Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

Niềm Hy Vọng 2021 (Tân Sửu)



Chào HAI - HAI MỐT viết đôi câu
Mong Chúa Phật ban phép nhiệm mầu
Nỗi sợ đói nghèo rồi dứt sớm
Cái lo dịch bệnh sẽ qua mau
Muôn nơi có thái hòa an lạc
Khắp chốn được no ấm mạnh giàu
Thế giới phục hồi sau đại dịch
Vươn lên bền vững, khỏe như Trâu

Nhất Hùng


Con Trâu

 

Tranh Vẽ: Mẫu Đơn  


Du Lịch Miễn Cưỡng Xứ Giá Lạnh Alaska

 
Đứng trước một “igloo” (15/2/1984)

Quân đội muốn được hùng mạnh thì lúc nào cũng phải ở tình trạng sẵn sàng chiến đấu (readiness). Nói cách khác thì quân đội phải được huấn luyện tập trận thường xuyên để đối phó với mọi chiến trường có thể xảy ra. Quân đội Hoa kỳ không những tập trận (và nhập trận) ở vùng sa mạc, vùng nhiệt đới mà cả ở vùng giá lạnh.

Là Quân Y thì phải bảo vệ tình trạng sức khỏe cho binh lính, nên các quân y sĩ cũng được “mời nếm” những môi trường khắc nghiệt kể trên. Với ý nghĩ là ngoài sự hiểu biết qua sách vở y khoa nếu được sống thực sự vào tình trạng nào đó thì sẽ có kinh nghiệm thực tế hơn. Cũng như y sĩ phi hành thì phải được học lái máy bay như phi công thì mới hiểu được từ sự lo âu khi cất cánh lần đầu tiên bay solo một mình cho đến khi vào phòng cao độ để thử nếm phản ứng thế nào là ở tình trạng thiếu dưỡng khí hay bị áp suất trong không khí xuống thấp. Như vậy thì y sĩ mới toàn diện hơn, có thể chữa trị và phòng ngừa bệnh cho binh lính ở trong mọi trường hợp.

N. nhận được lệnh đi tập trận Brim Frost ở Alaska vào tháng hai tức là tháng lạnh nhất để cho các binh lính có kinh nghiệm hành quân chiến trường vùng giá lạnh. Quân Y tất nhiên là phải lo bảo vệ sức khỏe cho binh lính nên tất nhiên N. có màn lục tài liệu quân y sẵn có về phòng ngừa và chữa trị các bệnh do nhiệt độ thấp từ độ một, độ hai và độ ba mô bao bì đông lạnh (frost bite) cho đến tình trạng giảm nhiệt (hypothermia), tình trạng mô bào bị sưng vì bị phơi bày ở môi trường nhiệt độ gần đông lạnh và ẩm thấp (chilblain), tình trạng chân bị thấm ướt nước lạnh (immersion foot), tình trạng chân bị ẩm lạnh mà không có nước như bít tất quá kín bị mồ hôi ẩm mà không khô được (trench foot). N. cũng không quên giảng dậy bảng gió lạnh (wind chill chart): gió có thể làm giảm nhiệt độ thấp nhiều hơn ở trạng thái không có gió.

Ngoài ra N. còn phải dậy phòng ngừa đông lạnh như bạn bè trông chừng cho nhau như thấy da tai trắng bệch hay ngất đi thì lo cứu cấp ngay. Quần áo thì phải để ý đến chữ C O L D: C = giữ quần áo sạch (C=clean), O = tránh quá nóng (O=overheating), L = mặc quần áo có nhiều lớp (L=layers) và D = giữ quần áo khô (D=dry). N. cũng dặn tránh đụng da hay cho ngón tay vào xăng vì độ đông lạnh của xăng rất thấp hơn nước (nước đá đông thành đá rồi nhưng xăng vẫn chưa đông) thành ra rất nguy hiểm.

Sau khi có đủ tài liệu, N. cho in các điều dặn chống bị lạnh trên thành một tờ giấy nhỏ có thể cất trong ví để dễ có tài liệu sẵn để tham khảo khi cần dùng. Ngoài lớp học về y khoa phòng ngừa, binh lính còn được học về cách sinh sống hay tìm cách sinh sống lấy ở miền tuyết lạnh nếu bị lạc hay bị cô lập mà không có tiếp tế như cách làm bẫy bắt thú rừng cho đến cách đào dưới tuyết để tìm kiếm các cây cỏ nào mà có thể ăn được. Lẽ dĩ nhiên ở xứ đông lạnh sẽ không sợ bị thiếu nước như ở sa mạc nhưng ngược lại nếu không biết cách làm tan tuyết thành nước thì cũng sẽ trở thành nạn nhân bị giảm nhiệt dễ như không (như ngậm tuyết trong miệng). Nên tránh dùng “tuyết vàng” vì đó là do nước tiểu của người hay thú vật.

N. cũng được phát hai ba lô đầy quần áo vùng cực lạnh từ áo choàng parka che kín ở ngoài cho tới quần áo len lót mình (long johns), đội lên chùm kín đầu chỉ hở khe mắt giống như gián điệp trong phim James Bond 007, găng tay bốt da dày chống lạnh. Ai nấy mặc xong thì giống nhau cả không nhận diện được nhau nữa ngoài tấm dác vọng to lớn hay nhỏ mà thôi.


Khi đặt chân xuống phi trường Alaska thì lúc đó mới có ba giờ chiều mà đã tối đen như ban đêm ở thềm lục địa Hoa Kỳ. Ở Alaska mùa đông chỉ có độ bốn năm giờ là có ánh sáng mặt trời nhưng ngược lại thì mùa hè đến gần nửa đêm mới tối mà độ hai ba giờ sáng trời đã mọc rồi. Ánh đèn tỏa ra như có hào quang chung quanh, mờ mờ ảo ảo vì không khí lạnh. Lẽ dĩ nhiên tuyết và đá phủ đầy đường và hàng đống tuyết cao như đồi nhỏ được cắt đẹp hai bên lề đường.

