Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023

Trò Chơi Cút Bắt


Tôi được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất sài gòn, nơi mà một thời mệnh danh là Hòn ngọc Viễn đông, nói là nói vậy cho oai chứ kỳ thực thời ấy từ thủ đô sài gòn mà đi vào nơi tôi sinh sống cách nhau tròm trèm gần năm cây số, thậm chí đôi lúc từ ngữ trên báo chí ngày xưa trước năm 1975 người ta còn cho nơi đây là vùng ven đô, đất nước nói chung và Sài Gòn nói riêng thời ấy thật thanh bình, cái tình người thắm thiết chan hòa mà quả thật vậy vào những năm 1960 lúc ấy tôi còn là đứa trẻ ăn chưa no lo chưa tới sau những giờ học ở trường thì cả bọn con nít trong xóm tôi xúm xít bên nhau chơi những trò của con trẻ, thời bấy giờ trò chơi chủ yếu là những trò tiêu khiển tốn rất ít tiền như: đánh đáo bằng những đồng tiền loại 5 cắc có in nổi một mặt là Tổng Thống của nền đệ nhất cộng Hòa mặt bên kia là hình bụi tre là biểu tượng quốc huy, còn các đồng xu nhỏ hơn thì có hình cô gái đầu búi tóc thật cao trông thật khỏe mạnh, hoặc chơi trò năm mười mười lăm hai muơi..

Một hôm, sau cái màn tay trắng tay đen, thằng Thành là đứa bị nhắm mắt úp mặt vào tường để cho cuộc chơi được bắt đầu:
- Năm mười, mười lăm, hai mươi ... , một trăm .
Nó xòe bàn tay và vỗ mạnh 3 cái vào vách tường, đồng thời đếm tiếp :
- Một hai ba, đứa nào chạy ra bị bắt ráng chịu .
Trong lúc thằng Thành đang năm mười thì cả bọn chúng tôi túa đi khắp nơi, đứa thì leo lên cây, đứa thì trốn trong chòm mả nơi có những ngôi mộ làm bằng đá ong cũ kỹ . Đứa thì lẫn mình vào mấy bụi tre, nhưng thường thì những bụi tre thì mấy đứa tụi tôi không thích trốn ở đây, vì đơn giản là dễ bị gai của Tre cào gây thương tích, khi tàn cuộc chơi về đến nhà thế nào cũng được ba má cho ăn bánh tét nhưn mây , thét rồi đứa nào cũng né chỗ trốn hắc ám đó hết, nhất là mấy đứa con gái trong xóm không bao giờ chúng bén mảng đến bụi tre, chòm mả do sợ ma, cứ như vậy đó con trai bọn tôi suy ra yếu điểm này nên tìm đến nơi sạch sẽ là xí được các cô nàng liền .

Tôi nhớ hôm đó thằng Cu, con của bà Mười Quán phá lệ, nó chui vào trốn trong bụi tre gai bên vệ đường mà không ai biết, nó nằm im thin thít trốn rất kỹ, cả bọn nhóc tụi tôi đều bị thằng Thành xí hết ráo, chỉ còn lại một mình thằng Cu là chưa thấy tăm hơi của nó đâu cả, bầu trời dần mờ tối những bóng đèn điện vàng vọt bắt đầu bật sáng bên đường, cả bọn lo lắng vô cùng, bỗng tiếng thằng Lập một đứa trong đám bạn nói rú lên:
- Ơi tụi bây ! Có khi nào thằng Cu bị ma giấu không ta? mấy ngày trước tao nghe ba tao nói cái xóm đường đất đỏ của mình có ma đó .
Nghe thằng lập nói đến đây tự dưng tôi thấy mình bị hiện tượng nổi da gà như có một luồng điện chạy tê rần nơi sống lưng, vì câu nói của thằng Lập nó trùng với câu chuyện chú Út tôi kể cho lũ trẻ trong xóm nghèo mỗi khi đêm về, chú kể rằng :
- Mấy đứa bây biết không, hồi đó thời người Pháp còn ở Sài Gòn mình chú cũng còn trẻ, ba của chú nói ngày xưa có bà Tám ngụ tại cái xóm chuồng Trâu, xóm này nằm gần chùa Giác Quang ở chợ Cây Thị, đặc biệt khi trời về khuya chừng khoảng mười giờ thì tiếng rao hàng ngọt ngào của bà Tám vang lên :
- Ai chè đậu đen, bột báng, nước dừa, đường cát trắng hông .

Có hôm bà Tám vừa đặt gánh chè đậu dừng lại nghĩ chân nơi mấy bụi Tre gai ven đưòng, tiếng rao lảnh lót của bà Tám vang lên mọi khi, đứa cháu gái nhỏ đi theo phụ bà Tám bán hàng, nhiệm vụ nó là cầm cái đèn bão loại đèn ngày xưa có bốn mặt kiếng chung quanh , có khi đuợc sơn thêm màu xanh, đỏ vàng lên kiếng để tránh chóa mắt người đi đường .đèn này dùng nhiên liệu là dầu hỏa mà dân miền nam hồi đó gọi là dầu hôi bên trong có sợi tim đèn bằng sợi bông chắc chắn, đèn phát ra ánh sáng vàng rất tiện lợi cho những người nghèo buôn gánh bán bưng như bà Tám, nó còn công dụng chống được những cơn gió lớn mà đèn không bị tắt nên người ta đặt tên cho nó là đèn bão, còn những tiệm quán sang trọng hồi đó thì xài đèn " Măng xông " loại đèn hiện đại của người Pháp du nhập vào Việt Nam, cũng xài bằng dầu hôi, nhưng có thiết kế cái bơm hơi làm tăng áp suất trong bầu đèn, khi đốt đèn thì nhờ áp suất này tim đèn cháy cho ánh sáng trắng khác với đèn dầu Hoa Kỳ một trời một vực.

- Gái Ba! Mầy đem đèn tới đây để dì Tám đảo lại nồi chè để nó khỏi bị khét coi con.
Con Gái Ba làm theo lời bà Tám, khi nắp nồi chè đậu được mở , khói ùa bay lên gió cuốn đi mang cái mùi hấp dẫn của nồi chè len lỏi vào những căn nhà lân cận ven đường, cũng nhờ vậy mà cả cái xóm đường đất đỏ nhỏ bé của chúng tôi là thân chủ hàng đêm của bà Tám .

Vơ cái vá khuấy nhẹ nồi chè, khi ngước nhìn lên thì đâu trước mắt bà Tám xuất hiện gần cả tiểu đội lính " Pặt tê giăng" súng ống đầy đủ, hình như họ đang đi làm nhiệm vụ gì đó, nghe mùi thơm lừng của nồi chè nóng hổi của bà Tám khiến họ không cưỡng lại được, sà xuống vây quanh gánh chè, cả bọn họ nói cười rôm rả vừa đưa miệng húp rồn rột, mới thoáng một chút mà mỗi chú lính thanh toán gọn ba chén chè vô bụng, chú Út còn nói tiếp nghe đâu có ông lính chưa đã thèm, còn lấy cái cà mèn mua thêm mang về đồn để ăn tiếp, ăn uống thỏa thê xong thì một người lính ra dáng là sếp móc tiền trả, ổng còn hào phóng " poa " luôn cho bà Tám phần tiền thay vì phải thối lại cho họ .Nghe đâu nhờ cái " vía " của mấy ông Tây nên chỉ loanh quanh gánh đến đầu đường là nồi chè bán hết sạch . Bà Tám và gái Ba trở về nhà, gái Ba lui cui dọn dẹp rửa ráy chén muỗng còn bà Tám thì ngồi lọm khọm đếm tiền, vừa trút rổ tiền ra " Bộ đi văng " bà Tám thất kinh hồn vía la làng:
- Ma .. Ma bớ người ta có ma, gái Ba ơi..cứu dì ..... với.

Bà Tám kêu được như thế rồi tự nhiên bà thấy hai quai hàm như có ai bóp chặt khiến bà trừng mắt không thốt thêm được lời nào .Nguyên nhân trong số tiền bà vừa trút ra thì gần phân nửa là giấy tiền " vàng bạc " một loại giấy tiền dùng cho người cõi âm do mấy ông ba Tàu ở Chợ Lớn phát hành .

Bà con lối xóm nghe tiếng la của bà Tám thì mọi người tông cửa nhà chạy đến rất đông họ tưởng nhà bà bị trộm cướp viếng thăm . Khi tỉnh hồn lại bà Tám mới kể kể sự tình và đoan chắc rằng tiền âm phủ này là do mấy chú lính khố xanh khố đỏ gì đó đưa cho bà.
Bà tám quả quyết:
- Mấy ông tây này chắc chết trận được chôn phía đồng mả ở cạnh cầu hang xe lửa cũng nên.

Chuyện ma cỏ hư thực thế nào không rõ , nhưng Kể từ đêm sau bà Tám giải nghệ không bán chè đêm nữa, nghe đâu bà con trong xóm cũng buồn buồn vì từ đây không còn nghe tiếng rao hàng thân thương và cái mùi chè đậu đen nước cốt dừa đường cát trắng ngọt ngào thoang thoảng trong đêm nữa rồi, và cũng do ám ảnh cái rổ tiền vàng bạc hôm ấy nên bà Tám dọn nhà đi biệt xứ từ đó ...

Vậy mà đêm ấy, thằng Cu con bà Mười quán nó trốn biệt ở đâu ? mà có ma thật hay không ? giả sử có con ma nào đó hiện ra lúc đó trước mặt chúng tôi thì tôi tin chắc rằng ít ra phải có một vài đứa té xỉu, một ẩn số mà lúc bấy giờ chúng tôi chỉ lò mò đoán già đoán non mà thôi . Con Hồng đứa con gái tham gia trò chơi được chúng tôi cử về nhà thằng Cu để báo hung tin:
- Bà mười ơi ! Anh Cu chơi năm mươi với tụi con không biết ảnh trốn ở đâu tụi con tìm không ra . Tụi con sợ quá nên báo cho bà Mười nè .

Bà Mười hoảng hốt chạy đôn chạy đáo đầu trên xóm dưới để tìm cho ra thằng con quý tử của mình .
Tin thằng Cu mất tích, lời đồn đại nó bị ma giấu gây rúng động cho lũ nhóc trong cái xóm nhỏ này .

Thế là cả xóm, người cầm đèn cầy, kẻ cầm đèn dầu tìm tòi hết mọi nơi cuối cùng cũng thấy nó đang khò khò trong bụi tre gai .Nó mãi trốn cố giấu mình thật kỹ, rồi nằm mơ màng gặp những cơn gió thổi hiu hiu làm cho đôi mắt nó sụp mí hồi nào không hay, đến khi nghe tiếng kêu ầm ĩ của mọi người nó mới lòm còm bò ra khỏi cái bụi Tre gai, bà Mười gặp nó bà mừng rơi nước mắt, nhưng cũng không quên gõ vào mông của nó hai cây roi mây kèm theo lời hăm:
- Còn chơi kiểu này lần nữa là má không cho mày đi chơi nữa, nghe chưa cái thằng kia .
Như biết lỗi, và ân hận đã làm mọi người hốt hoảng vì mình, thằng Cu tha thiết
- Con xin lỗi má, con không dám vậy nữa .
- Hứ chơi bời trốn tìm mà chui vô bụi rậm, ma nó chưa giấu bây thì rắn nó cũng cắn bây có ngày đó mấy con ơi .

