Thứ Ba, 11 tháng 11, 2025

Thu Đoàn Tụ



Kỷ niệm 43 năm gia đình đoàn tụ

Thu đến năm xưa vẹn sắc hương
Gia đình rạng rỡ tợ thiên đường
Bao năm ly biệt dâng niềm nhớ
Giây phút xum vầy thỏa nỗi thương
Đất khách muôn người hồn khắc khoải
Quê nhà bao kẻ dạ sầu vương
Vần thơ kỷ niệm ngày đoàn tụ
Hạnh phúc tuyệt vời kiếp gió sương.

Lâm Hoài Vũ
Oct 31 , 2025


Chập Chờn



Tủi hờn bỏ lại sau lưng
Đường tình quanh quất đâu cần trốn ta
Vườn xưa bưởi có còn hoa
Để em ướp tóc mặn mà duyên quê

Áo mây vàng nhuộm bờ đê
Cỏ may quấn quít lối về thực hư
Bao con đường tắt giăng mưa
Lội đồng bắt ốc mò cua ngại gì

Xin đừng giông bão làm chi
Để bàn tay nhỏ không ghi vết hằn
Mây buồn xin chớ che trăng
Để còn được thấy hàm răng ngọc ngà

Chỗ nào cỏ chỗ nào hoa
Chập chờn đom đóm gần xa hẹn hò
Không có sông đâu cần đò
Mà sao lận đận quanh co cả đời

Mai kia hai đứa đi rồi
Còn ai phơi áo trên đồi cỏ non
Tóc tiên gót đỏ môi son
Chỉ còn hạt bụi mỏi mòn lãng quên…


MD.03/16/04
LuânTâm
(Trích trong TuyểnTập Thơ Quốc Gia Hành Chánh,
Cơ Sở Hoài Bảo Quê Hương xuất bản ,CA,USA.2005, tr.150)


Qu'est-Ce Que La Vie? - Cuộc Sống Là Gì Bạn Nhỉ? ( Thái Lan Dịch)


Qu'est-Ce Que La Vie?

- Dostoïevski: C'est l'enfer 

- Picasso: C'est l'art 

- Jésus: C'est l'amour 

- Schopenhauer: La vie oscille, comme un pendule, de la souffrance à l’ennui.

- Épicure: La vie, c'est chercher le plaisir et fuir la douleur, mais dans la modération,

- Sénèque: La vie, ce n'est pas d'attendre que l'orage passe. C’est d’apprendre à danser sous la pluie 

-Marx: La vie n’est qu’une lutte 

- Camus: La vie est absurde, mais il faut tout de même imaginer “Sisyphe heureux”.

-Nietzsche: La vie, c’est d’accepter son destin (Amor fati), de le prendre en main, c’est de tâcher de vivre de telle sorte que tu puisse souhaiter que chaque instant de ta vie, ou chaque journée de ta vie se reproduise éternellement.

- Sartre: La vie, c’est s’engager et prendre ses responsabilités. La vie, c’est ce que tu en fais tous les jours, par tes actes et par tes choix.

- Socrate: La vie n’a pas grand sens si elle n’est pas adossée à un examen de soi

- Héraclite: La vie est un flux perpétuel, un devenir où tout change sans cesse. “On ne se baigne jamais deux fois dans le même fleuve”

- Spinoza: La vie, c’est d’accepter que nous ne sommes pas entièrement libres , mais nous pouvons gagner des degrés de liberté en connaissant les causes qui président à nos actions, et trouver de la joie dans la quête de connaissance de la Nature.

- Leibniz: La vie, c’est d'apprécier le fait que malgré les souffrances ici et là, nous vivons malgré tout dans le meilleur des mondes possibles.

Et pour vous, la vie c'est quoi?.
***
Dịch Bài:

Cuộc Sống Là Gì Bạn Nhỉ? 

- Dostoyevsky: Là địa ngục 

- Picasso: Là nghệ thuật 

- Chúa Giêsu: Là tình yêu 

- Schopenhauer: Cuộc đời dao động như cái đồng hồ quả lắc, từ đau khổ đến buồn chán.

- Epicure: Cuộc sống là tìm kiếm niềm vui và trốn tránh nỗi đau, nhưng trong sự chừng mực,

- Seneca: Cuộc sống không phải là chờ đợi cơn bão đi qua. Mà là học cách khiêu vũ dưới mưa

- Marx: Cuộc sống chỉ là một cuộc đấu tranh 

- Camus: Cuộc đời thật phi lý, nhưng chúng ta vẫn phải tưởng tượng “Sisyphus hạnh phúc”.

Trong thần thoại Hy Lạp, Sisyphus hoặc Sisyphos (/ˈsɪsɪfəs/; Hy Lạp cổ đại: Σίσυφος Sísyphos) là vị vua của Ephyra (nay là Corinth). Ông đã bị trừng phạt vì sự xảo quyệt và gian dối của bản thân bằng cách buộc phải lăn một tảng đá khổng lồ lên đồi. Tảng đá này sẽ tự lăn xuống mỗi khi nó gần đến đỉnh, bắt Sisyphus phải lặp lại việc lăn đá cho đến muôn đời. Qua ảnh hưởng cổ điển về văn hóa hiện đại, công việc mà vừa mất thời gian vừa vô ích do đó được mô tả như sisyphean (/sɪsɪˈfiːən/) trong văn hóa phương Tây.

-Nietzsche: Cuộc sống là chấp nhận số mệnh của mình (Amor fati), giữ nó trong tay-

(Love of Fate) – Phương thức hàn gắn sự bình yên trong thực tại - nhận trách nhiệm, là cố gắng sống sao cho bạn có thể ước rằng mọi khoảnh khắc trong cuộc đời, hay mỗi ngày trong cuộc đời bạn đều được tái tạo mãi mãi .

- Sartre: Cuộc sống là sự cam kết và chịu trách nhiệm. Cuộc sống là những gì bạn tạo ra mỗi ngày, thông qua hành động và lựa chọn của bạn.
(Sartre cho rằng, trong đời mỗi người, chúng ta không ngừng phát hiện và phân tích chính mình)

- Heraclitus: Cuộc sống là một dòng chảy không ngừng, một sự trở thành ở một nơi mà mọi thứ không ngừng thay đổi. “Bạn không bao giờ bơi hai lần ở cùng một dòng sông”

Câu đầy đủ là "Không ai tắm 2 lần trên 1 dòng sông, bởi lẽ dòng sông nay không phải là dòng sông trước và con người nay không phải là con người trước".

Heraclitus cho rằng mọi thứ luôn ở trong trạng biến đổi, vận động không ngừng như dòng sông nó không thể bị hạn chế và luôn luôn chảy. Cũng chính vì thế không bao giờ có hai dòng sông giống nhau cả, thời gian trôi qua đi dòng nước cũng liên tục chảy, liên tục đổi thay, nước có thể ngày hôm qua nó cao, ngày hôm nay nó thấp, ngay cả những con cá, những sinh vật cũng không ở yên một chỗ, chúng có thể bơi từ bờ này sang bờ bên kia vậy. Và con người khi đứng trên dòng sông đó ở khoảnh khắc lần thứ hai không thể giống với khoảnh khắc khi đứng trên dòng sông lần thứ nhất được vì cảm xúc, ý niệm của họ lần thứ hai khác hoàn toàn với lần thứ nhất vậy.

- Socrates: Cuộc sống sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không được hỗ trợ bởi sự tự xét, sự tự vấn lương tâm

- Spinoza: Cuộc sống là chấp nhận rằng chúng ta không hoàn toàn tự do , nhưng chúng ta có thể đạt được mức độ tự do bằng cách biết những nguyên nhân chi phối hành động của mình và tìm thấy niềm vui trong hành trình tìm kiếm kiến thức về Thiên nhiên.