Vì quân y phải tới trước để tổ chức đón tiếp và huấn luyện y khoa phòng ngừa cho binh lính tới tập trận nên N. có được ba ngày sửa soạn trước khi thực sự tập trận. Lẽ dĩ nhiên N. bắt liên lạc với nhà thương quân y chỗ đồn trú đó và được may mắn có quen biết từ trước với một bác sĩ quân y bạn đang làm việc ở nhà thương đó. Tay bắt mặt mừng sau mấy năm không gặp bác sĩ C. mời N. về nhà hắn ta dùng bữa cơm và hàn huyên.

Sau giờ làm việc, C. chở N. về nhà, đang trên đường về nhà (nhà ở trong trại) bỗng nhiên C. ngừng xe lại hỏi một anh lính đang đứng ở lề đường. C. hỏi anh ta có cần chở đi đâu không, anh ta trả lời không vì có bạn sắp tới. N. ngạc nhiên là sao C. lại cho “hitch hiking” dễ dãi như vậy thì C. giảng nghĩa là ở xứ cực lạnh này họ khuyến khích nên giúp chuyên chở các lính đi bộ vì nếu không thì họ sẽ thành nạn nhân đông lạnh dễ như không. Thế cũng hay nhưng không sợ bị cướp bóc hay sao? C. trả lời ở xứ cực lạnh này binh lính phải hợp tác và tùy thuộc nhau để mà sống còn.

Tới nhà C. cho xe vào ga-ra (garage) nhưng trước khi vào nhà C. lấy một sợi dây điện cắm từ xe vào một chỗ cắm điện tại tường ga-ra. C. nói là điện đó sẽ làm ấm bình ắc quy khi qua đêm, nếu không thì sáng hôm sau không nổ máy được. Nhà nào cũng có chỗ cắm điện ngay ngoài nhà để xe khách tới có chỗ cắm điện. (Tối hôm sau, C. mời N. đi ra một quán uống rượu, khi xuống xe ai nấy đều đem sợi dây điện từ xe hơi ra gắn vào tường quán giống như thói cao bồi cưỡi ngựa ngày xưa khi xuống ngựa thì lấy dây yên cương của ngựa buộc lại cột gỗ rồi mới vào quán).
C. mở cửa nhà và mời N. vào nhà, khi mở cửa thì hơi khói lạnh tràn vào trong nhà như khi mở tủ lạnh thì hơi lạnh bay ra nhưng bây giờ thì ngược lại khi mở cửa nhà thì hơi lạnh bay vào nhà. Oái ăm thay!


Tay bắt mặt mừng với vợ C. mà N. cũng quen thân từ trước rồi, N. được mời ăn cá salmon hấp. N. ngạc nhiên khi thấy, đem ra cả một con cá lớn dài gần nửa thước. N. hỏi có mời ai ăn nữa không. C. nói là không có chỉ có ba người ăn mà thôi. Dù cả ba đang đói nhưng ai nấy đều đầu hàng sau khi, chỉ ăn vã nổi một nửa con cá. Ăn xong thì N. thấy vợ C. vứt chỗ cá còn lại vào thùng rác. Sao mà phí phạm như vậy? N. ngạc nhiên hỏi. C. nói là ở xứ Alaska này cá salmon ê hề mùa hè đi câu cá thì có đủ cá để ăn cả năm! C. còn nói là dân chúng Alaska còn được phép săn bắn con hươu moose to khoảng một tấn, mỗi người đi săn được bắn hai con mỗi năm. Cứ thử tưởng tượng mỗi con sẽ cho độ một ngàn pounds thịt steak moose thì cả năm không cần đi chợ mua thịt bò steak! (Ngày hôm sau N. cũng được mời ăn steak moose, ăn vào thì cũng thấy giống như ăn thịt bò chỉ hơi hăng thịt rừng một tí mà thôi. C. rất tiếc không đãi ăn mũi con moose vì đã ăn hết rồi – đối với thổ dân Alaska, mũi con moose là một delicacy). Thành ra nhà nào cũng có hai hay ba cái freezer to tổ bố chất đầy đống thịt cá.

Ăn xong C. đưa N. trở về khách sạn tạm trú của N., trên đường đi C. nói là ở đây vì rất lạnh nên hơi nước trong không khí đã đông lạnh thành tuyết đã rồi nên không khí rất khô. C. nói là nếu đem một tách nước tung lên trời thì sẽ có một tiếng bụp và nước sẽ biến mất vì không khí quá khô nên nước bị hấp thụ rất nhanh. N. nửa tin nửa ngờ nhưng tiếc là mấy ngày hôm sau vì bận nên quên thí nghiệm đó.

Vì ở đây gần như là mỗi năm có từ sáu tới chín tháng tuyết và đá phủ dày đầy đường nên thay vì chạy bộ tập thể thao thì binh lính có thể chạy trong sân nhà thể thao hoặc đi trượt tuyết ở giờ ăn trưa như là đi chạy bộ buổi trưa. Đúng là thiên đường của những người thích đi trượt tuyết!

Đang đi trên đường, C. chỉ cho N. thấy trên bầu trời như là có một tấm ri-đô (drape) trắng trải đứng trên trời. N. quê mùa hỏi cái gì vậy thì C. cười nói đó là ánh sáng bắc cực (aurora borealis).

Cũng trên đường đi N. thấy một đám đông người ta đang bu chung quanh xem một trò chơi thể thao. C. ngừng xe lại, và giảng nghĩa đó là chơi broom ball, gần giống như ice hockey, mỗi bên mười người dùng một chổi cứng để đẩy một “cục” bóng bẹt vào gôn bên địch. Tới nhà ngủ, trước khi chia tay C. nói là đừng dùng tay không mà mở cửa vì chỗ mở cửa bằng kim khí nên rất lạnh, cầm vào bằng tay trần thì da tay sẽ bị dính chặt vào cửa tay vặn không rút ra được.