Sau lần tai nạn đó bọn tôi thôi không còn chơi trò trốn tìm nữa . Còn nhiều nhiều trò chơi của tuổi thơ yêu dấu nữa như :nhảy lò cò, chơi u, chơi ăn ô quan, thả diều, đá dế, câu cá, chia phe đánh trận như những người lính chống chọi với quân thù, ngày đó trong đám tụi tôi đứa nào phải làm quân địch trong cuộc chiến thì y như rằng đứa nào cũng tiu nghỉu chấp nhận làm phe ác một lần đó thôi, nếu lần sau mà chơi trò đánh trận thì phải đổi phe lại cho công bằng, có mấy cô bác lớn tuổi biết chuyện này đã lên tiếng:
- Mấy đứa nhỏ coi vậy chứ tụi nó cũng biết phân biệt chánh tà lắm nghe, làm phe địch là xấu nên hỗng có đứa nào vui hết trơn hết trọi á .
Cái năm tôi thi đậu vào lớp đệ thất, cả nhà tôi ai cũng mừng rỡ, tháng đó sau khi lãnh lương của hãng xong, để khao tôi có được cái thành quả vừa qua trong học hành, chiều hôm nọ ba nói :
- Chiều nay ba thưởng cho xem phim cầu sông wai hay lắm, con nói thằng Lập, Thằng Kháng, với con Hồng nữa xin phép nhà nó cho đi chung với con luôn .

Nghe ba tôi nói cho mấy đưa bạn cùng đi xem hát bóng với mình tôi mừng ra mặt, mấy đứa ba tôi vừa kể tên cũng đạt kết quả tốt kỳ thi vừa rồi, tôi khẽ cám ơn ba và chạy nhanh đến nhà báo tin vui cho bọn nó, con Hồng mẹ nó đang bệnh nặng, ba nó thì đi chiến trường chưa về, ở nhà còn hai mẹ con hủ hỉ với nhau nên nó không đành lòng tìm niềm vui riêng cho mình .
Gần đến giờ hẹn, con Hồng mới lò dò đến nhà tôi, nghèn nghẹn trong lòng nó nói:
- Mấy anh đi chơi vui vẻ, coi hát xong về kể lại Hồng nghe cũng được mà . Má Hồng trở bệnh nặng, Hồng phải canh chừng má, chứ không thì ....
Con Hồng nói giữa chừng rồi nó ù chạy ngay về nhà .Tôi kịp nhận thoáng qua đôi mắt buồn buồn của Hồng đã đỏ hoe ngấn lệ ...
Ba tôi dẫn chúng tôi lội bộ ra đến đầu ngã ba đường để đón xe, chiều vẫn còn chút nắng, không khí oi nồng, hơi nóng vẫn còn hắt lên từ con đường nhựa nơi chúng tôi đang đứng chờ xe, thỉnh thoảng cũng có chút gió thổi nhẹ qua làm dịu bớt đi cái nóng bứt rứt trong người .

Chiếc xe Ngựa vừa tấp vô sau cái vẫy tay đón của ba tôi, chủ xe một người đàn ông luống tuổi, ông trạc cở tuổi ba tôi, mặc trên người bộ " Pi ja ma " màu đen có ba cái túi áo thật lớn, tôi thấy ông bỏ trong đó nào là thuốc rê, hột quẹt, giấy tờ gì đó, và túi ông đựng tiền nằm phía trên ngực . Chiếc nón nỉ đẹp đắt tiền ông hay giở lên chào khi có khách lên xe, một phong cách mà thời nay dễ gì còn gặp lại, . Con Ngựa thì mang cặp kiếng bằng da màu đen che hờ đôi mắt, nó chỉ quan sát được phía trước, không thể nhìn hai bên, sau này tôi khi đi xe quen thân với chủ xe Ngựa thì ông mới giải thích :
- Sở dĩ che như thế cho Ngựa khỏi giật mình khi có xe qua mặt nó, để nó
không sợ mà gây ra tai nạn .
Trên đầu con Ngựa ông gắn một chùm lông đuôi của Gà trống trông thật oai phong, quanh cổ nó được đeo cái vòng lục lạc, mỗi khi Ngựa phi trên đường nhựa , bốn vó gõ lốc cốc hòa theo tiếng reo của lục lạc tạo thành âm thanh rất vui tai .

Sau này chúng tôi học năm đệ thất một trường gần chợ Bà Chiểu, đi riết thành mối của ông Tám xe Ngựa, trong đám tụi tôi chỉ có mình tôi là ông Tám ưu ái cho ngồi gần ông phía trước, vì ngồi vị trí này thòng hai chân xuống khỏi phải cởi giày, còn lũ bạn tôi thì lên xe phía sau phải cởi giày ra xỏ vào cái móc bên hông xe, đến nơi mới được mang giày lại như cũ vì trong lòng xe chật hẹp vả lại mang giày dép vào thì làm dơ tấm đệm lót dưới sàn xe thì không hợp vệ sinh cho lắm, đi xe Ngựa cũng lắm thú vui, nó cũng tròng trành như ghe gặp sóng lớn đôi khi Ngựa dở chứng khiến cả xe ai nấy mặt xanh như tàu lá chuối vì sợ rớt xuống đường do chú Ngựa tung 2 vó trước lên cao khiến xe nghiêng hẳn về phía sau ...


Cuộc sống cứ thế êm ả trôi theo tháng ngày. Tôi còn nhớ, năm 1963 Sài gòn sục sôi những biến động, năm đó bên quân đội họ làm đảo chánh, trực thăng mang " rốc két " bay gần sát nóc nhà tôi, họ bắn đại liên trên máy bay hướng vào Dinh gia Long, vỏ đạn rớt lộp cộp trên mái tole nhà, cô bác chung quanh sợ hãi vô cùng, sợ sệt trong tình hình này vài gia đình tụ họp lại những căn nhà kiên cố trong xóm cùng nhau ở đó có gì xảy ra khi tắt lửa tối đèn có nhau thì yên tâm hơn, người lớn ai cũng trong dạ nao nao chờ đón thời cuộc, còn bọn con nít thì được dịp gần nhau thường xuyên thỏa thích chơi đùa, chúng tôi đâu có biết rằng cha mẹ chúng tôi đang rầu thúi ruột, thúi gan khi đất nước đang tranh tối tranh sáng của hai phe ...

Rồi cuộc đảo chánh thành công, nền đệ nhị Cộng hòa hiện diện trên quê hương ....
Năm 1968, một lần nữa Sài gòn cũng như cả nước, khói lửa tràn lan, tôi và gia đình cũng suýt chút nữa " tiêu diêu miền cực lạc " bởi một trái đạn cối rớt trước sân nhà, cũng may là chúng tôi trốn kỹ trong hầm ngầm dưới đất, nếu không thì không có cơ hội bây giờ ngồi đây ghi lại những hình ảnh thân thương đang mờ dần trong ký ức .

Rồi thì sóng gió cũng qua, đến giữa năm 1970 là năm đám trẻ con ngày xưa chúng tôi đến tuổi lên đường nhập ngũ làm bổn phận công dân trong thời chinh chiến.
Tôi, thằng Kháng , thằng Lập cùng vào lính một ngày. Buổi đầu tiên vào nơi tiếp nhận, ba đứa chúng tôi đều mang tâm trạng nhớ nhà kinh khủng, mặc dù mới rời khỏi tổ ấm gia đình chừng vài tiếng đồng hồ, nhưng đêm ấy với chúng tôi nó dài thăm thẳm . Nằm cạnh bên nhau chúng tôi tâm sự, tôi nói nhỏ vừa đủ cho thằng Lập và thắng Kháng nghe:
- Không biết chừng nào mới vô quân trường hả tụi bây ? Rồi lăn, lê, trườn, bò nữa . Mà tao nghe nói ở quân trường cái chuyện tắm giặt khổ sở lắm, nghe mấy ông anh trong xóm mình đi lính về kể lại, mùa khô thiếu nước sinh hoạt lắm.
- Ôi hơi đâu mà lo mầy ơi, chừng nào cũng được, chuyện tắm giặt thì mày làm như vầy ... như vầy ...

Thằng Kháng cố tạo ra chuyện vui để chúng tôi quên đi nỗi nhớ nhà, nó thì thầm bên tai tôi tưởng đâu nó hiến kế gì hay để có giải pháp tốt đối phó với khó khăn sẽ phải đối mặt sau này nên tôi chăm chú nghe, thằng Lập cũng xích lại gần cả ba đứa chúng tôi chụm đầu vào nhau trao đổi câu chuyện, bất chợt ai nhìn thấy hình ảnh này có lẽ sẽ để lại nhiều dấu chấm hỏi trong đầu, bọn này đang âm mưu gì đây ? .

Thằng Kháng vừa hiến kế xong thằng Lập phá lên cười, nước mắt nó chợt trào nơi khoé mắt cũng bởi chuyện thằng Kháng bày vẽ cho tôi giống như chuyện tiếu lâm làm nó cười ngất ngưởng , khiến mọi người trong "sam" chăm chú hướng nhìn về chúng tôi . Riêng tôi thì đưa tay cốc vào đầu thằng Kháng một cái đau điếng kèm theo lời trách móc nó;
- Tao nói thiệt mà, vô đây mà mày còn giỡn được hả mậy, thôi khùng quá ông ơi .
Tôi còn co giò đạp thằng Kháng một cái nữa, sau này tôi ân hận với sự phản ứng quá trớn đối với nó .
Thằng Kháng nó bàn với tôi nếu sau này khi ra quân trường thụ huấn mà gặp phải cảnh thiếu nước sử dụng thì viết thư về kêu gia đình gửi lên cho cái thùng phuy loại 200 lít đục bỏ cái nắp trên rồi hứng nước mưa chứa vào đó thì coi như giải quyết được vấn đề thiếu nước , đúng là chuyện tiếu lâm không sai .

Ngoài trời bóng đêm dần bao phủ không gian, tôi thoáng nghe một vài tiếng kêu của lũ vạc bay đi ăn đêm, tiếng vo ve bên tai của lũ muỗi đói, cố dỗ giấc ngủ mà đôi mắt đứa nào cũng ráo hoảnh, ba đứa chúng tôi nằm im thin thít, mỗi đứa đang theo đuổi suy nghĩ riêng của mình, chợt thằng Lập nhìn vào mắt tôi nó hỏi:
- Bộ nhớ em Hồng phải không?
Thằng Lập nó gãi trúng chỗ ngứa của tôi, như sợ quê với nó tôi nói :
- Gì mà nhớ với nhung, có chăng đi nữa thì cũng hết khóa huấn luyện thì may ra nhung với nhớ mầy ơi .
Thằng Kháng lúc này nó mới lên tiếng:
- Học ra trường xong về đơn vị mới, mầy kêu bác năm nói với thím Hai cho mầy với con Hồng Châu về hiệp phố cho rồi, ông bà mình nói cưới vợ phải cưới liền tay đó nghe mậy .
Nghe thằng Kháng nói như vậy, trong lòng tôi ngờ ngợ nhớ lại câu nói của Hồng cái hôm hai đứa hẹn nhau để nói lời tạm biệt :
- Anh Phương cố gắng làm tròn bổn phận công dân đi, ở Hậu Phương thiếu gì em gái nhỏ chờ đợi, duyên kiếp đều có số phần hết anh đừng lo nhé .

Câu nói đùa của Hồng khiến tôi không vui lắm, tôi ái ngại vô cùng và tự hỏi không hiểu Hồng có thể chờ đợi mình trở về hay không? Chiến trường bắt đầu sôi động trở lại, chiến sự ác liệt, tin tức dội về hàng ngày, có những chàng trai ra đi như tráng sĩ kinh kha , để rồi cũng có nhiều thiếu phụ Nam Xương chờ chồng trong mòn mỏi đợi chờ . Lần ra đi này tôi linh cảm chuyện tình yêu của mình nó có vẻ mang một màu sắc xam xám, đã vậy nghe thằng Kháng đốc thêm vào thì thật lòng mà nói trong lòng tôi như ngổn ngang trăm mối tơ vò .

Rồi thì ba tháng quân trường ở Dục mỹ cũng xong, ba tháng dầm mưa dãi nắng, thao trường mồ hôi đổ, cả ba đứa chúng tôi đều được tiểu đoàn trưởng của Trung tâm huấn luyện tuyên dương tinh thần học tập, đêm cuối ở quân trường lần đầu tiên trong đời 3 thằng nhóc sợ ma ngày nào cùng nhau nốc bia liên hoan một buổi ra trò, đánh dấu buổi họp mặt cuối cùng ở cái lò luyện thép này, nơi đã un đúc tinh thần và thể xác chúng tôi thêm phần mạnh mẽ .