- Leibniz: Cuộc sống là trân trọng sự thật rằng dù đau khổ chỗ này hay chỗ kia, chúng ta vẫn sống trong thế giới tốt đẹp nhất có thể.

Còn bạn thì sao, cuộc sống đối với bạn là gì?

Thái Lan sưu tầm & Dịch

Người Chết Trở Về


Buổi tối bà Lịch thắp mấy nén nhang lên bàn thờ Liên như thường lệ, nhìn gương mặt con gái mờ mờ trong hương khói nỗi đau buồn ân hận dày vò bà không nguôi, cả một năm nay bà không biết làm gì hơn là thắp nhang cầu khấn con gái tha thứ và yên nghỉ.

Mấy tháng đầu sau khi Liên đi vượt biên vợ chồng bà Lịch đã trông chờ tin tức mỏi mòn nhưng niềm hi vọng cuối cùng như ngọn đèn dầu le lói cũng vụt tắt. Bà Lịch đã lấy ngày Liên rời khỏi nhà làm ngày giỗ Liên, đã được một giỗ rồi.

Bà Lịch héo hon thờ thẫn sống như một bóng ma trong nhà mình, nhiều đêm bà ngủ mơ thấy Liên gõ cửa trở về nhà mặt mày tái mét tóc tai rũ rượi ướt sũng nước từ đầu đến chân như vừa mới được vớt lên từ lòng biển. Liên chỉ nhìn mẹ bằng ánh mắt buồn bã không nói năng gì, những cơn ác mộng này luôn ám ảnh bà Lịch làm bà thường xuyên mất ngủ. Thỉnh thoảng bà thừ người lẩm bẩm một mình:”Ông Lịch nói đúng, giá mà ta đừng nài ép con đi vượt biên, ở nhà lấy chồng thì giờ đây ta đâu có khốn khổ thế này”.

Thấy tinh thần vợ suy sụp ông Lịch đưa vợ đi bác sĩ thì bác sĩ bảo tâm bệnh kê vài món thuốc an thần cho dễ ngủ, để chắc ăn thêm ông Lịch nghe theo lời khuyên của bà con họ hàng đưa vợ đến am một bà thày nổi tiếng ở Hòa Hưng để bà ta trừ tà diệt vong, Liên sẽ không hiện về nữa. Thế là mỗi tối bà Lịch thắp nhang khấn vái Liên cho thêm hiệu nghiệm.

Liên có người yêu là Minh đang học đại học sư phạm năm cuối, còn Liên thi rớt đại học và khó xin được việc làm vì lý lịch trước kia cha làm việc cho Mỹ. Thời buổi bao cấp xã hội chủ nghĩa cuộc sống khó khăn, Liên ngày ngày đạp xe từ nhà đến chợ Tân Bình phụ cô ruột mua bán hàng chợ trời chờ ngày Minh ra trường có công việc ổn định hai người sẽ tính tới chuyện hôn nhân.

Bà Lịch không ủng hộ chuyện tình này, một đứa lương nhà giáo chẳng là bao, đứa kia bán buôn chợ trời bữa đực bữa cái lấy nhau ở Việt Nam vừa đói khổ vừa bị kỳ thị lý lịch tương lai tối thui như đêm ba mươi. Khoảng những năm 1980 người ta đi vượt biển như đi chợ, cứ thấy nhà nào có người vắng mặt là tháng sau nghe tin có điện tín đánh về báo tin đã tới đảo nọ đảo kia làm bà Lịch sốt cả ruột. Nhà có hai đứa con bà ước mơ chúng đi tìm tự do xứ người, ăn học đổi đời. Bà Lịch đã tìm được một chỗ vượt biên cho anh em Liên, nhưng Liên vì tình yêu Minh nên cương quyết không chịu đi, thế là chuyến vượt biên ấy chỉ mình anh Luân đi đã thành công, bà Lịch tiếc rẻ Liên đã bỏ lỡ vận may, đã đay nghiến Liên biết bao nhiêu. Liên cảm thấy mình có lỗi khi không nghe lời mẹ nên sau đó bà Lịch tìm được mối đi nào Liên cũng nghe theo cho vừa lòng mẹ. Nhưng 2 lần đi đều không thành công, chưa bước chân xuống tàu đã bể chuyện trở về, may là chưa bị bắt vào tù.

Bà Lịch chưa ngán vẫn quyết chí cho Liên đi vượt biên tiếp. Đúng lúc này gia đình Ngà bạn thân của Liên đang tổ chức vượt biển cho toàn gia đình, Ngà rủ Liên đi, chỉ cần đóng góp trước 1 cây vàng và chờ ngày xuống tàu.

Bà Lịch biết Ngà bạn thân từ thời trung học của Liên từng đến nhà mấy lần, chỗ quen biết tin cậy, giá rẻ, lại thấy con gái ngoan ngoãn chịu đi nên bà Lịch đồng ý góp ngay 1 cây vàng.

Liên chưa đi mà bà Lịch đã cẩn thận cầu nguyện ngày đêm, Bà nói:
- Má cầu nguyện cho tới khi con tới đảo thì má mới yên tâm.
Ông Lịch bắt bẻ:
- Đảo nào? Đảo …Phú Quốc hả? nhiều tàu vượt biên bị bắt ở đảo Phú Quốc lắm đó. Chuyến này nếu Liên đi không thành công coi như quá tam ba bận thì chấm dứt luôn ở nhà lấy chồng.
Bà Lịch gắt chồng:
- Ông đừng nói xui xẻo, chuyện nghiêm trọng mà ông cũng đùa được. Dĩ nhiên tôi cầu cho con tới đảo Mã Lai, đảo Indonesia hay đảo Thái Lan chứ.

Ông Lịch về phe con gái, Liên và Minh lấy nhau họ sẽ tự biết bươn chải trong cuộc sống, giàu nghèo no đói có nhau. Chuyện vượt biên không phải lúc nào cũng may mắn, lỡ có bề gì thì ân hận suốt đời, nhưng bà Lịch đã khăng khăng làm theo ý mình, bà có lý luận của bà sống chết có số, vượt biển thành công thì tương lai đời Liên và đời con cháu tốt đẹp hơn.
Ông Lịch chỉ biết thở dài:
- Tội nghiệp hai trẻ bị bà chia rẽ tình yêu..
- Tôi cũng thương hai đứa lắm chứ nhưng đành phải thế thôi. Nếu nhà mình có nhiều tiền thì tôi và ông cũng vượt biên luôn nói chi con mình.
Đến hẹn Liên đã khăn gói đi chuyến xe đò đến Cần Thơ, một tuần sau Liên gởi thư báo tin ngày mai sẽ xuống tàu, ba má cứ yên tâm chờ nếu không nghe tin gì thêm có nghĩa là con đang ngoài khơi rồi.

Vậy mà ông bà Lịch đã không nghe thêm bất cứ tin tức gì của Liên suốt một năm nay. Bà Lịch chỉ biết Ngà học hành ở Sài Gòn chứ nào biết quê quán nhà cửa Ngà ở đâu tận Cần Thơ, hơn nữa cả nhà Ngà cũng đi chuyến tàu này. Biết hỏi ai?
………..
Thắp nhang khấn vái xong bà Lịch đợi nhang tàn mới vào giường ngủ, đã 11 giờ tối ông Lịch đang ngủ say từ lúc nào. Bà khép mắt cố dỗ giấc ngủ bình thường, hi vọng không gặp ác mộng. Đêm im ắng bà Lịch đang chập chờn thiu thiu ngủ bỗng có tiếng gõ cửa nhè nhẹ như sợ làm lay động hàng xóm láng giềng chỉ để cho một mình bà nghe thấy, tiếng gõ cửa từ nơi xa xăm nào vọng về rồi Liên sẽ hiện ra đứng lù lù nơi cửa, tóc tai bù xù và người ướt sũng nước như nhiều lần bà đã mơ thấy. Bà hoảng sợ chùm chăn che kín đầu rồi thều thào lay gọi chồng:
- Ông ơi…ông ơi..
Giọng ông Lịch ngái ngủ:
- Gì thế?
- Trời ơi…có tiếng gõ cửa…con Liên lại hiện về…
Ông Lịch vừa ngủ vừa lải nhải:
- Thế bà thắp nhang chưa? Nhang tàn là vong đi theo nhang, Liên không hiện về đâu. Bà thày Hòa Hưng đã bảo đảm thế mà.
Nhưng tiếng gõ cửa lại tiếp tục nhè nhẹ bên ngoài lần này ông Lịch lắng nghe và tỉnh ngủ :
- Có tiếng gõ cửa thật, chắc là hàng xóm cần chuyện gì ?
Rồi ông trấn an bà:
- Tiếng gõ cửa thực tế chứ không phải trong những cơn ác mộng hay trong hoang tưởng của bà. Để tôi ra xem.
Bà Lịch túm áo chồng:
- Tôi ra với ông, nằm đây một mình tôi sợ lắm.

