Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Ngày Đầu Thu



Ngày Đầu Thu

Chẳng còn lấp ló ở đầu hiên
Thu bước vào đây dáng dịu hiền
Bóng nắng mong manh như lụa trải
Heo may nhè nhẹ tựa triều lên
Lá vàng phe phẩy rung cành mỏng
Mây trắng lang thang lướt cánh mềm
Ra thế ! Thu về trên vạn nẽo
Khiến lòng viễn khách thấy buồn thêm

songquang
( First day of Autumn/ 09232019)
***
Thu Tới

Chênh chếch dương tà đã gác hiên
Bên sông lặng lẽ mái tranh hiền.
Xóm thưa mờ ảo làn sương phủ
Hồ lạnh mơ màng khói sóng lên.
Lướt thướt mây chiều đàn nhạn trắng
Phất phơ tơ liễu nắng tơ mềm.
Trơ cành thu tới vàng bay lá
Chiêm chiếp trên cành não nuột thêm.

Mailoc
(Thu phân 9-22-19)
***
Vào Thu

Lãng đãng mùa thu đến trước hiên
Heo may lướt nhẹ gót êm hiền
Lá rơi lả tả cành run rẩy
Chiều xuống mơ hồ sương tỏa lên
Mây xám trải tung làn lụa mỏng
Cúc vàng mở hé cánh tơ mềm
Đất trời như nhuốm buồn man mác
Nỗi nhớ người xưa da diết thêm.


Phương Hà
***
Nàng Thu


Duyên dáng nàng thu dạo trước hiên
Hương đêm rung động nét ngoan hiền
Dịu dàng dáng ngọc sương mờ phủ
Lộng lẫy xiêm y nắng mới lên
Ai kẻ đa tình say sắc thắm
Ta người bi lụy ướt mi mềm
Giao mùa khoảnh khắc vàng rơi rụng
Tan giấc mơ rồi có luyến thêm

Kim Phượng

In Flanders Field - Chiến Địa Flanders



In Flanders Field

In Flanders Fields the poppies blow
Between the crosses, row on row
That mark our place; and in the sky
The larks, still bravely sing, fly
Scarce heard amid the guns below.

We are the Dead. Short days ago
We lived, felt dawn, saw sunset glow
Loved, and were loved, and now we lie
In Flanders Field.

Take up our quarrel with the foe:
To you from failing hands we throw
The torch; be yours to hold it high.
If you break faith with us who die
We shall not sleep, though poppies grow
In Flanders Fields.

John McCrae
May, 1915

***
Bài Dịch:

Chiến Địa Flanders

Hoa bay đồng cỏ Flanders,
Giữa hàng thập tự, bao bờ hàng bia.
Nơi đây chiến địa chia lìa,
Sơn ca bay, hót trên kia chẳng ngừng.
Tiếng chim súng át nổ tung,
Trên không chim lượn, súng ầm đồng hoang.

Chúng tôi mới chết đây thôi,
Cõi dương đã thấy sớm mơi, bóng chiều.
Đã từng biết được tình yêu,
Giờ trong lòng đất, sớm chiều, Flanders.

Thay tôi đấu với quân thù:
Hãy cầm ngọn đuốc ngàn thu trao đời!
Cầm cao cho đuốc khỏi rơi,
Nếu làm không được, hổ đời chúng tôi:
Mặc cho hoa nở trên đời,
Chết không nhắm mắt ở nơi đồng này!

Nguyễn Đàm Duy Trung /DT PHAN 
Canada Remembrance Day,
November 2000.
***
Bài Dịch:

Cánh đồng Flanders

Poppies nở rộ trên Flanders
Thánh giá chen nhau mọc hững hờ
Đánh dấu chỗ ta trên xứ lạ
Sơn ca vẫn hát điệu mong chờ

Tiếng chim cùng tiếng súng bay cao
Có mấy người nghe tại chiến hào
Chàng lính kiêu hùng vừa gục ngã
Ta người ở lại nuốt thương đau

Bình minh bừng dậy nắng hoàng hôn
Đang tuổi yêu nhau sống dập dồn
Một sớm Flanders đành giã biệt
Tự do, ta đứng thẳng không sờn

Ánh đuốc trên tay bạn sáng ngời
Chiếu niềm tin rực rỡ muôn nơi
Một lòng chiến đấu theo đường bạn
Tiêu diệt giặc dù thân xác phơi

Nếu mất niềm tin trong chúng tôi
Những người nằm xuống dạ bồi hồi
Dù Flanders nở hoa anh túc
Vẫn phải ngàn năm thức giấc thôi

Nguyên Trần 

We Shall Keep the Faith - Moina Michalel - Chúng Ta Phải Giữ Vững Niềm Tin




Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong 11-11

We Shall Keep the Faith                         Chúng Ta Phải Giữ Vững Niềm Tin

Oh! you who sleep in Flanders Fields,       Ồ! Đồng Flanders người đang ngủ
Sleep sweet - to rise anew!                         Ngủ giấc ngon – tỉnh dạy phi thường
We caught the torch you threw                   Bó đuốc người tung, tôi đã bắt
And holding high, we keep the Faith          Niềm Tin giữ vững, quyết cao dâng
With All who died.                                     Với kẻ hiến thân.

