Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

I'm Dreaming Of A White Christmas - Giáng Sinh Trắng


I'm Dreaming Of A White Christmas 

I'm dreaming of a White Christmas
Just like the ones I used to know
Where the treetops glisten and children listen
To hear sleigh bells in the snow

I'm dreaming of a White Christmas
With every Christmas card I write
May your days be merry and bright
And may all your Christmas be white...

Nhạc phẩm của IRVING BERLIN( 1888-1989)
Ca sĩ BING CROSBY( 1942 Original Version)
***
Thơ Cảm Tác:

Giáng Sinh Trắng


Giáng Sinh trắng mà tôi mơ thấy
Cũng giống như ngày ấy...tuổi thơ
Tuyết rơi trắng xóa phủ mờ
Ngọn thông, và nóc nhà thờ làng tôi

Giáng Sinh trắng, mơ ngôi trường vắng
Những trẻ thơ đang lắng tai nghe
"Leng keng" của tiếng chuông xe
Lướt đi trên tuyết, ông Noel vẫy chào

Giáng Sinh trắng, năm nào cũng thế
Thiệp Giáng Sinh viết để chúc nàng
Tôi yêu cô bé dáng sang
Như bông tuyết trắng vô vàn tinh khôi

Giáng Sinh trắng, lòng tôi nguyện ước
Bé quê nhà, luôn được Vui-Tươi
Chúa nhân từ với nụ cười
Hồng ân ban phước cho người con thương...


DuyAnh
Christmas 2021

Bing Crosby - White Christmas (1942) Original Version



Hành Trình Hồn Nhiên




Ôm em cho chặt một ngày
Để rồi tháng cạn, năm đầy cũng vơi
Theo anh tới cuối chân trời
Tâm tư hoang vắng, nụ cười tỉnh mê

Tuyết đang rơi phủ não nề
Trong tim em trắng hẹn thề đã tan
Mùa đông nắng chiếu chứa chan
Áo em vẫn rực sắc vàng núi sông

Giáng Sinh ân sủng mênh mông
Đầy hồn mộng mị anh trong thơ tình
Chúa cho em hiểu rõ mình
Bỏ qua hệ luỵ hành trình hồn nhiên

Merry Christmas bình yên
Cất đi chén đắng ưu phiền, nhớ anh
Khắp trời hoa nến long lanh
Merry Christmas tâm lành, Amen...

Cao Mỵ Nhân

Tìm Nhau - Có Chờ Nhau?

Bài Xướng:

Tìm Nhau

Ngày xưa đó hỏi ai còn nhớ
Mỗi hè về phượng nở đầy hoa
Trầm buồn âm điệu lời ca
Tiếng nghe nức nở xót xa cõi lòng

Tìm nhau mãi khắp trong trời đất
Đâu của thời ngọt mật yêu thương
Bóng râm tàn lá sân trường
Che nghiêng khuôn mặt vấn vương đêm về

Bờ vai mỏng tóc thề buông xõa
Vườn tâm tư mở ngõ tình yêu
Dáng hoa thoăn thoắt trong chiều
Hương gây mùi nhớ thêm nhiều đắng cay

Phượng hồng uống nắng lay lay gió
Âm thầm riêng biết tỏ cùng ai
Tìm nhau chung tiếng thở dài
Thôi đêm thức trắng đọa đày con tim

Kim Phượng
***
Bài Họa:

Có Chờ Nhau?


Chuyện ngày xưa mãi còn luyến nhớ
Lúc sân trường Phượng rộ ngàn hoa
Chúng ta cùng hát hợp ca
Như ve nức nở…buồn sa vào lòng

Còn đâu nữa tìm trong dáng ấy
Của một thời đầy rẩy thân thương
Bảng đen, bụi phấn lớp trường
Thầy cô, bạn hữu sầu vương hiện về…

Nhớ cô bạn tóc thề vai xõa
Đi học về ngang ngõ…thầm yêu
Trông theo dáng ngọc bao chiều
Đem lòng thương nhớ….sợ nhiều nỗi cay

Mùa hạ đến phượng lay theo gió
Phút chia tay, dám ngỏ cùng ai
Chờ em suốt mấy năm dài
Người đi biền biệt…tù đày buồng tim

Song Quang
***
Tìm Nhau

Em hởi em anh đây luôn nhớ
Ta chia tay khi phượng nở hoa
Ve sầu rầu rĩ lời ca
Dư âm ngày cũ xót xa trong lòng.

Anh tìm mãi trên trời dưới đất
Tự trách mình dánh mất người thương
Hôm qua đi ngang sân trường
Bóng ai dáng nhỏ tơ vương em về.

Tóc em buộc đuôi gà buông xõa
Anh âm thầm trao gởi tình yêu
Nhưng em đâu biết mỗi chiều
Theo chân em bước nghe nhiều đằng cay.

Trời cuối năm nắng hồng nhớ Phượng
Cánh hoa xưa đắm đuối cùng ai
Hằng đêm nén tiếng thở dài
Người xưa có chủ thương hoài… con tim.

Dương hồng Thủy

10/12/2021


Bồ Tát Man 菩薩蠻 - Án Kỷ Đạo

 

菩薩蠻 - 晏幾道     Bồ Tát Man  - Án Kỷ Đạo
 
哀箏一弄湘江     Ai tranh nhất lộng Tương giang khúc,
聲聲寫盡湘波     Thanh thanh tả tận tương ba lục.
纖指十三             Tiêm chỉ thập tam huyền,    
細將幽恨             Tế tương u hận truyền.
 
當筵秋水             Đương diên thu thủy mạn,
玉柱斜飛             Ngọc trụ tà phi nhạn.
彈到斷腸             Đàn đáo đoạn trường thì,
春山眉黛             Xuân sơn mi đại đê.
 
Chú Thích:

1- Bồ tát man菩薩蠻= Bồ tát man菩薩鬘: Vốn là bài nhạc của Đường giáo phường, sau dùng làm từ bài. Tên khác là “Tử dạ ca子夜歌”, “Trùng điệp kim重疊金” v.v. Bài từ này có 44 chữ, đoạn trước và đoạn sau đều có 4 câu, 2 trắc vận và 2 bình vận. Cách luật:
 
 X  B  X  T  B  B  T (vận),
B  B  T  T  B  B  T (vận).
T  T  T  B  B (đổi vận),
T  B  B  T  B (vận).
 
X  B  B  T  T (đổi vận),
X  T  B  B  T (vận).
X  T  T  B  B (đổi vận),
X  B  X  T  B (vận).
 
X = bất luận; B = bình thanh; T = trắc thanh, vận = vần.
 
2- Ai tranh哀箏: tiếng đàn tranh nghe buồn bã.
3- Lộng: Chơi 1 khúc nhạc như gẩy đàn, thổi sáo…
4- Tương giang khúc湘江曲: Tức là bài Tương giang oán 湘江怨 hay Tương phi 湘妃怨 hay Tương phi lệ 湘妃淚, một bản nhạc cổ nổi tiếng của TH thời xưa nói về sự tích 2 vị cung phi của vua Thuấn tuẫn tiết ở sông Tương giang khi nghe tin vua Thuấn băng hà. 
5- Tương ba 湘波: sóng trên sông Tương.
6- Tiêm chỉ纖指: ngón tay thon nhỏ.
7- Thập tam huyền十三弦: Đàn tranh cổ có 13 dây.
8- Tế tương u hận truyền 細將幽恨傳: câu này có thể hiểu là "Tương u hận tế truyền" = đem chuyện u hận ngày xưa (2 vị phi của vua Thuấn tuẫn tiết) tỉ mỉ phát tán ra, nói rõ ra, truyền ra.
9- Đương diên當筵: ngay trong bữa tiệc rượu. Diên = chiếu tre.
10- Thu thủy秋水: ví với ánh mắt của nữ giới, trong vắt như nước mùa thu.
11- Mạn: =chậm, thong thả hay = tràn lan, chan hòa; Trong bài này đều có nghĩa là ngưng thần chú thị.
12- Ngọc trụ 玉柱hay nhạn trụ雁柱: dụng cụ chế bằng tre hay gỗ để căng dây đàn, đầu trên chống vào dây đàn, 2 chân ở đầu kia đứng trên cây đàn trông giống như hình 1 con chim nhạn dang cánh. Cây đàn có 13 dây thì có 13 cây trụ xếp nghiêng trông giống như 1 đàn nhạn đang bay. Ngọc trụ là tiếng thường dùng trong văn chương cổ.
14- Đoạn trường: đau buồn, buồn bã. Đoạn trường thì: đến lúc buồn bã.
15- Xuân sơn: sách Tây Lương Tạp Ký 西京雜記của tác giả Lưu Hâm 劉歆 đời Tây Hán 西漢, quyển 2 viết: Trác Văn Quân 卓文君 xinh đẹp, mi sắc như vọng viễn sơn 眉色如望遠山. Từ đấy về sau văn chương ví đôi lông mày của mỹ nhân như dãy núi mùa xuân.
16- Mi Đại 眉黛: Đại 黛 có nghĩa là phẩm mầu xanh đen của phụ nữ dùng vẽ lông mày vì vậy văn chương gọi lông mày phụ nữ hay gọi chung giới nữ lưu là "mi đại" hay "phấn đại". 4 chữ xuân sơn mi đại là chỉ đôi chân mày người đẹp.
 