“Ice fishing” (12/2/1984)

Alaska đáng sợ thay! Alaska là nơi dân săn bắn thích tới bắn hươu nai hay câu cá ở băng đá. Chỉ cần đục một lỗ nhỏ độ hai mươi phân, thả một dây câu cá có gắn mồi là một ít lâu là có cá cắn ngay. Mùa hè thì câu cá salmon, còn mùa đông thì câu cá trout. Còn hươu nai hay chim trĩ thì đầy rẫy. Chỉ khổ là mùa hè có rất nhiều muỗi và con nào con nấy rất lớn và cắn rất đau. Thỉnh thoảng thì có thể gặp chú gấu: dân săn bắn phải học cách tránh bị gấu cắn và ở phòng cứu cấp nhà thương sự bị gấu cắn xảy ra nhiều hơn là chó cắn.

Tiểu bang Alaska có rất nhiều đặc điểm khác xa với các tiểu bang khác: đó là tiểu bang rộng lớn nhất. Đời sống ở đây thì đắt đỏ vì cái gì cũng phải nhập cảng cả (ngoại trừ nếu đi săn bắn câu cá thì khỏi cần mua cá thịt). Nhưng ngược lại vì Alaska có nhiều mỏ dầu nên ngân quỹ tiểu bang rất dồi dào: dân chúng tiểu bang không những không phải đóng thuế lợi tức hàng năm cho chính phủ tiểu bang mà lại còn được chia tiền lời bán dầu mỗi người mỗi năm có thể được lãnh cả vài ngàn đồng. Đúng là chuyện lạ: đã không phải đóng thuế mà lại còn được hưởng tiền lời.

Ngoài lợi tức về dầu hỏa, Alaska lại còn có nhiều mỏ bạc, du khách có thể tới mua thỏi bạc (lingot) rất dễ. Tiểu bang Alaska còn có vài đặc điểm khác là không có dân homeless vì các cơ quan xã hội sẵn có nhà trú ngụ nhưng lâu lâu vẫn có vài bợm rượu chết khô lạnh, chết vùi trong đống tuyết và được khám phá ra khi mùa xuân tuyết tan.


Ngoài vụ hàng năm chạy đua chó kéo Iditarod chín ngày từ tỉnh Anchorage cho tới tỉnh Nome, dân Alaska còn đánh cá độ Nenanal Ice Classic; nổi tiếng nhất ở Nome (trên sông Yukon). Người ta đóng một cọc giữa con sông đá đông đặc và dân cá độ đoán vào ngày nào, giờ nào đó đá sẽ tan hay cọc sẽ đổ xuống, người nào đoán trúng có thể lãnh tới cả mấy chục ngàn mỹ kim. . Xứ Mỹ là xứ kỹ thuật điện tử nên dân đánh cá độ cũng dùng thống kê điện tử để bao thầu đánh cá thành ra ít khi “ngựa về ngược” mà phần nhiều là có nhiều người đoán trúng ngày giờ đến nỗi phải dùng tới đúng phút mới trúng được độc đắc.

Những bạn đồng nghiệp của N. đều nói là binh lính bị đổi tới làm việc ở Alaska đều ghét lúc đầu nhưng sau đó quen rồi thì thích ở lại. Nhưng N. sau ba tuần tập trận xong, muốn trở về xứ ấm phía nam mà không luyến tiếc Alaska gì cả. Hay là dân Việt Nam không hợp với băng giá lạnh?

Đứng trước một “igloo” (15/2/1984)
“Ice fishing” (12/2/1984)
Nguyễn Dương
(Y Sĩ Đại Tá Lục Quân Hoa Kỳ 1992)

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2021

Quân Cảnh Brazil Cưỡi Trâu Để TuầnTra


Trâu là một loài vật biểu tượng trong nông nghiệp cổ truyền ở nhiều nước châu Á và đặc biệt là Việt Nam. Vì một cơ duyên đặc biệt, những chú trâu từ xứ Đông Dương đã lưu lạc sang Brazil và ngày nay còn được đưa vào sử dụng trong nhiệm vụ tuần tra của quân cảnh. 


Cảnh sát quân sự của quân đội Brazil ở khu vực đồng bằng sông Amazon từ thập niên 1990 đã bắt đầu sử dụng trâu làm phương tiện thực hiện tuần tra vì trâu thích hợp hơn ngựa trong địa hình nhiều chỗ đầm lầy và ngập nước của địa phương.


Trên đảo Marajó của Brazil có một huyền thoại về sự xuất hiện của loài trâu ở vùng đồng bằng Amazon này như sau: Năm 1890, một con tàu thủy chở trâu từ xứ Đông Dương thuộc địa Pháp đã bị đắm trên bờ biển Đại Tây Dương của đảo Marajó. Hầu hết những con trâu đã tự cứu bằng cách di chuyển lên những khu đất cao của đảo Marajó và từ đó chúng sinh sôi nảy nở ở đây.


Hiện nay trên hòn đảo có kích cỡ bằng diện tích nước Thụy Sĩ này có khoảng 450.000 con trâu. Bởi vậy phần nhiều cuộc sống thường ngày ở đây xoay quanh những con trâu. Cư dân trên đảo sử dụng chúng kéo xe, tổ chức đua trâu trong các lễ hội và thưởng thức những miếng pho mát được làm từ sữa trâu.


Thiếu tá Francisco Nóbrega ở Tiểu đoàn 8 quân cảnh ở Pará - một bang rộng lớn ở đồng bằng Amazon của Brazil, đơn vị hành chính quản lý đảo Marajó nói: “Tại sao lại không tuần tra bằng trâu?”


