trình Bày Đèo Văn Sách


Sáng Tác: Dương Hồng Kỳ 
Hòa Âm:Nguyễn Anh Huy
Trình Bày:  Đèo Văn Sách 

Cỏ May



Chiều xanh ngăn ngắt bờ đê
Cùng ai có dịp ta về tuổi thơ
Đường trơn nào tại gió mưa
Bởi lòng trĩu nặng đôi bờ vai em
Nụ hôn lịm cặp môi mềm
Cỏ may cù ghẹo vẫn êm lắm rồi
Xa rồi nỗi nhớ rơi rơi
Trong giấc ngủ cứ chơi vơi cánh diều
Người ơi có phải là yêu
Để bây giờ chạnh bao điều vu vơ
Cỏ may khâu nỗi đợi chờ
Bàn tay vụng dại ngẩn ngơ một đời.
Bao mùa úa lá xanh chồi
Đâu vầng trăng bạc đâu lời nguyền xưa...

Phan Tự Trí


Nước Ngọc

Nước mắt em vở xuống đời
từng phiến ngọc
hóa thành lời
lênh láng lòng tôi
ơi m
giọt lệ
trăm nghìn
xuôi theo huyết quản
nuôi tình
nghìn thu


Cao Vị Khanh


Với Quỳnh

 
( Ảnh; Kim Oanh
)
Quỳnh hả,làm đây cứ ngẩn ngơ!
Vào khuya đứng ngắm đến quên giờ
Trăng thời mới nhú giăng đầu núi
Sương lại đang rơi phủ suối mơ
Khiến cảnh u tình khơi viễn mộng
Cho lòng chuyển ý dệt nên thơ
Gởi người cuối bến con sông cũ
Có lạc dòng không hay vẫn chờ..?

Thái Huy
8/11/22

Mây Tần – Đôi Lời Phi Lộ - Phạm Khắc Trí

Mây Tần – Đôi Lời Phi Lộ 

Đất khách cuối đời mất gốc,
Chút tì nh chữ nghiã còn vương.
PKT - Mây Tần

Các bài viết ký tên PKT trong tập Mây Tần này, nguồn gốc hầu hết là từ trong kho tàng thơ hán-việt cổ, những lúc riêng tư, khoảng thời gian về hưu, từ đầu năm 2000 ở nơi đất khách đến nay, tuy là mượ n ý mượn lời từ nguyên tác nhưng không phải là thơ dịch.
Chuyển ngữ đúng sai quả thật đã ở ngoài giới hạn hiểu biết cá nhân hạn hẹp và ngay lúc viết ra thành lời là đã hoàn toàn lệ thuộc vào cảm xúc nhất thời. Chỉ còn biết mỗi chữ là mỗi ti nh. Là nỗi xót xa của một kẻ ly hương không nhà. Người xưa, một đêm trăng trên bước đường luân lạc, vẫn còn nhà để nhớ. Còn tôi, cuối đời xa xứ, trăng nào rụng lối cũ để dẫn lối tôi về.

Bất hướng Đông Sơn cửu
 Tường Vi kỷ độ hoa 
Bạch vân hoàn tự tán
Minh nguyệt lạc thùy gia 
(Ức Đông Sơn - Lý Bạch 701-762)

Nhà lâu không trở lại
Mai nở đã bao mùa
Mây trắng trời phiêu lãng
Trăng nào rụng lối xưa? 
(Nhớ Nhà - PKT Mây Tần)

Mấy năm gần đây, thật ra tôi cũng đã hơn một lần tìm về chốn cũ. Để thấy mì nh là người khách lạ. Để thấy rõ được một lần, là đời đã đổi, bến cũ đò xưa nay đã thành phố thị cả rồi.

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên điạ chi du du
Độc sảng nhiên nhi thế há 
(Đăng U Châu Đài Ca - Trần Tử Ngang 651-702)

Trước, người xưa không thấy
Sau, ai đợ i ai chờ
Lạc lõng giữa trời thiên cổ
Lệ nào vơinỗi bơ vơ! 
(Bài Ca Giữa Lòng Phố Cũ - PKT Mây Tần)

Vâng, các bài viết ký tên PKT trong tập Mây Tần này là như vậy đó .
Và, cũng đã là một khoảng cách dài hơn nửa đời người giữa tôi xưa và tôi nay. Con chữ dù đã ngừng tiếng nói nhưng mỗi lần đọc lại, lòng riêng vẫn không khỏ i xao xuyến bâng khuâng về một nỗi nhớ vu vơ bây giờ thực ra đã không còn rõ né t nữa. Chỉ còn mong được chia sẻ ít nhiều phần nào mà thôi. Trân trọng,
PKT - Mây Tần
 
Vào Mây

Vân hoà nh Tầ n Lĩ nh gia hà tạ i
Tuyế t ủ ng Lam Quan mã bấ t tiề n
Hàn Dũ 768-824

Mây giăng ngang núi Tần, nhà ta nơi nào dưới đám mây xa kia
Tuyết đã phủ trắng ải Lam, ngựa không còn sức đưa người vượt qua được nữa rồi

Người xưa trên bước đường luân lạc
Vẫ n có môt nơi để nhớ về
Tôi nay thân cỏ bồng phiêu bạt
Đâu áng Mây Tần gửi nỗi quê
Ngày tháng qua đi không trở lại
Tóc xanh giờ đã bạc phong trầ n
Còn chăng một tấm lòng thơ dại
Ngu ngơ cười khóc chuyện phù vân
Đất khách lần khân đà trọn kiếp
Thì thôi chữ nghĩa chút niềm vui
Đêm đêm lần giở trang thơ cổ
Trăng nước Tầm Dương những ngậm ngùi
(PKT - Đâu Á ng Mây Tần)

Thôi đã ba chìm bảy nổi
Đổi đơ i bão táp đẩy đưa
Xứ người sớm chiều mưa nắng
Có nói gì thêm cũng thừa
Sống sót một thời chiến loạn
Hồn nhiên tuổi dại không còn
Ngồi nghe gió đùa tóc rối
Mà vui với tấm lòng son
(PKT - Độc Thoại)
雲 雪
橫 擁
秦 藍
嶺 關
家 馬
何 不
在 前

Phạm Khắc Trí

Niềm Riêng Nghiệt Ngã Trong Thơ Đinh Hùng


Đinh Hùng qua đời vì bạo bệnh vào mùa thu 1967 tại Saigon trong một ngày gió mưa tầm tã, lúc mới 47 tuổi. Vài tuần sau đó, Vũ Hoàng Chương (người anh rể cũng là thi hữu thân nhất của Đinh Hùng) đã nói chuyện rất cảm động về cuộc đời của nhà thơ yểu tử tại Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Qua bài nói chuyện “Nhớ Đinh Hùng” của ông, ta được biết vì đâu mà Đinh Hùng có cái “nguồn thi hứng ảm đạm bi thương đến rùng rợn tê điếng cả tâm hồn.” Năm Đinh Hùng 11 tuổi, chị Tuyết Hồng, một hoa khôi 18 tuổi đời, vì buồn chuyện tình duyên đã tự trầm tại Hồ Trúc Bạch.

Vài tháng sau, thân phụ thất lộc khi chưa đầy 50 tuổi. Và 3 năm sau nữa, chị lớn nhất mang tên Loan cũng qua đời trong tuổi thanh xuân! Trại Trung Phụng, sản nghiệp to lớn nhà họ Đinh, vẫn theo lời Vũ Hoàng Chương, “quả là một gia tài đẫm lệ; bộ xương khô và lưỡi hái dài nanh ác lúc nào cũng như lẩn quất trong hang cây khế, cây cam” (Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1969).

