Thứ Năm, 12 tháng 5, 2022

Tiễn Xuân


Hai ba tháng nay, chúng ta đã đón xuân, mừng xuân, chúc xuân, rồi... vui với nàng xuân. Đến nay thì Xuân đã sắp tàn, sắp hết, sắp tận rồi ! Thôi thì , ta hãy cùng nhau "Đưa Tiễn Nàng Xuân" nhé !
Kính mời tất cả cùng đọc 2 bài thơ Tiễn Xuân sau đây, một Ngũ Ngôn Tuyệt cú và một Thất Ngôn Tuyệt cú, đều là Tuyệt cú nên cũng đều rất tuyệt vời. Nào, ta hãy đọc bài Ngũ Ngôn Tuyệt Cú của THÔI LỖ trước nhé !

三月晦日送客 Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Khách


野酌亂無巡, Dã chước loạn vô tuần,
送君兼送春。 Tống quân kiêm tống xuân.
明年春色至, Minh niên xuân sắc chí,
莫作未歸人。 Mạc tác vị quy nhân.
崔橹                 Thôi Lỗ

* Chú Thích:
1. Hối 晦 : là Đêm 30 Âm lịch, trời tối đen như mực. "Tam nguyệt Hối nhật" là ngày 30 tháng 3, ngày cuối cùng của mùa Xuân.
2. Dã Chước 野酌 : DÃ là Đồng trống, phần đất ở ngoài khu phố, chợ. CHƯỚC :
Ta đọc trại thành Chuốc, là Chuốc rượu. "Dã chước" là Rót rượu mời nhau ngoài đồng trống bên đường khi đưa tiễn ai. DÃ CHƯỚC cũng có thể hiểu là "Tiệc rượu ngoài đồng trống".
3. Loạn 亂 : Ở đây không có nghĩa là rối loạn, mà là Không theo Thứ Tự nào cả. Cứ rót rượu mời tràn.
4. Tuần 巡 : là Đi một vòng. Ví dụ : Đi Tuần là đi kiểm soát một vòng. Rượu mời giáp vòng là Một Tuần Rượu. VÔ TUẦN 無巡 là có Không Tuần Tự gì cả.
5. Mạc Tác 莫作 : MẠC là Đừng, TÁC là Làm, Mạc Tác là Đừng làm...
Mạc Tác còn có nghĩa : Đừng cho là...

* Dịch nghĩa:
Ngày 30 tháng 3 đưa khách

Chuốc rượu tiễn đưa nhau bên đường, nên cứ rót mời tràn lan, không theo tuần tự gì cả. Hôm nay, đưa tiễn anh đi mà cũng tiễn cả nàng xuân đi nữa !(Vì là ngầy cuối cùng của mùa xuân rồi!) Mà này, sang năm thì nàng xuân lại mang xuân sắc về nữa đấy nhé, mong rằng bạn đừng làm kẻ không về,(mà hãy về cùng với nàng xuân !).
Mượn việc tiễn bạn để tiễn xuân và mượn việc tiễn xuân để nhắn nhủ bạn là hãy trở về với nàng xuân trong năm tới, chớ đừng làm kẻ bằng bặc chân trời một đi không trở lại !...

Diễn nôm:
Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Khách

Rượu chuốc loạn không tuần tự
Tiễn anh, tiễn cả xuân đi.
Sang năm nàng xuân lại đến,
Nhớ đừng làm kẻ không về !
Lục Bát :
Chén đưa loạn chẳng thành tuần
Tiễn anh, tiễn cả nàng xuân một bề
Sang năm xuân sắc lại về,
Xuân về, anh nhớ lại về với xuân!
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

Trên đây là bài "Tam nguyệt hối nhật tống KHÁCH" của Thôi Lỗ. Sau đây, Xin mời cùng thưởng thức bài "Tam nguyệt hối nhật tống XUÂN" của Giả Đảo, một thi nhân thuộc phái quái đản của đời Đường.

三月晦日送春         Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Xuân

三月正當三十日, Tam nguyệt chính đang tam thập nhật,
春光別我苦吟身。 Xuân quang biệt ngã khổ ngâm thân.
共君今夜不須睡 ,   Cộng quân kim dạ bất tu thụy,
未到曉鐘猶是春。 Vị đáo hiểu chung do thị xuân.
賈島                         Giả Đảo

* Chú thích:
- Chính Đang 正當 : là Vừa đúng lúc, ngay lúc, ngay khi.
- Xuân Quang 春光 : Ánh sáng của mùa xuân, chỉ chung thời tiết của mùa xuân và cũng là từ chỉ Mùa Xuân đó.
- Khổ Ngâm Thân 苦吟身 : là Cái thân KHỔ NGÂM nầy. Giả Đảo đã tự xưng mình như thế theo truyện kể sau đây :
GIẢ ĐẢO (779-843) , một thi nhân thuộc xu hướng Quái Đản đời Trung Đường, nỗi tiếng "khổ ngâm" với bài thơ "Đề Thi Hậu 題詩后". Giả Đảo đã viết bốn câu như thế nầy :

Lưỡng cú tam niên đắc, 两句三年得,
Nhất ngâm song lệ lưu. 一吟双淚流.
Tri âm như bất thưởng , 知音如不賞,
Qui ngọa cố sơn thu ! 歸卧故山秋!

Có nghĩa:

Ba năm làm được hai câu 
Ngâm lên xúc động lệ sầu chứa chan 
Tri âm hờ hững chẳng màng 
Về nằm núi cũ thu vàng từ đây!
Tương truyền lúc làm bài thơ "Đề Lý Ngưng U Cư 题李凝幽居", khi viết đến 2 câu :

Điểu túc trì biên thọ, 鳥宿池邊樹,
Tăng XAO nguyệt hạ môn. 僧敲月下門.

... ông đã lưỡng lự mãi là không biết nên dùng từ XAO 敲 hay từ THÔI 推 cho câu thơ trên, vì...
"Tăng XAO 敲 nguyệt hạ môn" là : Nhà sư GÕ cửa dưới ánh trăng, còn...
"Tăng THÔI 推 nguyệt hạ môn" là : Nhà sư ĐẨY cửa dưới ánh trăng,

Sự thật thì "THÔI" hay "XAO" gì thì câu thơ trên vẫn hay, vẫn gợi hình và thi vị như thường, nhưng Giả Đảo lại cứ đắn đo mãi, không biết phải chọn chữ nào, ngồi trên lưng lừa mà cứ do dự ngẩn ngơ, tay phải cứ đưa lên làm động tác GÕ cửa, và tay trái lại làm động tác ĐẨY cửa. Mãi lo ra, đến nỗi con lừa xuýt chút nữa thì đâm vào đầu ngựa của Lại Bộ Thượng Thơ Hàn Dũ; một trong "Đường Tống bát Đại Gia" (là Tám người giỏi thơ văn nhất đời Đường ,Tống) Bị quân hầu bắt lại. Hàn Dũ hỏi rõ nguồn cơn, mới cả cười và khuyên ông nên chọn từ XAO để cho câu thơ thực tế gợi hình và thi vị hơn.
Vì điển tích nầy mà hình thành nên thành ngữ "Hà Tất THÔI XAO 何必推敲" Có nghĩa : "Sao lại phải Thôi Xao như thế !" Ý là : "Sao lại phải ĐẺO GỌT lời văn đến như thế". Thường để chỉ những người ĐẺO GỌT lời văn một cách quá đáng, thì trong văn học cổ thường sử dụng Thành ngữ nêu trên. Sau này dùng rộng ra thì THÔI XAO có nghĩa là :"Cân Nhắc thật cẩn thận một sự việc nào đó".
Vì những tích trên, nên Giả Đảo mới nổi tiếng là thi sĩ KHỔ NGÂM của thời Trung Đường.
- Bất Tu 不須 : là Không cần phải, là không nên, là đừng nên.
- Hiểu Chung 曉鐘 : là Chuông sớm, là Chuông chùa công phu lúc canh năm khi trời vừa rựng sáng.

* Dịch Nghĩa:
Tiễn Xuân ngày 30 tháng 3

Hôm nay đúng vào ngày 30 tháng 3; ngày cuối cùng của mùa xuân nầy. Sáng sớm mai thì nàng xuân sẽ bỏ cái thân khổ ngâm của ta mà ra đi rồi. Thôi thì, cùng bạn đêm nay ta đừng nên ngủ nữa (mà hãy cùng nhau thức để tiễn nàng xuân đi) Vì khi chuông chùa chưa công phu để báo sáng thì vẫn hãy còn là mùa xuân đó mà !
Chưa thấy ai Tiễn Xuân mà tiễn đến giây phút cuối cùng như thế cả, chỉ có cái anh chàng khổ ngâm quái đản là Giả Đảo mới nghĩ đến làm cái việc "quái đản" nầy mà thôi !

* Diễn nôm:
Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Xuân

Tháng ba vừa vặn ba mươi đúng,
Giả biệt xuân hồng thân khổ ngâm.
Cùng bạn đêm nay ta thức trắng
Chuông chưa điểm sáng hãy còn XUÂN!

Lục Bát:

Tháng ba vừa đúng ba mươi
Khổ ngâm giả biệt xuân tươi mỏi mòn
Cùng anh thức suốt đêm tròn
Chuông Chùa chưa điểm vẫn còn là XUÂN!
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
***
Ngày 30/3 Đưa Khách

1/ Ngũ ngôn

Dã ngoại rót vô chừng
Tiễn anh và tiễn xuân
Xuân năm sau trở lại
Anh hẳn chẳng vô phần.

2/Lục bát

Nơi vùng dã ngoại mời dâng
Tiễn đưa người bạn tiễn xuân đi cùng
Năm sau xuân lại tương phùng
Bạn ta vắng mặt chắc lòng không cam.

Mai Thắng
220417
***
Đêm 30/3 Tiễn Xuân

1/Thất ngôn

Tháng Ba đêm cũng đã ba mươi
Thân “khổ ngâm” đành giả ánh tươi
Bạn đến cùng ta đêm thức đợi
Chuông còn chưa điểm vẫn xuân chơi.

2/ Lục Bát

Tháng Ba đêm cũng ba mươi
Khổ ngâm” giã biệt xuân tươi đã tròn
Cùng nhau thức đợi đêm mòn
Chuông chưa điểm tiếng xuân còn mê chơi.

Mai Thắng 
220417
***
Dịch từ bài của Thôi Lỗ:

Tiễn Bạn Ngày Cuối Tháng Ba

Rượu chợ chẳng theo tua
Tiễn anh cũng tiễn mùa
Rượu ven đường theo tua không kể
Tiễn anh đi nhân thể tiễn mùa

Sang năm xuân lại đến
Mong bạn chẳng phân bua!
Sang năm xuân đến sắc đua
Mong rằng bạn chẳng phân bua chậm về!

Lộc Bắc
Mai22
***
Dịch từ bài của Giả Đảo:

Tháng Ba Ngày Hối Tiễn Xuân

1-
Tháng ba ngày đúng ba mươi chẵn
Xuân sáng bỏ ta ngâm khổ thân
Cùng bạn đêm nay ta thức trắng
Chưa nghe chuông sớm vẫn còn xuân!

2-
Ngày ba mươi, tháng ba trời tối
Xuân sáng mai tách lối khổ thân
Đêm nay thức trắng bạn gần
Chưa nghe chuông sớm mùa xuân vẫn còn!

Lộc Bắc

Mai22
***

Đề Sau Tập
1-
Ba năm hai đoạn đươc
Ngâm một, lệ hai hàng
Chẳng được tri âm hưởng
Non thu đánh giấc vàng

2-
Ba năm hoàn chỉnh hai câu
Một ngâm lã chã lệ đau hai hàng
Tri âm coi nhẹ, bẽ bàng
Về non ta đánh giấc vàng đón thu!