Rời trung tâm huấn luyện Dục Mỹ, chúng tôi lênh đênh trên biển, chiếc dương vận Hạm 505 rẽ sóng đưa chúng tôi trở về căn cứ Long Bình nơi hậu cứ của đơn vị chúng tôi phục vụ sau này . Ròng rã hai ngày hai đêm trên biển, trong lòng ai cũng nôn nóng mong về đến đất liền, qua hai ngày trên biển chỉ thấy mây, nước và đường chân trời, thỉnh thoảng cũng gặp vài đàn Hải âu bay lượn tìm thức ăn giữa biển trời bao la rộng lớn, lúc ấy thật sự chúng tôi mới cảm phục những người lính Hải quân, bởi họ cô đơn quanh năm với biển khơi mà họ còn chịu đựng được, với chúng tôi hai ngày trên biển như một cực hình vì không thể thích nghi với cái mênh mông của biển trời .

Đến hậu cứ Long Bình được một tuần, sáng nọ lệnh tập họp được ban ra, xe GMC đưa chúng tôi ra sân bay , từng chiếc trực thăng Chinook đưa chúng tôi vào bay vào vùng lửa đạn, mặt trận An Lộc Bình Long hiện ra bên ô kính tròn của chiếc phi cơ, thấp thoáng trong mây chúng tôi thấy rõ mồn một nơi xa xa những cụm khói bốc lên cao do những phi tuần ném bom nơi vùng hỏa tuyến . Hạ dần độ cao, Phi công rà sát chiếc Chinook trên đầu những ngọn cây cao su bên phi đạo, khiến cây lá ngả nghiêng xào xạc do sức mạnh của cánh quạt gây ra, khi phi cơ đáp xuống gần sát mặt đất, tiếng hô vang của nhân viên phi hành người Mỹ:
- Go out .. Go out ....

Chúng tôi vụt lao ra khỏi chiếc chinook rồi chạy vào vạt rừng ven đường, cũng là lúc tiếng đạn pháo từ đâu nổ tới tấp, đất bị đào xới tung lên tạo những hố sâu hoắm, mùi thuốc pháo khét lẹt, không khí như mang nặng âm vang tiếng của lão Thần chết đang réo gọi hồn ai.
Tiếng phản pháo vang lên một hồi lâu rồi cũng chấm dứt , trả lại sự yên tỉnh tịch mịch vốn có của núi rừng,
- Đại đội tập họp . Ngang dọc so hàng , 4 hàng dọc, đằng trước thẳng.
Tiếng khẩu lệnh của ông Thượng sĩ người có trách nhiệm đưa chúng tôi trình diện đơn vị mới đang hành quân nơi chiến trường .

Hàng ngũ xếp ngay ngắn, tôi nhanh chóng liếc dọc liếc ngang quan sát nơi mình đặt chân trên chiến trường là nơi đâu, lòng tôi chợt bàng hoàng, trước mắt tôi có tấm bảng viết vội trên tấm ván ép mỏng manh hàng chữ Phi đạo Sa Cam, phía bên dưới là một nấm mộ đất dường như mới đắp gần đây thôi, trên cây thập tự giá bằng hai thanh gỗ thông của thùng đựng đầu đạn cối 81 ly ghép lại , ai đó viết lên hàng chữ thay cho mộ bia một dòng sơn đỏ như máu của người dưới mộ kia đã tuôn ra vì mảnh đất quê hương yêu dấu.
Nơi tạm yên nghỉ : Chuẩn úy .....đại đội ...tiểu đoàn .... Anh dũng đền nợ nước ngày ......tháng ...năm..

Được chào đón bằng những tràng đạn pháo, được thấy những anh hùng ngã xuống nơi tuyến đầu cũng không làm chúng tôi sợ sệt chùn bước, thầm khấn vái vong hồn người sĩ quan bạc mệnh kia, ông hiển linh hãy dìu chúng tôi bước qua cho đến ngày tròn cuộc chiến . Như có một phép mầu, như thấu hiểu sự tôn kính với ông nên có thể ông ta đã che chở cho tôi thoát hiểm nhiều lần trong gang tấc .

Chúng tôi về đến bộ chỉ huy tại thị trấn An lộc điêu tàn đổ nát, được tập hợp lại, sau một hồi huấn thị, lựa chọn, phân phối cho các đơn vị tác chiến trực thuộc, tôi là người duy nhất được chỉ huy phó đơn vị chọn ở lại bộ chỉ huy làm công việc chuyên môn, còn những anh em cùng khóa học được đưa về các tiểu đoàn tác chiến .

Tôi chia tay thằng Lập, thằng Kháng, vậy là chúng tôi mỗi đứa một nơi, trong mắt đứa nào cũng đượm buồn lưu luyến, tôi vỗ vai hai đứa nó và cầm lấy bàn tay, ba chúng tôi siết chặt tay nhau ngầm hẹn ngày nào đó cùng nhau về lại Sài Gòn khi đất mẹ bình yên..
Tôi cố chọc cười 2 đứa bạn thời niên thiếu:
- Tụi mình lại bắt đầu cuộc chơi năm mười nữa rồi đó, hai thằng bây đi trốn, và tao sẽ đi tìm ...
Kỷ niệm xưa chợt hiện ra trong tâm trí, không hẹn nhau mà tự nhiên ba đứa nước mắt chảy thành dòng .
Đưa tay quệt nước mắt thằng Kháng đáp lời tôi:
- Tụi tao đi đây, nhớ giữ sức khỏe nha, thư từ nhà có gì nhớ cho tụi tao biết với .
Nước mắt lại tuôn ra, ông Thượng sĩ già đứng gần bên thấy hết sự việc, hình như ái ngại điều gì ông ta nói :
- Ba đứa bây ở chung xóm với nhau hả, thôi đừng buồn, đóng quân cũng gần đây thôi, muốn gặp nhau dễ ợt hà, thôi đi đi kẻo anh em chờ .

Chiến trường vào mùa khô, mùa cao điểm của chiến trận, lao vào công việc hàng ngày, đối diện với nhiều cam go, có lúc tôi quên bẵng đi hai thằng bạn kia, quên cả cái gia đình ở Sài gòn, quên cả cái tình yêu bé nhỏ của Hồng, đứa con gái nết na thùy mị đùa vui trong quãng đời thơ ấu và tình yêu đến với hai đứa tôi tự hồi nào không hay .

Ba tháng sau, thư đi tin lại cho gia đình, cho người yêu . Lần này nhận lá thư của Hồng, không phải cái bì thư màu xanh hy vọng như những cánh thư trước, mà là bì thư màu trắng trinh nguyên, cũng là màu tang tóc, trong thư Hồng kể rằng:
- Anh Phương thương mến ! Viết thư này cho anh, tuy tay thì cầm viết nhưng lòng thì không muốn, nhưng cuối cùng cũng phải viết cho anh, mẹ em ( thím hai ) mất tròn một tháng, ba em thì đơn vị báo tin mất tích, đất trời sụp đổ dưới chân em, gia đình lâm cảnh túng bấn, may nhờ một người ân nhân đứng ra gánh vác mọi chuyện, và anh ta cầu hôn em thật chân tình sau lần lo tang chế cho mẹ, vì nghĩa em đành phụ anh, mong anh đừng buồn, hậu phương còn rất nhiều em gái khác . Anh nhớ giữ sức khỏe . Tạm biệt . Ngàn lần yêu anh, Hồng.

Đọc xong lá thư tôi không trách Hồng phụ bạc, nhưng tự trách mình vô dụng để vuột một mối tình trong trắng thơ ngay . Đổ vỡ trong cuộc tình với Hồng, thế là tôi gặp phải sự cô đơn như những chiến sĩ Hải quân dạo ấy, nhưng không phải cô đơn giữa biển khơi, mà tôi cô đơn giữa biển đời mênh mông vô định, sau vụ này tôi thẫn thờ cả năm thì vết thương lòng mới tạm liền da.

Buổi sáng nọ, đang loay hoay công việc, tôi nghe loáng thoáng phòng bên cạnh có tiếng sếp đang ra lệnh:
- Chiều nay xin trực thăng tản thương, chở mấy anh em thương binh ở ban quân y về Tổng y viện Cộng hòa, nhân tiện đem xác thằng Nguyễn công Lập, và thằng Dương văn Kháng về nghĩa trang quân đội luôn .

Tôi bỏ ngay công việc chạy nhanh qua Ban 3 hành quân, hỏi han một lúc thì đúng là hai thằng bạn thân thiết nhất trong đời tôi đã ra đi vĩnh viễn, thằng Lập chết trước thằng Kháng nửa ngày do bị sốt ác tính quật ngã nó . Còn thằng Kháng thì dẫm phải mìn khi đi hành quân, thân xác nó vương vãi khắp nơi, đồng đội nó gom lại được một ít thịt xương gói lại trong chiếc Poncho từng che chở nó trong những cơn mưa rừng lạnh lẽo .

Chiếc trực thăng sơn màu tang trắng, trước mũi, bên hông đều mang chữ thập đỏ đáp xuống, nó mang những thương binh và mang theo hình hài của hai đứa bạn tôi, cho đến khi chiếc trực thăng có danh hiệu " Nhân ái 95 "" chỉ còn một cái chấm nhỏ trên bầu trời vàng hoe nhuộm nắng cũng là lúc tôi thốt lên trong vô thức:
- Xí thằng lập, xí thằng Kháng . Một . Hai .ba.

Tôi vỗ tay ba cái vào cái thùng Cô nét nơi lưu giữ xác của hai đứa bạn như vỗ vào vách tường của trò chơi cút bắt những ngày xưa ./.

Hai Hùng SG


Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2023

Bức Ảnh Sét Đánh Tượng Chúa Jesus Ở Brazil: Đằng Sau Nó Là Gì?

Tượng Chúa Cứu thế tại Rio de Janeiro (Brasil) - Ảnh: Shutterstock

Chỉ để tạo ra một bức ảnh sét đánh độc nhất vô nhị, nhiếp ảnh gia đã đứng trước trời bão suốt 3 giờ đồng hồ và chụp tổng cộng 500 tấm ảnh phơi sáng khác nhau.

Tuần trước, nhiếp ảnh gia Fernando Braga vô tình chụp được cảnh sét đánh vào tượng Chúa Jesus cao nhất Brazil khi một cơn giông bất ngờ đổ bộ vào bờ biển Rio de Janeiro.

Trong bức ảnh, tia sét đã đánh trúng vào đầu bức tượng cao 38 m, tạo ra một cảnh tượng có một không hai. Bức ảnh và video ghi lại khoảnh khắc này đã thu hút hơn 20 triệu lượt xem, gần 168.000 lượt thích và 3.156 bình luận.


Bức ảnh nhận được gần 168.000 lượt thích trên Instagram. Ảnh: Fernando Braga.

Chủ nhân của bức ảnh độc nhất này là Fernando Braga. “Ánh sáng của thần thánh!!! Thứ sáu!!!
Bức ảnh được chụp vào ngày 10/2/2023”, nhiếp ảnh gia chia sẻ trên Instagram.
Ông cho biết đã đứng ngoài trời giữa cơn bão suốt 3 tiếng đồng hồ để ghi lại khoảnh khắc hoàn hảo này. Vì được nhiều người yêu cầu, Braga còn quay video timelapse cảnh sét đánh trúng bức tượng Chúa cùng với 500 tấm ảnh khác nhau và thậm chí còn đổi ống kính liên tục trong suốt quá trình chụp.

Trên tài khoản Instagram cá nhân, Braga đã chia sẻ câu chuyện để làm ra tấm hình lịch sử này. Ông nói rằng quá trình thực ra không quá khó khăn. Ông bắt đầu chụp từ 16h và hoàn thành lúc 20h30.

Tia sét trong bức ảnh diễn ra chính xác vào lúc 18h55.
“Sau suốt 3 tiếng và 500 tấm ảnh phơi sáng khác nhau, tấm ảnh huyền thoại này đã được ra đời.