Hai vợ chồng cùng bước ra phòng khách và bật đèn sáng chưng khắp nhà thì đố ma nào dám bước vào nhà, khi tiếng gõ cửa lại vang lên ông Lịch hỏi ai đấy, giọng trả lời nghe không rõ nhưng quen quen, ông liền mở cửa, bất ngờ và kinh hãi khi thấy Liên đang sừng sững đứng trước mặt họ, đôi mắt sáng lấp lánh trong ánh đèn nhà hắt ra, nhìn ông bà Lịch mỉm cười. Bà Lịch sợ hãi kêu rú lên, suýt ngất trong tay chồng:
- Ôi…con Liên lại hiện về…!
Ông Lịch vội đỡ cho bà khỏi ngã dù ông cũng kinh hoàng không thua gì vợ, ông đứng chôn chân tại chỗ và cứng họng không thốt nên lời. Bà Lịch hi hí mắt nhìn Liên và ú ớ:
- Liên là …ma đấy, ông nhìn kỹ xem ….nếu hai chân nó lơ lửng không chạm đất thì đúng là ma…
Liên dậm hai chân thình thịch trên nền nhà:
- Con là Liên bằng xương bằng thịt đây mà, con không chết, con không là ma. Ba má yên tâm đi.
Bây giờ ông Lịch mới tỉnh người, mở miệng hỏi:
- Liên còn sống sót hả con? cả một năm qua ba má chẳng nghe tin tức gì của con.
Bà Lịch thấy Liên ăn mặc chỉnh tề khác hẳn trong những cơn ác mộng thì bớt sợ hỏi tiếp:
- Con bị bắt ở đảo Phú Quốc hay bị cướp biển mang ra đảo hoang mới trốn được về nhà hả? Lời ông Lịch nói đùa đã mang cái xui xẻo vào con rồi sao.

Liên vào nhà, đợi cha mẹ bình tâm, bên cạnh sự mừng vui tột cùng của cha mẹ, Liên thong thả kể lại từ đầu là nàng và Minh yêu nhau tha thiết, đâu có chuyện Liên dễ dàng nghe theo lời mẹ đi vượt biên 3 lần như vậy. Hai lần đi theo mối của mẹ, Liên đã 2 lần cố tình đến trễ và đến sai điểm hẹn, chưa thấy mặt mũi tàu bè sông rạch gì cả. May quá cả 2 chuyến ấy đều vỡ lở không thành nên bà Lịch chẳng hề nghi ngờ. Biết không thể “lừa” mẹ mãi được Liên đã sáng tác ra kịch bản đi theo gia đình Ngà. Ngà là người bạn có thật Liên chỉ mượn tên Ngà để tạo niềm tin cậy với mẹ và Liên cũng “mượn ” 1 cây vàng của mẹ làm vốn về Cần Thơ sống với Minh. Sau khi ra trường Minh đã được phân bổ về đấy.

Đợi 1 năm cha mẹ đã thấm mùi khổ đau tưởng Liên đã chết ngoài biển khơi, nàng về trình diện cha mẹ trong niềm vui to lớn tái sinh bất ngờ này chắc sẽ được cha mẹ tha thứ..

Bà Lịch vui sướng khi con mình còn sống nhưng vẫn hờn mát:
- Sao con không đợi một hai năm nữa mới về rồi ra mộ của má mà xin lỗi.
Ông Lịch thì thực tế:
- Ngày mai ba dắt con ra ủy ban phường trình diện “đòi” lại hộ khẩu mà họ đã cắt kể từ khi con đi vượt biên. Rằng con gái tôi không hề đi vượt biên, nó “mê trai” bỏ nhà đi theo tiếng gọi của tình yêu.
Liên đồng ý ngay:
- Con có những giấy tờ chứng minh đã sống và làm việc ở Cần Thơ trong năm qua. Họ sẽ tin.
Bà Lịch thêm vào:
- Nếu họ cố tình làm khó dễ thì mình sẽ làm thủ tục “Đầu tiên. Tiền đâu” là xong ngay.
Ông Lịch vui như pháo tết:
- Rồi con bàn với thằng Minh để ba má tổ chức đám cưới cho hai đứa hiên ngang dưới ánh mặt trời sau một năm chốn chui trốn nhủi ở xứ Cần Thơ nghe con.
- Dạ, chúng con cũng đã nghĩ đến điều này rồi, ba má anh Minh sẽ tới gặp sui gia chứ. Cám ơn ba má.
Bà Lịch ra chỗ bàn thờ lấy mấy cây nhang ông Lịch la lên:
- Con nó còn sống về nhà bà còn thắp nhang chi nữa?
Bà hớn hở trách ông:
- Tôi hạ hình nó xuống không thờ cúng nữa và thắp nhang cảm tạ trời Phật mừng con trở về bộ không được sao.
................

Hiện nay ông bà Lịch và gia đình vợ chồng Liên- Minh đều sống ở Mỹ do anh Luân của Liên bảo lãnh, tuy kẻ trước người sau, tuy chậm tuy muộn nhưng cuối cùng cả đại gia đình đoàn tụ. Bà Lịch và Liên đều vui vẻ hạnh phúc ai cũng đạt được ước mơ của mình.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( Oct. 01, 2025)

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2025

Chiều Tàn


Chiều ở đâu cũng buồn man mát ( Hawaii, HB hay Yokohama) khi ánh dương từ từ chìm cuối chân trời

Hãn Nguyễn

Chiều Thu Ấy


Thuyền ai cập bến trên sông vắng
Cạnh đám lục bình tim tím hoa
Ánh mắt xa xăm người thiếu phụ
Nhìn trời hiu quạnh nhớ người ta

Man mác buồn ơi thiếu phụ buồn
Lưng chừng nỗi nhớ lệ mưa tuôn
Nhen tình sưởi ấm hồn băng giá
Con nước xuôi chưa trở lại nguồn

Hoa rụng ven sông trắng bạc lòng
Ngồi đây nói chuyện với hư không
Con đò tách bến chiều thu ấy
Nhưng đã yêu rồi một lỡ mong

Kim Phượng

Ai! Lá Tình Thu

  

Xin kéo thời gian thu chậm qua
Cho đêm mê mải ngắm trăng già
Vương hồn hoang lạc tình năm cũ
Ôm giữ trọn đời tóc điểm pha

Ai lá tình thu! Chợt vương sang
Nâng niu ấp ủ nắng ươm vàng
Cho vào túi áo bên ngực trái
Tựa vào tim phải khẽ yêu ai!

Kim Oanh

Mơ


Anh ngược xuôi sông biển

Giữa trời nước mênh mông
Chờ Em cơn mưa hạ
Cho đời bớt oi nồng!

Mong Em dòng sông xanh
Anh thuyền đang vào bến
Sông thuyền vui hạnh ngộ
Hạnh phúc mãi ngàn năm!