Đang học chương trình tú tài thì Đinh Hùng bỏ học để bắt đầu đi tìm những say mê của đời phóng khoáng:

Sớm như chiều hư thực bóng hoa hương
Ta ra đi tìm lớp học thiên đường
Và khi đó thì mẹ yêu ngồi khóc

(Khi Mới Nhớn)

Cái “bóng hoa hương” quan trọng nhất đời Đinh Hùng là một người bà con có họ xa, mang tên Ý Liên, mà nhà thơ đã yêu từ “độ em còn trèo cây khế, vin hai quả xanh bên tường.” Nàng lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp tươi tắn:

Nắng vàng năm xưa đã tắt
Cô bé ngày xưa lớn rồi
Hoa hồng vừa nở trên môi
Và một trời thu trong mắt
* * *
Em là Tiên Nữ Diễm Kiều
Vin hái hoa trong vườn quý
Dò theo những bước hương yêu
Còn tôi đi làm thi sĩ
(Tiếc Bướm)

Tiên Nữ Diễm Kiều đã có với nhà thơ nhiều kỷ niệm khó phai:

Người đẹp ngày xưa tên giống hoa
Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ
Lén bước trang đài tới gặp ta
.....
Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên
Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng
Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên

(Liên Tưởng)

Đinh Hùng và Ý Liên yêu nhau tha thiết trong tuyệt vọng. Nàng qua đời vì lao phổi khi Đinh Hùng tuổi mới 20. Mất Ý Liên, nhà thơ đau khổ đến điên dại. Cái ác nghiệt của Thần Chết lần này thực quá sức! Đã đến lúc nhà thơ chấp nhận cái chết, như thấy trong hai câu bi thảm trong thi tập Mê Hồn Ca:

Đi đi cho hết dương trần
Ngày mai tìm bóng Tử Thần mà yêu

Từ cái định mệnh nghiệt ngã ấy, thi nhân đã viết lên những lời thơ âu yếm – nhưng cũng ma quái vô cùng – để nhắn vọng về thế giới bên kia, nơi có người yêu chàng hiện hữu:
Trời cuối thu rồi … Em ở đâu
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu
.....
Ta gửi bài thơ anh linh
Hỏi người trong mộ có rùng mình
Nắm xương khô lạnh còn ân ái
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình

(Gửi Người Dưới Mộ)

(Gửi Người Dưới Mộ (Phạm Anh Dũng - Đinh Hùng) Quang Minh)

Bài “Gửi Người Dưới Mộ” của Đinh Hùng phảng phất hồn thơ siêu linh của thi sĩ thuộc trường phái tượng trưng (symbolisme) Charles Baudelaire mà Đinh Hùng ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng không ít (Đinh Hùng 1971). Charles Baudelaire (1821-1867) từng bị xã hội Pháp mệnh danh là một “nhà thơ thổ tả” (“poète maudit”) vì chàng đã sống một cuộc đời phản luân thường đạo lý: trác táng, nghiện thuốc phiện, mắc bệnh hoa liễu, bênh vực đồng tình luyến ái, và quịt nợ nhiều người. Quá hổ thẹn, Baudelaire phải trốn xã hội qua thi ca siêu tưởng tự đề cao mình trong một thế giới riêng tư. Còn Đinh Hùng thì quá đớn đau vì nhiều cái chết trong gia đình, nhất là cái chết quá phũ phàng của người tình thiên thu. Làm sao trốn được cái định mệnh nghiệt ngã phong tỏa đời mình, nếu không rút vào một thế giới siêu tưởng như Baudelaire? Chính đó là điều Đinh Hùng đã làm. Chàng từ nay sẽ xuất trần, sẽ vượt ra ngoài vòng vũ trụ, và nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng (Thi Vũ 1993). Con đường ngắn nhất để đi vào thế giới siêu tưởng của Đinh Hùng cũng là con đường Baudelaire đã chọn, đó là kết bạn với nha phiến (Michel Quesnel 1987). Trong bài “La Vie Antérieure” (Tiền Kiếp) trong thi tập Les Fleurs du Mal (Ác Hoa), Baudelaire đã cho hồn phách phi lạc về kiếp trước để thấy mình như vua chúa sống trong cung điện nguy nga, an nhàn lạc thú đầy hương sắc trong đoạn cuối bài thơ: *

Đó là nơi ta chìm trong hoan lạc
Giữa trời xanh, sóng biển, rực muôn màu
Những nô tỳ lõa thể nức hương hoa
Ngồi hầu quạt bằng những tàu lá cọ
Họ phải giúp mau cho ta tận hiểu
Bí mật nào làm phiền muộn lòng ta

(La Vie Antérieure, ĐTP phỏng dịch)

* “C’est là que j’ai vécu dans les voluptés calmes / Au milieu de l’azur, des vagues, des splendeurs / Et des esclaves nus tout imprégnés d’odeurs / Qui me rafraichissaient le front des palmes / Et dont l’unique soin était d’approfondir / Le secret douloureux qui me faisait languir.”

Nếu cái nhựa đắng thoát trần đã giúp cho Baudelaire quên đi nỗi buồn thế sự và trở về với cái quá khứ uy nghi giả tưởng của mình, thì nàng tiên nâu đã giúp Đinh Hùng chuyển cái tê mê nha phiến sang khoái cảm ái tình mà chàng từng thụ hưởng, cũng trong một “tiền kiếp” xa xôi nào đó của mình:

Trong im lặng, tôi rùng mình nín thở
Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa
Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da
Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc

(Giáp Mặt Phù Dung)

Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng đóng hai vai trò mâu thuẫn, khi thì hiền lành lúc thì dữ tợn. Chàng đã gặp nhiều người đẹp mang tên nên thơ như Nữ Chúa Sầu, Em Huyền Diệu, vân vân, thường là những nhan sắc liêu trai trong thi tập Đường Vào Tình Sử:

Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên Em … Ôi, biển sắc rừng hương
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự thiên đường

(Kỳ Nữ)

Đối với những giai nhân giả tưởng ấy, thi nhân lãng mạn và tình tứ lắm:

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ
Nắng trong hoa, với gió bên hồ
Dành riêng em đấy khi tình tự
Ta sẽ đi về những cảnh xưa

(Tự Tình Dưới Hoa)

Ngược lại, trong một bài thơ khác, chàng đóng một vai rất dữ tợn. Đó là một con người nguyên thủy vóc dáng cổ quái, từ thiên nhiên huyền bí trở về đô thị tìm người yêu:

Ta về đây, lạ hết các người rồi
Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống
Trong bỡ ngỡ duy lòng còn chút mộng
Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa
Nàng không mong, ta đi đến không ngờ
Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt
Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt
Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa
(Bài Ca Man Rợ)

Bị nàng ruồng rẫy, thi nhân điên lên như một con thú dữ, giết nàng tàn bạo, phá tan thành quách, rồi bình tĩnh trở về cõi nguyên thủy:

Ta thản nhiên, trở lại núi rừng
Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng

(Bài Ca Man Rợ)

Nỗi cô đơn bi thương trong cuộc sống trần thế đã xâm nhập cõi thơ siêu thực của Đinh Hùng, nơi mà nhà thơ chạy trốn cuộc đời. Ta thương cảm cho định mệnh thảm thê của Đinh Hùng, nhưng cũng chính nhờ vào cái kiếp sống tuyệt cùng vô vọng đó mà ta được đọc những vần thơ trác tuyệt nhất của ông. Chúng cũng khiến ta liên tưởng đến di ngôn bất hủ của văn hào Alfred de Musset thuộc trào lưu lãng mạn Pháp: “Les plus désespérés sont les chants les plus beaux” (Những bài ca tuyệt vọng nhất là những bài ca đẹp nhất). Và Đinh Hùng đã dùng thi tài xuất chúng để bất tử hóa cuộc đời quá bất hạnh của chính mình.

THƯ TỊCH

Đinh Hùng (1971) Đốt Lò Hương Cũ. Saigon: Lửa Thiêng. Đinh Hùng (1961) Đường Vào Tình Sử. Hoa Kỳ: Đại Nam in lại, không đề năm nào. Michel Quesnel (1987) Baudelaire, Solaire et Clandestin. Paris: Presses Universitaires de France. Thi Vũ (1993) Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam. Paris: Quê Mẹ. Trung Tâm VBVN (1969) Câu Chuyện Văn Chương. Hoa Kỳ: Xuân Thu in lại, không đề năm nào.

Đàm Trung Phán
2012, 2020
(Phiên bản cập nhật 2020)

Cách Viết Truyện Ngắn Của Trần Bang Thạch

 
(Trần Bang Thạch)

​Một chút tiểu sử về nhà văn Trần Bang Thạch:

-Tên họ thật: Nguyễn Công Danh, 1942 sanh quán tại Cần Thơ.
-Làm thơ, văn, phóng viên...đăng trên các báo và tạp chí văn học trước 1975, bút hiệu Nguyễn Cát Đông. Từ 1980, tại Hoa Kỳ dùng bút hiệu Trần Bang Thạch.
-Trong nhóm Chủ trương Tạp chí Văn học Tiếng Động (Cần Thơ/ Sài Gòn) 1963-1965
-Tổng Thư Ký tạp chí Chỗ Đứng do Ban đại diện SV/ ĐHSP/SG chủ trương 1967-1969
-Trong BBT tạp chí VHVN, Houston Texas, từ 1998 đến nay
-Trong nhóm Chủ trương Tạp chí Văn học Thư Quán Bản Thảo từ ngày đầu, tháng 10-2001

-Tác phẩm:

Đường sang đất trích, 1966, kịch thơ, do Nhóm Nhân Văn ĐH Văn Khoa SG in ronéo (Tuyệt bản)
Tuyển Truyện Nguyễn Cát Đông, 1967, tập truyện, do Ban Đại Diện SV/ĐHSP/SG ấn hành, in ronéo. (Tuyệt bản)
Áo Mây Bay, thơ, chung với Huỳnh Phan, 1971, do nhà sách Nam Việt (Châu Đốc) xuất bản (Tuyệt bản)
Tuyển Tập Truyện 18 tác giả Miền Nam Trong & Ngoài Nước, 2003, Thư Ấn Quán xuất bản.
Bên Trời (Tuyển tập Thơ 14 tác giả miền Nam, 2004, Thư Ấn Quán.
Tuyển Tập Thơ 7 tác giả Trong và Ngoài Nước, 2004, Thư Ấn Quán.
Quẩn Quanh Chuyện Đời, trập truyện, 2006, Thư Ấn Quán.
Truyện trước 1975 in trong Văn Miền Nam, Tập 4, Thư Ấn Quán, 2009.
​(Trích từ trang nhà: www.ptgdtdusa.com)

***

(Bìa tập truyện Quẩn Quanh Chuyện Đời của Trần Bang Thạch 

do Thư Ấn Quán xuất bản, Hoa Kỳ, năm 2006.)