Dịch Nghĩa:

Đàn tranh buồn gẩy bài tương giang khúc,
Từng tiếng tả hết sóng xanh sông Tương.
Ngón tay thon nhỏ (gẩy) mười ba dây,
(Tới đây đã thấy người gẩy đàn là nữ giớí)
Đem mối u hận xưa truyền đạt ra.
Trên chiếu (tiệc rượu) ánh mắt (người đẹp) chăm chú.
Những cây trụ ngọc như đàn nhạn đang bay.
Đàn đến lúc (nghe) não lòng,
Đôi chân mày (của mỹ nhân) hạ thấp xuống.
(Người cũng buồn theo tiếng đàn)
 
Phỏng Dịch:

Tương Giang Oán
 
1/ Bồ Tát Man – Tương Giang Oán
 
Đàn tranh buồn gẩy Tương giang khúc,
Thanh thanh tả hết sóng Tương lục.
Tay nắn mười ba dây,
U tình kể lể đầy.
 
Chiếu hoa đọng thu thủy,
Bầy nhạn bay ngọc trụ.
Khúc nhạc lúc buồn lòng, 
Làn mi xanh nhẹ buông.
 
2 /Tương Giang Oán


Tranh buồn gẩy khúc Tương giang,
Thanh thanh tả hết vạn ngàn sóng xanh.
Mười ba dây dạo ngón xinh,
Tiếng đàn kể lể ngọn ngành hận xưa.
Chiếu hoa thu thủy thẫn thờ,
Nghiêng nghiêng trụ ngọc mơ hồ nhạn bay.
Khúc đàn áo não lòng này,
Xuân sơn buông nhẹ chân mày xanh xanh.

 
HHD 

11-2017
***
Tương Giang Oán


(1)
Đàn tranh buồn gảy Tương giang khúc
Từng thanh tả hết sóng xanh giục
Tay nhỏ mười ba dây
Đem u hận giãi bầy
Chiếu hoa mắt chăm chú
Nhạn bay như ngọc trụ
Đàn đến khúc đoạn trường
Mi hạ thấp bi thương
 
(2)
Đàn buồn gảy khúc Tương giang
Từng thanh lột tả sóng tràn nhuốm mây
Tay thon nắn nót từng giây
Cố đem u hận giải bầy tấc gang
Mắt huyền trên chiếu đa đoan
Dõi theo bầy nhạn, trụ đàn ngọc hương
Đàn cho đến lúc đoạn trường
Xuân sơn mi thấp bi thương não nề!


Lộc Bắc
July2018

Tiệc Hội Ngộ Giáng Sinh 2022 Của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.


"Silent night" đã được dịch thành hàng trăm thứ tiếng và được cất lên hàng triệu triệu lần vào những dịp cuối năm. Bài hát này vang vọng từ những ngôi nhà thờ nhỏ bé ở Andes cho đến những thánh đường hoành tráng ở Antwerp hay La Mã. Ít ai biết được “Silent Night” lôi cuốn bao người có một nguồn gốc kỳ lạ... Câu chuyện bắt đầu từ 11-12-1792, tại Salzburg, Áo. Cậu bé Joseph Mohr sinh ra trong gia đình một thợ đan nghèo, cha bỏ đi. Đến ở với bà ngoại nghèo khổ túng thiếu, mỗi khi đói rét, Joseph thường lang thang đâu đó để quên đi. Chính những lần cuốc bộ đó đã làm thay đổi cuộc đời cậu và cả cách thức chào đón Noel trên thế giới. Một lần, Joseph ghé vào một nhà thờ trong làng và gặp ông Johann Hiernle, người chỉ huy dàn hợp xướng. Joseph bắt đầu tham gia sinh hoạt cộng đồng. Nhận thấy tài năng thơ ca, âm nhạc của Joseph, khi cậu đủ tuổi, Hiernle cho cậu vào học tại một trường ngữ văn nổi tiếng tại Kremsmnster. Rồi Joseph tốt nghiệp trường dòng, được phong linh mục khi vừa 23 tuổi. Về một nhà thờ ở miền núi xinh đẹp, Joseph sáng tác rất nhiều bài thơ. Xúc cảm từ một mùa Noel tuyết trắng phủ không khí yên ắng của đất trời trong một buổi sáng nọ.

Joseph ngồi xuống chiếc bàn gỗ và viết một mạch bài thơ ngắn mang tên “Stille Nacht! Heilige Nacht!” (tiếng Anh có nghĩa là “Silent Night! Holy Night!”; tạm dịch “Đêm thinh không! Đêm linh thiêng!). Rồi Joseph chuyển đến nhà thờ Thánh Nicholas. Đêm trước Noel 1818, cây đàn dương cầm bị hỏng. Không thể để ngày Noel thiếu lễ nhạc, cha Joseph nảy ra ý định cho ca đoàn hát cùng với tiếng đệm guitar. Thời gian cấp bách, ông nhớ lại bài thơ ngắn “Stille Nacht! Heilige Nacht!” và đề nghị Franz Gruber (người chơi đàn cho nhà thờ) lo phần nhạc, Joseph đệm guitar và hát giọng nam cao, Franz hát giọng trầm và cứ sau mỗi đoạn thì ca đoàn của nhà thờ sẽ hòa chung phần điệp khúc. Vào gần nửa đêm, giáo dân trong vùng tưởng như thường lệ người chơi đàn đại phong cầm tấu lên những bài ca mừng Noel hùng tráng... Nhưng không, chỉ nghe thánh thót luyến láy tiếng đàn guitar nhẹ nhàng nâng giai điệu Silent Night phảng phất âm hưởng dân ca vùng nông thôn nước Áo chầm chậm lan tỏa ra trong tĩnh lặng thinh không của một thời khắc thiêng liêng…. 

Một Noel thật đáng nhớ. Sau đó Joseph Mohr được thuyên chuyển đến nơi khác và trong suốt 7 năm sau đó Silent Night đã chẳng bao giờ được cất lên. Tình cờ một người thợ tên Karl Mauracher đến sửa đàn cho nhà thờ Thánh Nicholas. Sửa xong, Mauracher mời ông Gruber thử đàn. Khi Gruber lướt phím xướng cho đoạn nhạc mở đầu của Silent Night, Mauracher cảm ngay vẻ đẹp bài hát nên xin đem cả nhạc và lời của “Silent Night” về làng Kapfing. Hai gia đình ban nhạc nổi tiếng Rainers và Strassers được mời thưởng thức và liền bị cuốn hút, quyết định đưa bài hát mới vào các lễ hội âm nhạc mừng Noel. Sau đó nhà Strasser đã đưa Silent Night vòng quanh Bắc Âu. Đến năm 1834, họ biểu diễn cho Đức vua Frederick William đệ IV của nước Phổ, quá ấn tượng, vua truyền lệnh ca đoàn của cung đình phải xướng bài hát này vào mỗi dịp Noel. Gia đình Rainers thì lại sang Mỹ vào năm 1839 và đã biểu diễn Silent Night bằng tiếng Đức ngay tại Đài tưởng niệm Alexander Hamilton ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ Trinity của New York. Năm 1863, Silent Night được Jane Campbell và John Young dịch sang tiếng Anh… Mỗi đêm Giáng sinh, giai điệu bài thánh ca kinh điển lại tạo nên những khoảnh khắc thiêng liêng, ấm áp, đưa con người xích lại gần nhau hơn. Đêm Giáng sinh năm 1818, giáo dân tại một ngôi làng nhỏ ở Oberndorf thuộc Áo kinh ngạc khi lần đầu tiên lắng nghe một ca khúc lạ lẫm, được trình bày với đàn guitar thay cho đàn organ như thường lệ. Họ không ngờ rằng gần 200 năm sau, ca khúc đó đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới, được dịch ra ít nhất 140 thứ tiếng. Đó chính là khúc ca Silent Night kinh điển, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại hồi tháng 3/2011.