Hàn Thiên Lương 



Trùng Dương Tịch Thượng Phú Bạch Cúc 重陽蓆上賦白菊 - Bạch Cư Dị (Trung Đường)


Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.
Khéo vô cùng!

Nguyên tác           Dịch âm

重陽蓆上賦白菊 Trùng Dương Tịch Thượng Phú Bạch Cúc

滿園花菊鬱金黃 Mãn viên hoa cúc uất kim hoàng,
中有孤叢色白霜 Trung hữu cô tùng sắc bạch sương.
還似今朝歌舞席 Hoàn tự kim triêu ca tửu tịch,
白頭翁入少年場 Bạch đầu ông nhập thiếu niên trường.

Dịch thơ

Vịnh Hoa Cúc Trắng Trong Bữa Tiệc Mừng Ngày Trùng Dương

Khắp vườn hoa cúc ửng vàng anh
Duy một cây kia sắc trắng tinh
Giống hệt sáng nay mừng tiệc rượu
Bạc đầu chen giữa đám đầu xanh

Lời bàn:

Bài thơ dùng hai loại cúc vàng và trắng để mô tả hai lứa tuổi chênh lệch nhau qúa xa. Một vườn đầy những cây cúc vàng tươi tiêu biểu cho lứa thiếu niên căng nhựa sống. Một cây đơn độc có sắc trắng của sương, tượng trưng cho một cụ già quắc thước còn yêu đời.

Bạch Cư Dị dùng cảnh cây tùng trắng chen giữa đám cúc vàng để vịnh bữa tiệc mừng thượng thọ của mình trong buổi sáng ngày tết Trùng Dương. Tết Trùng Dương là tết chúc thượng thọ, được tổ chức hàng năm vào ngày 9 tháng 9 cho nên còn được gọi là tết Song Cửu. Quan khách của bữa tiệc này gồm một đàn thiếu niên tóc xanh vây quanh một cụ gìà tóc bạc.
Nét tươi đẹp của hai lứa tuổi được tả bằng màu vàng và màu trắng của hai loại cây. Niềm hạnh phúc của đại gia đình thì được tả bằng rượu, thịt, hát ca. Nét già nua được giấu rất kỹ trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt này.
Rất trang trọng. Rất hữu tình. Rất ngoạn mục.

Con Cò
***
Trong Tiệc Mừng Ngày Trùng Dương Vịnh Hoa Cúc.

Trong vườn kim cúc nở đầy hoa,
Một cụm lẻ loi sắc trắng pha.
Giống sáng nay trên bàn tiệc rượu,
Giữa đoàn trẻ tuổi lẫn ông già.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Nov. 1/2025.

Trùng Dương Hoa Cúc Tắng

Hoa cúc vườn sau ánh nghệ vàng
Bên trong một khóm sắc như sương
Khác gì ban sáng tiệc ca hát
Tóc bạc mình ên, đám trẻ nhường!

Đầy vườn cúc, trổ hoa vàng nghệ
Giữa đám cây, chòm lẻ trắng ngà
Như ban sáng, chiếu tiệc ca
Thanh niên một đám, lão già mình ên!

Lộc Bắc
Oct25
***
Ở Bàn Tiệc, Vịnh Cúc Ngày Trùng Dương

Cúc vàng, vàng nghệ nở đầy vườn
Chen lẫn một chùm trắng tựa sương
Cũng giống tiệc bày mừng tuổi thọ
Lão già giữa đám trẻ kiên cường

Thanh Vân
***
Góp Ý Cho Bài Trùng Dương Tịch Thượng Phú Bạch Cúc Của Bạch Cư Dị

Đây là một bài thơ có ý lạ, chỉ thấy trong sách của Chi Điền, dịch theo thể lục bát, câu cuối là lạc trong đám trẻ sương pha mái đầu, tuy hay, nhưng không rõ nghĩa.

Lê Nguyễn Lưu: giữa đám thanh niên một lão già.
Trương Nam Hương : lọt ông đầu bạc giữa bầy tóc xanh.
Trương Việt Linh : một ông già giữa đám thanh niên.

Mấy câu sau này rõ nghĩa hơn, nhưng tùy mấy câu trên, và tùy vần. Dịch câu này khó lắm, Bát Sách cũng bị lấn cấn.

Nếu để ý thì thấy chữ TỊCH ở tựa đề, và chữ tịch ở câu 3 viết khác nhau, nhưng cùng nghĩa: cái chiếu, nơi ngồi ăn uống, nơi tụ họp, dựa vào, chức vụ như chủ tịch, họ người.

Tùng là tụ tập đông đảo, nhiều, cây cối rậm rạp, khóm hay chòm cây, nhỏ, khéo léo, họ người.

Anh Giám đã tìm tòi, tra cứu thật kỹ, đọc thích lắm, nhưng không giúp gì cho việc hiểu bài thơ và dịch ra tiếng Việt.

Đây là bài dịch của Bát Sách:

Vịnh Hoa Cúc Trắng Trong Tiết Trùng Dương  

Hoa cúc vàng tươi nở đầy vườn,
Trong có chòm côi trắng tựa sương,
Như tiệc sáng nay cùng múa, hát
Một ông đầu bạc lạc môi trường.

Bát Sách.
(Ngày 04/11/ 2025)
***
Nguyên tác:            Phiên âm:

重陽席上賦白菊 Trùng Dương Tịch Thượng Phú Bạch Cúc
白居易 Bạch Cư Dị

滿園花菊郁金黃 Mãn viên hoa cúc uất kim hoàng
中有孤叢色似霜 Trung hữu cô tùng sắc tự sương
還似今朝歌酒席 Hoàn tự kim triêu ca tửu tịch
白頭翁入少年場 Bạch đầu ông nhập thiếu niên trường

Ghi chú:

Trùng Dương: lễ hội ngày mùng chín tháng chín âm lịch

Uất kim hoàng: tên một loài hoa, còn được gọi là kim quế, rễ cho củ làm bột nghệ, được sử dụng ở đây để so sánh hoa cúc vàng với màu vàng của nghệ hơn là với hoa uất kim
Cô tùng: một cụm hoa đơn độc.
Bạch Đầu Ông: ông lão tóc bạc, nhà thơ tự xưng

Dịch nghĩa:

Vịnh Cúc Trắng Ngày Trùng Dương Trên Bàn Tiệc

Hoa cúc đầy vườn vàng như nghệ
Giữa có một chùm lẻ loi màu trắng như sương
Cũng giống như sáng nay trong bàn tiệc
Có một ông già đầu bạc ngồi giữa đám tuổi trẻ tóc đen.

Reciting a Poem on White Chrysanthemum at a Banquet on Zhong Yang Day by Bai Ju Yi

The garden is filled with chrysanthemums, yellow as turmeric
In the middle, a lone plant shows its foggy white color.
Similarly, at a banquet this morning,
A white hair old man sits among the black hair teens.

Dịch thơ:

Vịnh Cúc Trắng Ngày Trùng Dương Trên Bàn Tiệc

Cúc vàng như nghệ đầy vườn hoa
Một cụm lẻ loi sắc trắng ngà
Tại tiệc hôm nay cũng thế đấy
Giữa đàn trai trẻ một ông già.

Phí Minh Tâm

Góp ý:

Góp ý cho các từ 鬱=uất và 叢=tùng

Từ tạo ra theo lối hội ý cho âm uất, với nghĩa buồn rầu, đã hiện diện trong thời giáp cốt văn và vẽ hình một người phủ phục giữa một lô (2-4) cây, hàm ý người đi lạc giữa rừng thì phải ... buồn. Một nghĩa nguyên thủy khác là cây cành rậm rạp trong rừng. Dĩ nhiên lối viết này không dính dáng gì với tên Hán-Việt cổ của cây nghệ, một loài gừng (薑=khương) Loài nghệ có một gốc ở bắc Hoa Lục nhưng hình như lối viết sau này cho nghệ chỉ bắt đầu từ thời tiểu triện vì không phản ảnh trong các chữ kim văn.