Tôi đã mất không biết bao nhiêu ngày để luyện tập cho khoảnh khắc này và cuối cùng vẫn luôn là công cốc. Vì vậy, đừng bao giờ từ bỏ”, nhiếp ảnh gia chia sẻ. Braga cho biết ông đã dùng máy ảnh Nikon D800 với hai ống kính 70-200mm f/2.8 và 70mm f/8 để ghi lại thành công khoảnh khắc này.

Bức ảnh hy hữu được chụp ở tốc độ màn trập 13 giây và ISO 100. Nhiếp ảnh gia đã ghép một video timelapse từ tất cả tấm ảnh đã chụp và làm một video Reel trên Instagram zoom vào tấm ảnh để chỉ rõ tia chớp đã đánh trúng chính xác vào bức tượng Chúa cao 38 m ở Brazil.

“Tôi gặp phải rất nhiều cản trở trong quá trình bắt đúng cảnh tia chớp đánh vào đầu bức tượng. Trời mưa rất to và đêm khuya cũng sắp trôi khiến tôi nản lòng muốn bỏ cuộc vài lần”, ông chia sẻ.

Nhiều người dùng cũng cảm thán về bức ảnh có một không hai này và khen nhiếp ảnh gia vì may mắn bắt được khoảnh khắc vàng.

“Với công nghệ quay video 4K 60 fps hiện nay, không khó để chụp những bức ảnh tia sáng như thế này, chỉ cần quay lại cảnh cơn bão và chọn đúng vào khung hình có thời điểm bạn muốn.

Nhưng đây vẫn là một tấm ảnh rất độc đáo. Hãy chụp một tấm như vậy với tượng Nữ thần Tự do đi”, một người dùng bình luận.


Tượng Chúa Cứu thế trên đỉnh núi nhìn xuống thành phố Rio de Janeiro, Brazil được xem là một trong những công trình kiến trúc độc đáo nhất thế giới. Tác phẩm này là một trong những tượng

Chúa Jesus cao nhất thế giới.
 

Với chiều cao 38 m và nằm trên đỉnh Corcovado, một ngọn núi cao 710 m với rừng rậm rạp ở Brazil, tượng chỉ đứng sau Cristo de la Concordia ở Bolivia (40 m) và Christ the King ở Ba Lan (52 m).

Nhưng do nằm trên đỉnh núi, công trình này dễ bị sét đánh và trên thực tế không ít lần trở thành cột thu lôi trong năm.
Vào năm 2008, một cơn bão lớn đã làm hư hại phần đầu, lông mày và ngón tay của tượng.


Sau đó, vào năm 2014, sét đánh lại tiếp tục làm gãy một ngón tay của tượng. Vì vậy, các nhà chức trách quyết định sửa chữa mảnh vỡ trên một ngón tay khác và phần đầu của bức tượng do lần sét đánh trước đó, đồng thời lắp thêm các cột thu lôi bổ sung gần bức tượng.


Tượng Chúa Kito tại Brazil cũng đã được UNESCO công nhận là 1 trong 7 kỳ quan của thế giới
Những hình ảnh Tượng Chúa Kito tại Brazil đẹp “quá sức tưởng tượng”!

   

Hình ảnh Chúa Giesu ở góc độ độc đáo đẹp “quá sức tưởng tượng”! quả thực là những hình ảnh đẹp “quá sức tưởng tượng”!


Đôi khi, ta cũng có thể trông thấy hình ảnh Chúa Kitô dường như đang“lướt” trên những đám mây... TUYỆT VỜI!.

 

Bắt gặp hình ảnh này chắc có lẽ ai đó sẽ phải thốt lên rằng: “Có thậtkhông vậy?”


Cũng có lúc tượng Cristo Redentor “thay đổi” màu sắc, và hình trên đây được chụp vào tháng 6 năm 2012 với màu xanh lá cây


Cũng có đôi khi bức tượng thay đổi màu sắc là do sự “trợ giúp” của mặt trời, nhưng dù ở góc độ và màu sắc nào đi chăng nữa thì chỉ có thể nói được một từ là: TUYỆT VỜI!.


Tượng Chúa Kitô vốn là “tâm điểm” của những cú sét đánh và thường xuyên bị sét đánh trúng.


Đây có lẽ không phải là công việc dễ dàng vì con đường đi lên khá là khó khăn. Hãy nhìn vào hình ảnh và bạn sẽ thấy.



Bức tượng Chúa Giesu vẫn đứng sừng sững bất chấp mưa hay nắng…

Theo Buzzfeed
Liên Hương Sưu Tầm

Mùa Chay Thánh!

 

Giáo Đường vọng tiếng chuông ngân
Nhủ lòng sám hối bỏ dần ghét ganh
Buông lần tính xấu đua tranh
Sống tròn ơn gọi kết thành hoa yêu!

Giáo Đường vọng tiếng chuông chiều
Dọn hồn thanh sạch chọn điều lẽ ngay
Thành tâm khấn nguyện ân Ngài
Tình thương tuôn đổ Mùa Chay an bình!


Kim Oanh

Mùa Chay 2023

Nếu Biết

  

Nếu biết cuộc đời này hữu hạn
Danh vọng, bạc tiền là phù du
Thì xin đừng bon chen, giành giật
Vì chẳng cùng ta vào thiên thu

Nếu biết đời này rồi sẽ qua
Mang nặng lòng chi, hãy thứ tha
Sống nhẹ nhàng cho hồn thanh thản
Yêu thương người như gương Chúa ta

Nếu biết trăm năm là ngắn ngủi
Thì xin đừng phí từng phút giây
Phán xét, thù hận, gây chia rẽ
Đời vui còn lại như thoáng mây

Nếu biết trăm năm rồi cũng hết
Còn lại những gì ta mang theo?
Hãy yêu nhau đi, tình tha thiết
Sống mãi muôn đời là Tình Yêu

Nếu biết trăm năm là cơn gió
Hãy xin lỗi nhau ngày hôm nay
Như lễ vật kia dâng lên Chúa
Với an bình bước vào Mùa Chay

Để tâm hồn sẽ hết băn khoăn
Để cùng nhìn lại chính bản thân
Để cảm nghiệm nỗi đau thập giá
Chúa vì nhân trần chịu hy sinh

Để tìm hiểu biết người xung quanh
Để lòng thống hối và ăn năn
Và để mừng vui trong hạnh phúc
Đón ngày Ngài sống lại, quang vinh

Edmonton, Vào Mùa Chay 2016
Kim Loan 

Trưng Vương Khởi Nghĩa



Trưng Vương Khởi Nghĩa

(Tưởng niệm Trưng Nữ Vương (06/02 Âm Lịch)

Trưng Vương khởi nghĩa cứu giang san 
Diệt lũ Tàu phù giống sói lang 
Nợ nước báo đền dâng nhiệt huyết 
Thù nhà phải trả hận sôi gan 
Tận trung báo quốc qua cơn hạn 
Vùng dậy mong dân được thái an 
Sử sách lưu truyền gương sáng mãi 
Cháu con thành kính khói hương lan 

Lâm Hoài Vũ
Feb 24,2023
***
Noi Gương Trưng Nữ Vương


Uy dũng hào hùng Trưng Nữ Vương.
Anh thư quật khởi chí can trường.
Kiêu hùng xua đuổi quân Đông Hán.
Bất khuất không hàng giặc bắc phương.
Thống trị đọa đầy gieo huyết lệ.
Diệt tan xâm lược cứu quê hương.
Muôn dân thoát cảnh đời trâu ngựa.
Hậu thế ngàn năm tỏa sáng gương.

Lâm Hoài Vũ
(Trích thi tập Giấc Mơ Hoa)


Điềm Tốt Đầu Năm



Điềm Tốt Đầu Năm

Năm nay Quý Mão, được mùa thơ,
Khác với năm qua, khá dật dờ!
Quan ác, quan tham đâu tránh khỏi …
Địa hào, địa chủ bỗng đâm khờ!
Non sông chừng hẳn bớt nghiêng ngửa?
Thế sự xem ra, hết mập mờ!
Điềm tốt đầu năm, ta chúc phúc:
Dịp may hiếm có, chớ buông ngơ.

Danh Hữu
21.02.2023
***
  
Bạn Vườn Thơ

Im vắng bao ngày vắng bóng Thơ
Hết "truân" rồi lại đến từ "dờ"
Không sao có xướng thì nên họa
Cứ mãi im ru ắt sẽ khờ
Đường Luật gây bao điều trắc trở
Tứ thi cũng lắm nghĩa mù mờ
Nếu như mắc phải điều sơ sót
Bạn hữu nhắc chừng giúp chẳng ngơ.

Quên Đi
***
Vui Xướng Họa
 
Hãy còn động não bởi vì thơ
Tìm chữ nhiều đêm mắt trắng dờ.
Ý tưởng móc moi đâm ngớ ngẩn
Nghĩa vần trốn biệt khiến lơ ngơ.
Thời gian vun vút lòng xao xuyến
Dĩ vãng miên man trí mịt mờ.
Lẹt đẹt chạy theo vui xướng họa
Mỗi năm một tuổi thấy thêm khờ!

Mailoc
02-21-23

Trưng Nữ Vương


Các sách sử cũ từ trước tới nay, viết theo Hán sử với luận điệu “Thiên triều” cho rằng Tô Định là tên thái thú tham lam tàn bạo nên Hai Bà Trưng mới nổi dậy. Đây chính là luận điểm của Hán tộc cho rằng dân Việt vẫn chịu thuộc Hán nhưng chỉ vì Thái Thú tham lam tàn bạo nên người Việt mới chống lại. Hán sử chép năm 29, Hán triều cử Nhâm Diên sang làm Thái Thú Cửu Chân đến năm 32, Hán triều đã phải bãi chức thái thú Cửu Chân của Nhâm Diên. Hai năm sau lại triệu hồi Thái thú Giao Chỉ Tích Quang về kinh, đến năm 34 mới cử Tô Định là viên võ quan làm Thái Thú để đem quân đi đánh chiếm lại những vùng đã thuộc quyền tự chủ của người Việt. Giao Chỉ, Cửu Chân thời kỳ này còn ở Nam Trung Quốc. Tình hình miền Nam Trung Quốc (Hoa Nam) là lưu vực phía Nam sông Dương Tử hết sức rối ren nên nhân lúc Hán triều suy yếu, thủ lĩnh các địa phương lãnh đạo quần chúng đứng lên giành lại độc lập tự chủ, mỗi người hùng cứ một nơi. Anh hùng Khôi Hiệu rồi Công Tôn Thuật chiếm cứ Ba Thục, Lý Quảng chiếm giữ Hoãn Thành tỉnh An Huy, Duy Dĩ chiếm Hồ Nam rồi xưng là Sở Lê Vương đã tạo thành một cao trào giải phóng dân tộc.

Trưng Trắc, con gái của Lạc tướng Mê Linh thuộc hàng danh gia vọng tộc nên nuôi dưỡng hoài bão “Nối lại nghiệp xưa vua Hùng”. Trưng Trắc lấy chồng tên là Thi, danh sĩ đất Giao Châu cùng chí hướng, con trai của Lạc tướng Chu Diên là người có chí khí hơn người. Sách Lĩnh Nam Trích Quái chép: “Hai Bà Trưng vốn dòng họ Hùng, chị tên Trắc, em tên Nhị người ở huyện Mê Linh đất Phong Châu, con gái quan Hùng Tướng đất Giao Châu”. Sách Cựu Đường Thư của Lưu Hú chép: “Phong Châu ở Tây Bắc An Nam, Sở trị là Gia Ninh. Đời Hán, huyện Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ là đất của Văn Lang Di xưa”.[1] Sách Thủy Kinh Chú chép về địa danh Mê Linh rõ hơn: “Huyện Tiến Tang là Đô Uý Trị ở miền Nam quận Tường Kha. Trên sông có cửa quan nên gọi là cửa Tiến Tang. Mã Viện xưa nói rằng theo đường sông Mê Linh ra vương quốc Tiến Tang, đến huyện Bí (Bôn) Cổ thuộc Ích Châu, chuyên chở thuận lợi nên đường binh xa chuyên chở là do đó …”.