Nhà văn Việt Hải nói lời tạ ơn cùng phu nhân- Ảnh của tác giả

Sáng thứ hai ngủ nướng khét nghẹt, thức dậy trễ, bà chủ nhà, madam landlord đánh thức ăn cơm chiều 5PM, vì dêm hôm qua đi party Giáng sinh về nhà 12:30am, ngủ 5 giờ thôi, long thể như còn ngấy ngủ, ôi sao con bệnh ham vui nó bám hồn, nó hành hạ ta mãi oải tuổi già. Hình như niên kỷ ta sát mí cổ lai, đã ngữi mùi đất rồi..., Nghe như tri thiên mệnh thì cũng hơi hơi trừu tượng nhỉ, có lúc ta cười thi sĩ Việt Cường khi Mạnh Bổng đút chè cho bố Việt Cường 92 niên kỷ, Mạnh Bổng lau mồm cho Bố, Bố xơi chậm rãi trong tiếng nhạc techno chách chùm "I want to wish you a Merry Christmas, I want to wish you a Merry Christmas, I want to wish you a Merry Christmas, from the bottom of my heart...". Chả bao lâu sau mama Ngọc Hà đút xmas cake cho bé Việt Hải, và mama Kiều My lau mồm babe của bé, bố Việt Cường 92 cười lại bé Vìệt Hải 69, Bố từng học trường tây tại Lycée Albert Sarraut; Hà Nội, bố Việt Cường bỏ nhỏ: "Tu n'es pas meilleur que moi, mon jeune ami, pas du tout, hihi... Riez des gens, ne riez pas longtemps, riez la veille, le lendemain, le lendemain !", khiến bé VIệt Hải wê wá xá....hihi. Giời ơi "Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước hôm sau người cười.


Mở dầu nhà văn Khánh Lan cũng đã lược sơ các hoạt động trong quá khứ 7 năm của liên nhóm như tổ chức các buổi ra mắt sách, những buổi chương trình âm nhạc, những hoạt sinh nội bộ liên nhóm. Ngoài phần tường trình sinh hoạt 7 năm là phần văn nghệ sinh động với những nhạc khúc mừng Giáng Sinh hợp ca và đơn ca do nhóm Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng trình diễn. Phần dạ vũ vui tươi, sống động "leg exercise",....

Trên sân khấu, emcee Bích Trâm intro chapeau bài ca: The Little Drummer Boy. "Một trong những ca khúc Giáng sinh kinh điển được mọi người yêu chuộng là bài Chú Bé Đánh Trống (The Little Drummer Boy), còn được biết đến với tên gọi “Carol of the Drum” được nữ nhạc sĩ Katherine K. Davis sáng tác vào năm 1941. Bài hát nổi tiếng không chỉ bởi giai điệu du dương trầm bổng mà còn vì ý nghĩa thâm sâu, thấm đẫm trong từng lời nhạc. Bài hát kể về câu chuyện của một cậu bé nghèo. Vào đêm Giáng sinh đầu tiên, khi ba nhà thông thái từ phương Đông đến mừng Chúa Jesus ra đời, họ gọi cậu theo. Các nhà thông thái kia ai cũng mang những món quà quý giá như trầm hương và vàng. Còn cậu chỉ là một đứa bé nghèo khó nên chẳng có gì để làm quà ngoài chiếc trống của mình. Sau khi được Mẹ Maria cho phép, cậu đã sử dụng chiếc trống của mình để tấu lên điệu nhạc trọng thể, làm quà kính dâng ngày Chúa giáng sinh. Tiếng trống của cậu, là bản nhạc cậu đã chơi với cả tấm lòng đơn sơ. Kỳ diệu thay, Chúa Jesus mặc dù chỉ vừa mới sinh ra, có vẻ như hiểu, ngừng khóc và mỉm cười với cậu bé đánh trống tỏ vẻ hài lòng. Câu chuyện cậu bé nghèo không có quà gì cho Chúa Jesus ngoài tấm lòng thành kính đã làm cho nhiều người cảm động và cảm thán. Đâu cứ phải có nhiều vàng bạc, của cải thì mới là quà cho Chúa, cũng chưa chắc Chúa đã mỉm cười và nhận những thứ đó. Chỉ cần một tấm lòng thành kính và một trái tim thuần khiết thôi cũng khiến Ngài mỉm cười rồi. Ca khúc được viết với giai điệu đơn giản nhưng vẫn quyện vào nhịp 4/4 với tiết tấu rộn ràng. Bài hát chỉ là một đoạn nhạc, câu nhạc lại ngắn gọn, nhưng được lặp đi lặp lại. Sau môi câu ngắn đều có tiếng “gõ” theo nhịp trống: Pa-rum-pum-pum-pum. Tuy đơn giản nhưng bài ca đã đi vào huyền thoại và được nhân loại biết đến như một lời cầu nguyện khi dịp Giáng sinh về.


Bộ ba Con Cá Vàng là mamas Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Lâm Dung gõ trống mồm y chang như NS. Trần Quang Hải gõ muỗng mồm, 3 mamas đệm thêm trống soundtrack. Nghe nè nhé....

"Come they told me, Pa rum pum pum pum
A new born king to see, Pa rum pum pum pum
Our finest gifts we bring, Pa rum pum pum pum

To lay before the king, Pa rum pum pum pum,
Rum pum pum pum, Rum pum pum pum

So to honor him, Pa rum pum pum pum
When we come, Pum pum pum pum
Pa rum pum pum, Pum pum pum pum
Pa rum pum pum, Pum pum pum pum
Pa rum pum pum, Pum pum pum pum pa rum

Little baby, Pa rum pum pum pum
I am a poor boy too, Pa rum pum pum pum...."

GS. Sum qua sang tôi hỏi: " Ai làm nhạc gì mà nghe "Pum pum pum pum Pa rum pum pum, Pum pum pum pum Pa rum pum pum, Pum pum pum pum Pa rum pum pum, Pum pum pum pum pa rum... hoài dzậy ? Uýnh trống mà hỏng thấy lân múa ông địa quạt gì hết trơn...!!!"
Emcee Bích Trâm hồi đáp qua micro: "Thưa giáo sư: Pum pum pum pum Pa rum pum pum,... là bài hát do NS. Katherine Kennicott Davis năm 1941 khi em chưa thấy mặt trời ạ !"

Ta nghe bộ ba Con Cá Vàng Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Lâm Dung (The Gold Fish 3) cất giọng nhắc nhở không khí Noël về...
Rồi sân khấu vang lên: "Mon histoire C'est l'histoire d'un amour Ma complainte C'est la plainte de deux cœurs Un roman comme tant d'autres Qui pourrait être le vôtre Gens d'ici ou bien d'ailleurs C'est la flamme Qui enflamme sans brûler C'est le rêve..." Người ta nhận ra đôi song ca như nhóm Brigitte duo (gồm 2 ca sĩ Sylvie Hoarau và Aurélie Saada) trong tình khúc Câu chuyện về một cuộc tình
Histoire D'un Amour (Paroles Dalida) By Misso D'Egitto:


Thầy Quang của MĐHT của tác phẩm Ốc Mượn Hồn (loại œuvres existentielles) nâng ly vang đỏ do ca sĩ Hùng Ngọc chôn ở sân sau nhà, 30 năm mới đào lên mừng Festive Xmas 2022. Emcee ThuỵVy đọc xướng âm brand name với chuẩn giọng accent italien: "Casanova di Neri Brunello di Montalcino Tenuta Nuova Casanova di Neri Brunello di Montalcino Tenuta Nuova 1992.da Montalcino, Toscana, Italia."
Kế đến Nhóm Ba Bà Sui (3 Mamas-in-law) nhún nhảy techno mừng giây phút Chúa Cha ra đời.

"Mary's boy child Jesus Christ was born on Christmas Day
And man will live for evermore because of Christmas Day
Long time ago in Bethlehem, so the Holy Bible said
Mary's boy child Jesus Christ was born on Christmas Day
Hark, now hear the angels sing, a king was born today
And man will live for evermore, because of Christmas Day
Mary's boy child Jesus Christ was born on Christmas Day
While shepherds watch their flocks by night
They see a bright new shining star
They hear a choir sing a song, the music seemed to come from afar
Hark, now hear the angels sing, a king was born today
And man will live for evermore, because of Christmas Day
For a moment the world was aglow, all the bells rang out
There were tears of joy and laughter, people shouted
"Let everyone know, there is hope for all to find peace"

Oh my Lord
You sent Your son to save us
Oh my Lord
Your very self You gave us
Oh my Lord
That sin may not enslave us
And love may reign once more
Oh my Lord
When in the crib they found Him
Oh my Lord
A golden halo crowned Him
Oh my Lord
They gathered all around Him
To see Him and adore
This day will live forever..."