Lộc Bắc
Oct21

Người Mẹ


Hình như ở vào lứa tuổi mùa đông của cuộc đời, mọi sở thích của bà Hương đã thay đổi. Sự thay đổi rõ rệt nhất là sở thích về màu sắc, các mùa và giấc ngủ.Thời còn trẻ, bà Hương thường mặc các áo màu xậm như màu đen, màu nâu, màu ve chai hoặc màu dưa cải úa. Bởi vì bà có một nước da trắng và khuôn mặt luôn luôn trông trẻ hơn so với số tuổi nên bà muốn mình già hơn một tí, đậm đà thêm một tí. Bây giờ thì bà lại muốn trẻ hơn một tí, sáng sủa thêm một tí. Do đó bà thường mặc những màu nhạt. Bà cũng không còn say mê ngắm cảnh chiều thu với những cụm mây trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh lơ và những chiếc lá vàng rơi nghiêng theo cơn gió nhẹ.

Niềm vui của bà bây giờ là những buổi sáng mùa xuân, nắng ấm trải chan hòa khắp nơi nơi, là tiếng chim hót líu lo trên cành, là những cơn gió thoảng ngoài hiên mơn man những chậu hoa, chậu lá đủ loại mà bà đã vun trồng. Bà cũng thường đứng ngoài ban công, phóng tầm mắt về khu rừng phía sau cao ốc này, ngẩn ngơ ngắm những lộc non vừa trẩy lá xanh mướt sau một trận mưa xuân. Bà không ngủ nhiều như xưa. Không phải vì bà mất ngủ như những người già khác mà vì bà muốn như thế. Bà có một ý nghĩ lẩn thẩn “ Có một lúc mình sẽ ngủ luôn không thức dậy nữa, bây giờ mà ngủ nhiều thì uổng quá!”

Thấm thoát bà Hương đã vào ở trong khu nhà già này được một năm. Bà đã quen dần với đời sống ở đây. Quen dần với những bữa cơm chiều cùng các cụ già tóc bạc phơ, ngồi bên nhau, hồi tưởng lại dĩ vãng xa xưa hoặc nói về các con, các cháu với sự yêu thương, hờn giận. Bà Hương đã hội nhập với thế giới này. Bà đã tìm được một niềm vui, sự ấm áp bên những người bạn mới. Bà cũng không còn cảm thấy khó chịu mỗi lần gặp bà Thủy với bộ mặt trét đầy phấn và đôi tay đeo bốn cái vòng và bốn cái nhẫn bằng cẩm thạch xanh biếc. Duy có một điều mà bà chưa quen là mỗi buổi sáng xuống ăn điểm tâm, được tin một cụ nào đã qua đời, bà lại suy nghĩ vẩn vơ suốt mấy ngày sau đó. Không phải vì bà liên tưởng đến cái chết của chính mình mà sợ sệt. Bà vẫn nhớ đến những tàu lá chuối héo khô sau khi thân chuối cho đời những trái chín ngọt ngào ở vườn sau nơi quê cũ.

Hình như có một dao động nào đó trong tâm hồn bà. Những lúc đó, hình ảnh Hoa, con gái bà và ba đứa cháu ngoại, thằng Trường, con Nga, con Hằng, đến với bà thật rõ, thật gần và thật ấm áp. Bà muốn trở về ngay ngôi nhà rộng mênh mông, nguy nga như một lâu đài ấy, để nhìn thật lâu vào khuôn mặt con gái, để ôm ghì ba đứa cháu vào lòng. Bà biết, bà chỉ cần nhấc điện thoại lên, là bà có thể thực hiện được điều mong ước đó. Một cái xe sẽ đưa bà đến tận nhà của Hoa. Bà sẽ dẫm chân lạo xạo trên sỏi, trên lối đi nhỏ hẹp được ôm ấp bởi hai luống hoa Pensée tím vào mùa xuân, hoa cúc vàng vào mùa thu. Bà sẽ không vào phòng khách mà đi thẳng vào nhà bếp, mở tủ lạnh, lấy những thứ cần thiết ra để nấu cho con gái, con rể và các cháu một món ăn đặc biệt

Rồi bà sẽ vào phòng của thằng Trường, con Nga, con Hằng dọn dẹp giùm chúng nó cho ngăn nắp vì phòng của ba đứa thường bề bộn. Lại còn cái bàn trang điểm của Hoa trong phòng ngủ nàng nữa. Cứ như một cái cửa hàng phấn son vậy, đồ vật lại để lung tung không có thứ tự gì hết. Rồi bà sẽ ra thăm bụi tre, xem nó có lan ra nhiều không, và thân của nó bao lớn rồi? Bà cũng ra vườn hoa để xem mùa xuân năm nay Hoa có trồng thêm loại nào không? Phải nói là Hoa có thuê người trồng mới đúng. Vì chẳng bao giờ Hoa có thời giờ rảnh rỗi để làm vườn. Vợ chồng Hoa làm chủ một tiệm ăn nổi tiếng là đông khách nên bận rộn suốt từ sáng sớm cho tới nửa khuya. Hoa không có cả thời giờ với các con và thưởng thức vườn hoa ngạt ngào sắc hương thì còn nói chi đến việc săn sóc cây cảnh. Bà Hương không hiểu nổi con! Bà cứ thắc mắc hoài tại sao Hoa phải làm việc vất vả quá như thế để có tiền mua một căn nhà to lớn, đẹp đẽ một cách không cần thiết?

Khi vợ chồng Hoa mua ngôi nhà đó, bà rất vui. Bà vui không phải vì ngôi nhà nguy nga, đồ sộ, nằm trên ngọn đồi và hai mẫu đất phía sau với rừng cây cao bóng mát. Bà vui vì bụi tre ở góc vườn đã cho bà cảm giác như được nương bóng lũy tre làng nơi quê cũ. Lối đi có lót sỏi đã nhắc nhở bà nhớ tới những người bạn thuở ấu thơ đã cùng bà chơi ô ăn quan, chơi rải ranh với những hòn sỏi trắng tinh, xinh xắn. Những người bạn thuở ấu thơ, cái Chính, cái Chổng, cái Khuy…bây giờ cũng đã là những cụ già nhăn nheo, móm mém, đang ở một nơi nào đó, hoặc đã về đất, về trời!

Nhưng bà thật không hài lòng vì căn nhà quá rộng ấy! Căn nhà đã cho bà một cảm giác cô đơn, quạnh quẽ. Cô đơn quạnh quẽ ngay cả những lúc con cháu có mặt ở nhà với những cánh cửa các phòng đóng im ỉm. Mỗi người một phòng, mỗi người một thế giới riêng! Thỉnh thoảng mới có một bữa cơm cả gia đình cùng ăn với nhau một cách vội vã. Bà Hương không muốn nhai mấy chục lần một hột nho khô như lời một thiền sư đã khuyên các thiền sinh trong một buổi tu học. Nhưng quả thật, bà không thấy ngon miệng trong những bữa cơm như thế.

Bà biết rằng nếu bà nói bà không thích căn nhà đẹp đẽ và khang trang này thì nhiều người sẽ cho là bà điên! Mà có lẽ bà điên thật! Vì bà vẫn ao ước được ở trong những ngôi nhà nhỏ hẹp để đi ra đi vào bà lại được nhìn thấy con, thấy cháu. Con vui thì bà vui, cháu buồn thì bà an ủi. Con cháu ốm đau thì bà lo lắng. Bây giờ, cuộc đời của bà nhạt nhẽo và vô tích sự. Ngay cả việc bếp núc bà cũng không giúp gì được cho con vì gia đình Hoa không thích ăn cơm Việt Nam. Hoa thường nói :” Ăn thức ăn Mỹ vừa bổ vừa nấu nướng nhanh mà lại không dơ bếp. Tội gì mà ăn cơm Việt Nam cho lách cách!”

Hoa lại thường mang thức ăn từ tiệm về nên căn bếp lúc nào cũng bóng lộng, không có một hạt bụi. Cả phòng khách và phòng ăn cũng thế. Sạch sẽ, ngăn nắp như một cái phòng triển lãm đồ đạc. Sự bừa bãi dễ thương chỉ thấy nơi các phòng ngủ. Bà cho là sự bừa bãi dễ thương vì chỉ nơi đó bà mới thấy bóng dáng của sự sống, của các con, các cháu. Bà vẫn thèm ăn cơm Việt Nam với dưa chua, cá kho, mực tươi xào cà chua, bắp cải. Bà vẫn thèm những bát bún thanh, bún riêu, bún ốc…Nhưng thấy con bận rộn, bà không muốn con phải thắc mắc và lo cho bà. Bà cũng không muốn làm dơ bếp nên bà vẫn cười vui khen Humberger ngon, tấm tắc khi ăn những đĩa cơm rau được khui từ hộp ra, hâm nóng trong Microwave vài phút. Bà khen thức ăn Mỹ như khi xưa bà khen con gái đàn hay trong những ngày đầu học nhạc. Như bà đã khen những bức vẽ nguệch ngoạc nhiều màu sắc khi Hoa học lớp mẫu giáo.

Bà Hương đi đi lại lại trong phòng thật lâu. Ý nghĩ về thăm con cháu cứ loay hoay trong đầu bà. Cuối cùng, bài lắc lắc cái đầu như một con vịt muốn rũ bỏ nước ướt trên mình khi lên đến bờ ao. Giờ này vợ chồng Hoa còn ở ngoài tiệm. Các cháu bà còn đi chơi banh, chơi bóng. Thôi thì ở lại đây nghe nhạc, xem phim Tàu, Đại Hàn hoặc xuống phòng khách gặp những người bạn già nói chuyện xưa sau. Hay là sang gặp bà Thủy, nghe bà ấy khoe về con, về cháu cho bà ấy vui, cho bà ấy hạnh phúc. Thời gian mới vào khu nhà già này, bà Hương thấy bà Thủy kiêu kỳ và phách lối thấy dễ ghét. Mỗi tuần, bà được con cháu đón về, bà ta rất hãnh diện. Trước khi về với con, thế nào bà cũng phải ghé vào các phòng chào bạn bè, hoặc nhìn trước nhìn sau xem có ai thấy mình không, rồi bà phân trần:

Ấy, tôi cũng muốn ở đây với các cụ cuối tuần cho vui mà các cháu cứ bắt tôi về. Tuần này chúng làm chả cá cho tôi ăn, không về chúng nó lại giận.

Lúc đầu bà Hương rất khó chịu vì bà Thủy vui trên nỗi buồn của người khác và nhất là ánh mắt thương hại mà bà Thủy dành riêng cho bà. Sau này thì bà Hương cũng quen đi, nhất là từ khi bà Thủy được xem hình ngôi nhà của Hoa và mỗi tuần bà Hương được xe đón vào sáng thứ Bẩy từ chín giờ tới chiều mới thả về thì bà Thủy kính nể bà lắm. Mỗi thứ Hai bà Hương lại được con gái gửi cho một bình hoa tươi do tiệm hoa mang đến khiến bà Thủy không còn dám khoe khoang nhiều về con cháu nữa. Mỗi lần nhận được hoa, bà Hương lại cắm ra làm ba bình. Bà vốn không thích những bình hoa cắm theo kiểu Mỹ, trông giống như một mâm xôi đủ màu sắc. Bà bày một bình trên bàn thờ Phật, một bình trên bàn thờ các cụ và bố mẹ còn một bình, bà bày trên cái bàn viết nhỏ kê ở góc phòng phía cửa sổ, cái góc thân mật, bà vẫn gọi như thế.