Sử Trung Quốc chép rằng “Sau khi xâm chiếm Nam Việt 111 TDL, Hán Vũ Đế ra lệnh cho 8 Hiệu Úy tấn công Thả Lan, Tây Nam huyện Hoàng Bình Quý Châu, giết chết mấy vạn người “Nam Di” rồi đặt quận Tường Kha. Dạ Lang Hầu thấy Nam Việt bị tiêu diệt rồi nên phải quy thuận theo Hán và được Hán Vũ Đế phong làm Dạ Lang Vương”. Nước Dạ Lang của tộc Việt trở thành quận Kiện Vi ở phía Bắc và Thương Ngô ở phía Nam. Như vậy rõ ràng là sông Mê Linh nằm ở cửa Tiến Tang miền Nam huyện Tường Kha tỉnh Hồ Nam Trung Quốc chứ không phải ở Bắc Việt Nam như các sử gia vẫn chép từ trước đến giờ. Đất Mê Linh lúc trước gọi là My Linh thuộc nước Sở, về sau là vùng Trường Sa, Phan Hồ tỉnh Hồ Nam, nơi mà Hán Vũ Đế đặt “Đô Uý Trị” ở đó năm Nguyên Đĩnh thứ 6 tức năm 111 TDL sau khi đánh thắng Nam Việt.

Việc liên kết hai dòng họ không qua mắt được quân thù nên khi Tô Định đem quân Hán xâm lược đánh thẳng vào Phủ Trị để bắt hai vợ chồng Trưng Trắc. Thiên Nam Ngữ Lục chép: “Khi thấy quân Tô Định thế mạnh, Thi khuyên vợ nên đi đường tắt về Hát Môn. Nhân đấy hai chị em kéo về Hát Môn, lập thành lũy chuẩn bị dụng binh. Thế cô nên Thi không chống cự nổi bị Tô Định giết chết, đốt phá dinh thự. Tin dữ truyền đến Hát Môn, chị em Trưng Trắc quyết chí báo thù, truyền hịch đi khắp thiên hạ dấy nghĩa”. [2]

TRƯNG NỮ VƯƠNG PHỤC QUỐC HÙNG LẠC (39-43)


Đầu năm Kỷ Hợi 39 DL, Trưng Nữ Vương xuất quân đánh ngay vào Trường Sa, trị sở Đô Úy của Hán triều. Trận chiến do Trưng Nhị cùng các nữ tướng Phật Nguyệt, Trần Thiếu Lan, Trần Năng, Lại Thế Cường đánh thắng quân Hán ở Đô Uý Trị huyện Mê Linh thuộc Trường Sa, giết chết Tô Định, tàn quân Hán tháo chạy về nước. Hán sử chép là Tô Định tháo chạy, còn các quan chức Thứ Sử Thái Thú chỉ giữ được mạng sống của chúng mà thôi. Sách “An Nam Chí Lược” và “Thiên Nam Ngữ Lục” chép Tô Định bị giết chết tại trận. Đây là chiến thắng vang dội mở đầu cho các chiến thắng liên tiếp trên các quận huyện. Trong vòng hơn 1 tháng, nghĩa quân đã chiếm được 65 thành trì trên khắp Hoa Nam.

Quân Hán cuốn vó chạy dài, Hán triều thất điên bát đảo. Sử sách chép rằng nhân dân các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố nhất tề hưởng ứng Hai Bà Trưng nên chỉ trong 1 tháng Hai Bà đã đánh chiếm 65 thành trì dễ như trở bàn tay. Căn cứ vào sách Quận Quốc Chí của Hậu Hán Thư thì Nam Hải có 7 thành, Thương Ngô 11 thành, Uất Lâm 11 thành, Hợp Phố 5 thành, Giao Chỉ 12 thành, Cửu Chân 5 thành, Nhật Nam 5 thành, như vậy là 53 thành. Nếu cộng với 12 thành ở Dương Châu và Kinh châu mới đủ 65 thành mới đúng với con số thành mà Hai Bà Trưng đã chiếm được. Điều này chứng tỏ cuộc chiến đã diễn ra trong cả nước Văn Lang xưa của Việt tộc bao gồm các quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Kinh và Châu Dương.[3] Toàn dân suy tôn Trưng Trắc lên ngôi vua, lấy hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh. Trưng Nữ Vương cảm thông nỗi khốn khó của nhân dân nên ban hành chiếu chỉ miễn thuế cho nhân dân 2 năm liền. Thuỷ Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên chép: “Trưng Trắc công phá châu quận, hàng phục được các Lạc Tướng, họ đều suy tôn Trắc làm vua”. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi chép Bà Trưng lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Hùng Lạc nên Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca viết: “Đô kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta...”.

Thủy Kinh Chú quyển XXXVII Diệp Du Thủy của Lệ Đạo Nguyên chép: “…Con Lạc tướng huyện Chu Diên - tên là Thi, đi hỏi con gái Lạc tướng huyện Mê Linh - tên Trưng Trắc, làm vợ. Trắc là người can đảm, phụ trợ Thi làm giặc, đánh phá các Châu, Quận, uy phục các Lạc Tướng, tất cả đều để cho Trắc làm vua, Đô ở huyện Mê Linh, được dân ở 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân nộp 2 năm thuế hộ. Sau đó Hán triều sai Phục Ba tướng quân Mã Viện đưa quân đánh dẹp, Trắc, Thi chạy vào vùng hang động Kim Khê, 3 năm (sau) mới trừ được”.

Quân dân Việt đã chiếm lại toàn bộ lãnh thổ xưa của Nam Việt, Hán Đế phải cử Mã Viện là một danh tướng của triều Hán làm Phục Ba Tướng quân là chức cũ của Lộ Bác Đức thời Hán Vũ Đế đánh Nam Việt. Điều này có nghĩa là nhân dân Nam Việt đã làm chủ lãnh thổ nên phải cử Mã Viện tiến đánh Nam Việt như thời Hán Vũ Đế vậy. Tương truyền Hai Bà xây thành giống tổ kén nên gọi là Kiển thành ở vùng Tư Minh, Vân Nam Trung Quốc bây giờ. Sự kiện này đã được Lệ (Lịch) Đạo Nguyên xác nhận trong tác phẩm Thuỷ Kinh Chú là đến năm 42, Mã Viện tâu trình kế hoạch tiến quân đánh Hai Bà ở Vân Nam như sau: “Năm Kiến Vũ thứ 19 tức năm 42, Phục Ba Tướng Quân là Mã Viện tâu lên vua rằng: Đi từ Mê Linh ra Bôn Cổ huyện Thuý tỉnh Vân Nam để đánh Ích Châu, thần sẽ đem hơn vạn người Lạc Việt, trong đó có hơn 3 nghìn người từng theo Viện chiến đấu có mang tên tẩm thuốc độc, bắn một lần mấy phát, tên bắn như mưa trúng ai nấy chết...”.

Mùa hè năm 43, Mã Viện hành quân đến Lãng Bạc mà theo Thuỷ Kinh Chú thì: “Ở phía Bắc huyện Phong Khê có con sông chảy về phía Đông qua Lãng Bạc. Mã Viện cho đó là đất cao bèn từ Tây Lý đem quân đến đóng ở đấy. Sông ấy lại chảy về phía Đông qua phía Nam thành cũ huyện Long Uyên …”.[4] Địa danh Phan Hồ còn gọi là Tây Hồ ở vùng Ô Diên tỉnh Hồ Nam thuộc Giang Nam tức phía Nam sông Dương Tử là vùng núi có hình con chim Điêu, chim Ó sau đổi thành Chu Diên quê hương của Thi, chính là vùng Hai Bà đã đóng quân chống quân Hán xâm lược. Phan Hồ còn gọi là hồ Tây hay hồ Dâm Đàm là một trong 5 hồ rộng lớn ở Giang Nam, sóng nước mênh mông nên còn gọi là hồ Lãng Bạc. Sách Thủy Kinh Chú viết rằng con sông này còn gọi là sông Nam. Thực ra đó chính là sông Việt (Việt giang) mà sau này Hán sử cố tình chép đổi lại là Tây giang gồm 2 nhánh Tả giang và Hữu giang bắt nguồn từ Uất Lâm phía Bắc Quảng Tây chảy xuống Đông Nam ra thành cũ huyện Long Uyên ở Quảng Đông Trung Quốc.

Sách Việt Chí và Thiên Nam Ngữ Lục chép rằng: “Hai Bà Trưng sau khi đánh chiếm được 65 thành thì bị đại quân của Mã Viện tiến đánh. Hai Bà chống cự không nổi phải rút lui dần”.[5] Hai Bà không bị Mã Viện chém đầu mang về Lạc Dương như Hậu Hán thư chép và Hai Bà cũng không nhảy xuống tuẫn tiết trên dòng sông Hát mà Hai Bà vẫn tiếp tục chiến đấu như trong “Mã Viện Truyện” chép lại.[6] Theo Thông sử dân gian được chép trong “Thiên Nam Ngữ Lục” thì Hai Bà Trưng rút xuống vùng Vân Nam và lập căn cứ ở nước Nam Chiếu. Về sau Hai Bà bệnh mà chết. Khi Mã Viện tiến đánh Vân Nam thì các Lạc Hầu Lạc Tướng dẫn dân quân và gia đình con cháu lui xuống phương Nam tiếp tục mở đất từ Tứ Xuyên xuống Việt Tây tức Quảng Tây bây giờ thành lập các quốc gia Đại Lý, Nam Chiếu, một số khác xuống phương Nam dọc theo dãy Trường Sơn thành lập các vương quốc Champa và Phù Nam sau này, một số vượt biển xuống tận Nam Dương (Indonesia).

Ngày nay, hơn 4 triệu người Minangkabau trên đảo Sumatra Indonesia tự nhận là hậu duệ của Hai Bà Trưng. Người Minangkabau còn lưu giữ bản sắc văn hóa Việt cổ với trống đồng Đông Sơn. Bảo tàng Quốc gia Indonesia giữa thủ đô Jakarta hiện trưng bày bốn chiếc trống đồng Đông Sơn mà họ gọi là Gendang với các hình mặt trời và hình người chèo thuyền, chim Lạc giống hệt như ở trống ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Sau gần 2 ngàn năm, họ vẫn theo chế độ thị tộc mẫu hệ giống như người Việt cổ thời xa xưa. Người con gái Minangkabaugười vẫn giữ quyền thừa kế trong thị tộc và được gọi là Turun Cicik, em gái của Turun Cicik nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi rất giống tên gọi của hai Bà Trưng: Trưng Trắc và Trưng Nhị.

Cũng theo Thông Sử dân gian thì sau khi quốc gia Nam Việt mất vào tay Hán tộc, con cháu họ Triệu và quân dân Nam Việt xưng là dân nước Nam Chiếu (chi Âu Việt gọi vua là “Chiếu” nên Nam Chiếu là vua nước Nam) đã thực hiện chiếu chỉ của vua Nam chống Hán tộc. Trong một trận thuỷ chiến họ đã giết được viên Thú Lệnh của Hán triều rồi theo đường biển từ La Phù, Hợp Phố, ra Chu Nhai và Đam Nhĩ (đảo Hải Nam) rồi về tới Đồ Sơn và một số vượt biển xuống phương Nam định cư ở Nam Dương (Indonesia).

Theo các công trình nghiên cứu thì dân địa phương trên đảo Hải Nam là người Việt cổ chi tộc Lê nên gọi là Lạc Lê, ngôn ngữ thuộc họ Hán Tạng. Chính vì thế mà quân dân Nam Việt dễ dàng hội nhập vì cùng một nguồn cội. Họ cùng nhau tiếp tục kháng chiến chống quân Hán xâm lược nên năm 81 TDL, Hán triều phải bỏ Đam Nhĩ rồi đến năm 46 TDL, Hán triều lại phải bỏ Chu Nhai vì chịu thiệt hại nặng nề.