Buổi tiệc mang không khí gia đình, vui tươi và thành công theo nhận xét cá thân hữu tham dự. Cám ơn tất cả bạn bè và quan khách.Hẹn

Việt Hải LA. 

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2021

Noel Tím - Thơ Ngọc Quyên Nhạc Mã Quốc Thái Hòa Âm Bửu Mật


Thơ Ngọc Quyên 
Nhạc Mã Quốc Thái 
Hòa Âm Bửu Mật 
Tiếng Hát Ngọc Lan


Cầu Nguyện


Lạy Chúa, tuy con là người ngoại đạo
Khi nghe tiếng chuông từ các giáo đường
Trong đêm lễ mừng Đức Chúa Giáng Sinh
Con cũng vui như con chiên của Chúa.
Chúa thương loài người, giàu lòng nhân ái
Đã hy sinh, Thập tự giá đóng đinh
Để chuộc tôi cho Thế gian nhân loại.

Chúa ơi!
Nay chúng con đang gặp phải thiên tai
Dịch Covid đang lan tràn giết hại
Hàng triệu người trên khắp năm Châu
Con xin Chúa dùng thần lực, thiên oai
Diệt Covid cứu nguy cho nhân loại.
A Men.


Hoa Đô, Christmas 2021
Trần Công/Lão Mã Sơn

Bella Giấc Ngủ Ngàn Thu


Mời quí anh chị, các bạn, đặc biệt quí chị ở bên Pháp cũng như quí anh chị mến yêu loài vật đọc một bài rất hay và cảm động về Con chó Bu (Bou).

Tôi có ba cô chó Maltese. Tôi vẫn bảo chúng: Gì chứ tình cảm, chúng hơn tôi bội phần!


Giáng sinh 2020 tôi có chụp và đưa hình đưa mấy cô lên mail đàn. Tội nghiệp Bella mất hôm nay là bốn tháng rồi, vì chứng IBD, mặc dầu tôi tận tình thuốc men và dinh dưỡng! Bella rất dễ thương. 


Tôi cho Bella nằm ngủ sau vườn nhà, dưới gốc cây Japanese Maple và trồng hoa trên mộ Bella.
Cái nầy thì Bella hơn tôi, vì tôi chẳng bao giờ được ngủ giấc ngàn thu sau vườn nhà tôi!

R.I.P. Bella.

Tống Viết Minh

Thế Mà Cũng Xong Một Bài Thơ - Buồn, Đọc Thơ Trần Vấn Lệ


Thế Mà Cũng Xong Một Bài Thơ

Hai năm rồi...mắc dịch, thế giới như một nhà, không ai cần đi xa vẫn thấy buồn thăm thẳm!
Trời đất vẫn xanh thắm, sao người ta bạc đầu? Hôn đứa cháu, hôn đâu? Hai bàn tay đập đập!
Cái khẩu trang che mặt, chừa đôi mắt tự nhiên. Ai cũng tự nhiên hiền, nói những lời nhỏ nhẹ...
Thế là hai năm Lễ Chúa Giáng Sinh không vui! Ông Già Noel cười...nụ cười trên mặt nạ!
Những nhành cây không lá, tuyết bám nở thành hoa. Thấy trên những mái nhà, tuyết đọng thành nước mắt!
Hai năm rồi xa cách, không lễ lạt, hội hè. Đường sá bơn bớt xe. Tiếng còi xe không có...
Năm ngoái, đêm mừng Chúa, không ai không nguyện cầu cho ngày này năm sau ai ai cũng vui vẻ...
Không ai nhắc cô bé đi bán diêm hồi xưa! Không ai thấy gió đùa tiếng chuông rơi trên cỏ!
Không có gì để nhớ. Tôi ngó lịch, làm thơ. Câu thơ gió thoảng niềm tâm sự nghe lạnh làm sao đêm Giáng Sinh!
Chắc chắn Chúa giật mình...giật rớt cây Thánh Giá, cái lư hương được trả...khói thơm suốt bờ sông...

Trần Vấn Lệ
***
Buồn, Đọc Thơ Trần Vấn Lệ

Tơi bời vì đại dịch, phải bó gối ngồi nhà, bao bạn bè gần, xa, đều như là xa thẳm.
Má người yêu vẫn thắm, tóc vẫn xanh mái đầu. Vẫn đó, mà như đâu. Nhịp tim chung thôi đập.
Cách ly không thấy mặt. Cái đó là đương nhiên. Bản tính tôi vốn hiền, nên chuyện ấy coi nhẹ.
Những ngày nghỉ, và lễ, chúng tôi gặp nhau, vui. Rộn rã những tiếng cười. Giờ phải đeo mặt nạ, tháng ngày trôi như lá, đời không thấy nở hoa. Chân cẳng trói trong nhà, còn thấy gì trước mắt?
Xuân qua, rồi đến hè. Mỗi ngày nhìn cái xe. Có, mà như không có!
Lắm khi tìm Phật, Chúa. Hết nguyện rồi đến cầu. Mong những ngày tháng sau
Trần gian thay dáng vẻ.
Người già và em bé. Hồn nhiên như ngày xưa. Rộn rã tiếng cười đùa, và hoa nở trên cỏ.
Xa nhau, ôi là nhớ. Buồn quá tôi đọc thơ.
Thơ Trần Vấn Lệ tràn tâm sự
Còn hơn ba tuần, ngày Chúa sinh.
Cầu Chúa thương dân mình
Từ trên thập tự giá
Sẽ đem bình an trả. Và thả dịch trôi sông!

Chẩm Tá Nhân
12/05/202

Tương Tiến Tửu 將進酒 - Quân Bất Kiến

Nguyên tác.      Dịch âm

將進酒      Tương Tiến Tửu 

君不見      Quân Bất Kiến 

黃河之水天上來       Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai
奔流到海不復回       Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
又不見                       Hựu bất kiến 
高堂明鏡悲白髮       Cao đường minh kính bi bạch phát
朝如青絲暮成雪       Triêu như thanh ti mộ như tuyết
人生得意須盡歡       Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
莫使金樽空對月       Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
天生我才必有用       Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng
千金散盡還復來       Thiên kim tán tận hoàn phục lai
烹羊宰牛且為樂       Phanh dương tể ngưu thả vi lạc
會須一飲三百杯       Hội tu nhất ẩm tam bách bôi
岑夫子      Sầm phu tử
丹丘生      Đan Khâu sinh
將進酒      Tương tiến tửu
杯莫停      Bôi mạc đình
與君歌一曲      Dữ quân ca nhất khúc
請君為我傾耳聽      Thỉnh quân vị ngã trắc nhĩ thính
鐘鼓饌玉何足貴       Chung cổ soạn ngọc bất túc quí
但願長醉不願醒       Đản nguyện trường túy bất nguyện tỉnh
古來聖賢皆寂寞       Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
唯有飲者留其名       Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
陳王昔時宴平樂       Trần Vương tích thời yến Bình Lạc
斗酒十千恣歡謔       Đấu tửu thập thiên tứ hoan hước
主人為何言少錢       Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền
逕須沽取對君酌       Kính tu cô tửu đối quân chước
五花馬      Ngũ hoa mã
千金裘      Thiên kim cừu
呼兒將出換美酒       Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu
與爾同消萬古愁       Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu

Chú giải: 

Thanh ty: mái tóc xanh. Sầm phu tử: Sầm Tham, người bạn thân đáng kính của Lý Bạch. Đan khâu sinh: Nguyễn Đan Khâu, 1 người bạn uống rượu của Lý Bạch. Soạn ngạc: món ăn quý. Trần vương: Trần tư vương Tào Thực, con trai út của Tào Tháo, mở tiệc lớn ở quán Bình Lạc, tiêu thụ hết 10 ngàn hũ rượu..

Bình Lạc: tên quán rượu. Ngũ hoa mã: ngựa có 5 sắc vằn. Thiên kim cừu: áo hồ cừu đáng giá ngàn quan tiền.

Dịch thơ

Chuốc Rượu Nhau

Anh chẳng thấy
Nước Hoàng Hà trên trời đổ xuống
Cuồn cuộn ra khơi chẳng tái hồi.
Lại chẳng thấy
Trước gương sáng cha soi đầu bạc
Sớm tơ xanh chiều đã phai phôi.
Rượu ngon cơn vui khi đắc ý,
Chớ để trăng ngà ngó ly vơi.
Trời sinh ta hữu dụng hữu tài,
Ngàn vàng mất còn hòng kiếm lại.
Cứ vui mổ bò non dê nái,
Nhâm nhi ba trăm chén khề khà.
Sầm phu tử!
Đan Khâu hề!
Cùng cạn chén,
Chớ thôi nghe.
Vì hai anh ta hát bài ca.
Lắng nghe ta anh cũng vì ta.
Chiêng trống tiệc tùng chưa đủ qúi.
Thề say mãi thề đừng tỉnh nhé,
Thánh hiền xưa rồi sẽ lu mờ.
Đời lưu danh những kẻ say sưa.
Tiệc Bình Lạc Trần Vương thời cũ,
Đã nốc cạn tới mười ngàn hũ.
Khổ chủ ơi đừng nói thiếu tiền,
Rượu mua thêm cùng ta uống tiếp.
Ngựa tuyệt đẹp,
Áo ngàn vàng,
Cứ sai đi đổi lấy rượu ngon.
Uống cho sầu vạn cổ không còn.