Nắm bắt ý tưởng đó, một trong những thí nghiệm khác thường nhất của Brazil đã ra đời. Đơn vị sử dụng trâu đã bắt đầu từ thập niên 1990 để tuần tra tiền đồn ở Soure - nơi có khoảng 23.000 dân. Qua các năm, trâu bắt đầu được sử dụng cho cả nhiệm vụ truy đuổi những kẻ tình nghi chạy trốn vào những vùng hoang dã cũng như trấn áp những con trâu đang nổi điên trong các trang trại.


Người ta nói rằng trâu bơi giỏi hơn chó và cơ động hơn ngựa khi di chuyển trên bùn. Loài vật này cũng dễ bảo giúp cho việc phối hợp với con người dễ dàng hơn.

Ngoài những ý nghĩa đó, việc sử dụng trâu cho quân cảnh còn có một tác dụng khác là làm giảm căng thẳng.

 Kim Oanh - Sưu tầm Từ Net

Lạc Vào Thiên Thai



Cuối Năm, uống rượu một mình,
Chưa say...mà chợt ... thấy hình bóng ai?
“Giáng Tiên”, mắt phượng, mày ngài
Ô hay! Đâu phải Bồng Lai chốn này?

Men “Hoàng-Hoa-Tửu” ngất ngây,
Cùng Nàng chuốc chén, vui vầy Tất Niên
Nụ hôn, người đẹp trao duyên ...
Quanh tôi, cảnh vật bỗng nhiên khác thường!

Đông, Tây, Nam, Bắc ... bốn phương
Ngàn hoa rực rỡ, tỏa hương ngạt ngào
Gió bay, rơi rắc hoa đào
Dường như tôi đã lạc vào Thiên Thai?

Từ trong mờ ảo sương mây,
Bốn con Hạc trắng lượn bay la đà
Ô kìa! ... bốn nàng Tiên Nga
Ngồi trên lưng Hạc, hiện ra dần dần…

“Hoàng Mai” nữ chúa mùa Xuân,
“Ỷ Lan” mùa Hạ, muôn phần đẹp xinh
Mùa Thu “Kim Cúc” đa tình
Mùa Đông “Thanh Trúc” dáng hình như mơ!

Một Năm, gồm có bốn mùa,
Bốn nàng Tiên Nữ ngây thơ chủ trì
Tôi, chàng nghệ sĩ tình si
Trọn Năm yêu hết, vị chi bốn mùa!

Xin cho tôi sống trong Mơ,
Để tôi viết trọn “Bài Thơ Yêu Đời”
Bốn con Hạc đã ... về Trời!
“Hoàng-Hoa-Tửu” cũng hết rồi! ... Tôi Say ... !!!


Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia


Trăng Mười Bốn - Trước Tết



Trăng đẹp hôm nay, trăng mười bốn
Trời xanh bát ngát ở trên cao
Lòng đã lạnh rồi mà vẫn rộn
Những ý tình xuân rất ngọt ngào.

Nhớ buổi xuân thì ngày xưa ấy
Rạo rực lòng trai buổi trăng về
Ngây ngất hương trời người con gái
Bờ môi trót nếm rượu đam mê.

Trăng lên vời vợi ngang đầu núi
Trăng tàn bờ lạnh dải ngân hà
Một bóng chim trời bay rất vội
Về nơi viễn phố nẻo sương pha.

Là lúc qua rồi thời xuân sắc
Chén đời đã cạn rượu đam mê
Những lúc đêm về ngồi trầm mặc
Quên cả trăng xanh phủ bốn bề.

Hôm nay gặp lại trăng mười bốn
Như gặp người xưa thả tóc thề
Chẳng hẹn mà buồn như lỗi hẹn
Đường đời quên cả lối quay về.

Thôi, ngắm trăng suông, xin bù lại
Những khi lòng lạnh, bếp tro tàn
Xin khóc cho một lần trẻ dại
Thả những giọt buồn xuống dương gian.

Quyên Di



Thành Ngữ Điển Tích: Mộng

         
             
Dẫu mà tay có nghìn vàng,
Đố ai mua được một tràng MỘNG XUÂN!

Đó là hai câu thơ trong "Cung Oán Ngâm Khúc" của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, đoạn tả về nàng cung nữ được hưởng ân sủng của vua, nên mới ví von là "Giấc Mộng Xuân" quí giá vô cùng, dẫu cho có được nghìn vàng trong tay cũng khó mà mua cho được!

MỘNG XUÂN chữ Nho là XUÂN MỘNG 春夢, là giấc mộng đêm xuân, là giấc mộng đẹp, ngắn ngủi và rất dễ mất đi của tuổi trẻ, có xuất xứ từ hai câu thơ của Bạch Cư Dị đời Đường:

來如春夢幾多時? Lai như XUÂN MỘNG kỷ đa thì?
去似朝雲無覓處。 Khứ tự triêu vân vô mịch xứ.

Có nghĩa:

MỘNG XUÂN ngắn ngủi bao lăm,
Đến đi như thể triêu vân mịt mù!

Triêu Vân 朝雲 là Mây buổi sáng, muôn hình vạn trạng rất đẹp và cũng rất dễ mất đi trong thoáng chốc. MỘNG XUÂN dùng rộng ra còn có ý chỉ "Giấc mộng yêu đương ân ái say đắm của lứa đôi" như nàng cung nữ đã rất tự hào và hãnh diện ở trên "Dẫu mà tay có nghìn vàng, Đố ai mua được một tràng MỘNG XUÂN ?"

Trong "Chinh Phụ Ngâm Khúc" nàng chinh phụ của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm cũng mơ phút tương phùng cùng chàng chinh phu trong giấc MỘNG XUÂN tình cờ ngắn ngủi :

Sum vầy mấy lúc tình cờ,
Chẳng qua bên gối một giờ MỘNG XUÂN!