Dù lối viết đó vẫn còn hiện diện trong kim văn (hình 6) người đời sau không thấy rừng cây mà lại nghĩ rằng đây là hình vẽ một người to lớn (chữ 大=đại) đạp một người quỳ dưới đất và người kia ... buồn! Qua thời tiểu triện (hình 7, 8) chữ đại bị biến thể thành 缶=phẫu, và các bộ 鬯=sưởng, 彡=sam được thêm vào. Phẫu là chum, vò và sưởng là rượu nếp thơm nên quá trình tạo chữ viết này cho ta biết là người Hoa Lục ướp nghệ vào rượu từ hơn 2000 năm trước. Thật sự ra, thuở ban đầu chữ viết cho nghệ (Curcuma sp.) không phải là 鬱 mà là 𩰪 và ta có thể thấy rằng phần dưới của hai chữ giống nhau (bộ 鬯 và 彡), và điều này gợi ý rằng người tạo chữ tiểu triện cho uất mượn phần dưới chữ 𩰪; sau đó, lối viết 鬱 với hai bộ mộc chiếm chổ lối viết cũ, theo lối giả tá.

Và một nghĩa nữa của 鬱 là địa danh Uất, tên của một ấp phong cho một đại phu nước Ngô; hậu duệ dòng đại phu đó lấy họ Uất. Rất có thể rằng địa danh này là nguồn gốc của tên uất cho cây nghệ vì sử liệu nói người Uất ướp rượu nghệ và dùng làm cống phẩm (遠方𩰪人所貢=viễn phương Uất nhân sở cống).


[các chữ Hán trong trích văn từ một bản dịch cuốn Bổn Thảo Cương Mục trên là ‘uất kim’ và ‘sưởng’]

Curcuma longa là uất kim (không có cả từ hương trong tên), thời bây giờ dùng tên 薑黃=khương hoàng - nghĩa gừng vàng trong tiếng Việt. Nếu ta hiểu uất kim hoàng là tên của một loài hoa thì câu đầu (滿園花菊鬱金黃 mãn viên hoa cúc uất kim hoàng) phải dịch là "hoa cúc và (hoa) nghệ vàng nở đầy vườn"!

Phải chăng nghĩa “buồn” của một từ đồng âm cho tên (cây) nghệ 鬱金 phản ảnh tâm tình thi nhân họ Bạch giữa tiệc rượu khi thấy mình là một thân già tóc bạc đơn côi giữa đám thiếu niên tươi vui?

Huỳnh Kim Giám


Mùa Thu Đi Xem Lá Vàng


MUA THU ĐI XEM LÁ VÀNG

Mùa hè nóng nực đã qua, mùa Thu đến mang theo thời tiết ôn hòa mát mẻ khắp nơi. Tuy nhiên khí hậu các tiểu bang Hoa Kỳ không hoàn toàn giống nhau. Có nơi lạnh, lá cây thay màu từ xanh thành vàng cam hay đỏ. Nơi nào lạnh ít lá hãy còn xanh. Lá cây trên vùng núi thay màu sớm hơn ở các đô thị. Vùng Fairfax, Virginia lá hãy còn xanh và Canada phần lớn lá đã thay màu. Các bạn bàn nhau từ mấy tháng trước, rủ đi Canada bằng du thuyền xem lá vàng, thật ra là để đổi không khí trong 10 ngày . Cả năm qua các bạn chưa đi xa. Trước kia khi nghỉ hưu các bạn thường đi viếng thăm nơi này nơi nọ bằng du thuyền, không đi đường bộ vì ngại chờ đợi ở phi trường đông đảo. Là những người cao niên, họp mặt được lúc nào thì vui lúc ấy. Chẳng biết ai sẽ ra đi trước và không bao giờ trở lại chỉ để thương nhớ cho người thân. Điều đó bình thường như lá vàng rơi rụng vào mùa Thu.

Chúng tôi chọn chiếc Vision of the Seas có bến cảng ở Baltimore, Maryland cho gần nhà, khoảng hơn 1gio lái xe, khỏi chờ đợi phi trường.
Các con đưa ra bến cảng là đến giờ check in, không phải chờ đợi lâu lắc. Nhân viên du thuyền toàn những người chuyên nghiệp. Họ làm việc nhanh nhẹn, từ lúc nhận hành lý đến lúc vào trong du thuyền không mất nhiều thì giờ.
Có mấy chục quầy check in và nhân viên đi loanh quanh. Ai cần thì họ giúp như điền vào các phiếu nên chụp ảnh, làm thẻ vào cửa rất nhanh. Có những hàng ghế trong phòng cho khách ngồi chờ bạn bè. Ai lên tàu cũng đến 14g mới được vào phòng vì nhân viên còn làm vệ sinh cho tươm tất, sạch sẽ. Nhóm khách trước rời du thuyền khoảng 10g sáng cùng ngày. Phần lớn khách lên tàu đến thẳng phòng ăn tự chọn (buffet) ở lầu 9 dùng cơm trưa. Sau đó đi loanh quanh nơi này nơi nọ trên tàu chờ đến giờ vào phòng. Vã lại vào phòng sớm hành lý cũng chưa đến.

Đại Cương về tàu VISION of the SEAS:

Chiếc Visions of The Seas ra đời năm 1997, dài 279 mét, cao 59m, có 11 tầng, chứa được 2.416 khách, thủy thủ đoàn gồm765 người. Có rạp hát , hồ bơi, bar rượu, 2 phòng ăn chính ở lầu 4 và 5, phòng ăn tự chọn rộng rãi ở lầu 9, các phòng ăn đặc biệt...
Chúng tôi nghĩ là mình đến sớm nhưng lên lầu 9 mới thấy nhiều người còn đến sớm hơn, các bàn ăn đã đầy khách. Dùng bữa xong xuống phòng sinh hoạt lầu 4 thấy thiên hạ đã ngồi đầy các ghế trong phòng. Họ xem các nghệ sĩ trình diễn văn nghệ hay giải khát bằng nước trái cây hay nước ngọt.

THĂM VIẾNG:

Theo chương trình du khách sẻ viếng 3 nơi: Boston, Maine và Halifax.
Tàu rời bến chạy 3 ngày đêm mới tới Boston. Trời quang , nắng nhẹ nhưng đôi khi có sóng to nhưng tàu lớn nên chúng tôi yên tâm. Biển xanh mênh mông chẳng thấy bờ bến. Thỉnh thoảng thấy vài chiếc tàu to xa xa. Ban đêm chúng tôi ngủ ngon có lẻ nhờ tiếng sóng vỗ đều vào mạn tàu? Nhóm chúng tôi 4 người cao niên. Vợ chồng người bạn ở lại tàu suốt hành trình, không ra khỏi tàu. Anh chị như người đi đổi không khí, không màng viếng cảnh. Thật ra trong tàu ấm áp nhưng ra khỏi tàu thì hơi lạnh, phải mặc áo khoác dày. Tôi và chị bạn lên bờ 2 lần, một lần ở Boston và 1 lần ở Halifax,Canada.