Lời bàn: 

Một bài thơ say tuyệt tác, tung hoành khắp Á Châu trong hơn một thiên kỷ. 

Riêng 6 câu đầu đã cống hiến một khúc thơ nhạc du dương. Có hai đoạn. Đoạn đầu gồm một câu 3 chữ nối liền ý với hai câu 7 chữ nói rằng nước Hoàng hà chỉ chảy một chiều ra biển, không bao giờ trở lại. Đoạn sau cũng gồm ba câu có cấu trúc y hệt nói rằng thời gian cũng chỉ đi có một chiều (từ trẻ đến già), không bao giờ quay trở lại. Cả hai đoạn hợp lại nhắn các bợm nhậu rằng nếu anh không uống với tôi thì anh sẽ vĩnh viễn mất một cơ hội mà anh không bao giờ gặp nữa.

18 câu thất ngôn kế tiếp xen kẽ với hai nhóm 4 và 2 câu tam ngôn tả những chi tiết hấp dẫn của cuộc say rượu (từ cái khoái thể xác tới cái danh dự của người say rượu). Đừng sợ tôi thiếu tiền, thiếu tiền thì tôi đem áo đẹp và ngựa qúy đổi lấy rượu. Đừng sợ tôi nghèo, ngàn vàng mất cũng sẽ kiếm lại được, miễn là mình có tài. 

Còn một điều nữa hơi khó nhận ra nhưng khi đã nhận ra thì thú vị vô cùng: qua văn phong và nhịp điệu của bài thơ (nhịp nhàng, cân đối, thăng bằng, linh động), ta thấy Lý Bạch say mà không gục, lảo đảo mà không ngã, vẫn ca hát, mời mọc, lý luận và cuối cùng vẫn sáng suốt (uống để diệt cái sầu vạn cổ). Lối dàn xếp những câu từ 7 chữ xuống 3 chữ rồi từ 3 chữ lên 7 chữ cũng phụ giúp cho cái dáng lảo đảo của người say rượu. 

Để thể hiện hồn thơ của họ Lý, bài dịch đã cố gắng giữ nguyên số câu, số chữ, vần, điệu và văn phong của tác giả. Đã mất cả giờ mới nhớ ra cụm từ khổ chủ (chỉ người chi tiền cho tiệc rượu) để dịch chữ chủ nhân.
Thật là một bài thơ vô tiền khoáng hậu, hơn 1300 năm mà chưa có bài thơ say nào đáng mặt đối thủ.
 
Con Cò
***
Chuốc Rượu Nhau

Anh không thấy,
Trời đổ xuống Hoàng Hà giòng nước,
Chảy ra khơi có ngược về đâu.
Lại thấy không,
Soi gương tóc bạc cha sầu,
Tơ xanh buổi sáng tối mầu tuyết hoa.
Khi đắc ý cùng ta tận hưởng,
Cạn ly đầy vui thưởng trăng ngà,
Trời cho tiền để tiêu pha,
Ngàn vàng sài hết kiếm ra lại còn.
Mổ dê lợn thật ngon tìm thú,
Ba trăm ly đếm đủ chưa say.
Sầm Phu Tử,
Đan Khâu thầy,
Cùng chuốc rượu,
Chớ ngưng ngay.
Vì người ta hát một bài,
Vì ta người cũng lắng tai nghe cùng.
Chuông cổ ngọc tiệc tùng nào quí,
Tỉnh làm chi, muốn tuý lúy hoài.
Thánh hiền ai biết xưa nay,
Lưu danh thiên hạ người say thật ngầu.
Trần Vương tiệc, tửu lầu Bình Lạc,
Mười ngàn chai uống cạn vui đùa,
Thiếu tiền ông chủ đừng lo,
Để cùng chuốc chén cứ mua thêm mà.
Ngựa năm hoa,
Áo ngàn vàng,
Gọi đồng tử đổi sang hoàng tửu,
Để cùng nhau niên cửu tiêu sầu.


Mỹ Ngọc.
Dec.6/2021.
***
Cùng Nâng Chén Rượu

Anh chưa thấy nước trời trút xuống
theo sông Hoàng cuồn cuộn ra khơi
Ầm ầm chớp dậy sóng nhồi
Băng băng chảy tới có lui khi nào!
Anh có thấy lầu cao gương ngắm
Mẹ cha buồn khi trắng mái đầu?
Tóc xanh buổi sớm bao lâu
Chiều tà tuyết bạc phếch màu thời gian
Khi đắc ý hân hoan hưởng thụ
Ðể vừng trăng đừng ngó chén không
Có tài tất có chỗ dùng
Ngàn vàng sạch túi lưu thông lại về
Mổ trâu béo, giết dê đãi tiệc
Ba trăm ly cạn hết mới thôi
Này ông Sầm! Chú Khâu ơi!
Rượu dâng còn phải khuyên mời cạn sao!
Xin vì bạn cất cao tiếng hát!
Xin vì ta các bác lắng tai!
Món ngon chuông khánh gác ngoài
Nguyện cùng say khướt ,Tỉnh rồi ích chi?
Bao hiền thánh xưa kia mai một
Duy bợm say tiếng tốt để đời
Vua Trần, Bình Lạc tiệc vui
Mười ngàn- bầu rượu- ban mời thỏa thuê
Ông chủ hỡi! Chớ e tiền cạn!
Kiếm rượu về xả láng cùng nhau 
Áo cừu vàng, ngựa hoa đâu?
Sai con đổi rượu quý mau đợi gì?
Chén tôi bác tì tì uống mãi
Tiêu tan sầu vạn đại mới thôi!


LTÐQB
***
Dịch thơ:
Tương Tiến Tửu - Lý Bạch Mời Rượu – Lý Bạch

Quân bất kiến,                                     
Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,   
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.             
Quân bất kiến,                                     
Cao đường minh kính bi bạch phát,    
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết.     
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,               
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt.     
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,          
Thiên kim tán tận hoàn phục lai.         
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc,         
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.             
Sầm phu tử, Đan Khâu sinh, Sầm huynh,  
Tương tiến tửu, Bôi mạc đình.            
Dữ quân ca nhất khúc,                         
Thỉnh quân vị ngã trắc nhĩ thính.         
Chung cổ soạn ngọc bất túc quí,          
Đản nguyện trường túy bất nguyện tỉnh. 
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,          
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.               
Trần Vương tích thời yến Bình Lạc,    
Đấu tửu thập thiên tứ hoan hước.         
Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền,            
Kính tu cô thủ đối quân chước.             
Ngũ hoa mã, Thiên kim cừu,                 
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,          
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

***   
Hoàng Hà nuớc biếc chảy từ trời,
Vội vã không lùi ra biển khơi.
Không thấy sao,
Trên lầu trước kính buồn tóc bạc,
Sáng sớm tóc xanh chiều tuyết rơi.
Đắc ý hãy vui cho chí thỏa,
Đừng để chén cạn dưới trăng thanh
Đã có thiên tài không phí bỏ,
Ngàn vàng tiêu hết lại rồi có.
Mỗ dê lấy thịt giết trâu,
Uống ba trăm chén một chầu.
Đan đệ, chúng mình
Để ta hát tặng khúc chưa quen,
Mời nghe cho kỹ vì ta nghen.
Chuông trống món ăn đâu đáng quý
Say hoài không tỉnh mới đáng khen.
Thánh hiền tự cổ ít để danh
Đồ đệ lưu linh mới ngon lành.
Sự tích Trần Vương nơi Bình Lạc
Mười ngàn đấu rượu đáo công thành..
Khổ chủ ta đâu than thiếu bạc,
Bán đi mọi thứ để cùng say.
Ngựa hoa năm sắc, áo cừu đây,
Đem đi đổi lấy rượu ngon uống,
Nỗi sầu vạn cổ sẽ quên ngay.            
Không thấy sao,
Hãy cùng nâng chén chân tình.