Bà Thủy thường nói với bà Hương:
Hôm nào bà phải cho tôi gặp cô Hoa mới được. Thời nay sao lại có người con hiếu hạnh đến như thế cơ chứ, thật là quý hóa quá!
Bà Hương than:
- Ối chào, cháu nó bận lắm, thành ra tôi cứ phải sửa soạn sẵn, cháu nó tới là tôi đi ngay.

Nhiều hôm bà Hương còn tản bộ ở con đường nhỏ dẫn vào cao ốc để chờ xe đến nên bà Thủy chưa hề có dịp gặp người con hiếu thảo ấy. Tuy nhiên, niềm hạnh phúc của bà Hương chỉ do bà Thủy loan truyền đi trong khu nhà dưỡng lão này. Còn bà Hương thì ít khi nói về mình và các con, các cháu. Bà Hương thường rất kiên nhẫn ngồi nghe các cụ khoe hoặc than thở về con cháu. Bà thường an ủi các cụ:
Con nào mà chẳng thương cha mẹ. Nhưng cuộc sống ở đây vất vả quá nên nhiều người không có thời giờ để ý đến cha mẹ đó thôi. Đừng trách chúng mà mình cũng mất vui đi.

Đây là ý nghĩ thật hay không thật của bà Hương nào ai biết được? Nhưng cũng nhờ những câu nói đại loại như thế mà nỗi buồn bị con cháu bỏ rơi của các cụ cũng vơi đi được phần nào. Bà Hương luôn luôn tươi cười vui vẻ với tất cả mọi người, nên ai cũng quý, cũng thương, cũng coi bà như một người tri kỷ. Và điều mà mọi người thích nhất ở bà là biết lắng nghe và không đưa chuyện, gây xích mích giữa người này với người kia. Mỗi khi có cuốn truyện hoặc tờ báo mới bà lại sẵn sàng cho người khác mượn. Trong túi áo hay trong ví, bà Hương thường có kẹo để mời bạn bè như ngày xưa người ta mời nhau ăn trầu mỗi khi gặp gỡ. Ngoài ra bà còn có thuốc nhức đầu, sâm thái sẵn từng miếng mỏng, một ít tăm xỉa răng để trong cái hộp đựng son xinh xinh. Dĩ nhiên trong ví bà cũng không thiếu hộp phấn hồng, thỏi son và lọ kem lót da mặt. Ba thứ mà bà cho là người phụ nữ, nhất là những người lớn tuổi không thể không có, không thể không dùng mỗi buổi sáng khi thức dậy.

Sáng nay, một biến cố đã xảy ra trong khu nhà dưỡng lão này. Cái tin bà Hương bị ngất xỉu và nằm mê man trong phòng tắm từ lúc nào không ai hay biết đã được loan đi thật nhanh, thật sớm. Nói là biến cố vì bà Hương còn trẻ so với đa số các cụ ở đây, và thường ngày bà rất ít đau ốm. Mà cũng chẳng nghe ai nói bà bệnh tim hoặc bệnh cao áp huyết, nên không ai có thể ngờ được sự việc lại xảy ra. Hơn nữa, bà Hương lại là người được nhiều người yêu mến, nên ai cũng xúc động, thương cảm.

Nếu không có việc bà Thủy gõ cửa hỏi mượn bà Hương mấy con tem để gửi thư về Việt Nam thì có lẽ cũng chẳng có ai biết bà Hương đã bị mê man bất tỉnh để mà gọi xe cứu thương. Lúc tám giờ sáng, bà Thủy gõ cửa rất lâu mà vẫn không thấy bà Hương ra mở cửa. Bà nghĩ thầm: “ Bà này chúa là đi ngủ muộn thành ra giờ này mà còn ngủ say như chết vậy. Mình đập cửa ầm ầm như vậy mà cũng không nghe.” Bà Thủy quay về phòng. Rồi không hiểu sao, bà lại chạy sang phòng bà Hương, đập cửa thêm một lúc nữa. Vẫn không thấy động tĩnh gì, bà Thủy đâm lo. Bà chạy vội xuống văn phòng báo tin cho bà Rachel, quản lý khu nhà dưỡng lão này. Bà Rachel nhanh nhẹn lên mở khóa, vào phòng bà Hương. Khoảng năm phút sau, một xe cứu thương và hai xe cảnh sát đã hú còi inh ỏi tới nơi chở bà Hương vào bệnh viện. Bà Thủy khóc sụt sùi đi xuống phòng ăn, bà năn nỉ ông Phong:
Ông có xe, ông làm ơn chở chúng tôi vào nhà thương với bà ấy đi ông!
Không đợi bà Thủy nói lần thứ hai, ông Phong bỏ dở bữa ăn điểm tâm, nói:
Cụ nào xong rồi thì đi ngay. Xe tôi chở được bốn cụ thôi. Tôi đi một chuyến trước rồi sẽ về đón thêm mấy cụ nữa.
Một cụ đề nhị:
Nhiều lắm là mình đi hai chuyến, không lẽ mình vào chật cả nhà thương à?

Các cụ bàn nhau, nhường nhau để vào nhà thương, các cụ còn lại, họp tại phòng bà Ngọc để tụng kinh cầu an cho bà Hương hoặc tại phòng cụ Vũ để đọc kinh cầu Chúa.Trên gương mặt các cụ, hằn lên nỗi đau buồn, những giọt nước mắt lăn dài trên những gò má hom hem. Những món ăn điểm tâm đã được quăng vào thùng rác nơi góc phòng. Bình hoa hồng trên cái bàn nhỏ nơi cửa ra vào cũng đã có một vài bông héo khô, gục đầu buồn bã, những cái lá cũng đã ngả sang màu vàng úa.

Bà Thủy và các cụ già khác đi đi lại lại hoặc ngồi yên trong phòng đợi của bệnh viện, ai nấy đều có vẻ nôn nóng lắm! Tất cả đều cầu cho bà Hương được cứu chữa kịp thời. Họ hy vọng bà Hương chưa bị mê man quá lâu. Họ hy vọng vào những bác sĩ tài giỏi ở bệnh viện nổi tiếng này. Ba Thủy vẫn khóc sụt sùi. Bà nhìn những vị bác sĩ như nhìn những vị thiên thần. Bà nhớ đến những củ sâm ngàn năm trong các phim Tàu đã chữa lành những bệnh nan y. Bà muốn ở đây chờ tin tức của bà Hương, nhưng bà cũng muốn về phòng bà Ngọc để tụng kinh cầu an. Bà loay hoay nghĩ ngợi mãi không biết nên về hay nên ở?

Một người đàn bà Việt Nam còn trẻ, chạy hấp tấp vào phòng đợi, rồi đến bên cái bàn hỏi tin tức, nói bằng tiếng Mỹ với người ngồi ở đó. Bà Thủy đoán ngày đó là cô Hoa, con gái của bà Hương. Bà Thủy chạy đến bên cô Hoa nói:
Cô là cô Hoa phải không? Tôi là bà Thủy. Bà cụ đã được đưa vào phòng cấp cứu rồi, chúng tôi chờ từ nãy mà chưa có tin tức gì cả.
Nước mắt rưng rưng, cô Hoa nghẹn ngào:
Vâng, thưa cụ cháu là Hoa, cháu cảm ơn các cụ đã lo lắng và giúp đỡ mẹ cháu.

Cô Hoa được vào phòng phía trong để thăm mẹ. Dù chỉ mới thoáng gặp, bà Thủy cũng thấy là cô Hoa rất đẹp và ăn nói lễ phép. Bà chép miệng nói với các cụ đứng bên cạnh khi nhìn theo bóng Hoa khuất dần phía hành lang bệnh viện:
Gớm, người đâu mà lại được cả người lẫn nết!

Bà Thủy và các cụ vẫn kiên nhẫn ngồi ở phòng đợi. Không ai nói với ai một lời. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Những người Mỹ to lớn cũng ngồi, đứng chờ tin tức thân nhân hoặc chờ tới lượt để được bác sĩ khám ở quanh đó nên các cụ giữ ý không nói tiếng Việt Nam, gây sự chú ý của họ. Hai cây kim dài ngắn của cái đồng hồ lớn treo trên tường vẫn nhúc nhích đều đặn. Chẳng một ai quan tâm đến thời gian. Nào có ai bận rộn gì đâu ! Bây giờ, lòng dạ nào mà xem phim Tầu, nghe nhạc. Lòng dạ nào mà xoa mạt chược, tứ sắc hoặc ngồi nói chuyện gẫu với nhau. Mãi mười hai giờ cô Hoa mới ra báo tin :

Mẹ cháu bị đứt gân máu, bây giờ vẫn còn mê man, không biết bao giờ mới tỉnh. Cháu xin cảm ơn các cụ và xin các cụ về nhà nghỉ ngơi, có tin gì cháu sẽ báo để các cụ biết ngay.
Bà Thủy nói với cô Hoa:
Bây giờ có cô ở đây là chúng tôi yên tâm rồi. Gớm, sáng nay tôi sợ quá!
Cô Hoa Cảm ơn bà Thủy một lần nữa :
Cũng may nhờ có bà phát hiện ra sớm chứ không thì chẳng cứu nổi mẹ cháu đâu. Cháu cảm ơn bà nhiều lắm.
Bà Thủy thành thật:
Cô đừng khách sáo. Chúng tôi ai cũng quý bà nhà cả. Ở trong khu nhà dưỡng lão, chúng tôi coi nhau như ruột thịt vậy.

Buổi chiều, bà Thủy lại đi xe buýt vào thăm bà Hương. Bà được cô Hoa cho biết bệnh tình của bà Hương không thuyên giảm. Bác sĩ phải dùng máy để giúp sự sống cho bà Hương. Cô Hoa khóc, bà Thủy cũng rưng rưng nước mắt, rồi an ủi :

Cô cũng đừng buồn lo quá ! Thế nào rồi bà cũng qua khỏi. Có nhiều người mê man đến cả tuần rồi cũng vẫn tỉnh lại đấy cô ạ.
Cô Hoa buồn rầu:
Cháu cũng cầu cho mẹ cháu khỏi bệnh. Mẹ cháu hãy còn trẻ quá mà!
Bà Thủy nói cái ý nghĩ mà bà ấp ủ bấy lâu trong lòng:
Cô thật là một người con có hiếu quá ! Thời nay, những người con như cô thật hiếm hoi.

Cô Hoa thoáng ngạc nhiên và thẹn thùng về lời khen ấy. Cô không hiểu mẹ đã nói gì về cô với bà Thủy ? Suốt đời, cô đã làm được gì cho mẹ?
Khi bà Thủy tỏ ý muốn về, cô Hoa nói:
Cháu cũng phải về phòng mẹ cháu để lấy giấy tờ và mấy thứ lặt vặt. Để cháu đưa bà về luôn thể.
Bà Thủy mừng rỡ:
Thế thì tốt quá. Tôi khỏi phải đi xe buýt.

Cô Hoa và bà Thủy đi ra bãi đậu xe, tới bên một cái xe màu trắng thật lộng lẫy, cô Hoa mở cửa cho bà Thủy rồi đi vòng sang phía bên kia, ngồi trước tay lái. Bà Thủy vừa thắt dây an toàn vừa nói:
Cô mua xe mới hồi nào vậy ? Xe đẹp quá!
Cô Hoa ngạc nhiên: ‘’ Tại sao bà ấy lại hỏi vậy ? xe này mình mua lâu rồi mà!’’
Cô chưa kịp trả lời bà Thủy đã tiếp:
Mọi lần tôi thấy cô đón bà bằng cái xe màu xanh xanh. Xe đó cũng đẹp và mới lắm mà cô đã lại đổi xe rồi.