Viếng BOSTON:


Boston là thủ đô của tiểu bang Massachusetts, Hoa kỳ, đông dân, nhiều cao ốc đẹp và tôi liên tưởng đến Nữu Ước. Tôi đã đi Boston 1 lần thăm người người bà con và chỉ đi ngang thị trấn. Nhà ở ngoại ô nên đất rộng, nhà riêng biệt, sân trước trồng cây kiểng, sân sau có hồ nuôi cá koi màu sắc đỏ ,vàng bơi lội. Lần này chị bạn và tôi mua vé Duck Tour của du thuyền xem thành phố trên đường bộ và trên sông. Có nhân viên du thuyền đi theo vì là thua mua của du thuyền. Khách trên xe có lẽ hơn 40 người.
Xe chạy qua các đường chính trong thành phố, xem nhà thờ, các trường Đại Học, nhà hàng ăn uống, công viên...Phần lớn là cao ốc, nhiều lắm. Không thấy biệt thự riêng biệt có vườn hoa, sân cỏ trong thủ đô. Trên đường phố nhiều bộ hành qua lại , công viên cũng đầy người, phần lớn mặc áo ấm màu sắc xanh đỏ vui mắt. Những hàng cây dọc các con đường lá thay màu ,phần lớn vàng hay vàng cam rất đẹp. Trên xe ngoài tài xế còn có thuyết trình viên dùng micro cho biết đại cương về các nơi xe chạy qua. Sau hơn 1g đi qua các thắng cảnh xe chạy thẳng xuống sông. Chiếc xe giờ thành con tàu chạy dọc theo bờ sông xem các kiến trúc hai bên bờ , chui qua cây cầu to, thấy các tàu thuyền đi trên sông hay đậu ở bến. Khách trên xe vỗ tay reo khi chiếc xe xuống nước êm rơ và an toàn. Mọi người trở về bến cảng và hài lòng với cuộc du ngoạn thú vị vừa trên bờ vừa trên dòng sông mặt nước nhấp nhô sóng nhẹ. Ai cũng biếu người thuyết trình chút ít tiền tip. Dù trễ nhưng phòng ăn tự chọn lầu 9 vẫn mở cửa cho nhóm du khách về muộn. Du thuyền rời bến tiếp tục cuộc hành trình khi chúng tôi dùng cơm tối

HALIFAX, Canada:


Nơi viếng thăm của chuyến đi 10 ngày tàu Vision sau cùng là Halifax, Canada. Lần này cô bạn và tôi chỉ lên bến cảng, không vào thành phố. Theo tờ rơi du thuyền cho biết Halifax có nhiều nơi đáng xem như các viện bảo tàng, tòa đô chánh (City Hall),thương xá có nhiều cửa hàng bách hóa, quần áo nữ trang , các công viên, các trường Đại học...nhưng chị em tôi là những người già nên chỉ lên đến cảng mà thôi. Các gian hàng ngay bến cảng cũng nhiều hàng hóa lắm. Nhờ mặc áo ấm nên không thấy lạnh. Ra khỏi cầu cảng là đến gian nhà rộng và dài nơi có nhiều gian hàng bán quần áo, khăn quàng, nữ trang, đồng hồ, ví da, bánh kẹo, rượu, quà kỷ niệm...nhiều lắm. Họ tính tiền Canada nhưng nhận Visa Mỹ. Từ bến cảng nhìn thấy những hàng cây lá đổi màu rất đẹp. Nhìn bên kia đường trong khu vực bến cảng thấy nhà phố khang trang, sạch sẽ, trù phú văn minh... Chị bạn mua nhiều món nơi bến cảng Halifax, các quà lưu niệm... Chị cho biết nếu tính ra tiền Mỹ giá sẽ thấp hơn với giá tiền ghi trên món hàng. Theo chị thích thì mua vì mình đâu có cơ hội trở lại nơi này và con cháu nay đã có việc làm ổn định, không cần phải tiện tặn như mấy chục năm về trước.
Chị em tôi không viếng thăm Maine, chỉ ở lại du thuyền trò chuyện với nhau mà thôi. Ngày vui qua mau, thấm thoát đã 10 ngày. Du thuyền trở về bến cũ, chia tay nhau hẹn ngày gặp lại.
Trong chuyến đi này phần lớn du khách là người trung và cao niên, ít thấy người trẻ tuổi và trẻ em. 
Nghĩ lại chúng tôi có lẻ không giống ai. Người cao niên thường sợ lạnh lại đi Canada. Lúc đi Virginia vùng Fairfax lá cây còn xanh nhưng khi về dọc theo con đường và hàng xóm, vườn nhà lá cây thay màu cam, vàng hay đỏ rất đẹp. Thỉnh thoảng theo làn gió lá rơi nhẹ nhàng như đàn bướm bay lượn . Vài hôm nữa cành cây trở nên trơ trụi và chủ nhà phải quét lá hoặc thuê người dọn dẹp lá khô.

Chúng tôi xa quê hương thấm thoát hơn 40 năm. Chị bạn tôi, một dược sĩ phải đi học lại mới được hành nghề. Chị làm việc đến năm 80 tuổi khi các con bắt nghĩ mới chịu về hưu. Ở Hoa Kỳ còn làm việc được họ vẫn thuê. Vã lại chị quen việc, đi làm có người ra người vào, vui hơn ở nhà thui thủi một với máy vi tính vì chồng chị đã qua đời. Các con chị nhà cao cửa rộng, mời chị về ở chung nhưng chị từ chối, không ở chung với các cô cậu, mất tự do của chúng và của minh, chỉ ở gần mà thôi. Nếu đau ốm sẽ tinh sau.
Về nhà chúng tôi được tin không vui. Các tỉnh miền Trung Việt Nam bị bão lụt tàn phá nặng. Anh chị bạn quê ở cố đô Huế vội vàng liên lạc với bà con. Hai người được họ hàng cho biết nhà trong thành phố tương đối bình an do phần lớn nhà nào có ít nhất 1 tầng lầu, chỉ cần di dời vật dụng lên cao mà thôi. Thương cho đồng bào nghèo ở ngoại ô, nhà lá nền thấp nên bị ngập lụt hay nước cuốn trôi. Có người chết hay bị thương. Dân chài lưới không thể ra khơi và có thể ...đói nếu không được cứu trợ. Anh chị liền gởi tiền về giúp đồng bào bất hạnh. Người viết cũng góp chút ít, mong các nạn nhân sớm trở về mái nhà xưa, tai qua nạn khỏi. Cầu mong cho mưa thuận gió hòa, ai cũng bình an, khỏe mạnh.
Tôi xin chúc các anh chị cùng đi du thuyền và quý vị cao niên nhiều sức khỏe, con ngoan cháu thảo, gia đinh bình an hạnh phúc. Tôi cầu mong các nạn nhân bão lụt sớm ổn định đời sống, đồng bào trong nước và hải ngoại được học hành tử tế, có công việc làm ăn, cơm no áo ấm từ thành thị đến thôn quê.
Cầu xin ơn trên ban phước lành, niềm vui, sức khỏe, hạnh phúc cho mọi người trong nước và ngoại quốc, nhất là các nạn nhân bão lụt nhà cửa bị hư hại, hoang tàn...Xin có mấy câu văn vần tăng quý độc giả:

Bão Lụt Miền Trung

Thu về mát mẻ gió lao xao
Xứ lạnh đi xem lá đổi màu
Đỏ thắm, vàng, cam hay tím nhạt
Phong cảnh thiên nhiên đẹp biết bao
Nhận được tin buồn nơi cố hương
Bão lụt miền Trung thật thảm thương
Nhà cửa hư hao, người đói rét
Cầu mong dân chúng khỏi tai uơng...

Virginia, ngày 4/11/25
Ngọc Hạnh


Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2025

Manh Áo Quê Nghèo - Tác Giả: Yên Lang - Song Ca Kim Trúc&Dũng Trà


Tác Giả: Yên Lang
Song Ca Kim Trúc&Dũng Trà

Tiết Trọng Thu

 

Tiết “Trọng Thu” rồi … em ở đâu?
Về đây xem rừng lá thay mầu,
Bầy nai ngơ ngác, chờ em đó!
Hoa tuyết đầu mùa, tan rất mau.

Hơi lạnh se se làn gió bấc,
Hàng thông phe phảy tiếng lao xao.
Hồ Thu in sắc trời xanh biếc,
Tia nắng ươm mơ ngọn trúc đào.