Truyện ngắn của nhà văn Trần Bang Thạch đăng rải rác trên các trang nhà “Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm” (www.ptgdtdusa.com), trang “Ái Hữu Đại Học Sư Phạm Sài Gòn”…, và đặc biệt tập truyện “Quẩn Quanh Chuyện Đời”(QQCĐ) của Trần Bang Thạch, do Thư Ấn Quán (New Jersey, Hoa Kỳ) ấn hành vào tháng 4 năm 2006, gồm 25 truyện ngắn, dày 274 trang, là những trang đời của những cảnh đời mà tác giả đã từng chứng kiến hoặc nghe thấy qua nhân vật có tên gọi như ông Phước, bác Trần Miệt Thứ, bà Hai Vàm Láng vân… vân…, hoặc có khi ngắn gọn hơn, nhân vật của Trần Bang Thạch thường xưng “tôi” ở ngôi thứ nhứt rất quen trong cách xưng hô của người Việt quê mình. Cách xưng hô với người đọc bằng “tôi” ấy nó có cái dễ mà cũng có cái khó. Dễ là ở chỗ nếu người đọc hơi lơ là một chút là sẽ bị tác giả dẫn mình đi lạc vào khu rừng với những loại dây leo như dây cổ rùa quấn chặt những thân cây cổ thụ hoặc như những loài dây bò như dây choại bò chen kín qua mấy lớp lá mục lâu năm của rừng tràm miệt Kinh Năm vùng Hỏa Lựu, Long Mỹ (Chương Thiện) thuở trước hoặc vùng U Minh vào những năm rừng chưa bị khai phá đề trồng lúa, trồng khóm…, và rồi mình lại cứ tưởng rằng câu chuyện mà nhân vật xưng “tôi” ấy đã tự thuật với mình chính lại là câu chuyện của tác giả; nhưng thiệt tình ra sự thật không phải lúc nào cũng là như vậy!

Cái khéo của Trần Bang Thạch khi chọn nhân vật ở ngôi thứ nhứt, xưng “tôi”, trong hầu hết các truyện ngắn của tác giả mà bạn nếu có dịp đọc, bạn sẽ thấy đây là một trong vài nét tiêu biểu về cách viết truyện của Trần Bang Thạch.

Nét tiêu biểu kế tiếp là truyện ngắn của Trần Bang Thạch bao giờ cũng bắt đầu bằng một việc có thật hoặc được tác giả tưởng tượng giống như thật và nó đang có ngay trước mặt mình, ở thì hiện tại; để rồi từ đó tác giả mới nắm tay người đọc và dẫn bạn đi tìm căn nguyên nào mà nó lại có cái hiện tại ấy; thế rồi tác giả mới bắt đầu quay chậm lại khúc phim đời chìm nổi của nhân vật chính trong truyện của mình qua những phác thảo vừa đủ để người đọc tường lãm về một cảnh đời quanh quẩn bên mình…

Chẳng hạn như truyện “Thầy giáo làng” bắt đầu tác giả tả cảnh đám tang của ông thầy giáo làng; và rồi tác giả mới bắt đầu nhắc lại từ đâu mà ông thầy giáo ấy lại lưu lạc đến chốn này và vì sao ông lại làm cái nghề dạy học ở một làng quê miền sông rạch miền Tây mà không phải làng quê từ xứ sở của ông ở tuốt ngoài miền Trung và để rồi đến đổi ông giáo làng phải gởi xác thân của mình nơi xứ sở lạ hoắc lạ quơ ấy?

Theo đó, hoàn cảnh của “Thầy giáo làng” của Trần Bang Thạch nó bi thiết giống như “ngôi mộ một ông nghè giữa cánh đồng Phú Xuyên (Sơn Tây)” mà nhà văn Nguyễn Hiến Lê có lần nhắc qua:


“Tôi còn nhớ hồi mười sáu, mười bảy tuổi, một buổi trưa hè bác tôi dắt tôi đi thăm ngôi một một ông nghè giữa cánh đồng Phú Xuyên (Sơn Tây).

Mộ nằm dưới một gốc cây đa cổ thụ, giữa một cái gò rộng khoảng dăm sào, nhìn ra một cánh đồng chiêm mùa đó loang loáng nước, xa xa bên mặt là núi Hùng và bên trái là núi Tản. Ngôi miếu ở trước mộ đã thấp lại hẹp, tường và mái đen những rêu, đôi câu đối chữ còn chữ mất. Hỏi thì bác tôi đáp rằng chỉ biết cụ nghè họ Nguyễn, sống vào cuối đời Lê, ở nơi khác lại miền này dạy học, họ hàng không có ai, khi mất dân làng nhớ ơn mà lập miếu.

Tôi bùi ngùi. Hiển đạt như ông nghè hồi xưa là tột bực, thế thì vì lẽ gì phải bỏ quê quán, lại nơi thô lậu này để gõ đầu dăm ba đứa trẻ rồi gởi luôn tàn cốt ở nơi này!”
(Trích lời Tựa cuốn Cổ Văn Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, 2 cuốn, nhà xuất bản Tao Đàn, Sài Gòn, 1966)

Và đây, một chút về Thầy giáo làng của Trần Bang Thạch:

“Ngày đó, thời thập niên hai mươi, cái thôn làng An Trụ chỉ là một thỏi đất rộng không đầy hai cây số vuông. Thỏi đất như một cục u nhỏ trên con sông Bassac, cách bến bắc Cần Thơ hơn ba mươi cây số theo đường chim bay. Dân làng An Trụ không làm ruộng mà chuyên làm rẫy nhờ nguồn đất phù sa màu mỡ. Cũng có những mảnh vườn trồng cây ăn trái như mãng cầu, vú sữa. Cư dân chỉ trên dưới năm mươi người già trẻ bé lớn, tất cả đều thất học. Chỉ có một người biết chút ít chữ nho, chữ quốc ngữ và có tài hốt thuốc nam mà người làng gọi một cách thân quen là ông Huế. Ông Huế có mặt ở làng này vào giữa những năm hai mươi. Thật sự không ai biết tên thật ông ấy là gì. Người ta truyền miệng rằng ông Huế có chân trong một phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục gì đó ở ngoài Trung kỳ, bị truy nã phải bỏ làng mạc vào thỏi đất ít người lai vãng này để mai danh ẩn tích. Dân làng không nhờ cái vốn chữ nho mà nhờ thật nhiều vào các món thuốc nam gia truyền của ông Huế. Người ta nhờ ông nhưng người ta không dám giao thiệp nhiều với ông một phần vì sợ dính líu đến chánh trị, phần khác người ta thấy ông không phải là "người mình" qua tiếng nói lạ tai và khó hiểu của ông. Đến giữa thập niên 1950, ngay sau khi Hiệp định Genève vừa ký kết, làng An Trụ có thêm một người khách từ miền Trung vào An Trụ tìm anh rồi ở lại lập nghiệp. Người thanh niên trán rộng, mũi cao, mang đôi kính gọng đồi mồi tên Tư Gấm lúc đó gần ba mươi, chính là em trai ông Huế. Người làng cũng coi anh Tư Gấm không phải là "người mình", lại có lý lịch không rõ ràng. Người ta còn đồn đãi rằng anh Tư Gấm bỏ xứ, bỏ vợ con vào đây là nằm trong kế hoạch "cài người" của phía bên kia để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử 1956. Điều này đã đưa tới một thiên tình sử đầy nước mắt cả mấy chục năm sau. Nghe nói anh Gấm đã đậu bằng sơ học yếu lược. Lần đầu tiên An Trụ có người biết nhiều chữ nghĩa. Cũng là lần đầu tiên An Trụ có một mái trường sơ cấp. Đó là nhờ công lao của thầy giáo Tư Gấm. Còn nhớ những ngày đầu xây dựng trường, đa số dân làng thờ ơ, thầy giáo Tư cùng với vài em trai lớn tuổi và mạnh sức dốc công ngày đêm cất lên ngôi trường chỉ có một phòng duy nhứt. Cổng trường uy nghi bằng bê tông cốt sắt có tấm bảng tên trường bằng xi măng nằm ngang với hàng chữ nổi là do công lao và hoa tay của thầy Tư. Có người phê bình là ngôi trường thì mái lá vách ván nhỏ bằng cái chén chun mà cái cổng thì như cổng của một tòa lâu đài! Thầy Tư nói ngôi trường này sẽ lớn ra, sẽ mái ngói tường vôi nền gạch, làng An Trụ này cũng sẽ đầy chữ nghĩa. Các bàn ghế, bảng đen cũng do chính tài thợ mộc của thầy Tư mà có. Trường ốc đã xong, thầy Tư đi đến từng nhà năn nỉ cha mẹ cho con đến trường. Lớp học đầu tiên khai giảng với 1 thầy và 6 trò. Thầy Giáo Tư tiếp tục đến năn nỉ từng nhà cho con em đi học. Tuần lễ thứ hai có thêm 3 trò nữa.Thầy trò chuyên cần dạy và học. Lớp học nhiều khi là lúc rảnh tay ở ngoài rẫy dưa, hay bên cái đìa vừa tát cạn. Thầy Tư cũng sinh sống bằng nghề rẫy. Thầy dùng tiền của mình mua sắm dụng cụ cho trường và mua sách vở, giấy mực giúp đỡ những học sinh nhà nghèo. Sau ba năm thì chánh quyền công nhận trường Sơ cấp An Trụ và bắt đầu trả lương cho thầy giáo với số lương thật thấp của ngạch trật giáo viên xã ấp không có bằng sư phạm. Làng An Trụ có thêm nhiều cư dân mới. Lúc đó trường đã có 3 lớp học chung một phòng do thầy Tư dạy, sĩ số có lúc lên tới trên 20 mỗi lớp. Trường ốc đã đi vào nề nếp trong hệ thống giáo dục của quốc gia.