Mộng Xuân là mơ mộng xuân tình, nhưng Giấc Xuân thì lại là giấc ngủ thơ ngây vô tư của các cô gái như Thúy Vân, nhà gặp nạn, chị phải bán mình, nhưng Thúy vân vẫn ngủ ngon lành như không có việc gì xảy ra, kịp đến khi nghe tiếng nức nở của Thúy Kiều trong đêm mới ...

Thúy Vân chợt tỉnh GIẤC XUÂN,
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han ...

Thường thì các giấc mộng trong văn học cổ hay dùng để chỉ sinh qúy tử, như MỘNG LÂN, MỘNG HÙNG, MỘNG XÀ, MỘNG NGUYỆT, MỘNG LAN ... đều chỉ điềm có thai và sinh con.

MỘNG LÂN 夢麟, là Nằm mơ thấy Kỳ Lân. Tương truyền, bà mẹ của Đức Khổng Phu Tử là Nhan Trưng mơ thấy kỳ lân sa vào bụng mà sinh ra Khổng Tử, nên gọi Khổng Tử là Mộng Lân Sinh 夢麟生, ý nói là Kỳ lân chuyển thế. Khi Khổng Tử 72 tuổi, lúc đang viết kinh Xuân Thu thì nghe có người đi săn bắn chết một con kỳ lân, bèn ngưng không viết nữa, nên Kinh Xuân Thu còn được gọi là Lân Kinh, và Khổng Tử cũng tạ thế vào năm sau khi 73 tuổi, sau khi đã viết bài thơ sau đây :

唐虞世兮麟鳳游, Đường Ngu thế hề lân phụng du,
今非其時來何求, Kim phi kỳ thời lai hà cầu?
麟兮麟兮我心憂. Lân hề lân hề, ngã tâm ưu!

Có nghĩa:

Đời Đường Ngu dạo chơi lân phụng,
Nay đời cùng đã hết còn đâu?
Lân ơi lân hỡi hà cầu,
Lòng ta đau xót ai nào có hay!


Vì tích trên mà sau nầy trong văn học cổ dùng MỘNG LÂN, hay Mơ Thấy Kỳ Lân để chỉ sinh con qúy, cho đến hiện nay, trước phòng hoa chúc của cô dâu và chú rể mới, người ta còn có lệ dán bốn chữ "Kỳ Lân Đáo Thử 麒麟到此" để mong ước được sớm sinh ra qúy tử, gọi là LÂN NHI 麟兒. Như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện:

Họ Diêu sáng vẻ môn mi,
Điềm lành sớm ứng LÂN NHI một chàng.

Song song với MỘNG LÂN, ta còn có MỘNG HÙNG 夢熊 là nằm chiêm bao thấy gấu. Theo chương Tiểu Nhã ,Tư Can của Kinh Thi 詩經.小雅·斯干. Có thơ như sau :

維熊維羆,男子之祥; Duy hùng duy bi, Nam tử chi tường;
維虺維蛇,女子之祥。 Duy hủy duy xà, Nữ tử chi tường.

Có nghĩa:

Như gấu đen gấu vàng, là điềm sinh nam;
Như xà như rắn, là điềm sinh gái.

HÙNG 熊 là từ chỉ chung các loài gấu. BI 羆 là loài gấu lông vàng cao lớn có thể đứng thẳng như người. Nên HÙNG BI là chỉ điềm sinh con trai, như trong thơ của Hoàng Sĩ Khải đời Hậu Lê- Mạc- Trịnh:

Điềm lành sớm ứng HÙNH BI,
Trăm trai đầy rẫy khác gì Lạc Long.

Hay như trong truyện nôm khuyết danh Phương Hoa- Lưu Nữ Tướng :

Rằng ta hai độ MỘNG HÙNG,
Cũng trông khôn lớn tơ hồng xe duyên.

Còn chữ HỦY 虺 trong bài Kinh Thi trên là rắn hổ mang. Còn chữ XÀ 蛇 là từ chỉ chung các loại rắn. Nên theo câu thơ trên thì MỘNG HỦY XÀ là nằm chiêm bao thấy các loài rắn, là điềm sinh con gái. Như trong thơ của Chiêu Lỳ Phạm Thái :

Phạm đường cũng MỘNG HỦY XÀ,
Năm ba thơ ngợi đào hoa nghi kỳ.

Còn trong Thiên Nam Ngữ Lục, một tác phẩm dưới dạng sử ký bằng văn vần, soạn vào đời Hậu Lê, dưới thời Chúa Trịnh Căn có câu:

Điềm lành HÙNG HỦY hiện thân,
Kể đã ba đời sinh được phu nhân.

Còn MỘNG NGUYỆT 夢月 là Mơ thấy mặt trăng rơi vào bụng. Theo sách "Sưu Thần Ký" thì...

Ngô thị, vợ của tương Tôn Kiên, khi có mang nằm mơ thấy mặt trăng rơi vào bụng mà sinh ra Tôn Sách. Sau có mang Tôn Quyền, lại thấy mặt trời rơi vào bụng. Tỉnh ra nói với Tôn Kiên rằng :"Xưa thiếp thấy mặt trăng mà sanh ra Sách, nay lại thấy mặt trời, là nghĩa làm sao ?". Tôn Kiên bảo rằng :"Nhật Nguyệt là tinh hoa đứng đầu của Âm Dương, là hiện tượng cực quý, con cháu nhà họ Tôn ta tất sẽ làm nên nghiệp lớn sau này". Sau nầy, Tôn Quyền là Chúa của Đông Ngô. Nên MỘNG NHỰT, MỘNG NGUYỆT gì đều chỉ có thai sinh qúy tử cả. Trong truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính có câu :

Vết kim tiện kể thiêng thay,
Báo điềm MỘNG NGUYỆT mãn ngày treo khăn.