Cô Hoa luống cuống làm sao mà khi lùi xe ra, cô đụng vào cái xe bên cạnh. Cô ghi một mảnh giấy, cài vào cái xe mà cô đã đụng, rồi lái xe ra khỏi bệnh viện, chạy thẳng về khu nhà dưỡng lão. Trên xe, bà Thủy vẫn nói chuyện đều đều nhưng tai cô Hoa như ù đi, cô nghe câu được, câu mất.

Ở trong khu dưỡng lão này cụ nào cũng khen cô là người con hiếu thảo, lại làm ăn buôn bán giỏi.Mỗi thứ bảy, cô đến đón bà là chúng tôi cứ để ý để xem mặt cô mà chẳng bao giờ gặp, bà cứ bảo cô bận lắm nên chỉ ghé đón là đi ngay. Mỗi thứ hai cô gửi hoa cho bà, bà vui lắm mặc dù cái ban công của bà đã như là một vườn hoa rồi. Nhưng bà không để y nguyên cái bình hoa đó đâu. Bà cắm làm ba bình. Bà bảo cắm hoa mà chen chúc chật chội thì không đẹp mà lại tốn hoa.

Cô Hoa chào bà Thủy rồi mở cửa vào phòng mẹ. Ba bình hoa trên bàn thờ Phật, bàn thờ các cụ và trên cái bàn ở góc phòng hãy còn tươi tốt. Quyển nhật ký của mẹ để trên bàn hãy còn mở ra, mẹ đang viết dở một trang.

Đọc xong quyển nhật ký, cô gấp lại, để vào ngăn kéo.

Cô Hoa gục đầu xuống bàn khóc nức nở. Cô thì thầm « Mẹ ơi con có ngờ đâu con chiều mẹ, đưa mẹ vào đây để có bạn già trò chuyện như mẹ mong muốn mà lại ra nông nỗi này. Mẹ ơi, mẹ phải sống với con thêm một ít năm nữa. Mẹ cho con đi lại từ đầu. Mẹ cho con một cơ hội, một cơ hội để làm mẹ vui. Bây giờ thì con hiểu mẹ rồi.

Mẹ ơi! Mẹ ở lại với con, mẹ đừng bỏ con mà đi. Con sẽ đón mẹ mỗi chiều thứ bảy, nhất định không phải là cô Cheng mà mẹ đã thuê để làm công việc này. Chính tay con sẽ cắm những bình hoa đơn sơ nhưng có hồn để tặng mẹ. Mẹ sẽ không phải đặt từ tiệm những bình hoa như mâm xôi với nhiều màu sắc để tặng chính mình. Con sẽ đẻ thêm cho mẹ một đứa cháu để mẹ bồng ẵm, để mẹ thương yêu. Mẹ sẽ chỉ đến viện mồ côi khi lòng mẹ dâng lên một nỗi xót thương cho những đứa trẻ không may mắn. Con sẽ tập cho các cháu biết ăn mắm tôm, cá kho, dưa chua, bún thang có thêm giọt cà cuống…để cùng bà ăn những bữa cơm gia đình đầm ấm.

Mẹ ơi ! Mẹ ơi, cho con làm lại từ đầu mẹ nhé.

Lê Thị Nhị

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

Vàng Thu Sầu Len - Nhạc: LMST- Thơ: Ý Nga- Hoà Âm&Hát: Hồng Ân


Nhạc: LMST
Thơ: Ý Nga
Hoà Âm&Hát: Hồng Ân

Chuyện Tình Đã Lỡ

 

Lưu luyến mà chi chuyện đã rồi
Thuyền tình lỡ chuyến cánh hoa trôi
Nỗi sầu trút mãi sầu chưa cạn
Lệ đắng trào dâng lệ chẳng thôi
Dẫu mấy nhớ thương hoài trắc trở
Dù cho ngăn cách vẫn bồi hồi
Cầu duyên gãy nhịp đời hoang vắng
Trên bước đường trần chẳng có đôi

Kim Phượng

Hương Muộn

 

Một chiều hanh nắng, heo may gió
Thu, lá vàng phai úa ngõ sân
Hai người, hai hướng trời xa lại
Ngồi bên nhau nghe lòng bâng khuâng

Ta uống đau, người cũng nếm sầu
Muối đời cùng mặn cả môi nhau
Sao không góp hết buồn chung lại
Làm gói ân tình thương mến trao?

Người lỡ yêu, ta lỡ dại khờ
Quá nửa đời tình bỗng bơ vơ
Gặp nhau nào biết duyên hay mộng
Xin gởi vào thơ một chút mơ...

Trang Châu

Buổi Triển Lãm & Ra Mắt Sách Để Gây Quỹ Yểm Trợ Quốc Gia & Dân Tộc Ukraine

 THƯ MỜI


Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ & BS Mùi Quý Bồng
Xin trân trọng kính mời Quý Vị Đồng Hương đến tham dự Buổi Triển Lãm Tranh và Ra Mắt  Tập Thơ Vui Tiếu Lâm Chân Kinh của Tác giả Mùi Quý Bồng (Chẩm Tá Nhân) vào lúc 2 giờ trưa ngày Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022, tại Thư Viện Việt Nam ở địa chỉ:

10872 Westminster Ave. Ste. 214
Westminster, CA 92843

Đến với buổi triển lãm, quý vị sẽ được thưởng thức nét vẽ của HS/BS Mùi Quý Bồng qua kỹ thuật độc đáo sử dụng bút bi (bút nguyên tử) và có những nụ cười sảng khoái qua hơn 400 bài thơ tiếu lâm đủ mọi đề tài.
Buổi Triển Lãm và Ra Mắt Sách được thực hiện để gây quỹ yểm trợ Quốc Gia và Dân Tộc Ukraine đã và đang dũng cảm chiến đấu chống sự xâm lăng tàn bạo của Nga Sô do Putin khởi xướng.
Phần văn nghệ do CLB Tình Nghệ Sĩ và các ca sĩ thân hữu trình diễn.

Liên lạc:
BS Mùi Quý Bồng: 832-286-5518
NS Cao Minh Hưng: 714-403-9315

Bài Thơ Tình


Cuối thế kỷ trước có một thi sĩ tặng tôi tập thơ và muốn tôi có đôi dòng cảm nhận. Tập thơ in đẹp lời thơ lãng mạn nhẹ nhàng, ý thơ sâu sắc. Ngôn ngữ trong thơ là những hình tượng đầy màu sắc của hội họa ẩn vào con chữ vọng lên từ đáy tim. Nhà thơ đã nói lên tiếng lòng nên không dùng sáo ngữ, cường điệu như loài bướm lượn cành hoa thường thấy trong những lời tán tụng tình yêu. Có lẽ thi sĩ quá yêu thơ mình, đã đắm hồn vào thơ nên chỉ sống với những hình ảnh vần điệu trong mộng tưởng để tận hưởng cái mật ngọt đắng cay của tình yêu đầy màu sắc quyến rũ. Đây là những bài thơ tình nửa hư nửa thật tạo cho không gian trong thơ bồng bềnh mờ ảo, dẫn người đọc bước vào một thế giới mộng mị nơi đó có hai mảnh hồn yêu nhau say đắm. Đọc những bài thơ tình nồng thắm trong thi tập lòng tôi xao xuyến, thương cảm cho cuộc tình lãng mạn của hai kẻ yêu nhau bằng tâm tưởng nhưng lại gặp nhau rất muộn màn! Tôi bỗng cảm hứng đã làm một bài thơ: “Tình Chỉ Là Mơ” để chia sẻ hồn thơ của thi sĩ. Sau đó lại phóng hồn hư cấu thêm bài thơ đẩy tác giả và nàng thơ vào “Cõi Tình” cho tình thơ sắc màu 

Từ ngàn xưa Thơ là ngôn ngữ thật thà của con tim nên tác giả không thể che dấu được khi viết lên con chữ diễn tả nỗi lòng của mình. Ở đây, trong trang thơ những con chữ đã bộc bạch lời của kẻ lỡ vướng vào lưới tình tình nên trăn trở viết thành những vần thơ. “Thi sĩ và Nàng thơ” cả hai tâm hồn đầy lãng mạn, họ yêu nhau qua thơ nên lạc vào mê lộ nên vướng cảnh oan trái vì hai người đều đã có gia đình! Tôi chưa hề quen biết người trong thơ nhưng lại thương cảm cho nàng qua cách diễn đạt tài tình của thi sĩ, phải chăng nàng cũng biết làm thơ nên đã yêu thi nhân?
Vì cảm hồn thơ của thi nhân tôi đã trân trọng giới thiệu thi tập với các bạn văn nghệ ở Paris, và có nhờ vài người bạn là nhạc sĩ phổ nhạc giúp vì hiếm gặp được những bài thơ tình hay và độc đáo như thế. Nhưng thuở ấy những trận bút chiến hãi hùng trên văn đàn mà tác giả những bài thơ đó là khuôn mặt nổi trong làng thơ hải ngoại, do đó những tâm hồn đồng cảm dù muốn phổ nhạc cũng ngần ngại ! Ngày trước tôi có viết một số ca khúc nhưng chỉ viết cho mình, cho quê hương mà không dám phổ thơ của bạn vì sợ không phổ được cái tinh hoa trong thơ! Mang thi tập về nhà lòng tôi cứ bâng khuâng chẳng biết làm sao để những vần thơ hay được nương cánh nhạc bay cao lan toả đến công chúng. Nhưng có lẽ tôi đang làm một công việc “thừa ” thật ra bản thân một bài thơ hay, tự nó đã có giá trị lâu dài. Còn thơ được phổ nhạc là muốn đem thêm chút nghệ thuật âm thanh vào trong thơ làm nổi bật hình ảnh ý thơ đầy sắc màu tính nhạc theo nhiều giai điệu trầm bổng. Một bài thơ phổ thành ca khúc hoàn hảo rất khó, vì bài thơ được phổ sẽ không bị cắt những chữ làm mất hình ảnh câu, hụt ý nghĩa của tứ thơ. Nhưng đâu phải bài thơ nào cũng chuẩn luật, cũng có tính nhạc! Có những bài thơ câu chữ thừa, hoặc những câu chữ trùng ý, trùng nghĩa ở những đoạn trên. Do đó nhạc sĩ cần phải cắt xén câu chữ, sắp xếp lại cấu trúc giai điệu để hình nốt vút theo từng cung bậc của ngữ nghĩa thành tác phẩm. Những ca khúc VN được gọi là hay thường có “lời” hay, “ý ca từ ” đẹp như thơ. Tuy nhiên, trong số đó cũng có những bài thơ ngôn ngữ thơ mộc mạc, tứ thơ bình thường, nhưng được người nhạc sĩ có tài phổ sẽ làm tăng giá trị bài thơ trở thành ca khúc hay vì nhạc sĩ đã cắt xén, ráp nối câu chữ lời thơ thành ca từ nương theo tính nhạc của bài thơ để phổ. Nhưng cũng không ít những bài thơ rất hay “bị phổ” cho lấy có, tác giả chẳng để ý đến lời thơ, ẩn ý trong thơ mà phổ quá nhanh, vội vã để thành bản nên thiếu chất nghệ thuật làm giảm giá trị bài thơ!