Nhưng năm đó cũng là năm có hai người sầu khổ vì tình tại làng An Trụ.”
Hoặc như vào truyện “Tương Phật”, mở đầu với một thực tại là bao thơ của một đứa học trò cũ từ quê nhà trao cho “tôi”, tác giả viết:


“Khi người học trò cũ từ quê nhà trở lại Houston trao cho tôi một bao thơ, trong có lá thơ thật dài của em gái tôi và một tượng Phật Bà Quan Thế Âm, tôi thấy mình choáng váng, muốn ngã quỵ. Đó là ngày gia đình chúng tôi làm cái thất thứ hai cho má tôi, tức là mười bốn ngày sau khi má tôi mất. Từ ngàn trùng tôi đã âm thầm khóc và cầu nguyện cho vong linh má tôi được sớm về cõi phúc. Bất ngờ nhận được tượng Phật, tôi nghĩ ngay rằng má tôi chưa đi đâu hết mà đang đến với tôi. Má muốn đem tượng Phật, đem cái may mắn đến cho tôi dù má đã xa đời. Trời ơi, người con bất hiếu là tôi đang biền biệt phương nào trong những giờ phút cuối đời của má, để vong linh má phải đi tìm tới tận nơi nầy. Còn nhớ hồi năm 2000 chúng tôi về thăm má tại quê nhà, má đã lẫn nặng, lúc nhớ lúc quên, nói năng khó khăn, thiếu đầu thiếu đuôi. Nhưng có một câu mà má tôi cứ hỏi tôi hoài: “Không biết đến lúc má già con có về được không?”. Mỗi lần nghe câu hỏi đó tôi đã vuốt đôi vai gầy của má, thế cho câu trả lời, vì nghĩ rằng xa xôi quá chỉ sợ về không kịp. Quả thật là không kịp. Má tôi ngã bịnh nhanh quá, ra đi nhanh quá và chôn cất cũng nhanh trước khi một năm mới sắp đến. Cũng là lỗi của tôi, cứ nghĩ má còn ở với con cháu lâu hơn nữa, cứ nghĩ vài tuần lễ nữa sẽ về, như lịch trình đã xin phép ở sở làm, chắc còn kịp. Tôi đã không về kịp thì hôm nay, qua tượng Phật, má tôi đã đến với tôi. Má bao dung của tôi chắc không trách, nhưng tôi thấy cái lỗi của mình quá nặng.

Trên mười trang giấy đầy chữ em gái tôi kể lể từng chi tiết một kể từ ngày má trở bịnh cho đến giờ má nhắm mắt. Dòng cuối, em tôi viết: “Đúng 8 giờ 15 tối ngày 28 Tết má đã bỏ anh em mình mà ra đi!”. Tôi biết em gái tôi đã không cầm được nước mắt khi viết câu nầy nên bức thư phải chấm dứt ở đó, cũng như nước mắt tôi chảy nhiều hơn mỗi lần tôi đọc câu ấy. Từ nhỏ cho tới giờ em gái tôi chưa hề sống xa mẹ, cho nên bên nầy tôi buồn một thì bên kia em gái tôi phải buồn mười. Mỗi lần nói chuyện với tôi trên điện thoại, em tôi chỉ khóc và khóc. Trên một tờ giấy nhỏ khác em tôi cho hay đã tìm thấy trong mớ tập vở cũ của tôi cái tượng Phật đã được để trong bao thơ với tên người nhận là tôi, nên em gởi sang cho tôi. Bị run tay và mất trí nhớ từ vài năm nay, má tôi chắc phải khó khăn lắm mới nhớ được và viết ra được tên tôi với nét chữ ngoằn ngoèo và dán thơ bằng cơm nguội. Chút cơm nguội khô còn dính trên bao thơ cho biết lá thơ nầy má dán không bao lâu trước ngày má mất. Má tôi trí óc đã lú lẫn mà ở những ngày cuối đời vẫn còn nhớ tới đứa con ở xa. Còn đứa con xa xôi nầy có bao nhiêu lần tưởng nghĩ tới má? Áp tượng Phật vào tim mình, tôi nghe hơi ấm của má. Tôi chợt hiểu rằng vĩnh viễn người mẹ luôn ấp ủ con cái của mình dù mẹ có đi tới đâu, dù con đang ở một chân trời góc biển nào. Và tôi cũng chợt nhớ rằng đã từ thật lâu tôi đã quên hết những cử chỉ, lời nói thương yêu đối với má. Bây giờ cầm tượng Phật trên tay, tôi như đang thấy má, muốn nói “má ơi con thương má” thì còn má đâu để mà nghe!”
(QQCĐ, trang 243)

Thế rồi tác giả mới đưa người đọc đi dần về quá khứ xa xăm của “Tượng Phật”, do đâu mà có và bức tượng ấy thân thiết, quan trọng biết bao khi tác giả kết từ bằng cả một tấm lòng của đứa con thương nhớ hiền mẫu của mình:
“ Những năm tháng còn sống trong gia đình, cứ mỗi lần sắp đưa ông táo về trời là tôi có bổn phận đánh bóng tất cả mấy bộ lư đồng, thích nhứt là được tỉ mỉ đánh bóng tượng Phật trên sợi dây chuyền của má. Tôi tẩn mẩn dùng bông gòn hay sợi chỉ thấm dầu bóng lau từ những kẻ ngón tay nhỏ bằng sợi tóc cho tới từng nếp áo, từng giọt nước cam lồ chảy ra từ cái bình nhỏ bằng hột gạo. Mỗi khi đánh bóng xong, tôi muốn được má khen và muốn tự mình đeo tượng Phật vào cổ má, để thừa dịp má không để ý, hun má một cái chụt rồi chạy mất. Còn nhớ năm đầu vào đại học trên Sài Gòn, má tôi đeo tượng Phật vào cổ tôi, nói là để được may mắn. Tới năm sau thì tự nhiên tôi cảm thấy mắc cỡ với đám bạn bè sinh viên của Sài Gòn hoa lệ, vì nghĩ rằng đàn ông con trai mà mang dây chuyền dây cổ với cái tượng Phật sao có vẻ quê mùa tỉnh lẻ quá, nên tôi trả về cho má. Càng lớn, đi học xa, rồi đi làm xa, tôi càng ít nghĩ tới tượng Phật. Tôi không nhớ là đã bao nhiêu năm tôi không còn nghĩ tới tượng Phật nhỏ xíu ấy nữa. Hai mươi bốn năm ở xứ người, hình như tôi đã quên phứt cái tượng Phật mà hồi nhỏ tôi gọi là Má. Cũng quên luôn mình đã từng được má thương yêu gọi là Na Tra. Có lẽ tôi cũng ít khi nghĩ tới sẽ có một ngày rất gần mình phải mồ côi mẹ.
Hôm nay thì tượng Phật đang áp sát trên ngực trái của tôi, ướt sũng những giọt nước mắt.”
(QQCĐ, trang 252)

Trong truyện “Ngoại tôi và dòng sông cũ”, tác giả tả chi li về bà ngoại hai và con rạch mang tên ông Cố:

“Từ đó, như một định mạng, con rạch mang tên ông cố tôi bây giờ là thế giới riêng của cô con dâu khốn khó của người. Không hiểu từ đâu mà ngoại hai tôi cứ nghĩ là cái đầu của ông ngoại tôi không trôi đi đâu xa, mà đang lẩn quẩn đâu đó trên con rạch của ông cha mình, đâu đó dưới gốc bần hay đâu đó trong bụi lát. Thật sự thì con rạch không dài, không sâu mà cũng không rộng. Nó chỉ là một nhánh của con sông cái bắt đầu từ cửa sông Bassac, chạy ngòng ngoèo qua thành phố Cần Thơ, chạy tuốt vô Cái Răng mới chia thành hai nhánh: một vào miệt Phong Điền, Cầu Nhiếm, một vào Cái Chanh, Cái Muồng. Rạch Ông Thìn nằm khoảng giữa Cái Răng và Cái Chanh, là ranh giới của làng Trường Phước và làng Trường Thành. Khu vườn cây ăn trái của ngoại tôi có hình dáng một hình chữ nhựt nằm ngay vàm Ông Thìn, một mặt có chiều ngang độ một phần tư cây số chạy dọc theo con rạch; mặt kia độ nửa cây số nằm trên bờ sông cái. Nhà việc của làng nằm trên khu đất của ngoại tôi. Từ vàm, con rạch dài gần ba cây số, chảy quanh co giữa vườn tược và gần trăm căn nhà hai bên, đa số là nhà lá, rồi bị cái đập đất chận ngang. Phía bên kia đập là cánh đồng lúa bát ngát của ông ngoại tôi. Bề ngang con rạch chỉ vừa đủ cho hai chiếc ghe chài chở lúa hạng trung qua mặt. Vào mùa khô, lòng rạch cạn gần tới đáy, một đứa con nít mười tuổi đứng không ngập đầu; còn mùa nước nổi thì nước tràn hai bên bờ, có khi mấp mé những nền nhà thấp. Từ ngày ông ngoại tôi chết, nước khô hay nước nổi thì ngoại hai tôi vẫn một mình một bóng trên sông. Một bóng trắng trên sông. Có lẽ còn một giọt nước trên sông là bà còn hy vọng. Nhiều khi đứng trên bến trước nhà, tôi thấy ghe ngoại hai theo con nước trôi ngang nhà, bà ngồi phía sau ghe, ơ hờ bẻ lái, mắt thì cứ liên tục nhìn dáo dác hai bên, thấy tôi bà cũng không nói lời nào. Mấy tháng đầu có vài lần tôi xuống ghe ngoại hai ngủ qua đêm, nhưng về sau hình như tôi hơi sợ. Tôi thấy ngoại hai thay đổi quá nhiều. Bà không còn cười hay chuyện trò với tôi hay với bất cứ ai. Nét mặt bà lúc nào cũng trơ trơ như thoa sáp, ánh mắt thì bao giờ cũng xa xăm, coi như không có ai trước mặt. Nhiều khi tôi có cảm tưởng bà sợ cả tôi.”

Hoặc như truyện “Người Mỹ chung tình”, mở đầu tác giả viết:

“Gặp một người Mỹ chung tình trong cái xã hội văn minh, tiến bộ, giàu vật chất này thì khó quá phải không? Vậy mà tôi đã gặp một người. Có thể nói là tôi đã “sống”với ông hơn mười năm nay, thời gian chắc đã đủ để xác nhận ông là người Mỹ chung tình. Tôi đã muốn viết về ông từ lâu, nhưng tôi muốn chờ thêm, vừa để có thêm thời gian thử thách cái chung tình của ông, vừa để chờ một kết cục có hậu cho câu chuyện. Đến nay thì tôi không thể chờ thêm được nữa. Bài viết phải hoàn tất để đọc cho ông nghe trước khi ông hoàn toàn mất trí.” (QQCĐ, trang 236)

Sau khi mở đề như vậy, tác giả bắt đầu kể lại cái duyên nào nhân vật xưng “tôi” làm quen với ông Mỹ ấy và dần dần Trần Bang Thạch kể tiếp cho đến khi lời tự sự ấy thôi thúc nhân vật xưng “tôi” không thể chờ đợi lâu thêm được nữa:

“Đến nay thì tôi không thể chờ thêm được nữa. Bài viết phải hoàn tất để đọc cho ông nghe trước khi ông hoàn toàn mất trí.”

Dường như truyện nào của Trần Bang Thạch, dù ngắn dù dài, cũng đều có cái bố cục tương tự như vậy. Từ đó, người đọc mới nhận ra thêm một điều nữa rất là Trần Bang Thạch; đó là tác giả, không biết vô tình hay cố ý, nhưng các trang văn của tác giả chính là những bức tranh xã hội được tác giả vẽ lại một cách rất sinh động qua nhiều màu sắc về nhiều phương diện dù xã hội với những cảnh đời loạn lạc sứ quân như truyện “Ngoại tôi và dòng sông cũ”, hoặc cảnh tượng Sài Gòn những năm sinh viên rầm rộ xuống đường biểu tình qua truyện “Cuộc tình lênh đênh” đầy trắc trở; đó là các truyên mang dấu tích xa xưa, còn truyện đời nay như chuyện “Vài chuyện nhỏ trong một nhà dưỡng lão” qua ba khuôn mặt:
Chuyện Người Giám Đốc Không Giống ai.
Chuyện Người Di Tản Buồn.
Chuyện Con Lyly.

Từ đó, người đọc nhận ra thêm rằng, bên cạnh những cảnh đời rất quen ấy nhưng thật không quen chút nào với ai còn chút lòng trắc ẩn thương tưởng tới những người cô quạnh trong một nhà dưỡng lão như Bà Hai Vàm Láng, bác Trần Miệt Thứ lúc nào cũng nhớ chuyện quê nhà,“chuyện dăm cù bắt chuột, chuyện đặt trúm giăng câu của những ngày bác còn là nông dân ở Miệt thứ…” Rồi bên cạnh đó, với “chuyện con Lyly”, tác giả khéo ghép chung con chó nhỏ ấy vào sinh hoạt của nhà dưỡng lão là một ngụ ý vừa tinh tế, vừa đau lòng…

Dù là con chó nhỏ trong một nhà dưỡng lão ở một miền quê nghèo vùng Magnolia với dân số vào khoảng 2.000 người, ở ngoại ô thành phố Houston (Texas), cách downtown độ chừng 60 dặm về hướng Tây Bắc; nhưng chính nó, chính con Lyly ấy chứ không ai khác có lúc đã mang lại niềm vui cho những người già, mà những người già ấy lại là những người có một thời có gia đình êm đềm ấm áp với con cháu hạnh phúc đầy nhà nhưng lại cô quạnh ở những ngày cuối đời của một kiếp người nơi xứ người:

“… Lyly Từ 10 năm nay không ai nhớ được là Lyly đã làm bao nhiêu công việc lợi ích cho những thân phận già nua, cô đơn trong nhà dưỡng lão. Nhưng có một điều mà người ta vẫn nghĩ là những người già cả tội nghiệp từ nơi đây mà ra đi thế nào cũng mang ít nhiều hình ảnh dễ thương của con chó Lyly, một người bạn thân lúc nào cũng có mặt bên cạnh họ.” (QQCĐ, trang 195)

Thêm nữa, Trần Bang Thạch vốn là cựu sinh viên đại học Văn Khoa (Sài Gòn) từ những năm 1963 và là cựu sinh viên đại học Sư Phạm Sài Gòn (niên khóa 1967-1970), nhưng anh có cái ưu điểm là luôn giữ trong máu mình, trong hồn mình cái hồn quê, cái gốc gác chân quê của những ngày thơ ấu nơi làng Thường Đông của vùng Cái Răng (Cần Thơ) nên khi viết văn anh viết rất bình dị, rất tận tình; và khi dùng chữ anh luôn dùng chữ thật giản dị, chính xác và nếu có pha chút dí dỏm thì cái dí dỏm ấy phải có chút duyên và chừng mực như trong đoạn giới thiệu về cậu học trò tên Từ từ nhà quê lên Cần Thơ ở trọ đi học trong truyện “Cuộc tình lênh đênh”:

"Nhà thầy giáo Ba đối diện nhà tôi, hai nhà cách nhau con đường tráng xi măng nhỏ, chỉ rộng vừa đủ cho hai người đi song đôi. Ngay khi thấy mặt và tình cờ biết được tên của người con trai mới đến trọ học tại nhà thầy giáo Ba, thì tôi đã linh cảm được cuộc đời tình ái của tôi sau nầy rồi. Không hiểu sao lúc đó mới mười mí mà tôi nhạy ba cái chuyện người lớn dữ như vậy. Tôi mường tượng thấy nó sẽ ba chìm bảy nổi và chín cái lênh đênh. Nguyên do là như thế này. Cái tên Ly của tôi, Trần Phương Ly, mà ghép vào với cái tên Từ của người con trai đó thì nghe sao bi đát quá chừng. Hai cái tên này mà đụng vào nhau thì không u đầu sứt trán thì cũng ruột tím gan bầm tim thổn thức. Thuở ấy tôi còn ngây thơ lắm vậy mà đã nằm lòng câu thơ: “Đưa người ta không đưa sang sông sao có tiếng sóng ở trong lòng”... Cho nên Từ Ly hay Ly Từ thì cũng đều âm u, buồn bã, đớn đau, chua xót hết cả... Hình ảnh chàng tại Tương giang đầu thiếp tại Tương giang vĩ tuy hết sức thơ mộng trong thi ca, nhưng nếu cái đầu sông cuối sông ấy mà va vào phận số của mình thì chắc là buồn lắm. Yêu nhau thấu trời mà phải Từ với Ly thì chỉ có nước đi ... tu cho nhẹ lòng nhẹ dạ. Tên Ly của tôi thì vô phương sửa đổi rồi. Đó chắc phải là cái tên ba má tôi thích lắm; có lẽ ông bà đã nhiều đêm trong phòng vắng vừa tâm sự rả rích với nhau vừa tìm tên cho đứa con đầu lòng sắp ra đời, và lúc tôi gặp anh chàng thì cái tên Ly đó đã đi theo tôi mười ba mùa mưa nắng trên cuộc đời nầy rồi, dễ gì mà thay với đổi. Còn cái tên Từ được làm khai sanh cho thằng con út chắc ông bà ngầm thông tin với nhau rằng: Kể từ đây mình nên treo miễn chiến bài và giả từ vũ khí để còn có sức lực lo cho 8 đứa con nheo nhóc. Chớ cái điệu đầu năm sanh con trai, cuối năm đẻ con gái theo lời thiên hạ chúc ngày đám cưới thì chỉ có cách cả nhà uống nước sông cho no bụng. Cho nên cái chuyện đổi hay thay gì thì là ở cái nơi tạm cư của anh chàng đó. Thế giới này rộng thênh thang, tỉnh lỵ này cũng đâu có nhỏ, Thủ Đô Miền tây mà, tự dưng rồi Lê Văn Từ từ một làng quê nào đó chui vào con hẻm cụt nầy mà ở trọ; rồi chẳng biết ma đưa lối quỷ dẫn đường thế nào mà lại ở chường ngay trước mặt người ta. Phải chi anh chàng đến ở tại những nơi khác thì tôi đâu có quen biết gì anh chàng để mà thắc mắc và sầu đời. Phải, tôi đã sầu gần suốt cuộc đời này rồi đó quí vị ạ. Sầu quá kỹ cho nên mới trên năm mươi mà tóc bạc gần hết. Thì ai biểu quen biết với người ta làm chi để bây giờ dài dòng văn tự ? Xin lỗi quý vị đừng phán như vậy. Quý vị đừng có binh vực người ta mà quá bất công với tui à nghen. Từ khởi thủy tui có muốn nhìn cái bản mặt cô hồn của anh ta đâu mà cho rằng tui muốn làm quen hay làm bạn; tui muốn làm lạ thì có. Nói trắng ra là những tháng đầu tôi thấy cái con người gì mà thật dễ ghét, quê một cục. Tình cờ chạm mặt người ta trên đường đến trường, cái cục quê này nào có thấy người ta đang tập mang đôi guốc cao gót Đa-kao hay cài con bướm bằng ny lông trên tóc, hay khi người ta ráng chịu đau cắn môi trên môi dưới cho môi thêm hồng thêm mọng, cái cục quê ngó lơ như bận tâm nhìn phố xá, hay cứ gầm mặt xuống mà đi, giống như người đi lượm bạc cắc ngoài đường; tui rủa anh chàng bữa nào đó đụng cây cột đèn u đầu gãy gọng để bọn con gái tụi tui cười cho đỡ buồn. Anh chàng ăn mặc còn bắt cười hơn nữa: cái áo sơ-mi trắng rộng thùng thình chồng vô thân hình ốm như cò ma, cái quần tây xanh gọi là quần dài mà cụt ngủn để lòi đôi ống chân cao lỏng nhõng, còn đóng phèn, mốc cời; bước đi thì kéo lê đôi giày săn-đan, làm như từ nhỏ đến giờ chưa từng biết mang guốc mang giày, mà chỉ biết quét đường bằng săn-đan không bằng; bước ra đường là có cái nón rơm che cái đầu hớt cua trông như trọc, nói năng chẳng biết thưa gởi là gì, phát âm thì cứ con-cá-gô-nhảy-chong-gỗ-kêu-gọt-gẹt-gọt-gẹt, tui nghe mà phát “gung” phát “ghét” phát “gầu” thúi “guột” thúi gan . Gần hết năm đầu thì tình hình có khá hơn một chút. Cái đầu hớt ca-rê phật được thay bằng cái đầu chải bảy ba tươm tất, nhiều khi có thêm chút bri-ăng-tin ba con năm và thêm cái ổ gà phía trước. Đầu năm chắc đã đếm cột đường nhiều quá rồi nên chán, giờ đây chịu ngước mặt nhìn lên tí chút. Cũng hỏng chừng chàng ta sợ cứ cúi đầu xuống hoài e rằng hột gà từ trên đầu rơi xuống lả tả thì hứng đâu kịp !!!" (Cuộc Tình Lênh Đênh)

Chắc chắn rằng những trang văn của Trần Bang Thạch dù muốn hay không, khi tác giả muốn đề cập đến chuyện đời quanh quẩn bên mình, tác giả đã có ý muốn vẽ lại nhiều bức tranh xã hội mà tác giả có dịp đã nhìn ngắm nó hoặc đã từng trải qua với kinh nghiệm đời, với chất liệu sống được tích lũy đầy một kho ký ức nên những trang văn của Trần Bang Thạch là loại văn vừa tả cảnh, vừa tả chân vô cùng hấp dẫn...

Về tả cảnh thì bút pháp của tác giả rất linh hoạt, trữ tình với óc liên tưởng vô cùng phong phú… Chẳng hạn như trong truyện “Tôi đi học”, tác giả bắt đầu tả cảnh trường UH (University Of Houston), nơi tác giả bắt đầu đi học lại sau nhiều năm bỏ ghế bỏ trường rồi chợt dưng ký ức của anh lại ùa về những ngày năm xưa của trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn vào những năm tác giả là sinh viên ở đó; xin mời bạn:

“… Tòa cao ốc như một chiếc hộp khổng lồ trùm úp lên hàng trăm ngọn cây xanh trong khuôn viên trường đại học UH. Mấy mươi tòa nhà thấp hơn ẩn hiện giữa những lá, những hoa trên vuông đất rộng nhiều trăm mẫu. Đứng trên từng lầu cao nhất của đại giảng đường Holman, qua khung cửa kính tôi thấy bạt ngàn màu xanh của lá. Tôi cũng thấy màu nắng thật nhạt, thật ngọt ngào trên những dảy mây thấp. Màu chiều cũng lãng đãng quanh đây. Ngoài kia gió chiều chắc cũng đang mơn man từng cánh lá. Các sinh viên lũ lượt rời khỏi giảng đường. Bà giáo sư trẻ đang sắp xếp các giấy tờ, thu gọn các âm bản và máy chiếu. Tôi muốn đứng lại đây, một mình, giữa cái giảng đường rộng mênh mông, cao nghều nghệu như trên mấy tầng trời này. Tôi đang đứng trên màu xanh của lá. Lá. Lá.Lá. Nhìn đâu cũng thấy lá. Những dảy mây mỏng trôi chầm chậm trên đầu cho tôi cái cảm tưởng tôi cũng đang thong thả bước đi trên tấm thảm xanh của một tương lai mới chớm, một hy vọng mới hình thành. Có thật vậy sao? Có thật tôi đã trở lại giảng đường đại học ngày đầu tiên hôm nay? Có cái gì nghe quen thuộc, gần gũi quá mà cũng xa xôi quá. Ba mươi năm, một giấc mộng dài đang trở thành sự thật: Tôi đang tiếp nối những bước đi dang dở từ lứa tuổi thanh xuân. Ba mươi năm trước, tôi đã giả từ trường lớp, giã từ thầy, bạn, bước ra khỏi chiếc cổng xi măng màu gạch cua của một trường đại học nằm trên đường Cộng Hòa, đối diện với Tổng Nha Cảnh Sát Đô Thành, để “vào nơi gió cát”. Từ chiếc cổng vàng thếch, lỗ chỗ nhiều vết đạn, con đường trải đá xanh với hai hàng còng già sụ, da dẻ sần sùi dẫn vào dãy nhà trệt lợp ngói âm dương dùng làm câu lạc bộ và các phòng sinh hoạt sinh viên, rồi tới giảng đường SPCN to như một quả đồi con nổi lên giữa những gian nhà thấp. Trong cái giảng đường khổng lồ này hàng năm bảy trăm con người ngồi chen chúc trên các băng ghế được xếp thoai thỏai hình trôn ốc từ nền cho tới gần chạm trần nhà. Vị linh mục giảng dạy môn Sinh Vật với cánh áo dòng trắng tinh, một tay cầm chiếc micro không dây, một tay cầm phấn, vừa vẽ vừa giảng suốt hai tiếng đồng hồ mà không một lần nhìn vào bài soạn. Con đường trải đá xanh đó tôi đã tới tới lui lui hơn ba năm trời. Những buồn vui đã thật đầy như những chồng bài vở quay ronéo dày cộm. Hơn ba năm tôi nhìn cuộc chiến đang mỗi ngày một đến gần. Tôi nghe người ta hát Tôi có người yêu chết trận Pleime. Tôi biết có ông tướng phường tuồng mang theo cục đất khi lên máy bay rời đất nước.Tôi nhìn tôi muôn ngàn vất vả qua những kỳ thi, nhìn người-lính-tôi đang chực chờ ngoài cửa lớp, chỉ chờ một sơ sẩy của người-sinh-viên-tôi là xông vào, cuốn tôi đi theo chiều gió. Tôi nhìn em xanh xao vàng võ trong chiếc áo blouse trắng rộng thùng thình nơi phòng thí nghiệm sinh hóa. Tôi nhìn bạn bè tôi lăng xăng với những cuộc xuống đường, bãi khóa, những đả đảo, hoan hô, những hơi cay và nước mắt. Có những đêm dài tôi phải bó mình trong Đại Học Xá Minh Mạng để tránh lựu đạn cay. Các nhạc sĩ sinh viên Tôn Thất Lập, Miên Đức Thắng đi đến đâu là có dùi cui, có lựu đạn cay đến đó. Bạn bè tôi, những đầu bù, tóc rối, kiếng cận, quần loa ngồi gật gù thâu đêm bên tách cà phê đen, thuốc lá đen và đêm đen trong các quán Xuân Hương, Hầm Gió, Thằng Bờm. Tôi đã khóc trước linh cữu ông thầy dạy Cơ Thể Học bị ám sát trên đường Trần Hoàng Quân, ngay bên cạnh Đại Học xá Minh Mạng. Tin nơi nầy đánh lớn, nơi kia đánh nhỏ. Tin thằng bạn nầy ngã gục, thằng bạn kia vào Thủ Đức….