MỘNG LAN 夢蘭 là nằm mơ thấy hoa lan, cũng là điềm báo có thai...
Theo sách Tả Truyện 左傳 : Trịnh Văn Công đời Xuân Thu, có người thiếp có mang nằm mơ thấy thiên sứ tặng cho hoa lan, sau sinh con trai, đặt tên Lan, chính là Trịnh Mục Công sau nầy. Nên MỘNG LAN cũng là điềm chỉ có thai và sanh con qúy. Như trong truyện thơ Nôm khuyết danh "Bần Nữ Thán" có câu:

Kìa như đông bích lân gia,
Kẻ đà bốc phượng, người đà MỘNG LAN.

Cuối cùng, ta có từ MỘNG ĐIỆP 夢蝶, là nằm mơ thấy bướm. Mộng Điệp còn gọi là GIẤC ĐIỆP để chỉ giấc ngủ ngon, ngủ say, và vì Bươm Bướm là HỒ ĐIỆP 蝴蝶, nên còn được gọi là GIẤC HỒ, theo tích sau đây:

Tề Vật Luận trong sách Trang Tử 莊子•齊物論 có ghi lại câu chuyện như sau : Trang Chu hay nằm mơ thấy mình hóa ra bươm bướm, tiêu dao tự tại bay múa dạo chơi khắp nơi. Khi tỉnh lại rồi thì còn ngờ ngợ tự hỏi rằng:" Không biết là Trang Chu ta hóa ra bươm bướm, hay là bướm bướm đã hóa ra Trang Chu ta đây ?!" Có nghĩa là mộng cũng như thực mà thực cũng như mộng. Nhưng sau dùng rộng ra đều có nghĩa là giấc ngủ mơ màng mà ta hay nghe nói là "Mơ Màng Giấc Điệp", hay như lời hiểu lầm của Thiện Sĩ trong Quan Âm Thị Kính:

Chàng rằng : GIẤC BƯỚM vừa say,
Dao con nàng bỗng cầm tay gần kề.

hay như trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

GIẤC HỒ nửa gối mơ màng,
Chiền đầu đã lọt tiếng chuông mái trường.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng đã thoát dịch hai câu đầu trong bài thơ "Phong Kiều Dạ bạc" của Trương Kế là :" Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên " bằng giấc ngủ chập chờn với:

Trăng tà tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài cây bến sầu vương GIẤC HỒ.

Khi Kim Kiều tái hợp, Kim Trọng đã "Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa". Thúy Kiều cũng đã "Nể lòng người cũ vâng lời một phen" mà đàn cho Kim Trọng nghe. Cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tiếng đàn của Thúy Kiều mà nhắc đến điển tích nầy như sau:

Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là HỒ ĐIỆP hay là TRANG SINH...

Tiếng đàn mơ màng như mơ như thật, chập chờn không biết là Trang Chu hóa bướm hay bướm hóa Trang Chu ...

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức




Những Ngày Chào Xuân



Nghe tin bà mệt sáng qua,
Chuyển qua cấp cứu phòng hai cùng lầu
Ôi cơn mệt bà thật lâu
Còn anh đau ót nhức đầu triền miên.
Tối qua vì lắm ưu phiền
Anh không ngủ được niềm riêng dâng trào.
Phải chi trích được máu dào
Để anh san sẻ ngọt ngào tình thương.
Gia đình ta lắm tai ương
Thênh thang không muốn cuối đường mà đi
Lạy trời những chuyện sân si
Lướt qua mau mắn những gì hôm nay.
Chúa ơi, Phật độ: tai bay
Cho bà xuất viện những ngày chào Xuân!

Dương hồng Thủy
26/01/2021

Lê Hà Uyên Phạm Khắc Trí Đôi Lời Tâm Tình


I. Lê Hà Uyên 

Gửi chút tình cảm cho các học sinh, bạn bè đang dự ĐH ở Houston 2017 

Xin được gọi tất cả quý thầy cô và các em thương mến, hai tiếng “đồng môn” - Những người đã cùng tôi cùng bước vào một cửa trường với vô vàng kỷ niệm. 

39 năm tôi ở ngôi trường nầy. Tôi yêu trường như yêu mối tình đầu đời. Tôi đã nhiều lần viết cho người bạn đời: 

“Nếu bảo rằng anh chỉ yêu em thì chưa đủ-vì anh còn nói dối ngôi trường nầy-mối tình đầu đời anh yêu quá đỗi anh yêu trường trước khi anh yêu em!” 

Dẫu biết cuộc đời nầy tất cả không ra ngoài qui luật : thành, trụ, hoại, không” – nhưng khi ngôi trường được phá bỏ để xây dựng lại, lòng tôi thật xót xa: 

Tôi tiễn trường vào cõi trăm năm Lòng trơ gạch vụn với vôi nòng Tuổi trăm năm - phấn sn tàn rữa Một kiếp phù trầm - vẫn chuyện sắc không 

Tuổi già – trong những đêm khó ngủ thường ngược dòng ký ức, máu tim xôn xao với biết bao kỷ niệm! Muốn tìm một người bạn để ôn chuyện cũ thì thật là khó! 

“Bạn già lớp trước nay còn mấy chuyện cũ mười phần chín chẳng như!” (Thơ Nguyễn Khuyến) 

Nhớ lúc còn đi dạy, vào lớp muốn tâm sự với học trò, thì lớp trẻ bây giờ đâu có cùng nỗi hoài niệm với mình.Trường xưa, người cũ, với họ, chỉ là 

chuyện đời xưa. Vì vậy, nên có lúcviết mấy dòng thật ngậm ngùi: 

“Con chim già hót còn nghe được Người già rồi hát chẳng ai nghe! Hôm qua lên lớp, nghe đầu váng Gối mõi, chân đau, kính nhập nhòe Biết chẳng ai nghe mà vẫn hát Hát hoài, hát mãi, một mình nghe!” 