Trong kho tàng văn học nghệ thuật Việt Nam có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng qua một vài bài thơ, ít ca khúc nhưng những sáng tác đó đã để cho đời những áng thơ hay những giai điệu tuyệt vời: Thi sĩ Vũ Đình Liên, Thi sĩ T.T.KH, thi sĩ Hữu Loan, Thi sĩ Linh Phương… Phía âm nhạc: Nhạc sĩ Đặng Thế Phong, Lê Trạch Lựu, Đoàn Chuẩn& Từ Linh, Nguyễn Văn Khánh, Lê Hoàng Long, Hiếu Nghĩa, Dzũng Chinh, Nguyễn Mỹ Ca, La Hối, Nguyễn Ánh 9....vv….Họ là những nhạc sĩ sáng tác thực tài mà trời đã ban cho một năng khiếu âm nhạc đặc biệt để thẩm thấu những nét độc đáo của âm thanh kết thành giai điệu đẹp. Sáng tác một ca khúc, nhạc sĩ không cần vận dụng những lý thuyết hàn lâm quá phức tạp trong âm nhạc, trời đã cho họ những ưu điểm từ trong vô thức đã có một giác quan rất bén nhạy chứa sẵn lý thuyết âm nhạc trong cảm hứng khi sáng tác. Đối với những nhạc sĩ đã sáng tác chỉ cần một vài ca khúc để đời là mãn nguyện. Nhưng nếu nhạc sĩ sáng tác hàng trăm ca khúc và có nhiều bài hay thì đó là những người có tài. Tâm hồn nhạc sĩ phải thật phong phú mới làm nổi nhiều nhạc phẩm hay, nếu không chỉ là số lượng dù viết hàng trăm ca khúc ! Có những thi sĩ làm hàng trăm bài thơ mà người đời cũng chẳng biết đến, hoặc nhớ một câu! Nhưng nếu người đời chỉ nhớ vài bài thì cũng làm cho tâm hồn thi sĩ ấm áp. Cũng có những ca khúc nghe qua chẳng gợi lại trong lòng người thưởng thức một chút ấn tượng thì ca khúc đó sẽ bị chóng quên! Phải chăng giá trị đích thực của nghệ thuật vẫn là hướng về chân thiện mỹ ? Thời gian trôi đi, người nghệ sĩ dù có bị người đời vô tình quên tên tác giả, hay người đời “cố tình quên” thì họ vẫn cống hiến cho đời những tác phẩm. Những tâm hồn phụng sự cho những giá trị cao đẹp đều tuyệt vời!
Trong cuộc sống đầy bon chen vội vã của thế giới vật chất hôm nay, có lẽ chỉ có Tình Yêu là đáng qúy vì trong đó có cả “tình lứa đôi. ”
Khi đọc những trang thơ tình của người bạn thơ hồn tôi bỗng dạt dào cảm xúc vì tưởng cái hồn thơ đầy hương thơm mộng mị thuở học trò của tôi đã chìm theo thời tuổi xanh! Nhân dịp có người bạn là Nhà báo, Nhà Biên khảo GS Đặng Văn Nhâm ở Đan Mạch qua thăm Paris và đến nhà ở chơi với tôi. GS Đặng Văn Nhâm là tác giả nhiều bộ sách biên khảo như Dại Từ Điển Đan Việt,Tự Điển Báo Chí, Chính Trị, và Văn Học..vv…Anh còn là một họa sĩ vẽ tranh biếm họa trên các tạp chí Sài Gòn năm xưa vào cuối thập niên 50 đầu 60. GS Đặng Văn Nhâm kiến thức rất uyên bác, anh có khả năng viết trong ngày cho nhiều tờ báo với nhiều đề tài khác nhau mà vẫn giữ được chất lượng.

Ngày đó, chúng tôi tổ chức đêm họp bạn văn nghệ quy tụ nhiều khuôn mặt trong giới trí thức văn nghệ sĩ ở Pris. Mở đầu, một số bằng hữu đã giới thiệu những sáng tác mới của mình hoặc trình bày một đề tài văn học. Để tham gia trong chương trình tôi đem tập thơ của người bạn phương xa gởi tặng ra giới thiệu, trích đọc vài bài thơ tiêu biểu trong thi tập. Mọi người đều lắng nghe và khen thơ hay, nhưng có lẽ ít ai hiểu những ẩn tình ngang trái trong những bài thơ! Để kết thúc phần giới thiệu về thi tập, tôi đã đọc bài thơ “Tình Chỉ Là Mơ” của tôi viết tặng tác giả như sự đồng cảm giữa những người làm thơ sống trong cõi thơ. Phải chăng ở đó mọi sự vật cũng chỉ là mơ ? Trong văn học người ta thường xem đóa hoa là phái đẹp, và hoa hồng tượng trưng cho tình yêu. Thi sĩ Tản Đà đã diễn tả qua câu thơ:

“cái giống yêu hoa giống lạ đời,
Mắt xanh chưa lọt đã mê tơi. ”
Tản Đà

Trong bài thơ “Chỉ Là Mơ”tôi ví hoa là nàng thơ của thi sĩ mà tình yêu đã làm tâm hồn người thiếu nữ trở nên sầu úa như đóa hoa thiếu nắng! Trong thiên nhiên, một cành hoa dù hương thơm, sắc màu rực rỡ nhưng thiếu nắng lá sẽ kém tươi tốt, cánh hoa sẽ nhợt nhạt màu. Câu thơ: “ Như mất nửa hồn theo áng mây”. Trong thi ca áng mây là hình tượng mang sắc màu hội họa. Mây là những hạt nước li ti kết tinh bồng bềnh như giải lụa muôn sắc bay trên trời. Hình dáng mây thay đổi theo gió nhìn rất đẹp, nhưng luôn cao xa không với tới ! Ở đây mây tượng trưng cho thi sĩ kẻ đã bước vào vườn tình đầy trái cấm!

Chỉ Là Mơ

Thơ thẩn
Vì, đóa hoa* thiếu nắng,
Khép mi
cho lòng
đỡ ngất ngây*!
Bỗng dưng !
ta thấy đời im lặng
Như mất nửa hồn
theo áng mây*!
Nếu lỡ đã say
mà quên lối?
Thì đành ôm chút mộng hờ thôi.
Tình
chỉ là mơ
sao bối rối?
Quay đi …
hồn vướng
mãi nụ cười!
Đỗ Bình

Tan buổi sinh hoạt, khi ra về, giáo sư Nhâm mới cho tôi biết chuyện tình trong thơ của tác giả mà tôi làm thơ tặng, đó là chuyện tình thật, tác giả không vết hư cấu! Dù được nghe kể về sự thật của cuộc tình tôi đẩy cảm xúc lên cao độ

vẫn làm thêm bài Cõi Tình, như thể hiện sự đồng cảm với tác giả tập thơ. Đó chỉ là Thơ trong thi ca, một tâm hồn đa cảm của thi nhân.:

Cõi Tình

Chiều cuối thu lá vàng bay khắp lối
Dìu em đi trong vạt nắng xanh xao.
Tóc em bay thoảng mùi hương cỏ nội,
Tình trao nhau…ôi trái cấm ngọt ngào!
Em chợt đến như cuồng phong bão nổi,
Trời bao la ta mắc cạn nhánh sông!
Dựa vai nhau hai mảnh hồn buộc vội
Ðời phù du xin giữ chút tình nồng.
Vui em nhé, dù non cao tuyết phủ,
Quên nẻo về hồn trượt xuống vực sâu,
Cứ mặc ta nơi đáy thẳm mịt mù,
Thành sương khói hóa vần thơ hư cấu.
Tình tuyệt diệu thắm nụ hôn khờ dại,
Ta vì em đành gục ngã bên đời
Dẫu ngàn sau hồn hút bóng xa xôi,
Ta vẫn nhớ …màu môi em đắm đuối.
Đỗ Bình

Dù nghe kể nhưng tôi vẫn nghĩ:
“ Có lẽ họ đang chống nhau trên lãnh vực văn bút nên khắt khe chăng ?”
Tôi tự nhủ: “Ở trên đời có nhiều điều nhìn thấy cũng chưa chắc đúng, huống chi chỉ nghe đồn. Làm sao có thể hiểu hết sự bí ẩn trong tâm hồn con người, nhất là tâm hồn thi sĩ là một cõi vô tận! ”

Rabindranath Tagore người Ấn Độ, là nhà thơ của tình yêu, ông cũng là nhà văn, triết gia, họa sĩ, đạo diễn, nhạc sĩ, nhà giáo dục. Nhà đại nghệ sĩ đã được giải thưởng Nobel 1913. Ông quan niệm về tình yêu:

“Tình yêu là sự toàn thiện của tâm thức, ta không yêu vì ta không hiểu, hay nói đúng hơn, ta không hiểu vì ta không yêu ”
Trong thơ văn cũng như ngoài đời cũng có những mối tình Nghệ sĩ rất lãng mạn và đẹp. Thi sĩ Xuân Diệu người được mệnh danh là con chim đầu đàn trong dòng thơ Tình lãng mạn của thế kỷ trước. Bài thơ Xa cách viết về tình yêu lứa đôi vẫn còn lưu truyền trongvăn học mãi hôm nay:

Xa Cách

“Có một bận em ngồi xa anh quá
Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn
Em xích gần thêm một chút: anh hờn.
Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa.
Anh sắp giận. Em mỉm cười, vội vã
Đến kề anh, và mơn trớn: "em đây!"
Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay.
Vì anh nghĩ: thế vẫn còn xa lắm.
Đôi mắt của người yêu, ôi vực thẳm!
Ôi trời xa, vừng trán của người yêu!
Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều
Mà ta riết giữa đôi tay thất vọng.
Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng.
Em là em, anh vẫn cứ là anh.
…."
Xuân Diệu

Thi sĩ Lưu Trọng Lư thuộc thế hệ mở đầu của phong trào Thơ Mới. Thơ của ông rất trữ tình lãng mạn, ý thơ phóng khoáng mang chút tư tưởng Tây Phương nhưng vẫn giữ nét truyền thống luân lý Đông Phương. Bài thơ Một Mùa Đông là một bài thơ đặc sắc, thanh thoát, giàu nhạc điệu được lưu truyền trong văn học mãi đến hôm nay. Bài thơ viết về một câu chuyện tình dang dở có thật của đời ông. Chuyện tình đẹp và trong sáng đó là nguyên do thúc đẩy nguồn cảm hứng trong thi sĩ dạt dào để hoàn thành một tác phẩm trữ tình để đời. Chuyện tình như một bài thơ về cuộc tình của chàng thi sĩ với một nữ sinh xinh đẹp của đất Hà Nội thuở ấy. Nàng thơ sau này trở thành một danh nhân của Việt Nam, và Thế giới. Bà là điêu khắc gia nổi tiếng trên thế giới và là thành viên của Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học, văn học và nghệ thuật châu Âu. Bà được đưa vào danh sách những tài năng lớn của nghệ thuật thế kỷ XX trong từ điển Larousse.

Một Mùa Đông

“Em là gái trong khung cửa,
Anh là mây bốn phương trời;
Anh theo cánh gió chơi vơi,
Em vẫn nằm trong nhung lụa.
Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời,
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân
…
Ngày một ngày hai cách biệt nhau
Chẳng được cùng em kê gối sầu,
Khóc chuyện thế gian cười ngặt nghẽo,
Cùng cười những chuyện thế gian đau.

Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em vẫn đùa nô uống rượu say.
Em có biết đâu đời vắng lạnh,
Lạnh buồn như ngọn gió heo may.

Môi em đượm sặc mùi nho tươi,
Đôi má em hồng chúm nụ cười,
Đôi mắt em say màu sáng lạn,
Trán em để lỏng làn tóc rơi.

Tuy môi em uống, lòng anh say,
Lời em càng nói càng chua cay
Anh muốn van em đừng nói nữa,
Lệ buồn sẽ nhỏ trong đêm nay. ”
Lưu Trọng Lư

Bốn câu thơ cuối nhà thơ đã diễn tả sự tan vỡ tình yêu đến tột cùng! Nhưng đó chỉ là tưởng tượng vì quá nhớ nàng :
“ Tuy môi em uống, lòng anh say,
Lời em càng nói càng chua cay..”

Câu thơ tình tuyệt vời!