Sau khi bị Hán tộc xâm lược đẩy lùi dân tộc ta về phương Nam, tiền nhân ta đã mang theo tên Mê Linh, Tây hồ xa xưa để đặt tên cho vùng đất mới ở làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng tỉnh Vĩnh Phú. Sự thật lịch sử là như vậy, thế mà các nhà viết sử của nước ta cứ chép là Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh Bắc Việt Nam và cứ sao y bản chánh Hán sử chép rằng Bồ Lăng nay là bến Bồ Đề ở ngoại ô thành Thăng Long. Họ cứ nhắm mắt tin vào cái gọi là “chính sử” mà quên đi một điều là các sử gia Hán đã cố tình bóp méo sự thật, lấy tên cũ đặt cho vùng đất mới để xoá nhoà dấu vết của địa danh xưa cũ thời Văn Lang còn trải rộng khắp Hoa Nam.

Ngay đầu kỷ nguyên Dương Lịch, lịch sử Việt đã mở đầu với trang sử oanh liệt hào hùng của người phụ nữ, Anh thư nước Việt Trưng Nữ Vương. Đây là điểm son chói lọi của nữ giới không chỉ của Việt Nam mà còn của cả thế giới nữa. Sách Đại Việt Sử Ký của Lê văn Hưu viết: “Trưng Trắc Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng. Việc dựng nước xưng vương giống như trở bàn tay, đủ thấy là tình thế nước Việt ta có thể dựng được cơ nghiệp bá vương”.

Lê Tung trong tác phẩm Thông Giám Tổng Luận ghi rõ hơn về dòng dõi Hai bà Trưng: “Trưng Vương là dòng dõi Hùng Vương, chị em đều có tiếng là dũng lược, căm hận về chính lệnh hà khắc bạo ngược của Tô Định, hăng hái đem người các bộ, nổi quân hùng mạnh, lừng lẫy uy danh, quận huyện hưởng ứng cho nên lấy được 65 thành ở Lĩnh ngọai, thu lại hết đất cũ Nam Việt, cũng là bậc hào kiệt trong giới nữ lưu”.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục viết về Hai Bà như sau: “Vua tiến đến đâu, gió lướt đến đấy… Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và Mán đều theo. Lược định được 65 thành ở Lĩnh Nam. Ngài tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh”. Danh nho Nguyễn Trãi trong Dư Địa Chí đã viết Trưng Nữ Vương lên ngôi, đóng đô ở Mê Linh và đặt tên nước là Hùng Lạc. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi chép: “Kinh Dương Vương dựng nước gọi là Xích Quỷ, Hùng Vương gọi nuớc là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, Triệu (Đà) gọi nước là Nam Việt, đóng đô ở Phan Ngu (Phiên Ngung), Trưng (Vương) lại gọi là Hùng Lạc đóng đô ở Mê Linh”.

Người dân Trung Quốc gốc Việt ở Hoa Nam cho đến nay vẫn tôn thờ sùng kính Hai Bà Trưng mà họ gọi một cách thân thương là vua Bà. Sự tôn sùng thờ kính vua Bà đã trở thành một tôn giáo dân gian gọi là đạo "Thờ Vua Bà". Nhân dân khắp các tỉnh Hoa Nam từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Nam có trên một trăm đền thờ, miếu thờ vua Bà và những nữ tướng của Hai Bà. Địa Phương Chí của sở du lịch Trường Sa viết: “Miếu thờ Liệt nữ Trần Thiếu Lan ở đầu sông Tương”. Trong trận đánh vào đầu năm Kỷ Hợi tức năm 39 này, Nữ tướng Trần Thiếu Lan đã hi sinh được quân dân mai táng ở ghềnh sông Thẩm Giang. Thẩm Giang là một đoạn sông ngắn ở phía Bắc tiếp nối với hồ Động Đình. Sự kiện này cũng được ghi trong "Quốc Phổ thời Nguyễn" chép rằng các Sứ Thần nước ta từ các triều Lý, Trần, Lê ... khi đi ngang qua đây đều sắm lễ vật đến cung miếu thờ vị liệt nữ anh hùng dân tộc Trần Thiếu Lan. Trong đền có đôi câu đối:

Tích trù Động Đình uy trấn Hán,     Phương lưu thanh sử lực phù Trưng
Động Đình chiến sử danh trấn Hán, Sử xanh ghi mãi sức phù Trưng …

Hàng năm toàn dân Việt vẫn tổ chức Đại lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng với tất cả sự thành kính xen lẫn niềm tự hào về hai Bà, bậc nữ lưu Việt tộc đã lưu lại trang sử oanh liệt hào hùng. Với lòng yêu nước thương nòi và tấm lòng trung trinh tiết liệt thanh cao vời vợi của người phụ nữ Việt Nam, Hai Bà đã biểu trưng cho khí phách anh hùng của bậc nữ lưu. Giá trị tinh thần này không chỉ riêng cho Việt Nam mà còn là di sản văn hoá của cả nhân loại nữa.[7] (Trích trong Lược Sử Việt Nam II của Phạm Trần Anh.

Phạm Trần Anh
---------------------------------------------------
121. Cựu Đường Thư đã ghi rõ là Phong Châu ở hướng Tây Bắc An Nam chứ không phải ở vùng Tây Bắc của nước An Nam. Sách Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường chép: “Phong Châu là đất Văn Lang xưa, có con sông tên là Văn Lang”. Thủy Kinh chú dẫn ‘Lâm Ấp Ký’ chép: “Phía Nam Chu Ngô có giống người gọi là Văn Lang. Họ không biết xây nhà mà ở trên cây (ở nhà sàn), ăn cá và thịt sống, buôn bán các chất thơm. Phía Nam huyện đó có con sông nhỏ tên là Văn Lang Cứu”. Mãi đến đời Thái Khang triều Tùy mới đổi Giao Chỉ thành Giao Châu. Phong Châu trước là quận Tân Xương, sau đổi là Hưng Châu. Đời Khai Hoàng đổi lại là Phong Châu, đến năm Đại Nghiệp thứ 3 gồm Phong Châu vào Giao Châu gọi là quận Giao Chỉ. Như vậy Phong Châu này là Phong Châu Hạ mà đời Tùy là huyện Gia Ninh. Mãi đến năm Vũ Đức thứ tư đời Đường (năm 621) mới chính thức lập Phong Châu gồm 6 huyện.

[2]. Sự thật lịch sử này đánh tan luận điệu tuyên truyền của Hán tộc là Bà Trưng khởi nghĩa vì Thái thú Tô Định tham lam tàn bạo và vì thù chồng mới nổi lên chống Hán. Chính lòng yêu nước đã thúc đẩy hai vợ chồng Trưng Trắc đứng lên giết giặc cứu nước, sau khi chồng bà bị giết thì thêm mối thù nhà để “vua Bà” làm nên lịch sử và cũng từ đó ý niệm “nước mất nhà tan, nợ nước thù nhà” thấm đậm trong ngôn ngữ văn chương dân gian Việt. Đọc lại đoạn sử xưa chúng ta không khỏi ngậm ngùi xen lẫn phần hãnh diện vì không có dân tộc nào gắn liền lòng yêu nước với tình thương nòi giống như dân tộc Việt. Trải dài suốt dòng lịch sử, trước một kẻ thù Hán tộc xâm lược tàn bạo gây bao cảnh tang tóc thương đau cho dân Việt nên hơn bất cứ dân tộc nào khác, người dân Việt thấm thía cảnh “Nước mất nhà tan ..!” để từ đó ý niệm quốc gia = nước nhà hình thành hòa quyện làm một “Gene yêu nước” truyền thống Việt tự xa xưa.

Từ trước đến nay, sử sách Việt đều ghi là Thi Sách duy chỉ có sách Thủy Kinh Chú chép là Thi. Theo công trình nghiên cứu gần đây của Lê Đình Cai thì nguyên đoạn văn chép trong Hậu Hán Thư như sau: “Chu Diên Lạc tướng tử danh Thi, sách Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê, Trắc vi nhân hữu đảm dũng tương Thi khí tặc, Mã Viện tương binh phạt, Trắc Thi tẩu nhập Kim Khê”. Sách chữ Hán không có chấm phết, nên chữ sách có nghĩa là hỏi (vợ). Nếu sách là tên riêng như Trắc thì câu sau phải viết là: ..Trắc Sách tẩu nhập Kim Khê, vì không lẽ tên riêng cho vợ (Trắc) rồi lại viết họ Thi của chồng thì hoàn toàn không ổn. Do đó, chồng của Trưng Trắc là Thi mới đúng chứ không phải là Thi Sách như sách sử vẫn viết từ trước đến giờ.

[3]. Lê Mạnh Thát: Lục Độ Tập kinh Sđd tr 248) dẫn Hậu Hán Thư chép: “Bành đánh mấy lần không thắng, người Việt mưu phản theo Thục. Tạng Cung dùng mưu để quân Việt tưởng là quân Hán đến tiếp viện. Cung đem rượu thịt để khao quân. Tạng Cung bố trí quân mở đại tiệc, giết trâu lọc rượu thết đãi các cừ soái Việt. Người Việt do thế mà yên. Sau khi dùng mưu vỗ về yên được người Việt. S­đd tr 248. Truyện Sầm Bành trong “Hậu Hán Thư” cho biết: “Kiến Vũ năm thứ 2 tức năm 26, Hán đế sai Sầm Bành đánh Kinh Châu, hạ được Thủ, Diệp … hơn 10 thành. Lúc ấy phương Nam càng loạn, người Nam Quận Tần Phong cử Lê Khưu, tự xưng Sở Lê Vương chiếm 12 huyện.

[4]. Sử gia Đào Duy Anh cũng như các nhà sử học CHXHCNVN nhất loạt gán ghép một cách vô lý đó là con sông Thiếp. Tây Lý là Tây Vu vì chữ Vu bị chép lầm thành chữ Lý để cho rằng Lãng Bạc là vùng đồi núi huyện Tiên Du ở Bắc Ninh bây giờ.

78. Sách Việt Chí và Thiên Nam Ngữ Lục là thiên trường ca lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến đời hậu Trần gồm 8.136 câu viết theo thể lục bát dân gian…

[6]. Theo nhà nghiên cứu Trần Đại Sĩ thì khi Mã Viện huy động đại quân tiến đánh quân ta, Hai Bà giao cho 3 vị tướng họ Đào là Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống và Đào Tam Lang có nhiệm vụ trấn giữ Tượng quận là vùng đất ở giữa Vân Nam và Quảng Tây. Quân số ít oi, ba vị tướng họ Đào đã tử thủ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Nhân dân địa phương trân trọng lập đền thờ bên trong có đôi câu đối: Tượng quận giương uy nhiêu tướng lược, Bồ Lăng tuẫn tiết tận thần trung … Hiện ở ngã ba sông Ô Giang và Trường Giang có bến Bồ Lăng, ở đó có miếu thờ 3 vị thần họ Đào. Ngay trước miếu có đôi câu đối ca tụng công lao của 3 vị tướng họ Đào đã khẳng khái theo phò vua Bà, dù không đánh đuổi được quân thù nhưng thời của “Người” không lâu nên đau lòng phải tự tận, khí tiết thanh cao vút chín tầng mây: “Khẳng khái phò Trưng thời bất lợi, Đoạn trường trục Định tiết can vân !”. Bên trong miếu thờ có đôi câu đối :“ Giang thượng tam anh phù nữ chúa, Bồ Lăng Bách tộc khấp trung thần ..!” (Sông Trường giang, tam anh phò nữ chúa, Bến Bồ Lăng trăm họ khóc trung thần!”.

[7]. Đại Nam Quốc sử Diễn ca của Phạm đình Toái và Lê Ngô Cát xác định Mê Linh ở Trường Sa Hồ Nam nên mới viết là Lĩnh Nam là từ rặng Ngũ Lĩnh trở về Nam, phía Nam sông Dương Tử tức là vùng Hoa Nam. Như vậy cuộc kháng chiến diễn ra trong cả nước Văn Lang xưa của Việt tộc.