Những biến động dập dồn trên cả nước đâu có dừng lại trước một cánh cổng trường nào đâu. Cho nên, giữa năm học cuối tôi đã bỏ lại tất cả để lăn vào cuộc chiến, bỏ lại tiếng vélo bình bịch của người em Sinh Hóa. Chiến cuộc và toàn thể Miền Nam bị chết tức tưởi. Tôi cũng tức tưởi chui vào tù; như một định mệnh đã an bày. . Cái hụt hẫng này phải đợi đến hơn hai mươi năm nơi xứ người, phải đợi đến hôm nay mới được tiếp nối.

Chiều nay, đứng trên tầng cao của đại giảng đường Holman, tôi như thấy trước mắt con đường trải đá xanh với hai hàng còng già nua của ba mươi năm cũ đang lập lờ uốn lượn bên ngoài vuông cửa sổ. Và, ơ kìa, ở cuối tầm mắt, chỗ vòm cây xanh giáp với xa lộ liên bang I- 45, tôi bỗng thấy thấp thoáng một chàng thanh niên đang đứng dưới vòm cong của chiếc cổng thật quen. Chiếc cổng màu gạch cua trên đường Cộng Hòa mang nhiều thương tích. Chàng thanh niên dừng lại một chút rồi theo con đường trải đá xanh bước vào cái giảng đường to như một quả đồi non. Rồi quả đồi non ấy bỗng tan loãng vào dòng xe cộ hướng về phía Downtown.”
(Tôi đi học, QQCĐ, trang 19)

 

Thưa vâng, đó là một trong nhiều trang văn tả cảnh, còn phần tả chân trên các trang sách của Trần Bang Thạch, theo thiển ý của tôi, tác giả đã sở trường bút pháp tả chân này qua óc quan sát rất nhạy bén và qua kinh nghiệm ở trường đời rất già dặn nên tác giả có được những nét chấm phá rất xác đáng, nhưng chừng mực của mỗi cảnh đời riêng biệt, chứ anh không cường điệu quá một cảnh ngộ và anh cũng không bi thảm quá những phận người! Điều này cũng khế hợp với lời khuyên của cụ Nguyễn Hiến Lê trong bộ Luyện Văn:“Nếu tả toàn diện của một miền, một đời người, một thời đại, một xã hội thì quy tắc tả chân không cho phép ta được lựa riêng những cái đẹp hoặc những cái xấu” (Luyện Văn, quyển I, 1954, trang 167).

Tóm lại, qua các ghi nhận về cách viết truyện ngắn trong những trang sách của Trần Bang Thạch vừa rồi, ở đó cho người đọc nhà quê già như tôi được sanh ra rồi lớn lên ở nhà quê qua những mùa màng ngày cũ và có cùng tuổi đời với tác giả nên tôi thấy được rằng tác giả đã chọn một cách viết rất riêng của Trần Bang Thạch cốt sao ở đó tỏ lộ hết những ý tưởng, những suy nghĩ của tác giả về những cảnh đời mà tác giả đã có dịp được nhìn ngắm hoặc dự phần qua thời gian khá dài, có tới mấy mươi năm!

Nghĩ thì nghĩ vậy thôi nhưng còn việc trúng hay trật, làm sao tôi dám chắc cho được!
Phải vậy hông, thưa bạn?

Hai Trầu
Houston, ngày 12 tháng 8 năm 2022


Thứ Ba, 16 tháng 8, 2022

Cách Làm Yaourt Tại Nhà.



Đổ 1 gallon sữa tươi loại whole milk  tươi vào soong và nấu. Không cần sôi, chỉ cần sủi bọt là được. Vì nếu nấu sôi, một phần sữa sẽ bị cháy ở đáy soong. Hình 1, 2, 3


Ngâm soong vào một thau chứa nước lạnh trong 20-30 phút.  



Trong khi chờ sữa nguội bớt, cho vào mỗi lọ một muỗng lớn yogurt. 
Sau khi sữa đã bớt nóng, đỗ sữa vào các lọ và dùng muỗng hay đủa khuấy đều. 


Lấy khăn trùm các lọ đựng sữa tươi và ủ ít nhất trong tám giờ. nếu để 10 giờ hoặc hơn cũng được. Thường làm buổi tối và ủ qua đêm.


Khi lấy khăn ra, chúng ta đã có yogurt thường. Để vào tủ lạnh và dùng lần. Yogurt thường hơi lỏng. 


Nếu muốn làm Greek Yogurt: Đổ các lọ yogurt vào một cái túi vải và treo lên cho ráo bớt nước trong độ nửa giờ.  
Đổ yogurt trong túi vào chai. Bây giờ chúng ta có Greek Yogurt, hơi đặc hơn. Thay vì ba lọ yogurt thường, chúng ta có khoảng hai lọ Greek yogurt.Để vào tủ lạnh, dùng dần.


Thay vì một gallon (gần bốn lít) sữa tươi, chúng ta có thể dùng loại half gallon (gần hai lít) hay quart (gần một lit). Nếu vậy thì không cần soong lớn, nhiều lọ và chỉ cần vài muỗng yogurt.

Khi đã có yogurt rồi, chúng ta dùng và khi gần hết, dành lại một vài muỗng trong lọ để khỏi phải mua lần sau.

Dễ làm lắm, đừng sợ hư. Chúc may mắn!

Em Ngồi Quay Tơ

 

Hằng nga tỏa ánh trăng mơ,
Em tròn mười sáu, guồng tơ quay tròn!
Giữ guồng, nhẹ gót chân son,
Ngón tay vê sợi, vê tròn mộng mơ!

Hỡi nàng trinh nữ quay tơ,
Dáng xinh như một bài thơ không lời!
Em ơi khi sợi rối bời,
Có ai tới giúp, gỡ rời mối tơ?

Em vừa tròn tuổi trăng mơ,
Gió mây lưu luyến, ngẩn ngơ vì tình!
Tay guồng quay nhẹ rung rinh,
Tơ lòng quấn lại lung linh mơ hồ.

Em ngồi duyên dáng quay tơ,
Ca dao dệt những vần thơ ngọt ngào!
Trăng mơ trên cặp má đào,
Bao nhiêu thơ mộng cuốn vào guồng tơ.

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia




Vòng Quay Nhân Sinh

 

Vòng quay theo kiếp nhân sinh
Trăm năm khép lại hành trình trần gian
Ngày vui được mấy cung đàn
Tóc xanh sao vội dại tàn qua mau.

Trải qua những cuộc bể dâu
Người còn dệt mộng thiên thâu mơ màng
Ngoài kia cỏ mộ úa vàng
Chiều thu lá đổ mây ngàn bay xa.

Sáng ra hoa nở trước nhà
Tiếng con chim hót chan hoà yêu thương
Lung linh giọt nước ngậm sương
Một đời mưa gió đoạn trường phù vân.

Thoáng hương xưa bỗng tần ngần
Em về thơm ngát dấu chân tình nồng
Mắt xanh môi thắm điểm hồng
Mai sau còn viết đôi dòng trang thơ.