***
Bringing In The Wine by Li Bai
Translation by Witter Bynner

See how the Yellow River's waters move out of heaven.
Entering the ocean, never to return.
See how lovely locks in bright mirrors in high chambers,
Though silken-black at morning, have changed by night to snow.
...Oh, let a man of spirit venture where he pleases
And never tip his golden cup empty toward the moon!
Since heaven gave the talent, let it be employed!
Spin a thousand pieces of silver, all of them come back!
Cook a sheep, kill a cow, whet the appetite,
And make me, of three hundred bowls, one long drink!
...To the old master, Cen,
And the young scholar, Danqiu,
Bring in the wine!
Let your cups never rest!
Let me sing you a song!
Let your ears attend!
What are bell and drum, rare dishes and treasure?
Let me be forever drunk and never come to reason!
Sober men of olden days and sages are forgotten,
And only the great drinkers are famous for all time.
...Prince Chen paid at a banquet in the Palace of Perfection
Ten thousand coins for a cask of wine, with many a laugh and quip.
Why say, my host, that your money is gone?
Go and buy wine and we'll drink it together!
My flower-dappled horse,
My furs worth a thousand,
Hand them to the boy to exchange for good wine,
And we'll drown away the woes of ten thousand generations!
Please Drink Up by Li Bai

Translation by Betty Tseng

Do you not see
The waters of the Yellow River come pouring from the sky,
Rushing towards the sea and never coming back?
Do you not see
Our elders' grievance over grey hair when they a mirror look into,
That was once ebony, now white as snow in their twilight years?
We should fully enjoy ourselves when we feel pleased,
Let not golden chalices mirror the moon without spirits.
There has to be a way and a purpose for a being like me,
The riches I've spent shall one day be reacquired.
Butcher and cook lamb and beef for a happy feast,
Whenever there is an opportunity, have three hundred sips of liquor at least.
Master Cen, Danqiu, my friend,
Please drink up, let not your chalice lay neglected.
Let me sing you a song,
Please lend a ear and listen as I sing:
A grand banquet with an orchestra is not as precious as it seems,
How I wish for intoxication and how I wish from which I never wake.
Throughout time sages and men of virtue have only the company of solitude,
Only those who drink leave behind a reputation next to their name.
Duke Chen of Wei gave a banquet at the Temple of Joy and Peace,
Providing pecks of wine at ten thousand pence each for all to indulge freely.
Being a host why would I excuse myself claiming lack of means?
I'd readily buy however much required to drink to our hearts' content.
A steed with vivid shades of hair, a fur coat worthy of a thousand goldpieces,
In exchange for more great wine I'll have my son pawn these,
To share with you in smoothing away our millennia of sorrow, gloom and
grief.

Invitation To Wine by Li Bai
Translation by Inness Herdan

Do you not see the waters of the Yellow river
streaming from the sky
How they rush tumbling to the sea
and never return?
Do you not see, within the high tower,
someone who sorrows for his white hair 
before the bright mirror?
In the morning like black silk, at evening turned to snow?
In human life, when hopes are won,
we should drink our joys to the end,
Not leave the golden wine-jar
empty in the moonlight.
The things that Heaven made must have a use;
Though I squander a thousand gold pieces,
time may restore them.
Boil. the sheep! Kill the ox! Let us be merry!
Three hundred cupfuls of wine we must drink this time!
Master- Cen 1 !
Doctor Danqiu 2 !
I am bringing the wine
Don't put down your cups!
I shall sing you a snatch of song:
Listen to me please.
Gongs and drums, costly dishes, little I prize them;
I only want the long dream of wine and never to wake.
Through all the ages, the good and wise were passed
over in silence;
Only the mighty drinkers left a name behind.
Think of the Prince of Chen 3 in former days,
feasting at Pingle palace
The wine at ten thousand a flagon,
the endless jesting and laughter...
How can a host complain he is short of money?
I must hasten to buy the wine to put before my friends.
My horse dappled with the five colours
And my thousand-guinea furs
I will call the boy to barter them for a splendid wine
That you and I may forget for sorrows of all the ages.
1 Master Cen: the poet Cen Shen
2 Doctor Danqiu: the Taoist hermit Yuan Danqiu. Both were friends of
Li Bai.
3 The Prince of Chen: Cao Zhi, a prince pf Wei in the Tree Kingdoms
period (220-265), notorious in his youth for his dissipation and love of
luxury.

Invitation To Wine by Li Bai
Translation by Xu Yuan Zhong

Do you not see the Yellow River come from the sky,
Rushing into the sea and ne'er come back?
Do you not see the mirrors bright in chambers high
Grieve o'er your snow-white hair though once it was
silk-black?
When hopes are won,
Oh! drink your fill in high delight,
And never leave your wine-cup empty in moonlight.
Heaven has made us talents, we're not made in vain.
A thousand gold coins spent, more will turn up again.
Kill a cow, cook a sheep and let us merry be,
And drink three hundred cupfuls of wine in high glee.
Dear friends of mine,
Cheer up, cheer up!
I invite you to wine.
Do not put down your cup!
I will sing you a song, please hear,
O, hear! lend me a willing ear!
What difference will rare and costly dishes make?
I only want to get drunk and never to wake.
How many great men were forgotten through the ages?
But great drinkers are more famous than sober sages.
The Prince of Poets feast'd in his palace at will,
Drank wine at ten thousand a cask and laughed his fill.
A host should not complain of money he is short,
To drink with you I will sell things of any sort.
My fur coat worth a thousand coins of gold
And my flower-dappled horse may be sold
To buy good wine that we may drown the woes age-old.

Phí Minh Tâm

Góp ý:

Năm Thiên Bảo thứ 11 (752), Lý Bạch và Sầm Huân được Nguyên Đan Khâu mời đến nhà; ba người lên núi Tung Sơn uống rượu và bài nhạc phủ Tương Tiến Tửu ra đời.  Cả Sầm Huân lẫn Nguyên Đan Khâu là hai ẩn sĩ mà có lẽ ngoài Lý Bạch ra ít ai thân thiết hay nói đến. Theo tài liệu  李白《將進酒》中 岑夫子 原來是顏真卿《多寶塔感應碑文》的作者  này thì:

岑勳=Sầm Huân, biệt hiệu 岑夫子=Sầm Phu Tử là người Trung Đường, không rõ năm sinh tử, nguyên quán ở 鳴皋山 Minh Cao Sơn (Nam Dương, Hồ Nam, khoảng 45 km hướng chính Nam của Lạc Dương) là một ẩn sĩ, tác giả của bài thơ 多寶塔感應碑 Đa bảo Tháp cảm ứng bi, được Lý Bạch nhắc đến trong các bài thơ 送岑徵君歸鳴皋山 Tống Tầm Trưng Quân quy Minh Cao Sơn, 酬岑 勳見尋就元丹丘對酒相待以詩見招 Thù Sầm Huân kiến tầm tựu Nguyên Đan Khâu đối tửu tương đãi dĩ thi kiến chiêu, và 鳴皋歌送岑徵君 Minh Cao ca tống Sầm Trưng Quân. Theo tựa đề các bài thơ trên ta thấy hình như Sầm Huân còn có biệt hiệu Sầm Trưng. Sầm Huân là cháu dòng tể tướng họ Sầm thời Đường nhưng không tham chính.

丹丘生=Nguyên Đan Khâu thì được biết đến nhiều hơn vì đã là bạn của Lý Bạch từ thuở tuổi đôi mươi, và là người ẩn cư đầu tiên họ Lý tìm đến khi muốn tu tiên ở Tung Sơn; Lý Bạch làm 14 bài thơ về ẩn sĩ này.

Tôi không tính bàn về bài Tương Tiến Tửu này nhưng vì Bát Sách nhắc đến thì góp ý vậy. Có it nhất 6 bản với dị thể cho bài nhạc phủ này [ 將進酒(唐代李 白詩作)_百度百科 ]. Thời xưa tôi thường thấy chữ đầu câu 4 là 又=hựu trong các bản Hán-Việt, trông cũng có lý, nhưng bây giờ thì chỉ thấy chữ 君 =quân trong các bản chữ Hán. Một trong những bản thư pháp khó đọc nhất cho bài này có lẽ là bản này: nhưng ta vẫn có thể nhận ra các chữ 君=quân.

Một số người Tàu đã bàn về thành ngữ 不見=bất kiến có lẽ vì thấy ý không ổn nếu hiểu theo nghĩa đen - làm sao các ẩn sĩ họ Sầm và Nguyên lại không thấy được các lẽ tự nhiên rằng nước chảy xuôi ra biển và con người phải già cỗi dần với thời gian? - và giải thích rằng đây là lối viết để nhắc nhở người đọc về sự thực phũ phàng của cuộc đời.