Từ trước đến nay chúng ta cứ hiểu mơ hồ về ý nghĩa cũng như vị trí của Giao Chỉ bộ rồi quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Lâm Ấp. Công trình nghiên cưú lịch sử gần đây của Trương Thái Du đã khơi mở cho chúng ta thấy vấn đề một cách rõ ràng hơn. Giao Chỉ nguyên nghĩa là một khái niệm về vùng đất phía Nam của Đường Nghiêu, Ngu Thuấn. Giao Chỉ đầu thời Chu là đất Sở, nó cũng hàm nghĩa luôn là tên nước Sở (Hồ Bắc TQ), Giao Chỉ cuối thời Chiến quốc là phía Nam nước Sở, thời Tần là Tượng quận, thời Tây Hán là bắc bộ VN và chỉ đến thời Đông Hán, Giao Chỉ mới trở thành địa danh cố định. Nam Giao là vùng đất tiếp giáp phương Nam, là một trong 4 trạm quan sát thiên văn từ thời vua Nghiêu gồm: Dương Cốc (Đơng), Muội Cốc (Tây), Sóc phương (phía Bắc) và Nam Giao (phía Nam). Từ địa danh Nam Giao sinh ra khái niệm Giao Chỉ. Giao Chỉ với chữ chỉ có bộ phụ mang ý nghĩa là vùng đất, khu vực. Như vậy Giao Chỉ là vùng đất tiếp giáp biên cương phía Nam của các vương triều Hạ, Thương và Chu. Mãi tới năm 636, Diêu Từ Liêm viết “Trần Thư” lần đầu tiên viết thêm một chữ chỉ nữa với bộ thổ (đất) trong chữ Giao Chỉ. Như vậy, các chữ Giao Chỉ, Cửu Chân nghĩa là chân trời xích đạo và Nhật Nam là vùng đất phía Nam mặt trời, tất cả chỉ là những khái niệm thuần thiên văn nói lên tính tự cao tự đại, lòng tham của chủ nghĩa bành trướng “Đại Hán”. Đến thời Hán Vũ Đế sau khi chiếm Nam Việt, người Hán mới dùng khái niệm Giao Chỉ để gọi chung cho 9 quận mới. Giao Chỉ bộ là tên gọi nửa khái niệm, nửa địa danh …

Về câu nói của Mã Việt “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” thì theo ĐVSKTT chép là dân ta đi ngang ném đá vào vì sợ cột đồng gãy chỉ đúng phần nào vì sợ lời nguyền “Giao Chỉ diệt!” nhưng mặt khác đó chính là biểu lộ lòng yêu nước muốn ném đá vào để lấp đi cái chứng tích của Mã Viện nên ngày nay không còn dấu vết của cột đồng năm xưa nữa. Cuối đời Mã Viện còn ảnh hưởng do “con ngựa thép” mà họ Mã tịch thu trống đồng Lạc Việt để đúc dâng vua Hán. Sử sách Trung Quốc chép rằng: “ Trên đường hành quân trời nắng nóng nên Mã Viện chi đi chậm rãi để dưỡng sức, lại bị 2 Phò mã là Lương Tùng và Đậu Cố và phó tướng Mã Vũ trình lên vua Hán là cố ý hành quân chậm chạp và khi đi đánh Giao Chỉ về đem theo vàng bạc nhưng giấu vua chỉ dâng vua một con ngựa thép mà thôi nên bị Hán Quang Vũ cho thu hồi ấn tín và không cho chôn cất.. Vợ Viện lấy rơm buộc 2 con trai và 3 gái đến xin vua gia ân cho được chôn cất. Mãi đến lần thứ 6, vua mới đồng ý để nghe trình bày nỗi oan. Vua cho người đến khám xét nhà chỉ thấy xe đầy ý dĩ (bo bo) để Mã Viện chữa phong thấp mà thôi. Hán Quang Vũ biết Mã Viện bị oan nhưng vẫn không trả lại ấn tín và cũng không cho ghi vào bảng phong thần 28 anh hùng hảo Hán…!.Cuộc đời Mã Viện xét cho cùng thật là thấm thía làm sao ..!?

Lũng Tây Hành Kỳ 2 隴西行其二 - Trần Đào (Thịnh Đường)


Nguyên tác           Dịch âm

隴西行其二          Lũng Tây Hành kỳ 2

誓掃匈奴不顧身 Thệ tảo Hung Nô bất cố thân
五千貂錦喪胡塵 Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần
可憐無定河邊骨 Khả liên Vô Định hà biên cốt
猶是深閨夢裡人 Do thị xuân khuê mộng lý nhân.

Chú giải

貂錦 điêu cẩm: mũ da điêu & áo gấm (ám chỉ những chiến sĩ ra trận).
無定河 Vô Định hà (sông Vô Định): Sông Vô Định ở Thiểm Tây, xưa là chiến trường giữa Trung Hoa và Hung Nô, nơi vùi xác vô số chiến sĩ của cả đôi bên.

Dịch thơ

Bài Điếu Lũng Tây kỳ 2

Quyết diệt Hung Nô chẳng tiếc thân
Năm ngàn chiến sĩ đã lìa trần
Thương ôi xương trắng bờ Vô Định
Mà chốn phòng the vẫn mộng thầm

Lời bàn 

Bài thơ của Trần Đào là một bài thất ngôn tứ tuyệt phản chiến lẫy lừng của Đường thi. Hai câu 3 và 4 là hai tuyệt chiêu. Có năm ngàn bộ xương trắng đã vùi trong cát của bờ sông Vô Định mà vẫn còn là người trong mộng ở chốn khuê phòng của mùa xuân. Nói cách khác, có những góa phụ vẫn còn mơ mộng rằng mai mốt chồng sẽ về chung hưởng tuổi xuân, trong khi họ đã là những bộ xương vô danh vùi nông nơi đất địch. Không thể thê thảm hơn.

Con Cò
***
Nguyên Tác:        Phiên Âm:

隴西行1- 陳陶     Lũng Tây Hành - Trần Đào
誓掃匈奴不顧身 Thệ tảo Hung Nô bất cố thân
五千貂錦喪胡塵 Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần
可憐無定河邊骨 Khả liên Vô Định hà biên cốt
猶是春閨夢裏人2,3 Do thị xuân khuê mộng lý nhân.

Dị bản:

Chỉ thích thú với các bạn muốn tìm hiểu chính xác nguyên bản và không ngạc nhiên khi thấy dị bản.

1. Tựa trong nhiều sách là Lũng Tây Hành Tứ Thủ kỳ nhị 陇西行四首 其二.
2. Các bản ấn hành ở Trung Hoa, từ Vạn Thủ Đường Nhân Tuyêt Cú 萬首唐人絕句 của Hồng Mại 洪迈 (1123 - 1202) về sau đều dùng chữ xuân 春. Trần Trọng San và Lê Nguyễn Lưu cũng chép là chữ Xuân. Chỉ vài bản lưu hành tại Việt Nam ngày nay là xài chữ thâm 深cũng không hẳn sai vì mộc bản trong 2 sách Cổ Kim Thuyết Hải - Minh - Lục Tiếp 古今說海-明-陸楫 và Thi Chú Tô Thi - Tống - Tô Thức 施註蘇詩-宋-蘇軾 cũng xài chữ này.
3. Nhiều sách xài chữ lý裡

Ghi chú:

Hung nô: tên gọi những dân tộc miền Bắc cổ đại của Trung Hoa.
Cố thân: quan tâm đến chính bản thân.
Điêu cẩm: chỉ binh lính tướng sĩ, binh đoàn được trang bị tốt.
Hồ trần: cát bụi của binh mã Hồ.
Khả liên: xứng đáng với lòng thương xót, đáng thương xót.
Sông Vô Định ở Thiểm Tây có tên như thế vì dòng chảy luôn thay đổi. Xưa là chiến trường của Trung Hoa và Hung Nô, quân hai bên chết và vùi xác ở đây rất nhiều. Nay là một nhánh của sông Hoàng Hà, ở phía tây bắc Thiểm Tây.
Hà biên: bên bờ sông, nằm trên bờ sông.
Xuân khuê: khuê phòng của phụ nữ, vợ người chiến binh.

Dịch Nghĩa:

Bài Hát Lũng Tây

Thề quét sạch giặc Hung Nô chẳng tiếc thân
Năm nghìn binh sĩ áo gấm, mũ da điêu vùi xác trong đất Hồ
Đáng thương cho những bộ xương bên bờ sôngVô Định
Khiến người chốn xuân khuê vẫn còn mộng đến.

Dịch Thơ:

Bài Hát Lũng Tây

Quyết diệt hung nô chẳng tiếc thân
Đất Hồ lấp xác năm ngàn quân
Núi xương Vô Định đáng thương xót
Khiến khách phòng khuê dạ vướng vân.

Quyết tâm tiêu diệt Hung nô,
Năm ngàn binh sĩ đất Hồ xả thân.
Bờ Vô Định xương trắng ngần,
Để lòng thục nữ bâng khuâng đợi chờ

Song of Long Xi by Chen Tao

Swearing to eradicate all the barbarians sacrificing self
Five thousands soldiers, uniforms and leather helmets are buried in Hu land
Mourning over skeletons on the bank of Wu Ting
In a way, the occupant in the dark chamber thought of her husband.

TURKESTAN by Chen Tao
Translation by Witter Bynner

Thinking only of their vow that they would crush the Tartars- -
On the desert, clad in sable and silk, five thousand of them fell....
But arisen from their crumbling bones on the banks of the river at the border,
Dreams of them enter, like men alive, into rooms where their loves lie sleeping.

The Northwest Marches by Chen Tao
Translation by Betty Tseng

They vowed to give it all to all Hun invaders expel,
All five thousand officers and soldiers perished, in a foreign desert they fell.
Let there be mercy on their forsaken remains by the Wandering River,
Whose wives in their boudoirs still dream of a return of their men
***
Lũng Tây hành kỳ 2

1-

Thề diệt Hung nô chẳng thiết thân
Đất Hồ tráng sĩ chết năm ngàn
Thương thay Vô Định xương phơi trắng
Trong mộng vẫn còn nơi gác xuân

2-

Chẳng thiết thân Hung nô thề diệt
Năm ngàn binh gục chết đất Hồ
Xương phơi Vô Định ven bờ
Phòng khuê thiếu phụ vẫn mơ chàng về!

Lộc Bắc
***
Bài ca Lũng Tây

Tiếc chi thân quyết diệt Hung Nô,
Vùi xác năm ngàn tại đất Hồ.
Đau xót xương phơi Vô Định bến,
Khải hoàn vẫn mộng chốn phòng cô.

Mỹ Ngọc
Feb. 18/2023.
***

Lũng Tây Ca Khúc Kỳ 2

Sắt gan quân Hán quật cường,
Nặng lời thề thốt, can trường há lay:
"Hung Nô - quét sạch giặc ngay,
Thân này chả tiếc chôn thây sa trường."
Năm nghìn tướng sĩ phong sương,
Mũ điêu, áo gấm cùng đường mạng vong.
Đất Hồ xương trắng đồng không,
Bờ sông Vô Định - hết mong ngày về!
Khuê phòng chinh phụ ê chề,
Tương phùng ươm mộng - chớ hề biết chi...

Khánh-Hưng
***
 Lũng Tây Hành

Chiến tranh giết chóc máu xương rơi
Chuyện cũ, ngày nay cũng thế thôi
Tranh chấp giật giành vài mảnh đất
Bao người chết thảm xác buông trôi

Bờ sông Vô Định ngày xưa ấy
Chiến sĩ năm ngàn ngã ở đây
Trông ngóng vợ nhà chờ mỏi mắt
Khuê phòng hiu hắt gió heo may

Thanh Vân
***
 Lũng Tây Hành

Diệt giặc Hung Nô chẳng hổ danh
Năm ngàn tử sĩ xác xây thành
Thương thay! xương trắng bờ Vô Định
Cô phụ phòng loan mộng vẫn xanh

Lục bát:

Một phen tử chiến giặc Hồ 
Năm ngàn binh sĩ xác khô hồn lìa
Bờ sông Vô Định nhìn kìa 
Thương cho cô phụ đêm khuya nhớ chồng

Kiều Mộng Hà 
Feb25th2023
***
Góp ý:

Theo Thi Viện thì Trần Đào có tới 4 bài Lũng Tây Hành, kỳ này là bài số 2, hay nhất nên sách nào cũng có dịch, bài số 3 cũng hay lắm, theo ý BS, bài 1 và 4 thì không có gì xuất sắc. Hai câu chót của bài 3:

Đồng lai tử giả thương ly biệt,
Nhất dạ cô hồn khốc cựu doanh.