Tìm nhau vào tận trong mơ
Chữ duyên nối lại đôi bờ tương tư
Hoa xuân nắng hạ vàng thu
Bao giờ đến tận thiên thu khóc người.

Lê Tuấn

If You Love Me Let Me Know

 

Trước 75, một trong những ca sĩ mà tôi vô cùng yêu mến dù chưa biết mặt, dù chỉ nghe hát mỗi một ca khúc, là Olivia Newton-John (1948). Chị hát “ If you love me let me know “. Tôi nghe chị hát trước (1974) trong một cuốn băng nhạc ngoại quốc, sau đó vài tháng, anh Nguyễn Duy Biên chuyển dịch sang lời Việt, trong một cuốn “ Tình ca Nhạc trẻ “ (?), qua tiếng hát chị Julie Quang

Thời điểm đó, theo tôi, 3 người chuyển dịch nhạc ngoại quốc sang lời Việt hay nhất (sát nghĩa và có vần điệu VN) là : Phạm Duy, Vũ Xuân Hùng, Nguyễn duy Biên ( hai người sau nghiêng về “nhạc trẻ” hơn ), sau này thêm chị Thanh Lan với ca khúc “ Non, Chérie “ . Các anh Trường Kỳ, Nam Lộc, Kỳ Phát ..vv chỉ viết lời Việt (hoặc dịch “ thoát “).

“Midnight Special “ là một chương trình 90 phút (hát) nhạc “sống” của đài truyền hình NBC (Anh), từ 2/1973 đến 4/1981. Năm 1974, Olivia xuất hiện trong chương trình này với “If you love me let me know”. Trước đó, công chúng đã biết chị. Dù đã xuất hiện trên thị trường âm nhạc Anh quốc từ 1966, lúc 18 tuổi, với 2 ca khúc “Till You Say You’ll Be Mine” và “Forever “ nhưng mãi đến năm 1971, Olivia mới bắt đầu nổi tiếng với album “ Olivia Newton John” . 1974 cũng là năm chị đại diện Anh quốc trong cuộc thi âm nhạc “Eurovision”. Chị về hạng 4(/17) . Đoạt giải là ban “ ABBA “ với Waterloo ( chỉ vài tháng sau là dân mê “nhạc trẻ” VN được nghe ca khúc này qua tiếng hát của 3 anh em :Thúy(Anh)-(Khánh)Hà-(Anh)Tú !) .


Nghe Olivia hát, yêu tiếng hát của “nàng” nhưng tôi không biết gì về “nàng” cả ! Không “lậm” như Lưu trọng Lư: “chưa biết tên nàng, biết tuổi nàng/ mà sầu trong dạ đã mang mang“ , tôi không có mang …. mang “ gì cả . Chỉ hình dung trong đầu, đó là một cô “ tóc vàng,mắt nâu“ giống … Sylvie Vartan. Nhưng tôi hơi lấn cấn về cái tên nàng: Newton-John. Newton thì nổi tiếng quá rồi ( trái táo Newton ! ) nhưng sao lại thêm John trong đó? Có liên quan gì đến “ông già chống gậy “ John… ny Walker không?!

Tháng tư Đen làm tôi mất hẳn Olivia! Cứ tưởng đó chỉ là một trong những người đã “đi qua đời tôi”! Cho đến năm … 1985, 86 gì đó, tình cờ, “ở đây”, tôi “ gặp” lại “nàng” trên TV, qua một đoạn “ phim nhạc ” ( film musical ) "Grease" , Olivia đóng chung với John … Travolta ( John: cái tên tiền định ), trong đó, chị là Sandy, cô nữ sinh 18, sang Hoa Kỳ nghĩ hè. Ở đó, cô gặp Danny (J.Travolta) , chúa “đảng” T-Birds. Và 2 người yêu nhau ..vv

Grease đã đưa Olivia và John “lên đài danh vọng “.

Lần đầu thấy mặt Olivia, tôi mới khám phá ra mình có .. “giác quan thứ 6” ( từ năm 74 ) ! Đúng là “tóc vàng,mắt nâu ” như Vartan . Nhưng trẻ hơn Sylvie “nhiều” ! Lại có một khuôn mặt hiền hậu của một bà tiên!

 
Grease ra mắt công chúng năm 1978.

Đời thật nhiều”nghiệt ngã” ! Lúc tôi đang tay bút, tay cày (đi “lao động” trên các vùng kinh tế mới, nông trường), lúc tôi đang nhai “bo bo” sái quai hàm, đang điếc con rái vì mấy cái loa phường khóm ..vv thì Olivia đang vui sướng ca hát, tung tăng nhảy múa với người .. khác !

Nhưng Grease không làm tôi quên được “ If you love me let me know “ của-tôi , của thời tôi mới nhớn: mê “nhạc trẻ” , thích “đi bùm”!

Vì chọn “Pháp-văn” là sinh ngữ chánh nên trình độ “Anh-văn “ của tôi chỉ lòng vòng trong mấy cuốn “English for today” (!) : đọc, còn hiểu đôi chút nhưng nghe thì “ú ớ” lắm ! Thế mà khi Olivia “If you love me let me know” tôi lại hiểu lõm bõm, riêng đoạn giữa thì nghe rõ 5/5 , cứ như là "nàng" hát cho mình “ If you love me let me know / If you don’t then let me go “ : “nếu yêu tôi thì cho tôi biết / nếu không, thì để tôi đi “ mà, để cho có vần điệu, anh Nguyễn Duy Biên đã chuyển sang lời Việt là : “ Nếu anh(em) yêu xin yêu thiết tha / Nếu vô tình để em(anh) lánh xa “.


Nếu ai cũng được như Olivia “ If you love me let me know / If you don’t then let me go “ thì cuộc đời đâu còn gì để nói ?! Ỡm ờ ! Nửa thật, nửa đùa là cái “mốt” của mấy cô nàng thời thập niên 70s (?). Mà không chỉ ở Sài Gòn, ở .. Paris “ cô bé (năm) 73” ( la petite fille 73 ) của C. Jerome cũng vậy, cũng “ elle me fait pleurer / elle me fait chanter ».Ỡm ờ ! Tôi …ghét nhất hai chữ này. Nhưng, không chỉ có mình tôi, ông Uy VIễn Tướng Công cũng vậy . Có điều ông thì ghét « con tạo » ( ỡm ờ con tạo trêu ngươi ) trong khi tôi thì "ghét" con .. gái !

Thời Nhân Văn Giai Phẩm, phản kháng ngoài Bắc (cuối thập niên 50s) , Phùng Quán có hai câu thơ nổi tiếng « Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét «. Ừ nhỉ, không thích thì cứ bảo là không thích, tại sao lại ỡm ờ, lại … « thành phần thứ ba « như thế ?! Làm phí cả đời con giai người ta !

Nhưng mà « phía bên này « thì phải « nói » ! Nói mà bị ỡm ờ thì mới trách . Không nói, làm sao người ta biết ? Cứ sợ, cứ nhát. Tại sao không tự tin, không nghĩ « biết đâu nói ra, được gật đầu lia lịa thì sao « ? Đừng như anh chàng trong « Yêu Một Mình « ( Trịnh Lâm Ngân) : « ngày xưa , tiếc sao mình không ngỏ / để rồi chiều nay , mình đâu thấy cô đơn « ! Có tiếc, có cô đơn, thì ván cũng đã đóng thuyền rồi !!!


Hôm thứ hai rồi (8/8) , tôi tin là có nhiều người chợt thấy hụt hẫng, cô đơn (như tôi ) khi hay tin Olivia "ra đi ", sau 30 năm chống chọi với ung thư ngực .Trong chương trình "A Life of Greatness" của Sarah Grynberg chị thú nhận:"chúng ta đều biết là ai rồi cũng sẽ "ra đi" nhưng tôi nghĩ rằng, chúng ta ( sống mà ) không (muốn) chấp nhận điều đó. Chuyện đó rất cá thể, nên rất khó mà diễn đạt trong vài chữ ( Nous savons tous que nous allons mourir, mais je pense que nous passons notre vie dans le déni. C'est extrêmement personnel, donc c'est difficile à mettre en mots) và chị thêm: Tôi nghĩ là, tất cả người thân của tôi sẽ có mặt "ngày đó", tôi nóng lòng muốn thấy điều này , không phải bây giờ, mà là khi "nó" đến ( Je pense que tout l'amour sera là. Je suis en quelque sorte impatiente de voir ça, pas maintenant, mais quand ça arrivera ) .

Và "nó" đã đến, hôm 8/8 vừa qua! 

“If you love me let me know". Vâng, chị Olivia, em “yêu" chị : tình yêu của một đứa em “ nhạc trẻ “ dành cho bà chị “tóc vàng, mắt nâu”. Nên, thật khó lòng mà “ let you go “ được ! Nhưng phải ... chịu thôi!

RIP, chị Olivia!

BP