Như ta thấy, các bản thư pháp không có chấm phết, ngắt câu gì cả và cách ngắt câu tùy thuộc và lối hát bài nhạc phủ. Phần giữa của bài nhạc phủ (7-12) nói về lối sống của họ Lý lúc đang còn được Đường Huyền Tông sủng ái. Vì đoạn này, tôi có cảm tưởng rằng họ Lý, mặc dù đã có ý hướng tu tiên lúc còn trẻ, không phải đang nói chuyện với các bạn ẩn sĩ mà đang tâm sự, nuối tiếc cái thời vàng son ngắn ngủi ờ chốn triều đình; vàng son ở đây gồm cả những vàng bạc Đường Huyền Tông tặng cho thi sĩ Lý Bạch trước khi mời đi chơi nơi khác.

Trong phần tiếp (13-26) người đọc có thể phân vân tại sao nói chuyện với bạn ẩn sĩ mà cứ nhắc mãi những chung cổ, đoạn ngọc? Hết người rồi hay sao mà ví ta với Trần Vương, hay họ Lý thấy hoàn cảnh mình bị người chèn chèn ép giống như Tào Thực? Nếu ngại chuyện khổ chủ họ (Nguyên) thiếu tiền mua rượu thì lấy ngũ hoa mã, thiên kim cừu ở đâu ra? Lý Bạch là con nhà giàu, cha làm thương gia phát đạt ở vùng biên ải nhưng ta không biết gia thế của Sầm Huân và Nguyên Đan Khâu thế nào. Phải chăng đây là những lời nói của một người thất chí rồi nghiện rượu nói càng để mong tiêu "vạn cổ sầu"? Nếu Lý Bạch không bị thất sủng thì có mang mối sầu vạn cổ để tiếp tục có dịp hầu rượu các bạn mà người đời có thể nghĩ là tri âm? Mượn rượu để giải bày tâm sự hay để có cớ tiếp tục say cho quên sự đời nhỉ?

Tôi nghĩ Lý Bạch đang ở trong tình trạng rượu vào lời ra vì hai câu "cổ lai thánh hiền giai tịch mịch/duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh"; trong tư tưởng của người Tàu, thánh hiền là những người lưu danh thiên cổ, trong khi đó đa số các bợm rượu chỉ lưu xú vạn niên, hay cái kỳ danh chết đuối dưới hồ khi đang say.

Tôi cũng là người ẩn cư, cũng uống lai rai hằng ngày, nhưng uống lấy say để quên sầu vạn cổ thì không, rất có thể vì thấy ẩn cư là một cái thú, không phải là chuyện ... chẳng đã.

將進酒 Tương Tiến Tửu

1-君不見 Quân bất kiến 

黃河之水天上來 Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai
奔流到海不復回  Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
又不見 Hựu bất kiến 
高堂明鏡悲白髮 Cao đường minh kính bi bạch phát
朝如青絲暮成雪 Triêu như thanh ti mộ như tuyết
人生得意須盡歡 Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
7-莫使金樽空對月 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
天生我才必有用 Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng
千金散盡還復來 Thiên kim tán tận hoàn phục lai
烹羊宰牛且為樂 Phanh dương tể ngưu thả vi lạc
12-會須一飲三百杯 Hội tu nhất ẩm tam bách bôi 
13-岑夫子 Sầm Phu Tử
丹丘生 Đan  Khâu Sinh
將進酒  Tương tiến tửu
杯莫停 Bôi mạc đình
與君歌一曲 Dữ quân ca nhất khúc
請君為我傾耳聽 Thỉnh quân vị ngã trắc nhĩ thính 
鐘鼓饌玉何足貴 Chung cổ soạn ngọc bất túc quí
但願長醉不願醒 Đản nguyện trường túy bất nguyện tỉnh
古來聖賢皆寂寞 Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
唯有飲者留其名 Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
陳王昔時宴平樂 Trần Vương tích thời yến Bình Lạc
斗酒十千恣歡謔 Đấu tửu thập thiên tứ hoan hước
主人為何言少錢 Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền
26-逕須沽取對君酌 Kính tu cô tửu đối quân chước 
五花馬 Ngũ hoa mã
千金裘 Thiên kim cừu 
呼兒將出換美酒 Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu
與爾同消萬古愁 Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu

Huỳnh Kim Giám

***

Góp Ý:



Hút nữa đi anh cho nám đen lá phổi,
Uống nữa đi anh cho chai cứng buồng gan,
Ôi cuộc đời như bèo dạt,mây tan,
Rồi mai mốt biết ta còn gặp lại?

Hút nữa đi anh cho làn môi tê dại,
Uống nữa đi anh cho trời đất quay cuồng,
Nào có vui gì một kiếp tha hương,
Đầu chớm bạc, chí trai chừng đã mỏi.

Bọn chúng mình như những viên đá sỏi,
Kề bên nhau mà vẫn thấy cô đơn,
Rượu thuốc kia làm cảnh trí chập chờn,
Không làm dịu được nỗi hờn vong quốc.

Bát Sách


Cảm Nghĩ Về Cuốn Thơ “Các Bài Thơ Việt-Nam Khó Quên Unforgettable Vietnamese Poems”

Cuốn thơ song ngữ  có tên là “Các Bài Thơ Việt Nam Khó Quên – Unforgettable Vietnamese Poems” của Hương Cau Cao Tân đến với tôi vào những ngày đầu Xuân giữa mùa đại dịch. Sách khá dầy, khoảng 300 trang, trình bầy trang nhã, mỹ thuật, những trang thơ Việt-Anh in song hành dễ dàng đối chiếu.

Sách gồm 100 bài thơ Việt và 100 bài thơ chuyển dịch sang Anh ngữ. Tác giả đã chọn ra 16 nhà thơ nổi tiếng và lựa ra những bài mà tôi chắc rằng nhiều độc giả đã từng ưa thích.  Tôi tạm chia các nhà thơ ra từng thời kỳ để dễ cảm nhận những dòng thơ này:

Thời kỳ Văn Nôm: Bà Huyện Thanh Quan, Trần Tế Xương.
Thời kỳ Tiền Chiến: Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, T.T. Kh.,  Vũ Đình Liên,  Xuân Diệu.
Thời kỳ Kháng chiến: Hữu Loan, Quang Dũng.
Thời kỳ Đất nước chia đôi: Nguyên Sa, Phùng Quán.

Những bài thơ của các nhà thơ trên đây có những bài đã được làm ra trên thế kỷ, gần một thế kỷ hay đã trên nửa thế kỷ qua. Trong thời gian đó, thế giới đã thay đổi quá nhanh ảnh hưởng mọi mặt về ngoại cảnh và ý nghĩ tư tưởng của con người, nhưng những bài thơ này vẫn được truyền tụng nhắc đến, chưa quên và vẫn được tìm đọc hay những khi được dùng để trích dẫn.

Sách dịch từ ngoại ngữ như Anh, Pháp sang Việt ngữ thì nhiều, nhưng sách được dịch từ Việt ngữ sang ngoại ngữ thì rất hiếm, đó cũng là cảnh mang chuông đi đánh xứ người của văn chương chúng ta.

Chuyển dịch một bản văn ngoại ngữ sang Việt ngữ đã là một vấn đề, chuyển từ Việt ngữ sang ngoại ngữ sẽ có nhiều vấn đề hơn. Chuyển thơ việt ngữ sang ngoại ngữ lại còn khó khăn nhiều nữa.  Chuyển các văn thơ cận đại hay hiện tại mà hình ảnh và tình cảm vẫn còn sống động, chưa phai dễ cho người đọc hình dung liên tưởng được.  Chuyển thơ cổ, thơ xưa mà hình ảnh và tình cảm xưa đã phai lạt không còn nữa sang ngoại ngữ thì thiết tưởng sẽ không dễ dàng chút nào. Người dịch phải tìm những từ ngữ, ngôn ngữ, câu văn thích hợp để làm sao phải kéo được người đọc về sống lại hay cảm nhận được cái ý và tứ thơ trong khung cảnh và thời gian trong một quá khứ đã xa của bài thơ.

Làm sao mà chuyển sang Anh ngữ được những bài của Bà Huyện Thanh Quan từ hơn một thế kỷ, khi mà không còn những bức tường thành rêu cổ, chú tiều phu lom khom… Làm sao chuyển được những  của Bàng Bá Lân, Huy Cận, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp…của thời Tiền Chiến, khi không còn những lũy tre xanh, cây đa đầu làng, xóm giếng ngày xưa, cô lái đò chờ khách sang sông.. . Làm sao chuyển được Hữu Loan, Quang Dũng cùng những quán nước sơ xác bên đường của người thiếu nữ Hà thành long đong trong thời lửa đạn, những chiều hành quân qua đồi hoa sim …trong thời kháng chiến hay của Nguyên Sa màu áo lụa năm nào...