Phần dẫn nhập của ÔC thật xuất sắc, đọc xong thì càng thấm thía với bài thơ.

Phần tiểu sử của Trần Đào, Thi Viện quá vắn tắt. BS tìm trong mấy cuốn Đường Thi mình có thì thấy được nhiều chi tiết hơn:

1) Theo Chi Điền Hoàng Duy Từ: ghi năm 841, nhưng không biết năm sinh hay năm mất, tự là Tung Bá, người Giang Tây, thi Tiến sĩ nhiều lần không đỗ, về ở ẩn, xưng là Tam Giáo Bố Y (người áo vải của ba giáo). Tiết Độ Sứ Giang Tây là Nghiêm Soạn thường đến cùng ông đàm đạo, lại cho kỹ nữ Liên Hoa tới hầu, nhưng ông chỉ cười, giữ lễ, không hề giở trò trăng hoa, làm Liên Hoa thất vọng, tặng bài thơ,

trong đó có câu:

Xử sĩ bất tri Vu Giáp mộng,
Hư lao vân vũ há Dương Đài.

(Xử sĩ không hay Vu Giáp mộng,
Mây mưa luống uổng xuống Dương Đài)

Ông làm bài thơ “Đáp Liên Hoa Kỹ “, khá hay, than mình già, không đáp ứng được tấm lòng của người đẹp. Bài này có trong Thi Viện, vậy giai thoại này chắc có thật. Về sau không ai biết ông đi đâu.

2) Theo Nguyễn Đức Lân, thì thời Hoàng Sào nổi loạn, chống nhà Đường trong 10 năm, từ 874 tới 884, Trần Đào ẩn cư ở vùng núi Tây Sơn, mà tới thời Tống Thái Tổ, năm 968, có người thấy Trần còn tráng kiện, trẻ trung. Việc này thì sai chắc, vì nếu Trần sinh năm 841, thì đến năm 968, Trần được 127 tuổi!!!

Về bài thơ, thì như anh Tâm nói, có dị bản: chữ thứ 3, câu cuối, bài của ÔC viết chữ XUÂN, giống như trong sách của Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Chi Điền, Nguyễn Đức Lân, nhưng Thi Viện và Trương Đình Tín thì viết chữ THÂM. Chữ THÂM coi bộ hay hơn chữ XUÂN.

Về tên sông Vô Định, anh Tâm nói là vì dòng chảy luôn thay đổi. Theo sách của Trần Trọng Kim thì vì sông có nhiều cát, mà cát bị cuốn theo dòng nước nên chỗ nông thì biến thành chỗ sâu, và ngược lại; các chỗ nông, sâu thay đổi luôn luôn nên mới có tên là Vô Định. Cách giải thích này, BS thấy có vẻ hợp lý hơn.

Cách đây mấy năm, khi gặp nhau ở Cali, BS có bàn bạc với ÔC về bài này, và đề nghị ÔC giữ nguyên chữ MỘNG trong bản dịch, nhưng thay cho chữ gì thì BS không nhớ….

Bài dịch khi lục bát, khi thất ngôn, đều na ná giống nhau.

LŨNG TÂY HÀNH.

1) Thất ngôn:

Thề diệt Hung Nô chẳng tiếc thân,
Năm ngàn binh tướng phủ bụi trần,
Khá thương xương cốt bờ Vô Định,
Vẫn là người mộng chốn phòng xuân.

2) Lục bát:

Quên mình thề diệt Hung Nô,
Năm ngàn tướng sĩ đất Hồ thác oan
Bờ Vô Định, đống xương tàn,
Vẫn người trong mộng bao nàng phòng khuê.

Bát Sách.
(Ngày 19 tháng 2 năm 2023)

Sài Gòn Của Tôi


Sài Gòn vẫn rất dễ thương,
Cái tên dù lạ con đường vẫn quen...


Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?”

Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi.

Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ - khô bò - nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi - Pasteur)…

Sài Gòn của tôi “sáng nắng chiều mưa”. Mưa như được lập trình sẵn. Hoặc chiều hoặc sáng, có khi… cùng giờ nên người Sài Gòn có thể nhởn nhơ bát phố khi “cơn mưa qua”, rất ít khi mưa như… đòi nợ, điều này những năm gần đây hình như thay đổi, mưa dầm và mưa… mất trật tự, người Sài Gòn vốn quen kiểu “xưa” chẳng biết đâu mà lần! Nắng Sài Gòn không quá gắt. Có lẽ nhờ thế nên mới chợt mát chỉ qua màu áo lụa Hà Đông.

Sài Gòn của tôi có những ngôi trường đi vào thơ và nhạc như Văn Khoa, Luật, Gia Long, Trưng Vương, những con đường địa chỉ báo như Lê Lai, Phạm Ngũ Lão… Hồn đất và hồn người quyện nhau hồn hậu, chân tình.

Sài Gòn của tôi quốc vương Cam-bốt từng du học, người Sài Gòn chê hàng Thái, không thèm xài Colgate vì đã có kem Hynos “anh yêu em, anh yêu luôn kem” xịn hơn.


Sài Gòn của tôi trẻ - luôn luôn trẻ. Không phải vì thiếu phố cổ hay người Sài Gòn không thích “ra vẻ cụ” mà vì Sài Gòn luôn luôn mới, hồn nhiên và dễ thương, không điệu đà, kệch cỡm.

Sài Gòn của tôi còn nhiều hơn thế. Không diễn tả hết dù văn hóa cách mấy. Chỉ giản dị như lời hát “Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!” Không lớn lao gì, kỷ niệm chỉ chứa đầy ngăn cặp học trò. Sự ồn ào sống động, dễ thương của vùng đất và con người. Đi xa, cứ về đến cầu Sài Gòn hay cầu Bình Điền là coi như đến nhà.

Như bạn bè cùng trang lứa, tôi giữ Sài Gòn như giữ chính cuộc đời mình. Khóc một ngày khi thương xá Tam Đa bị thiêu rụi. Thức một đêm khi Eden bị đập bỏ. Có thể thay vào sẽ là một tòa nhà đẹp hơn, nhưng Eden của ngày nào:

“Qua hành lang Eden ghi kỷ niệm
Buổi chiều mưa hai đứa đứng bên thềm
Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím
Anh quen rồi, không lạnh - lính mà em!”

Thì không bao giờ còn nữa
Vẫn biết có những sự đổi thay tốt hơn, đôi khi cần thiết, nhưng sao vẫn thấy chạnh lòng. Hơn sáu mươi năm hãnh diện làm “dân Sài Gòn”. Bỗng chợt giật mình tự hỏi, có khi nào người ta phù phép để Sài Gòn biến mất không nhỉ? Có khi nào Vương Cung Thánh Đường, chợ Bến Thành, bưu điện Sài Gòn, một sớm mai thức dậy người Sài Gòn ngơ ngác hay tin sẽ trở thành trung tâm thương mại, cao ốc chọc trời…


Ôi! Sài Gòn của tôi!!

Tôi vẫn nói vui rằng mình giữ lại “Sài Gòn xưa”. Từng tên đường, góc phố, giữ lại những buổi chiều hẹn hò: “Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” và giữ lại mãi mãi,những dấu yêu xưa!
Và rồi lại buốt tim khi nghĩ đến một ngày nào “Sài Gòn của tôi” sẽ chỉ còn là hoài niệm. Vô tình ai đó sẽ tìm thấy trong những trang sách hằn dấu thời gian ở một hiệu sách cũ.

Sài Gòn ơi!

Tôi gặp lại họ rất tình cờ, trong một… tiệm sách cũ, nơi thường lưu lại những gì mà ta còn nhớ hay đã quên.
Những trang giấy đã không còn nguyên màu trắng. Những dòng chữ như cũng nhạt theo năm tháng. Nhưng hình ảnh, dù phôi pha, thì nụ cười, ánh mắt cũng gợi nhớ một thời ta đã sống. Thời mà tên tuổi họ trên môi người hâm mộ Nghệ thuật thứ bảy, và họ được gọi một cách trang trọng là tài tử minh tinh.

Chưa xa lắm nhưng cũng đủ để quên những gì không muốn nhớ. Khi mà muốn xem phim người ta không thể làm gì khác hơn là đến rạp, và cứ có phim hay là rạp chật như nêm… Và rạp hát nào cũng treo đầy ảnh minh tinh tài tử, không phải Hồng Kông, Hàn Quốc như bây giờ mà toàn Việt Nam. Tôi say mê điện ảnh, dù chưa tới tuổi “đến rạp một mình” và yêu họ, dĩ nhiên…

Dạo đó chưa có những chương trình giao lưu, tài tử điện ảnh, ca sĩ tân nhạc cũng chưa phải “chạy sô” như bây giờ. Họ coi nghệ thuật như cứu cánh của đam mê và cả cuộc sống thực tế, nghề tay trái hầu như không có.

Chẳng ai nghe nói Thẩm Thúy Hằng phải đi… biểu diễn tân nhạc để kiếm thêm, cũng không thấy Kiều Chinh tham gia chương trình “đại nhạc hội”. Họ cũng chẳng đóng cùng lúc hai, ba phim như các diễn viên “đắt khách” bây giờ. Dù đó là những tên tuổi lớn của điện ảnh Sài Gòn thuở ấy, những tên tuổi mà lứa tuổi 40, 50 hôm nay, nếu yêu điện ảnh khó mà quên được.

Một Kiều Chinh tuyệt vời trong “Hồi Chuông Thiên Mụ”, Thẩm Thúy Hằng với “Người Đẹp Bình Dương”, Kiều Nguyệt Nga - Thu Trang trong “Lục Vân Tiên”, Túy Phượng diễm kiều với vai Công chúa của “Thạch Sanh - Lý Thông”… Tôi yêu nét thùy mị của Thu Trang, vẻ sắc sảo của Kiều Chinh, và nét đẹp duyên dáng Thẩm Thúy Hằng. Nam tài tử có La Thoại Tân, Anh Tứ, Lê Quỳnh, Anh Sơn, Đoàn Châu Mậu, Tâm Phan, Huy Cường, Trần Quang… Vân Hùng chuyên đóng kịch với kỳ nữ Kim Cương, thỉnh thoảng cũng “lên phim”. Rất nhiều, thời nào thì nghệ thuật cũng cần rất nhiều. Dù trong số họ không phải ai cũng đến được vinh quang, và để hoàn thành tác phẩm nghệ thuật, không chỉ có diễn viên chính.

Tình cờ gặp lại họ trong tiệm sách cũ. Nơi mà quá khứ lẫn với hiện tại, nơi mà thời gian chừng như bất lực, tôi thấy chút vui pha lẫn ngậm ngùi khi bắt gặp Lê Hoàng Hoa thời “mới làm quen với máy quay”, một Lê Mộng Hoàng hơn ba mươi năm về trước vẫn nhăn nhó… như bây giờ. Nụ cười Kiều Chinh và ánh mắt Thu Trang vẫn còn đó.

Một thời tôi đã lớn lên cùng với tên tuổi họ. Rồi tất cả bỗng như không còn, bỗng như chưa từng có. Người ta trôi theo nhịp sống bằng những cách khác nhau, và lưu giữ hay xóa đi dĩ vãng tùy thuộc mỗi người. Có điều chắc chắn rằng những gì đã có thì vẫn còn đâu đó, và ta sẽ gặp khi tình cờ một lúc nào đó đảo ngược được thời gian…

Và… thời gian đã đảo ngược với tôi, trong một tiệm sách cũ… Tình cờ!

Lý Thụy Ý