Lớp lớp lá phong hồng thảm cỏ,
Hồn Thu thao thức ở đâu đây?
Mơ hồ nghe tiếng Thu trong gió.
Bát ngát tình Thu trên bóng mây.

Mùa sắp tàn Thu … em ở đâu?
Quê Hương chỉ một “tiết u sầu”
Tai trời ách nước, buồn thê thảm!
Vàng đã rơi … Thu chết đã lâu !

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

Huế Lũ Lụt


Huế hỡi! Lụt hoài nhìn muốn khóc
Mỗi năm tiếp diễn mãi khôn nguôi
Mưa rơi nước ngập thêm cuồng gió
Bèo dạt đầy đường lạnh lẽo trôi

Quặn thắt miền quê từng đói khổ
Cuộc đời cứ mãi sống lầm than
Rau trồng ruộng cấy đành hư hại
Lặng lẽ buồn đau trước cảnh tàn

Huế hỡi! người dân hiền chịu đựng
Thương quê xót dạ héo trong lòng
Xưa từng nếm trải mùa mưa lụt
Xẻ chút nghĩa tình ý nguyện mong

Bởi vậy vì răng người xứ Huế
Thâm trầm khắc khổ lắng niềm sâu
Cúi đầu chịu đựng qua ngày tháng
Huế hỡi! Người đi …gởi nỗi sầu.

Minh Thúy Thành Nội
Tháng 10/27/2025

Tiếng Gọi Từ Những Hàng Lau Sậy

 
(Ảnh: Từ Tác Giả)

Một ngày chớm thu, những chiếc lá vàng rơi khắp lối, mùa đã ùa về trên từng con phố. Trong không gian vắng lặng, chợt một tiếng kêu thảng thốt vang lên xé nát cả một mảng trời thu. Theo tiếng kêu tôi lần đến. Tim tôi run lên, chân tay bủn rủn khi nhìn thấy em nằm trên vũng máu dưới lằn bánh xe vừa lướt qua.

Ngày ấy, tôi và em tình cờ gặp nhau bên cánh rừng có mặt hồ tĩnh lặng, giữa đám lau sậy hoang sơ, những khóm hoa dại cánh mỏng đẹp tựa một vườn địa đàng nhỏ. Em nổi bật trong màu áo đen mượt, điểm nhẹ chiếc khăn quàng màu trắng, dịu dàng lướt giữa làn nước hư ảo. Em mang vẻ đẹp quyến rũ mong manh. Giờ này, trước mặt tôi, em nằm đó tan nát, đớn đau chìm sâu vào im lặng. Dưới ánh nắng ban mai, nét mặt em nằm nghiêng bất động, vẫn chiếc áo của ngày xưa, chiếc khăn quàng ấy như buổi đầu duyên nợ mình gặp nhau và trở thành bạn hữu. Em đã đi quá xa, không nói một câu từ biệt, khi tôi vẫn đứng đây trong hoài niệm mặc cho nước mắt tuôn chảy thành tràng hoa tiễn biệt em. Tôi vẫn đứng đó, mặc cho dòng thời gian cuộn chảy. Câu chuyện bi thương của em hôm nay gợi dậy một miền ký ức trong tôi. Ngày ấy, tôi là cô bé tròn 6 tuổi cũng từng tiễn đưa một người bạn về nơi cuối trời. Người bạn xưa và em hôm nay đều ra đi từ những đoạn đường khác nhau của cuộc đời. Tiếng kêu cô đơn ấy vẫn vang lên ở cuối đường như định mệnh khắc nghiệt của một kiếp đời.

Tiếng vọng đơn côi ấy, có tôi và hai đứa con của em cùng chia sẻ. Hai đứa bé vùi đầu trong nhau, niềm thổn thức mơ hồ như tiếng khóc. Chúng còn quá bé để nhận biết nỗi bất hạnh vừa giáng xuống cuộc đời mình. Nhìn hai đứa bé mồ côi, lòng tôi se lại như đứt cả ruột gan. Như một linh cảm, mỗi lần thấy tôi từ xa, hai đứa bé cứ chạy đến quấn quýt rối rít bên tôi như hình bóng người mẹ vừa đi xa mới trở về. Nó dúi đầu vào tay tôi cho tôi cảm nhận hơi ấm bé nhỏ lan tỏa từ tấm thân yếu ớt run rẩy đang cần sự che chở của người mẹ. Tôi như nghe cả tiếng nói líu ríu đầy yêu thương, âm thanh mà tôi đã cảm nhận được bằng tất cả trái tim trìu mến của mình.

Từ nơi tôi chôn em vào cái đêm đầy mưa gió, giờ đã mọc lên một khóm hoa dại, nó xanh mát như một sự hồi sinh. Nơi này, giờ đây là chốn đi về của hai đứa bé. Chúng thường đứng bên cạnh nhau, rỉa lông chăm sóc nhau dưới khóm hoa vào những giờ hoàng hôn ối đỏ cuối chân trời. Và từ xa xa, tôi lén dõi mắt nhìn hai đứa bé và tự nhủ lòng “có lẽ, em đã về sưởi ấm những đứa bé côi cút”. Trong bóng chiều, trong đêm, tôi vẫn tin linh hồn em còn lẩn quất đâu đây không thể nào mất đi,nhất là linh hồn của những người mẹ mà nỗi oan khiên và tình yêu con luôn day dứt tâm can. Linh hồn của em là tình yêu thương nối kết từ cõi âm u nào đó, khiến xui hai đứa bé luôn bên nhau, quấn quýt không rời bước. Và từng chiều, từng chiều, khi màu đỏ ối của hoàng hôn nhuộm cả cánh rừng, cả mặt hồ, cũng là lúc hai đứa bé quay về bên khóm hoa dại nương náu, như về trong vòng tay mẹ bao dung.

Thời gian dường phép lạ, rồi hai đứa bé mồ côi đã lớn lên bất chấp những khổ đau. Trong hai đứa, một đứa giống cha, một đứa giống em như đúc. Nhìn chúng, tôi chợt nghĩ “em đã được tái sinh”, đứa con là sự nối tiếp sự vĩnh cửu của tình yêu. Những đứa con côi cút lớn lên trong cuộc đời đầy cạm bẫy nhưng nơi chúng vẫn ngời lên sự thánh thiện, dịu dàng. Chúng luôn biết nhường nhịn, chia sẻ, yêu thương nhau, điều mà những đứa trẻ hạnh phúc chưa chắc đã có được. Tôi vui theo sự trưởng thành của hai đứa bé, yêu thương chúng theo cách mà tôi có được. Và bên cạnh đó là sự ngưỡng mộ vẻ đẹp hình thể cũng như tâm hồn của hai đứa bé như báu vật mà em lưu dấu nơi cuộc đời này.

Trôi theo dòng thời gian, hai đứa bé mồ côi cứ lớn lên mỗi ngày. Còn tôi vẫn dõi theo từng bước chân của chúng đến tận lúc trưởng thành. Nhiều năm tháng đã trôi qua, tôi vẫn giữ thói quen tới ngồi đây dưới ráng chiều, trong cánh rừng xưa, bên mặt hồ hoang vu nhiều lau lách và những khóm hoa dại vẫn cố nở những bông hoa tím li ti. Tiếng kêu thảng thốt của em vẫn xé nát cõi lòng tôi những lúc thu về, hỡi em – nàng vịt xiêm xấu số, người bạn nhỏ của đời tôi. Tiếng kêu ấy là âm thanh vọng về của em, của bạn tôi, có thể là của tôi, của cả thế giới vô thường cho sự hợp tan bèo bọt của kiếp luân hồi. Bên hồ, khóm tường vi mùa này vẫn dịu dàng nở hoa.

Mỹ trí tử

Nobel Prize 2025: Ba Nhà Khoa Học Mary E. Brunkow, Fred Ramsdell, Shimon Sakaguchi Được Vinh Danh


Nobel Y Sinh 2025: Ba Nhà Khoa Học Được Vinh Danh vì khám phá cơ chế tự điều hòa của hệ miễn dịch.