Tôi đã đọc nhiều lần những bài thơ mà Cao Tân chọn để dịch, những dòng thơ tuyệt tác này không phải chỉ riêng tôi mà nhiều người cùng lứa tuổi một thời đã thuộc nằm lòng và sống trong mơ với những bài thơ đó đến suốt đời.
Những bài thơ khó quên hay không thể quên được”. Cám ơn Cao Tân đã cho ta đọc lại những vần thơ ấy. Cao Tân không dừng lại ở đó và còn muốn cho những người Việt không hiểu được ngôn ngữ của mình hay những người ngoại quốc không biết nhiều về Việt Nam, một đất nước xa xôi, cũng được hưởng những bài thơ tuyệt tác đó.

Tôi nghĩ đến các vị thâm nho trước đã dùng một kỹ thuật dịch thơ Đường, thí dụ như trong cuốn “Đường Thi Trích Dịch” của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản, một bài thơ chữ Hán được dịch sang thơ Việt ngữ, thường gồm ba phần: phần đầu là nguyên bản chữ Hán, phần thứ hai là diễn nghĩa, phần thứ ba là thơ bằng tiếng Việt. Ngoài ra nhiều bài còn có phần phụ chú về những điển tích hay địa danh.

Tôi đã có một cảm tưởng là Cao Tân đã gộp lại hai bước, phần dịch và phần làm thơ làm một, và đã thực hiện được một cách suông sẻ, nhưng phải dùng nhiều chữ hơn cho một câu thơ. Với cách này độc giả ngoại quốc hay những người trẻ Việt Nam sinh ra chưa bao giờ thấy mặt quê hương, cái tình tự nguyên thủy ngày xưa đó sẽ có thể hình dung thêm được khung cảnh và tình ý của bài thơ   

Hãy đọc lên những câu thơ dịch của Cao Tân, ta sẽ thấy sẽ có những âm điệu và những chữ cuối câu được thận trọng reo vần với nhau để nối các câu thơ thành một bài thơ.

Những câu thơ phải dịch dài thêm chủ ý làm thoát ý, không làm sai lạc, mà còn giúp cho câu thơ nguyên bản được hiểu thêm. Sau đây, hãy thử đi vào những đoạn thơ và phần chuyển dịch sẽ thấy rõ .

Bài thơ “Thăng Long Hoài Cổ” của Bà Huyện Thanh Quan:

“…Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn…”

“… The evening sky fades in the dusk that is approaching
The distant horn’s echoes mixed with the guard station’s drum rolling
Putting the oar’s blade, the fisherman goes back to the distant home
Knocking at the ox’s horns, the herdsman comes to the village alone…”

 Bài thơ “Cổng Làng” của Bàng Bá Lân:

“…Ngày nay dù ở nơi xa,
Nhưng khi về đến cây đa đầu làng;
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng,
Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.”

“…Today even though I am living at a place far away
But when I come back near the banyan tree at the village gateway
Then all the beautiful scenes that are so dreamy
Would flash back when the gateway appears in rows of bamboo trees.”

Bài “Ngậm Ngùi’ của Huy Cận:

“…Cây dài bóng xế ngẩn ngơ…
- Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…”

“Tall trees seem to be astounded in their inclined shadows…
- Has your soul become mature after some seasons of sorrow?
My love please let your head lean on my arm in resting
So I could feel the weight of the sorrowful fruits in their falling…”

Bài “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư:

“…Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác,
Đạp trên lá vàng khô?”

“…Don’t you hear the autum forest breathing
Of the autumn leaves that are rusting,
And the sound of the bewildered yellow deer that is wandering
Stomping on the dry brown leaves that have been falling?”

Bài “Cô lái Đò” của Nguyễn Bính:

“…Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ giòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông”…

“Giving up the boat, the steering, and the river full of memories
The boat girl goes away to find someone to mary
She’s definitely gone, vanishing from the scene forever,
Leavimg the sadness in the hearts of the passengers crossing the river.”

Bài “Áo Lụa Hà Đông” của Nguyên Sa:

“…Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng”.

“Where are you now, my beautiful autumn with short hair
Please carefully keep the colour of the Ha Đong silk dress there
I always love that colour of the dress, if not forever
Keep for me, the poem of love for a white silk dree, from a poetic poem”.

Bài “Đôi Bờ” của Quang Dũng:

“…Xa quá rồi em người mỗi ngả
Đôi bờ đất nước, nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng vương hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào”.

My dear, both of us are on our own so far, far away
Each on either side of the country enduring the missing day by day
You are going wearinga thin coat with tear in vexation streaming
Does your tear of innocence show its nature in its overflowing?”.

Bài “ Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của T.T. Kh.

“Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu thương”…

“I remember one previous autumn, every day at dusk
Picking up a fallen flower withouth feeling touched
Letting my hair to be dyed with golden sunrays
I patiently waited for him, who was with love on the way”…

Tôi còn muốn trích thêm nhiều đoạn thơ nữa để chứng tỏ Cao Tân đã hoàn thành được cái kỹ năng dịch thơ riêng biệt của mình.

Tôi với Hương Cau Cao Tân quen biết nhau qua mối duyên tao ngộ qua một mạng văn chương. Mỗi người một nước, chưa từng gặp mặt, cũng chưa biết hình ảnh của nhau, tôi chỉ biết qua Cao Tân qua một đoạn tiểu sử sau:

“Đã di-cư hai lần trong cuộc đời, lần đầu từ miền Bắc Việt-Nam đến miền Nam Việt-Nam trong đợt di-cư năm 1954, và lần thứ hai từ miền Nam Việt-Nam sang Gia-nã-đại, là nơi Hương Cau Cao Tân đã được may-mắn định-cư kể từ năm 1975. Hương Cau may-mắn được đi học chút ít tại quê-hương sau khi hoàn-tất bậc trung-học, đã hoàn-tất chương-trình kỹ-sư tại Phú Thọ, và sau khi đã định-cư tại xứ người, lại được may-mắn đi học lại và cũng hoàn-tất lại chương-trình đại-học trong ngành nghề máy-móc chẳng liên-quan gì đến sự đam-mê văn-chương của mình. Có lẽ vì sự đam-mê nên cho dù không phải là có khả-năng viết lách, Hương Cau cứ vẫn đua-đòi ...viết, nhưng chỉ là viết lại những gì Hương Cau ... bị đam-mê thôi-thúc, và viết ra có thể là trong tiếng mẹ đẻ, hoặc là trong tiếng Anh khó đọc, vốn là thứ ngôn-ngữ đã giúp Hương Cau được sinh-sống rất thăng-trầm trong những ngày tha-phương cầu-thực của đời hậu tỵ-nạn. Hiện-tại Hương Cau đã vượt qua số tuổi hưu-trí, nên mới có thời-gian và cơ-hội... “múa rìu qua mắt thợ” trong một vài bài viết cỏn-con của mình. Mong rằng các bậc tiền-bối và hậu-bối tài-hoa trong lãnh-vực văn-chương thông-cảm cho sự đam-mê.”

Hỏi về những dự định tương lai, sau cuốn thơ này, Cao Tân cho biết đang sửa soạn đem đi ấn hành bản dịch truyện Kiều sang Anh ngữ. Cao Tân đã gửi bản dịch đã hoàn tất này qua online cho tôỉ. Ngoài ra Cao Tân cũng đang soạn lại những bài dịch các truyện ngắn hay và quen thuộc tiền chiến, mà hầu hết thuộc các nhà văn nổi tiếng trong Tự Lực Văn Đoàn.

Tôi cũng cố tìm đọc một vài cuốn thơ dịch của các tác giả khác , mỗi người có một cách dịch riêng, khác nhau. Không có một tiêu chuẩn nào, qui luật nào là đúng nhất, nhưng mọi dịch giả đều cố gắng dịch sao cho đúng với ý nguyên bản. Dịch thơ không những chỉ là dịch thuật, mà tôi nghĩ cũng phải là người có chất thơ và lãng mạn đôi chút của riêng mình. Tôi tin rằng Cao Tân ít ra cũng có những điều kể trên.

Dịch giả Cao Tân với phong thái giản dị, khiêm tốn không đề cao công việc mình làm, nhưng với lòng đam mê và nỗ lực đã âm thầm thực hiện được những công trình, hoài bão tôi cho là lớn lao, đáng ghi nhận. Cho dù không nói đến khía cạnh văn hóa mà chỉ nói đến sự đam mê,  nhưng trực tiếp hay gián tiếp cũng đã giúp cho sự lưu truyền văn chương và là cây cầu nối với thế hệ trẻ hay với người không cùng ngôn ngữ.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn thơ “Các Bài Thơ Việt-Nam Khó Quên – Unforgettable Vietnamese Poems” của Hương Cau Cao Tân đến quý độc giả.

Nguyễn Công Khanh