Vì vậy, mỗi năm một lần, các bạn được ngồi lại bên nhau, hàn huyên tâm sự, thật là một hạnh phúc lớn. Nhớ bạn, nhớ trò, nhớ lắm! Nhưng biết bao giờ được gặp lại nhau! Bồi hồi nghĩ chuyện “thiên tải, nhất thì”, “bạch vân thiên tải”…lòng nghe rưng rưng!... 

Cần Thơ 7.5.2017 

Thân gởi: Lê Hoàng Viện, Nguyễn Công Danh Và tất cả đồng môn 

II. Phạm Khắc Trí 

Một thoáng dư âm 
Con chim già thương lắm dư âm nhà giáo đã một đời chung thủy với trường
 
Một trăm năm hệ lụy phong sương 
Chiếc thân tằm gữi vẫn tơ vương 
Hạc vàng một đi không trở lại 
Mây nổi ngàn năm vẫn trắng trời 
Mãi chăng tần số âm thanh cũ 
ể còn nghe được tiếng nhau thôi 
Vò võ ven trời năm tháng lụn 
Áng chiều lần lữa với buồn vui 
Nghe chim hót nơi vườn cũ 
Lòng gã tha hương những ngậm ngùi 

pHẠM kHẮC tRÍ

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2021

Chào Xuân Tân Sửu

 

Tiễn đưa năm cũ ngút ngàn
Đón xuân Tân Sửu Trâu Vàng về vui
Húc đi cho hết cái xui
Xa gần nốt kêt tiếng cười hân hoan

Chúc xuân thịnh vượng an khang
Chúc Covid sớm tiêu tan- vui về
Chúc xanh ngọn gió làng quê
Xuân về vịn nhịp cầu tre dịu dàng

Nhớ về xưa chợt mơ màng
Đôi tà áo lượn hương ngan ngát lòng
Hẹn hò sáng nhớ chiều mong
Cây nghiêng cành đón phố trông phố chờ

Giờ tìm đâu buổi hẹn hò
Nắng hồng quấn quít đôi bờ chiêm bao
Môi tìm môi ấm ngọt ngào
Để rồi mộng vỡ nhát dao chia lìa

Nỗi buồn đưa tiễn người đi
Còn đâu ngọn gió hở khuy say tình
Xuân về đôi ngả lênh đênh
Phương trời người có thấy mình cô đơn?

Có ngồi chải mái tóc buồn
Tìm về kỷ niệm nụ hôn xa vời
Xuân về nghiêng nhớ xa xôi
Muôn vàn hạnh phúc chúc người phương xa

Trầm Vân


Cây Đàn Bỏ Quên - Phạm Duy - Anh Tú


Sáng Tác: Phạm Duy
Ca Sĩ: Anh Tú
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình

Chào Em Phương Trời

Chào em một nụ Giêng Hai
Thơ tôi: làn nắng trâm cài
Em về gót tha hương thả
Tình tôi nghiêng cánh hoa bay

Chào em một nụ tháng Ba
Đỏ trời hoa gạo thiết tha
Em về nón nghiêng nhan sắc
Tình tôi ríu rít chim ca

Chào em một nụ phượng hồng
Đỏ lên chiều nhớ thương mong
Tiếng ve râm ran chờ đợi
Em về phố mỏi mòn trông

Chào em một nụ thu vàng
Em về tóc xõa vai ngoan
Nhớ thương vàng lên hoa cúc
Tình tôi thả gió lang thang

Chào em phương ấy Cali
Sydney hay nắng Paris
Rơi về nôn nao tình lượn
Nhớ thương khép cánh gió ghì

Chào em tay vẫy chào em
Trôi về kỷ niệm êm đềm
Bóng em xanh trời viễn xứ
Trùng khơi gió vỗ về tim

Trầm Vân

Tha Hương Ngộ Cố Tri


Houston ba đứa gặp nhau
Thời gian khoảng khắc quá mau: ba giờ
Chuyện gì ngày trước bâng quơ
Tuổi già hợp mặt không ngờ chẳng quên
Hai gầy một mập tình bền
Mỗi năm đôi lúc hú tên om xòm
Ba ly trà đá lảng òm
Vậy mà tiếng nói làm xôm tụ đời

Nguyễn Cao Khải

La Promesse Rompue - Lời Hứa Không Tròn -Trần Văn Lương



Dạo:
Trách em sao vội về trời,
Trách anh sao mãi còn nơi dương trần.


I. Cóc cuối tuần Phú Lang Sa:

La Promesse Rompue
(Cho những ai đang buồn đau vì lẻ bạn)

Que c'est loin le jour où nous deux,
Les yeux imprégnés de tendresse,
Et le cœur inondé d'ivresse,
Nous avons échangé nos vœux.

Nous nous sommes alors promis
Que, durant ce séjour sur terre,
Quoi qu'il nous advienne, ma chère,
Nous ne serions point désunis.

Mais parvient soudain ton trépas,
La vie dès lors n'est qu'un orage.
Hélas, je manque le courage
De suivre d'emblée dans tes pas.

Est-ce par toi, brisant le vœu,
Ou par moi, rompant la promesse,
Que nous devons vivre en détresse,
Toi dans les cieux, moi dans ce lieu?

Chérie, je ne sais pas pourquoi
Dieu t'a déplacée de ce monde,
Laissant cette âme vagabonde
Traînasser ici-bas sans toi.


Trần Văn Lương
Cali, 1/2021

***
II. Phỏng dịch thơ Việt:

Lời Hứa Không Tròn

Đã xa lắm ngày chúng mình hai đứa,
Nhu tình dâng tràn mắt tựa sóng khơi,
Và con tim như chén rượu đầy vơi,
Cùng trịnh trọng trao nhau lời thệ nguyện.