Trong thế giới vi mô của cơ thể người, nơi hàng tỷ tế bào hoạt động âm thầm mỗi giây, có một nguyên tắc bất biến: hệ miễn dịch phải biết kiềm chế chính mình. Một sai lầm nhỏ – khi cơ thể không nhận ra đâu là “ta” và đâu là “địch” – có thể dẫn đến những căn bệnh tự miễn tàn khốc.

Các nhà khoa học Mary E Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi cùng thắng giải Nobel Y sinh 2025.
Trong thế giới vi mô của cơ thể người, nơi hàng tỷ tế bào vận hành âm thầm mỗi giây, có một nguyên tắc sống còn: hệ miễn dịch phải biết tự kiềm chế.
Một phản ứng sai lầm, dù nhỏ nhất, có thể biến “người bảo vệ” thành “kẻ tấn công” chính cơ thể mình.

Năm 2025, giải Nobel Y sinh (Sinh lý học hoặc Y học) đã vinh danh ba nhà khoa học – Mary E. Brunkow và Fred Ramsdell (Mỹ) và Shimon Sakaguchi (Nhật Bản) – vì những phát hiện mang tính nền tảng về cách hệ miễn dịch duy trì sự cân bằng mong manh giữa tấn công và bảo vệ.
“Giữ kỷ luật cho đội quân miễn dịch”
Theo thông báo ngày 6.10.2025 của Viện Karolinska (Stockholm, Thụy Điển),
giải thưởng năm nay “liên quan đến việc làm thế nào con người giữ hệ miễn dịch trong tầm kiểm soát – để có thể chống lại vô số vi sinh vật nhưng vẫn tránh được các bệnh tự miễn.”

Giáo sư Marie Wahren-Herlenius, chuyên ngành thấp khớp học tại Karolinska, nhận định:
“Đây là câu chuyện về cách chúng ta giữ kỷ luật cho một đội quân mạnh mẽ nhưng dễ nổi loạn – hệ miễn dịch.”
Ba nhà khoa học được vinh danh đã xác định một nhóm tế bào đặc biệt mang tên tế bào T điều hòa
(regulatory T cells – hay Treg), hoạt động như “nhân viên an ninh” trong hệ miễn dịch.
Nhiệm vụ của chúng là ngăn chặn các tế bào khác tấn công nhầm vào cơ quan, mô, và tế bào của chính cơ thể.
Từ nghi ngờ đến nền tảng của y học hiện đại.

Năm 1995, Shimon Sakaguchi, lúc đó là giáo sư tại Đại học Kyoto, công bố phát hiện làm thay đổi hiểu biết của giới khoa học: tồn tại một nhóm tế bào miễn dịch có chức năn kiềm hãm phản ứng quá mức của hệ miễn dịch.
Phát hiện này thách thức niềm tin lâu đời rằng “dung nạp miễn dịch” chỉ diễn ra ở tuyến ức – nơi tế bào có khả năng tự tấn công bị loại bỏ.
Sakaguchi chứng minh rằng cơ thể còn có một cơ chế dung nạp ngoại vi, hoạt động như hệ thống giám sát thứ hai.
 

Thí nghiệm tạo cảm hứng cho nhà khoa học Shimon Sakaguchi tiếp tục liên kết các kết quả nghiên cứu.

Đến năm 2001, hai nhà khoa học người Mỹ Mary Brunkow và Fred Ramsdell – trong quá trình nghiên cứu một dòng chuột dễ mắc bệnh tự miễn – phát hiện đột biến trong
gen FOXP3 là nguyên nhân chính.
Đột biến tương tự ở người gây ra hội chứng IPEX, một căn bệnh hiếm và nguy hiểm ở trẻ em.

Hai năm sau, Sakaguchi chứng minh FOXP3 chính là “chìa khóa” điều khiển
sự phát triển của tế bào T điều hòa – hoàn tất bức tranh mà ông đã khởi xướng gần một thập kỷ trước.
Kể từ đó, FOXP3 và tế bào T điều hòa trở thành khái niệm trung tâm trong nghiên cứu miễn dịch học hiện đại.

Một buổi sáng bất ngờ ở Seattle
Theo USA Today, khi Mary Brunkow nhận tin mình đoạt Nobel, bà còn chưa kịp tỉnh giấc – chú chó của bà sủa lên khi thấy phóng viên ảnh đứng trước hiên nhà ở Seattle.

Trong cuộc phỏng vấn ngắn, bà chia sẻ:“Chúng hiếm, nhưng rất mạnh mẽ.
Những tế bào ấy giống như hệ thống phanh giúp ngăn phản ứng miễn dịch vượt quá giới hạn, bảo vệ cơ thể khỏi chính mình.”

Hiện bà Brunkow là Giám đốc Chươngtrình tại Viện Sinh học Hệ thống (Institute for Systems Biology, Seattle); ông Ramsdell là Cố vấn Khoa học tại Sonoma Biotherapeutics (San Francisco), nơi ông đồng sáng lập; còn Sakaguchi đang giảng dạy tại Đại học Osaka, Nhật Bản.

Ba người cùng chia sẻ phần thưởngtrị giá 11 triệu kronor Thụy Điển (khoảng 1,2 triệu USD) và huy chương vàng do Nhà vua Thụy Điển trao tặng.

Từ phòng thí nghiệm đến hàng trăm thử nghiệm lâm sàng
Theo giáo sư Thomas Perlmann, thư ký của Ủy ban Nobel, hơn 200 thử nghiệm lâm sàng trên người hiện đang được tiến hành dựa trên cơ chếtế bào T điều hòa – với mục tiêu điều trị các bệnh như ung thư, viêm ruột mạn tính, lupus, tiểu đường type 1 và nhiều bệnh tự miễn khác.

Dù chưa có liệu pháp nào được phê duyệt chính thức, các kết quả ban đầu rất hứa hẹn, mở ra thế hệ điều trị mới dựa trên điều tiết thay vì tiêu diệt.

Ủy ban Nobel nhận định:
“Những phát hiện này đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới, tạo nền tảng cho các liệu pháp y học tiên tiến – nơi ‘tự kiềm chế’ trở thành chìa khóacủa sự sống còn.”

Từ Nobel đến triết lý của sự cân bằng
Nobel Y Sinh là giải thưởng mở màn cho “mùa Nobel” thường niên, tiếp nối sau đó là các giải về Vật lý, Hóa học,Văn học, Hòa bình và Kinh tế.


Được thành lập từ di chúc của Alfred Nobel, nhà phát minh thuốc nổ, giải thưởng này tôn vinh những đóng góp“mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.”

Trải qua hơn một thế kỷ, từ phát hiện penicillin của Alexander Fleming đến vaccine COVID-19, Nobel Y Sinh luôn phản ánh những bước ngoặt trong lịch sử y học.
Năm nay, phát hiện của Brunkow, Ramsdell và Sakaguchi không chỉ mở rộng hiểu biết về hệ miễn dịch, mà còn chạm tới triết lý phổ quát hơn: sức mạnh thật sự đến từ khả năng biết dừng lại.
Ở cấp độ phân tử, tế bào T điều hòa ngăn hệ miễn dịch tự hủy.
Ở cấp độ con người, đó cũng là lời nhắc: chúng ta cần học cách dung nạp, thay vì chỉ phản kháng.

Trong xã hội nhiều biến động, “dung nạp” có thể chính là cơ chế sống còn – tương tự như cách mà hệ miễn dịch gìn giữ sự toàn vẹn của chính nó.

“Đôi khi, sự sống được duy trì không phải nhờ phản ứng dữ dội, mà nhờ khả năng biết dừng lại đúng lúc.”

Shimon Sakaguchi, 
Giáo sư, Đại học Osaka Japan

Therese Huỳnh Sưu Tầm