Dù được nghe anh Nhâm kể về sự thật của cuộc tình, nhưng tôi vẫn nghĩ có lẽ cái nhìn của anh đứng trên quan niệm đạo đức quy tắc chuẩn mực của xã hội nên rất nghiêm khắc, mà không mang tâm hồn thơ đầy mơ mộng nhưng trong đó có chứa sự bao dung tôn trọng sự khác biệt đối với tha nhân như tôi! Chẳng thế mà ngòi bút của anh sắc hơn gươm đao nên dễ làm người bật máu. Có lẽ vì bản tính khó kăn đó, nên anh rất ít bạn thân! Cho dù anh thích giao du bằng hữu bốn phương. Những người bạn của tôi ở Paris đều qúy trọng kiến thức uyên bác và tài năng sáng tác của anh, nhưng chẳng ai dám lại gần vì vẫn cảm thấy ngần ngại cây bút lành lạnh của anh ! Giáo sư Nhâm rất qúy tôi, xem tôi như một người em nên tặng cho tôi cây bút Mont Blanc, anh nói:
“Cây bút này như tấm lòng của tôi để viết những điều tử tế.”
Nhưng từ những năm sau này anh vì bận rộn viết sách nên ít liên lạc với tôi! GS Đặng Văn Nhâm qua đời năm 2017.
Năm 1997 tôi chuẩn bị in tập thơ “Bóng Quê.” Ngày đó Văn Bút VN Hải Ngoại vẫn còn bị tách làm hai, giáo sư Đặng Văn Nhâm dang làm chủ tịch. Anh Nhâm muốn giúp tôi mang tập thơ qua Mỹ in, nhưng tôi đã được vợ chồng người bạn thân cũ là thi họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật và Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh ở Nauy lại muốn tự tay chăm sóc trình bày và in ấn tập thơ của tôi tại Nauy. Đây là điều tế nhị vì nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật& Nguyễn Thị Vinh đang sinh hoạt cùng nhóm Văn Bút VN Hải Ngoại với người thi sĩ tặng tôi tập thơ, họ đều chống anh Nhâm. Nguyễn Hữu Nhật và tác giả tặng thơ cho tôi cả hai đều là chủ bút một tờ báo và làm thơ rất hay.

Bài thơ “Tình Chỉ Là Mơ”và bài thơ “Cõi Tình” tôi chọn đưa vào in trong thi tập với lòng yêu thơ. Tôi thường làm thơ về quê hương, về thân phận con người, nay làm được những bài thơ về tình yêu lứa đôi lãng mạn của tha nhân tôi cảm thấy vui, tập thơ sẽ có thêm màu sắc. Tôi cho in vì chỉ muốn ghi lại trên sách vài bài thơ tôi thích ở một giai đoạn mà khá nhiều bằng hữu tôi đang bút chiến. Thuở ấy tôi đứng bên ngoài những cuộc bút chiến nên tôn trọng những suy tư, và quan niệm riêng của mỗi người. Tôi chọn lựa một thái độ đứng giữa không nghiêng ngả bên nào quả thật rất khó khăn! Để tránh bị lôi kéo, tôi đã “tự ý ngưng gởi bài”cộng tác với các báo nhiều năm, vì không muốn bị lôi cuốn vào phe phái, nhất là không thể gởi bài cho các tờ báo mà trong đó có các bạn của tôi đang chống nhau ! Cũng kể từ ngày đó tôi không còn thiết tha gởi bài cho báo!

Chỉ vì quan niệm muốn bảo vệ giá trị đích thực của một nhà văn ! họ tiến ra tuyến đầu xung khắc nhau kịch liệt! Đã có biết bao bạn văn của tôi ở hai phía phải tạm gác bút vì ngại bị vướng mực do ngộ nhận. Thuở đó, bên nào cũng mạnh cũng tài giỏi và sắc bén như nhau, tôi ở giữa hai làn đạn nên chỉ biết thở dài sau đó lánh xa chốn tranh chấp! Tôi đến với các bạn bằng một trái tim chân tình, có lẽ thế sau bao năm dù đời có nhiều thay đổi, bằng hữu cũ có người mất người còn nhưng tình bạn xưa vẫn khắn khít còn mãi đến hôm nay. Khi tập thơ được in xong, các bạn văn vì cảm mến tôi nên đã cùng nhau tổ chức một buổi ra mắt sách rất trang trọng vào ngày 4 tháng 10 năm 1998 tại Hội Trường Quốc Tế Paris, quy tụ tất cả các văn nghệ sĩ ở Paris và khắp nơi đến. Đặc biệt những danh ca chỉ dành hát độc quyền cho các trung tâm Nhạc cũng về Paris trình diễn cho buổi ra mắt sách. Ngày ra mắt sách tôi có gởi thơ mời GS Đặng Văn Nhâm nhưng vì ở Đan Mạch xa xôi nên anh không qua dự được. Tôi gởi sách tặng, nhận được anh gọi phôn chúc mừng.

Gần hai mươi năm sau trong một lần họp bạn văn nghệ ở Paris, có người yêu cầu tôi đọc bài thơ cũ. Để đẹp lòng người bạn tôi đã đọc. Khán phòng đẹp, trang trí ấm cúng, điều tuyệt vời là khách tham dự giữ yên lặng vì sự tôn trọng nhau. Đến lượt trình bày tác phẩm của nhà biên khảo nổi tiếng ở Paris, với một giọng trầm buồn anh chậm rãi kể lại một câu chuyện tình trong văn học. Mọi người trong khán trường nghe anh kể rất hay nhưng có lẽ không hiểu những đièu bí ẩn trong câu chuyện! Ngoại trừ tôi và anh, vì người đàn bà trong thơ đó có một thời là chị dâu của anh.

Đó là một người đàn bà đã có gia đình rất yêu thơ văn nên thích sống bằng mộng. Một hôm người đó gặp được người thi sĩ tác giả những bài thơ mà mình yêu thích nên hai người trân trọng nhau. Từ đó họ trở thành đôi bạn ngưỡng mộ nhau qua thơ văn. Người thi sĩ có tài làm thơ nên đã viết những vần thơ rất trữ tình nửa hư nửa thật để tặng đời. Vì quá yêu thơ mình, và cũng để cho vần thơ thật lãng mạn thi sĩ đã đẩy cảm xúc lên tột cùng, mượn hình ảnh nàng thơ để sáng tác nên ngôn ngữ thơ trở thành mời gọi, quyến rũ tâm hồn nàng để rồi thi sĩ và nàng thơ đã thật sự bị đắm đuối! Ở Tây phương mấy thế kỷ trước Thi Văn hào Victor Hugo người Pháp đã nói câu để đời:“Chết vì thiếu tình yêu thì ghê gớm qúa. Đó là sự chết ngạt của tâm hồn.”

Trên đời có cái gì tồn tại mãi chẳng tàn phai theo thời gian? Cuộc tình nào rồi cũng phải qua đi nhưng tình thơ vẫn còn đọng lại trang sách. Dù hư cấu hay chuyện thật thì sáng tác của thi nhân vẫn góp cho đời những những vần thơ hay, áng thơ đẹp làm xao xuyến lòng. Ngàn năm sau những ng ười yêu thơ đọc lại trang thơ cũ có ai thương cảm nỗi lòng thi nhân? Người thi sĩ ngày đó nay tóc đã bạc phơ, cuôc tình trong thơ năm xưa đã bay theo gió. Nhưng tình yêu vẫn là nguồn cảm hứng bất tận của người làm thơ, đó còn là nơi chỗ trú ngụ để tâm hồn thi nhân bay bổng vào cõi diễm tuyệt trước khi là phu du. Những vần thơ say đắm tình vẫn cô đơn nằm trên trang sách, cho dù nhà thơ có muốn quên nàng thơ nhưng hồn thi nhân vẫn nhớ mãi nụ cười của người tình năm đó? Những mối tình lứa đôi dù dang dở hay trọn vẹn thì vẫn giúp cho thi nhân có thêm nguồn cảm hứng dệt cho đời những áng thơ tình muôn sắc.

Đỗ Bình
----------
Ghi Chú:
*Thi, Họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật qua đời 2014
*Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh người cuối cùng của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, qua đời 8.1.2020

Y Học Thường Thức - Chóng Mặt (Bác Sĩ Đinh Đại Kha)


Y HỌC THƯỜNG THỨC
Chóng Mặt 
Đại cương 

Bệnh nhân thường dùng danh từ chóng mặt để diễn tả nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau: 
-Cảm tưởng ngay lúc sắp bị ngất. 
-Cảm tưởng mình sắp bị ngã. 
-Người đứng không vững, mất thăng bằng. 
-Mất cảm nhận ngoại cảnh trong ít giây đồng hồ. 
Trong trường hợp này, bệnh nhân thường kể bệnh: “Tôi chóng mặt như không biết trời đất gì nữa, nhưng rồi tỉnh lại ngay”. 
-Nhìn thấy mọi vật xoay vòng tròn quanh mình. Người mắc chứng chóng mặt có thể đồng thời bị ói mửa hoặc đi không vững. Chóng mặt nhiều khiến bệnh nhân không hoạt động gì được, phải nằm hoặc ngồi một chỗ. 
Y học phân chia ra 2 loại chóng mặt: có hoặc không có kèm theo triệu chứng thấy mọi vật xoay quanh

 Nguyên nhân
 


Chóng mặt kèm theo triệu chứng mọi vật xoay: Thông thường là bệnh lý tại tai trong hoặc thân não hoặc tiểu não, gọi chung là rối loạn tiền đình. Có một loại bệnh thiên đầu thống (nhức đầu một bên) cũng gây chóng mặt. Loại chóng mặt này thường không nguy hiểm. 

Chóng mặt không có triệu chứng mọi vật xoay: Thường do phản ứng phụ của rất nhiều loại thuốc bào chế. Trường hợp cơ thể thiếu ô-xy và đường glu-cốt do bệnh tim mạch, bệnh phổi hoặc thiếu máu nghiêm trọng.
Các nguyên nhân gây chóng mặt ít khi xảy ra: 

-Khối u tai trong, thân não, tiểu não 
-Đột quỵ -Chấn thương sọ não 
-Bệnh đa xơ cứng -Đường huyết quá thấp 
-Thai kỳ Các dấu hiệu báo nguy Chóng mặt kèm theo các tình trạng sau đây báo hiệu bệnh lý nghiêm trọng: 
-Nhức đầu mạnh. 
-Đau dây thần kinh, đau cơ bắp vùng cổ. 
-Đi không vững trong nhiều phút. 
-Ngất. 
-Có ít nhiều các triệu chứng thần kinh trung ương: trở ngại nhìn, nghe, phát âm, nuốt, cử động tứ chi. 

Khi cần gặp bác sĩ ngay Những trường hợp cần trị liệu khẩn cấp bao gồm:
 
-Khi có dấu hiệu báo nguy.
-Khi chứng chóng mặt vừa phát khởi đã xảy ra rất mạnh.
-Khi chứng chóng mặt kéo dài không ngừng trong hơn 1 tiếng đồng hồ.
-Khi chóng mặt kèm theo ói mửa trong nhiều phút. Ngoài ra các trường hợp khác cũng cần khám lâm sàng để chẩn đoán cho chính xác. 
Xét nghiệm Chóng mặt thông thường, khởi đầu dùng các xét nghiệm sau đây: 
-Đo ô-xy trong máu: dùng dụng cụ điện tử đeo ở đầu ngón tay.
-Đo đường huyết.
-Phụ nữ cần thử thai. Khi có dấu hiệu báo nguy, cần chụp hình cộng hưởng từ tính vùng đầu. 