Rồi thủ thỉ câu thề non hẹn biển,
Hứa cùng nhau đi trọn chuyến xe trần,
Dù cho đời đầy đau khổ gian truân,
Mình sát cánh, mặc muôn phần khốn khó.

Nhưng đau đớn, em qua miền thiên cổ,
Đời anh nay toàn giông gió não nề.
Anh trách mình sao lưu luyến bến mê,
Không can đảm theo em về tiên cảnh.

Có phải tại em vội vàng cất cánh,
Hay tại anh bạc hãnh chẳng giữ lời,
Nên giờ đây mình day dứt một đời,
Hai đứa phải hai nơi buồn tê tái.

Anh không hiểu sao trời xanh tai quái,
Bắt em yêu trở lại chốn thần tiên,
Để mặc anh dưới thế với muộn phiền,
Chẳng còn có em bên mình sớm tối.


Trần Văn Lương
Cali, 1/2021
***
III. Phỏng dịch thơ Tây Ban Nha:
La Promesa Rota

Lejos parece el día en que nosotros,
Los ojos de ternura y amor llenados,
Los corazónes de gozo inundados,
Intercambiamos los deseos nuestros.

Nos prometimos, siempre bendecidos,
Que, durante la estancia en esta tierra,
Aunque nosotros el destino atierra,
Estaríamos nunca desunidos.

De repente la muerte te ha raptado,
Se ha transformado la vida en tormenta.
Carece de coraje mi alma incruenta
De seguirte y quedarme así a tu lado.

¿Eres el que en tus votos ha fallado,
O soy el que ha roto mi propia promesa,
Que nuestro sufrimiento nunca cesa,
Y que nuestro destino es separado?

Nunca llego a entender, querida mía,
Por qué del mundo Dios te ha colegido,
Mientras que este errabundo es permitido
Vagar aquí sin ti su entero día.


Trần Văn Lương
Cali, 1/2021

***
IV. Phỏng dịch thơ Anh văn:

The Broken Promise

How far away, my dear, has been the day
When we, the eyes imbued with tenderness,
The joyous hearts immersed in drunkenness,
Exchanged the vows that only love can say.

We promised one another eagerly
That through the span of our short earthly stay,
Whatever fate inflicts on us each day,
We shall remain together willingly.

But, sad to say, your end came suddenly,
And since then life became a stormy hell.
I lack the courage and the luck as well
To follow in your footsteps readily.

Is it because of you who broke the vow,
Or really me who broke my given oath,
That in distress we have to languish both,
Condemned to stay in isolation now?

I never do succeed to understand
Why God decides to take you off our site,
But allows me, this drifting parasite,
To roam down here without your loving hand.


Trần Văn Lương
Cali, 1/2021

***
V. Phỏng dịch thơ Hán:

違誓

這 天 二 小 靈,
臉 色 滿 柔 情,
眼 大 睜 心 醉,
欣 欣 結 誓 盟.

莊 嚴 起 諾 言
水 若 淹 乾 坤,
火 若 吞 宇 宙,
難 分 隔 我 們.

妳 命 忽 逢 終,
世 間 乍 困 窮.
我 肝 微 不 敢
同 妳 赴 天 宮.

真 由 妳 負 情,
還 是 我 忘 盟,
而 兩 人 遭 苦,
不 能 共 此 生?

永 遠 我 難 明
老 天 怎 無 情,
迫 妳 回 仙 界,
我 此 處 伶 仃.


陳 文 良

Âm:


Vi Thệ

Giá thiên nhị tiểu linh,
Kiểm sắc mãn nhu tình,
Nhãn đại tranh, tâm túy,
Hân hân kết thệ minh.

Trang nghiêm khởi nặc ngôn,
Thủy nhược yểm càn khôn,
Hỏa nhược thôn vũ trụ,
Nan phân cách ngã môn.

Nễ mệnh hốt phùng chung,
Thế gian sạ khốn cùng,
Ngã, can vi, bất cảm
Đồng nễ phó thiên cung.

Chân do nễ phụ tình,
Hoàn thị ngã vong minh,
Nhi lưỡng nhân tao khổ,
Bất năng cộng thử sinh?

Vĩnh viễn ngã nan minh
Lão thiên chẩm vô tình,
Bách nễ hồi tiên giới,
Ngã thử xứ linh đinh.


Trần Văn Lương

Nghĩa:

Trái Lời Thề

Ngày đó hai linh hồn nhỏ,
Sắc mặt ôn nhu dịu dàng,
Mắt mở lớn, con tim ngất say,
Hớn hở kết câu thệ ước.

(Mình) nghiêm trang hứa rằng
Cho dù nước (có) ngập trời đất,
Cho dù lửa (có) nuốt trọn vũ trụ,
(Thì cũng) khó mà chia cách chúng ta.

(Nhưng) em chợt mất đi,
Đời bỗng khốn khổ gian nguy,
Anh, gan nhỏ, không dám
Theo em cùng lên trời.

Có thực là bởi em phụ tình,
Hay chính là tại anh quên lời thề,
Mà hai người (phải) gặp đau khổ,
Không thể cùng chung sống (trọn) kiếp này.

Anh mãi mãi khó mà hiểu được
Tại sao trời già lại vô tình
Bắt em về cõi tiên,
(Lại bắt) anh lẻ loi ở chốn này.


Trần Văn Lương


Con Gà Mái Hoa Mơ


Nhìn con gà mái hoa mơ màng
Đẻ quả trứng vàng xong hót vang
Đón Tết chú Trâu lòng rộn rịp
Chào Xuân Tân Sửu dạ mênh mang
Gia đình Hành Chánh ngời mây sáng
Tập thể Nhà Quan rạng nắng vàng
Hạc nội mây ngàn đời viễn xứ
Một thời hoạn lộ rộng thênh thang.


Toronto 26/1/2021
Nguyên Trần