Ngoài ra còn có các xét nghiệm khác:
-Khám lâm sàng thần kinh về sự thăng bằng và bước đi của bệnh nhân. 

Xét nghiệm chức năng tiền đình.

-Xét nghiệm nhịp tim. Trị liệu Trị liệu chứng chóng mặt tất nhiên là trị liệu nguyên nhân. 
Các thành phần trị liệu khác bao gồm: 
-Loại bỏ thuốc bào chế có phản ứng phụ gây chóng mặt. 
-Dùng thuốc để trị liệu triệu chứng: thuốc chống ói mửa, thuốc điều hòa chức năng tiền đình. 

Các phương cách trị liệu phụ thuộc:

-Tránh ngước mắt nhìn lên phía trên, tránh cúi đầu xuống. 
-Đứng dậy từ từ khi đang ngồi hoặc đang nằm. 
-Cử động tay chân vài phút trước khi đứng dậy. 
-Dùng vật lý trị liệu đặc biệt chuyên về phục hồi chức năng tiền đình. 

Trường hợp người già bị chóng mặt 

Các chức năng thần kinh của người già vì lão hóa mà yếu kém, cho nên khi bị chóng mặt thì họ có triệu chứng nặng hơn người trẻ và cũng khó phục hồi hơn. Người già dễ bị ngã, có thể dẫn tới các biến chứng nguy hiểm. Nếu họ chóng mặt thì nguy cơ bị ngã còn nặng hơn. Vậy thì điều quan trọng khi trị liệu chóng mặt cho lão niên là tránh ngã, áp dụng các phương cách sau đây: 
Thể dục nhẹ nhàng thường ngày giúp bước đi vững hơn. Chống gậy nếu cần. 
Dùng thiết bị trợ giúp đi bộ, loại lớn có bánh xe và bộ thắng, còn an toàn hơn là chống gậy. 

Tóm tắt 
Chứng chóng mặt có khi kèm theo triệu chứng mọi vật xoay, có khi không. Nguyên nhân gây chóng mặt là: 
-Bệnh lý tại tai trong, thân não, tiểu não. 
-Phản ứng phụ của nhiều thuốc bào chế. 

Các triệu chứng kèm theo chứng chóng mặt: 

-Ngất -Mất thăng bằng -Mọi vật xoay quanh 
-Nhận biết mơ hồ: mơ mơ, màng màng, không nhận xét rõ được mọi vật quanh mình 
Chóng mặt kèm theo nhức đầu mạnh hoặc trở ngại chức năng thần kinh trung ương là dấu hiệu báo nguy. 
Cần trị liệu khẩn cấp, chụp hình cộng hưởng từ tính vùng đầu. Thuốc trị liệu triệu chứng khi chóng mặt: thuốc chống ói, thuốc điều hòa chức năng tiền đình. 

Đối chiếu danh từ y học Việt-Anh 
Chứng chóng mặt Dizziness 
Mất cảm nhận ngoại cảnh Spaced-out 
Thấy mọi vật xoay quanh Vertigo 
Rối loạn tiền đình Labyrinthitis 
Bệnh đa xơ cứng Multiple sclerosis (MS)

Bác sĩ Đinh Đại Kha 

Bên Kia Sông

 
Phà Thủ Thiêm

Hè năm đó, vừa thi Đại Học xong, tôi liền ghi danh hai khoá học ngắn hạn về nghề may và làm bánh (nữ công gia chánh) tại trường Sư Phạm Kỹ Thuật trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Tuần học ba buổi, học luôn hai lớp từ 11 giờ trưa đến 4 giờ chiều, dần dần quen biết một nhóm bạn cùng lớp, cùng lứa tuổi, nên dễ kết thân. Nhóm đó có tôi, có Quỳnh nhà ở đường Trương Định sau vườn Tao Đàn, và Hoa nhà ở Thủ Thiêm. Tan học, chiều Sài Gòn thật dễ chịu, chúng tôi hay đi ăn gỏi khô bò ngay trước cổng Chùa Xá Lợi gần đó, ghé nhà Quỳnh chơi, và nhiều lần đạp xe, lên ghe qua sông, đến Thủ Thiêm ăn uống ở nhà Hoa đến 6-7 giờ tối mới chia tay.

Một sáng chúa nhật, chúng tôi rủ nhau đi từ sớm, hẹn gặp nhau tại phà Thủ Thiêm, đến nhà Hoa ăn giỗ. Cũng giống như An Phú Đông gần xóm tôi, Thủ Thiêm thuở đó rợp một màu xanh bạt ngàn vì ruộng đồng cây trái đẹp tươi, mát rượi. Người dân chất phát đơn sơ, bao đời bám đất dù còn trong khó khăn nghèo khổ. Chúng tôi đi dạo khắp xóm, khám phá một góc Thủ Thiêm hoang sơ, đầy tình người.

Có lần khác, Hoa dẫn chúng tôi đi tìm một thằng bạn học cũ, tìm hoài ngoài ruộng mênh mông mới gặp được hắn đang tưới nước hoa màu, chân tay còn lấm lem bùn đất. Thấy con gái thành phố, hắn mắc cỡ chỉ cười cười, khuôn mặt chân quê thật thà làm sao. Hoa giới thiệu:

- Đây là Huỳnh Gia Tài, bạn thân nhứt xóm của tui đó.
Tôi và Quỳnh bật cười:
- Cái tên vừa đẹp vừa lạ, vừa …dễ nhớ à nghen!
Tài đỏ mặt, Hoa nhanh nhẩu:
- Nhà hắn có 3 chị gái, nên khi sanh ra hắn, ba má hắn mừng húm vì có con nối dõi tông đường, nên đặt tên hắn vậy đó!
Tôi trêu Tài:
- Vậy Tài là cục vàng cục bạc cục kim cương của ba má!
Trên đường ruộng gập ghềnh về nhà Hoa, tôi đi cạnh Tài nói chuyện bâng quơ. Tài hỏi:
- Nhà Loan ở đâu vậy ?
- Ở Gò Vấp, bạn đến đó bao giờ chưa?
Tài lại cười mắc cỡ, Hoa đi phía trước cùng Quỳnh, quay lại trả lời:
- Hắn quanh năm làm ruộng vườn, cùng lắm chỉ qua sông, đến chợ Bến Thành mua sắm mỗi dịp Lễ Tết, rồi về, Gò Vấp ở đâu tui còn chưa biết nữa nà!!!

Tôi chỉ đường:
- Khi qua sông, thấy tượng Trần Hưng Đạo, là bắt đầu đường Hai Bà Trưng nhé, Tài cứ đi tiếp, đi hoài suốt con đường này, sẽ tới Cầu Kiệu quận Phú Nhuận, đường sẽ chuyển qua tên Võ Di Nguy, cứ tiếp tục đi thẳng hoài sẽ đến Ngã Năm Gò Vấp của mình!

Tài nghe tới đâu gật đầu tới đó, nhìn tôi mỉm cười với ánh mắt thân thương và …ái mộ vì đoạn đường rất xa mà tôi đã đạp xe đến vùng đất này thăm bạn bè.
Khi đi ngang qua nhà Tài, là một căn nhà gạch đơn sơ nhưng khá rộng, bao quanh bởi vườn cây ăn trái sum suê, là nguồn thu nhập chính của gia đình Tài cùng với mảnh ruộng ngoài kia.
Nhà Hoa cũng chẳng khá giả gì, nhưng cũng không nghèo, vì mẹ Hoa có hùn hạp bán sạp trái cây và xoài cóc ổi ngâm tại vỉa hè chợ Bến Thành nên cũng có chút đồng ra đồng vào, cộng với bản tính hiếu khách, lần nào chúng tôi cũng được mời cơm, và còn mang bọc trái cây về nhà.

Mỗi lần chuẩn bị lên ghe, lên phà về thành phố, tôi đều có cảm giác man mác buồn bã xen lẫn thương yêu lạ kỳ, vì chỉ cách nhau một bờ sông, đứng bên này nhìn qua thấy cả đèn Sài Gòn “ngọn xanh ngọn đỏ”, phố xá cao tầng, và bên đây là ruộng vườn, dân quê, bữa đói bữa no, mà ánh đèn văn minh đô thị chưa vươn tới.
Sau khoá học nghề đó, chúng tôi chia tay, chẳng có phone hay facebook như ngày nay để hẹn gặp lại, mà thăm nhau thì xa quá, trong khi tôi lại bận rộn với việc học hành.

Tôi đã từng có ý định sáng tác một câu chuyện mộng mơ như gió thoảng của tuổi 18, hoặc lãng mạn hơn, kiểu như truyện Trống Mái của Khái Hưng, về một anh chàng miệt vườn đem lòng yêu thương cô gái thành thị, nhưng vì khoảng cách địa lý, người bên này sông, kẻ bên kia sông, cũng như khoảng cách môi trường xã hội, nên cuối cùng chỉ là một kỷ niệm đẹp trong lòng anh chàng nông dân Thủ Thiêm thật thà. Còn cô gái kia cũng đã vô tình, đâu biết rằng mình đã gieo thương nhớ cho người con trai "nửa chợ nửa quê" mới biết rung động lần đầu!! Rồi giòng thời gian trôi nhanh với những biến cố bất ngờ, thay đổi cuộc sống, giờ nhìn lại đã là dĩ vãng xa xôi.

Thủ Thiêm ngày nay đã thay da đổi thịt, trở thành miếng mồi béo bở cho nhà cầm quyền giành giựt chia chác nhau, vỡ đất dự định xây Nhà Hát Giao Hưởng. Sông Thủ Thiêm, có bến phà và những chuyến phà qua lại, nơi tôi đã từng đứng bâng khuâng nhìn lại bên kia sông trước khi hoà vào dòng xe cộ của Sài Gòn sôi động, nay không còn nữa!

Gia đình Hoa, Tài và những người tôi đã gặp, số phận ra sao? Ngậm ngùi ở những chung cư chật hẹp hay đang vật vờ ngoài Hà Nội đợi chờ đối thoại trong vô vọng với đám quan tham, mặt mũi tối tăm ngu dốt, và trái tim lãnh cảm không lương tri?
Bên Kia Sông, xưa ngổn ngang những nỗi buồn, nay lại cõng thêm nỗi căm hờn, uất hận.
Hai cái chứng chỉ học may và làm bánh cũng thất lạc đâu đó trên con đường đời, cho nênbây giờ tôi vẫn...không biết may và cũng chẳng thể làm bánh!

Kim Loan

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

Thành Phố Gió - Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương - Nhạc Trần Đại Bản - Ca Sĩ Ngọc Mỹ


Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương
Nhạc Trần Đại Bản
Ca Sĩ Ngọc Mỹ
Thực Hiện: Đỗ Hải &Cung Thị Lan

Giấc Tình



Vần thơ ai thả lên trời
Để con bươm bướm rong chơi suốt ngày
Tìm hoài chẳng thấy thơ bay
Một mình em ngủ đã say giấc tình

Thơ mà cũng thích phiêu linh
Sao con bươm bướm nặng tình mộng mơ
Còn anh cứ để em chờ
Năm này tháng khác thẫn thờ nhớ nhung

Mùa xuân vẫn ở bên lưng
Hoa thi nhau nở tưng bừng vườn em
Tại anh hay bướm đua chen
Khiến bao phấn phủ êm đềm tóc nâu

Thơ không còn chút nhiệm mầu
Bay đi cho khỏi trách nhau lỡ lầm
Bướm vờn quanh nỗi tủi thân
Thương em khổ luỵ bao lần vì yêu...

Cao Mỵ Nhân

Hương Xưa



Ngồi buồn anh đếm cánh sao trời
Nhìn ánh trăng thề chiếu lả lơi
Nghe gió rì rào bên vách núi
Thấy mây lờ lững khuất lưng đồi
Cành mai rực rỡ nụ bừng sáng
Khóm liễu xanh tươi nét rạng ngời
Phiêu bạt bềnh bồng thân lãng tử
Thi thầm anh khẻ gọi "Em ơi!"

Toronto 1/5/2022
Nguyên Trần
(Bài Họa)


Diệu Kỳ... "Học Chữ Tu"



Số phận vô thường chớ bận chi
Yêu đời vui vẻ há lo gì
Chuyên tâm thế thái nên từ thiện
Chú ý nhân tình tránh lụy bi
Quán chiếu mọi điều không chấp nhất

Quan tâm những việc chẳng so bì
Sinh đau nhẫn nhục mong yên ổn
Sống khổ bao dung ước diệu kỳ...!

Mai Xuân Thanh
April 21, 2022

Quảng Nam Đất Linh Thiêng

Vùng đất thiêng liêng ai có hay?
Địa linh sản xuất lắm nhân tài!
Mỹ Sơn Thánh Địa trang nghiêm quá!
Phố cổ Hội An rực rỡ thay!
Ngũ Phụng Tề Phi cùng hội ngộ 
Anh hùng uy dũng dựng tương lai 
Quảng Nam tuấn kiệt nhiều vô kể 
Xứng đáng thơm danh nước Việt này! 

Lâm Hoài Vũ


Chân Dung Một Cô Gái Việt Nam

Văn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao.

Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là... người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách. Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.

“Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.
“Nguyễn Thị Vân.”
“Ngày sanh?”
“25.12.1988.”
“Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt. Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi. Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út. Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ:
“Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp.
“Nói chung... Tôi không có cha.”
“Tên mẹ?”
“Tôi không có mẹ.”
“Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?”
“Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả...”
“Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?”
“Không.”
“Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?”
“Không biết. Người ta đưa tôi đi.”
“Người ta là ai?”
“Nói chung nà người dắt đi đấy.”
“Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?”
“Tôi không biết đâu là biên giới.”
“Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?”
“Không nhớ.”
“Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?”
“Khoảng một tháng.”
“Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?”
“Không nhớ. Không biết.”

Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.” Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, gõ vào máy vài dữ kiện vu vơ. Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi:
“Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?”

Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để qui trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói:
“Chị lói với ló nà em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ Nga sang đây bằng xe thùng đấy... Ðã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!”

Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’ đi - vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được. Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục:
“Cô muốn gì tại Na-uy?”
“Xin tị lạn.”
“Lý do tị nạn?”
“Nói chung nà ở Việt Nam đói quá.”
“Tại sao lại chọn Na-uy làm nơi tị nạn?”
“Nói chung nà nghe người ta bảo ở La-uy sướng thì trả tiền cho đường dây đưa đi.”
“Cô phải trả bao nhiêu tiền?”
“Lăm ngàn đô.”
“Số tiền này từ đâu cô có, nếu cô đói?”
“Có cái ông gần nhà thấy tôi khổ thương hại cho tiền đi.”
“Ông ấy tên gì?”
“Không biết.”
“Ðịa chỉ?”
“Bên cạnh nhà tôi.”
“Hồi nãy cô nói vô gia cư, từ nhỏ sống ở ngoài đường?”
“Thì ở gần nhau ngoài đường.”

Diễm nghĩ bụng nếu có một nơi mà người vô gia cư có nhiều tiền như thế và hảo tâm như thế nhất định nàng sẽ tới đó xin tị nạn. Nhưng ông ta khoanh tay, ngả lưng ra đằng sau như muốn thư giãn, rồi bấm nút ‘print’ vào máy PC. Bên ngoài ban-công một con bồ câu đáp xuống, thấy bóng nhiều người, lại bay đi.

Ông cảnh sát đưa cô gái xuống phòng căn cước dưới tầng trệt để chụp hình, lăn tay, làm thẻ căn cước tạm. Diễm cũng là dân tị nạn - mệnh danh là‘thế hệ thứ hai.’ Thấy cảnh này, Diễm nhớ lại những câu chuyện gian truân, bi hài mà ‘thế hệ thứ nhất,’ cha mẹ nàng, kể về chuyến vượt biên hai mươi sáu năm về trước, lúc nàng chưa sanh ra. Nhiều người hỏi tại sao phải liều mạng như vậy? Cha mẹ có một câu trả lời khá đặc biệt, tương đối khiêm nhường hơn phần đông - khát khao tìm một mảnh đất có thể lương thiện mà sống. Ông bà đã tìm được một mảnh đất như thế và sanh ra Diễm trên mảnh đất như thế. Diễm thừa hưởng tấm lương thiện như suối nhận nước mạch từ đỉnh núi cao tinh tuyền. Diễm không biết nói dối - gần như. Nói ‘gần như’ là để trừ những lần như mẹ hỏi có bồ chưa nói chưa, bố hỏi mua cái cà-vạt cho bố bao nhiêu nói nửa giá, bạn trai hỏi em giận cái gì, nói không có gì cả...

Ông cảnh sát cầm từng ngón tay của cô gái lăn trên tấm kính đục, khi hình dấu tay hiện rõ nét và đầy đủ trên màn ảnh máy vi tính, với tín hiệu ‘Ready’, ông nhấn bàn đạp. Diễm nhìn những ngón tay thon khá đẹp của cô gái, tự hỏi tại sao cô có thể nói dối một cách tự nhiên như thế. Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da.

Một chiều đầu mùa đông. Trận tuyết đầu tiên trong thành phố khiến đường xá hỗn loạn vì tai nạn xe cộ. Diễm rút trong cặp đi làm ra tờ báo cũ đọc lại, cho qua thời gian trôi rất nhanh mà xe buýt chạy rất chậm, và bụng bắt đầu đoi đói. Tin có nghi vấn ông Arafat chết vì bị đầu độc; tin tuyết lở ở Miền Tây khiến 60 chiếc xe bị kẹt giữa đường; tin cảnh sát bắt được chín người trong một băng ăn cắp toàn người Việt Nam, hoành hành từ nhiều năm trên toàn quốc. Số thiệt hại cho các cửa tiệm lên đến nhiều chục triệu. Các mặt hàng được băng đảng này ưa chuộng là dao cạo Gillette, mỹ phẩm L’Oréal, nhất là thuốc quệt lông mày và tô mắt, có cả dầu cá. Chưa bắt được người đầu sỏ của tổ chức, nhưng trong số những người bị bắt có một người đàn bà tầm trú can dự vào 19 vụ có tang chứng, người này đã có bốn tiền án ăn cắp. Chuông điện thoại reo. Cảnh sát di trú cần Diễm đi thông dịch gấp. Cảnh sát hẹn mang xe đón đường xe buýt để rước Diễm đi ngay. Diễm moi gói bánh mì ăn dở ra ăn; nếu không bị kẹt xe, giờ này nàng đang ăn cơm với cha mẹ ở nhà, mẹ nói hôm nay sẽ làm món canh bí rợ.

Cô cảnh sát di trú mặc thường phục chiều nay sẽ gặp một người đàn bà trong tù để thông báo lệnh trục xuất. Khi người tù xuất hiện trước cửa phòng tiếp khách, Diễm thấy mặt quen quen. Người thiếu phụ nặng nề ngồi xuống ghế bành, một tay đặt lên bụng lớn. Diễm để ý đến sự kiện nhỏ là trong căn phòng bây giờ có ba người đàn bà. Cô cảnh sát tự giới thiệu xong, mỉm cười hỏi cô tù, Diễm dịch lại:
“Cô khỏe không?”
“Khỏe.”
“Bao giờ sanh?”
“Hai tháng nữa.”
Cô hắng giặng:
“Hôm nay tôi đến đây để nói về một việc khác, không liên quan gì tới việc trộm cắp,” cô cảnh sát nói trong khi mở một cái kẹp hồ sơ bằng nhựa trong, lấy ra một tờ giấy. “Tôi đến để báo cho cô biết về lệnh trục xuất.”

Người thiếu phụ mang bầu mặt không biến sắc, bàn tay vẫn để trên bụng, cánh tay kia vẫn để xuôi theo đùi trên ghế da. Cô cảnh sát đưa cho Diễm tờ quyết định của bộ Nội Vụ, bảo dịch miệng cho đương sự.

Diễm dịch xong, đưa tờ giấy cho người con gái tên Vân ký tên. Bây giờ nàng đã nhớ ra đây là cô gái xin tầm trú vào đầu mùa thu. Nàng nhớ ra bàn tay đang đặt trên bụng kia đúng là bàn tay đẹp đặt trên tấm kính mờ để lấy dấu. Bàn tay táy máy trong bốn tháng nay làm điêu đứng các siêu thị và cửa hàng khắp nước. Lại cùng một cảm giác gờm nhớm len vào lòng Diễm.

Cô cảnh sát cất tờ quyết định vào kẹp. Lấy một tờ giấy khác, cầm bút như sẵn sàng ghi chép.
“Xin cô nghe đây,” cô cảnh sát mở đề cho một cuộc thẩm vấn cuối cùng. “Cô không đủ lý do xin tị nạn, cộng thêm việc phạm pháp, cô không có con đường nào khác ngoài đường trở về nơi cô đã ra đi.”
“Thế thì trả tôi về Ðức.”
“Tại sao lại Ðức? Cô đi từ Việt Nam mà!”
“Tôi từ bên Ðức sang...”
“Trong hai lần thẩm vấn trước đây cô nói từ Việt Nam, đi bộ sang Trung Quốc rồi sang Nga. Bây giờ lại nói từ Ðức sang. Lời nào là thật?”
“Cái thai lày của một thằng Ðức.”
“Nhiều lần chúng tôi đã hỏi cha của thai nhi là ai, cô đều nói là không biết.”
“Không biết... thật đấy. Nói chung nà đêm không thấy mặt.”
“Dù cô không biết gì hết, không biết mặt người ngủ chung, không biết mình là ai, không biết cha mẹ là ai, không biết từ đâu tới, chúng tôi vẫn có cách tìm ra cô là ai. Và chúng tôi sẽ liên lạc với tòa đại sứ Việt Nam cấp giấy cho cô về Việt Nam.”
“Lói thật cũng chết, lói dối cũng chết...” người tù nói nhanh, rồi lại vội nói “Chị đừng dịch cho ló nghe nhá!”
“Cô ấy nói gì?” thấy Diễm không dịch câu nói của người đối thoại, cô cảnh sát hỏi.
“Cô ấy đổi ý, không muốn tôi dịch câu vừa nói.”
Cô cảnh sát nhỏ giọng nói với người đàn bà mang thai:
“Xin cô cộng tác với chúng tôi để tiến hành cho sớm việc hồi hương, tránh cho em bé khỏi sanh ra trong tù.”
“Tôi cũng không muốn sanh con trong tù...”
“Vậy tên thật cô là gì? Ðịa chỉ?...”

Người tạm gọi là ‘Vân’ không trả lời. Diễm bỗng thấy nét mặt của Vân mềm ra, như có một lớp sáp vừa tan để lộ cảm giác - khuôn mặt của một con người. Bất cứ tên tuổi cô là gì, đây là một người mẹ. Người mẹ đặt cả hai tay lên bụng, cúi xuống lẩm bẩm:
“Con tôi sinh trong tù à?”

Rồi im lặng. Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận. Diễm nghĩ đến thân phận chính mình - sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp... là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được. Không, không phải cha mẹ chọn. Ðó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ ‘Kho Trời’ đã khóa. Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu không biết, và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.

Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui cũ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ẩm của Vân, chúc may mắn và ai ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt Nam, Diễm ái ngại hỏi:
“Liệu người lương thiện có sống được ở Việt Nam không?”
“Nương thiện nà cái gì?”

Tâm Thanh