We cherish, too, the poppy red                  Tôi trân qúy hoa poppy đỏ
That grows on fields where valor led;       Mọc đầy đồng theo dấu hiên ngang
It seems to signal to the skies                    Như báo cho khắp cùng trời đất
That blood of heroes never dies,                Máu anh hùng thắm mãi ngàn năm
But lends a lustre to the red                       Tô điểm thêm huy hoàng sắc đỏ
Of the flower that blooms above the dead Của muôn hoa nở cạnh người nằm
In Flanders Fields. Trên đồng Flanders.

And now the Torch and Poppy Red          Đây bó đuốc cùng poppy đỏ
We wear in honor of our dead.                  Vinh danh tử sĩ tôi đang mang
Fear not that ye have died for naught;      Đừng sợ người hy sinh vô bổ
We'll teach the lesson that ye wrought      Bài học để đời còn mãi đó
In Flanders Fields.                                    Trên đồng Flanders.

Moina Michalel                                       Hoàng Xuân Thảo  
Nov. 1918                                                 11.2018
***
Chúng Tôi Sẽ Giữ Lòng Tin

Này! Anh an nghỉ nơi cánh đồng Flanders,
Ngủ ngon đi nhé - đợi chờ phục sinh!
Chúng tôi nhận đuốc mà anh buông thả
Tay dơ cao, vững cả niềm tin
Với bao người tuổi trẻ hy sinh.

Chúng tôi trân quý bông anh túc thắm
Mọc trên đồng, nơi giá trị dẫn đầu
Như ra tín hiệu đến trời cao
Máu anh hùng không bao giờ dứt bỏ,
Nó mang lại long lanh cho sắc đỏ
Của bông hoa nở trên những xác khô,
Nơi cánh đồng Flanders.

Và bây giờ ngọn đuốc, anh túc đỏ
Chúng tôi đeo để ghi nhớ trong tâm.
Đừng lo rằng chết uổng vô tăm;
Chúng tôi sẽ dạy chiến công Anh lừng lẫy
Trên chiến trường Flanders.

Lộc Bắc
Oct.2018
***
Tham Luận Của Từ Uyên 



Chiến tranh đem lại tang thương, chiến binh hy sinh cả triệu, thương binh và thường dân cũng chịu biết bao đau khổ tủi nhục.
Thiếu thốn từ lương thực hàng ngày, luôn nghe bom đạn, cha anh chinh chiến không về. Gia đình tan tác và nghèo túng...
Bên cạnh bài thơ In Flanders fields được coi như bất tử, không thiếu những bài thơ khác chan hòa niềm thương nhớ như dưới đây:

Pour la Liberté                             Hoàng Xuân Thảo dịch:

La guerre c’est l’enfer                      Chiến tranh là địa ngục
L’enfer est la violence                      Địa ngục là bạo tàn
La guerre n’a pas de sens                 Chiến tranh thật vô nghiã
La guerre c’est le meurtre                Chiến tranh là sát nhân

Les soldats qui meurent                    Bao chinh phu gục ngã
Les femmes qui pleurent                   Bao chinh phụ khóc ròng
La famille souffre de depression       Nhà nhà đều buồn bã
Les familles souffrent de tristessse   Người người đều não lòng.

Nous nous remercions                       Chúng tôi xin ghi ơn
Nous nous remercions                       Xin ghi ơn mãi mãi
Les soldats qui nous ont donné          Các chiến sĩ để lại
La chance d’avoir un pays                 Di sản: một quê hương

Un pays sans guerre                           Một quê hương thanh bình
Un pays sans enfer                             Quê hương không địa ngục.
Nous nous souvenons d’eux              Chúng tôi luôn nhớ họ
Nous mettons des coquelicots            Vì Tự Do hy sinh

Souvenir des soldats qui sont morts   Tự do đi ngoài phố
pour la liberté                                      Không sợ bị trúng bom
La liberté de marcher dans les rues     Ngày tưởng niệm tới dâng
sans crainte d’être bombardé,              Vòng hoa mào gà đỏ.
sans crainte d’être tué.

Từ Uyên

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2019

Chiều Tàn - Lam Phương - Hoàng Oanh


Sáng Tác: Lam Phương
Ca Sĩ: Hoàng Oanh
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình



Bên Đây Cầu Rạch Miễu



Bên đây cầu Rạch Miễu
Cồn Thái Sơn xanh xanh
Mênh mang trời sóng nước
Sương khói chiều mỏng manh.

Sông đời bao xuôi ngược
Mãi miết trôi về đâu ?
Tháng ngày xanh mơ ước,
Tình hoa cỏ xưa sau.

Dòng Rạch Gầm vẫn chảy
Âm vang trời một phương
Vẫn ngàn năm như thế
Tình tự với quê hương.

Chiến thuyền xưa đâu đấy
Hoá thân hồn nước mây
Kiếm cung xưa đâu đấy,
Hoá thân tình cỏ cây.

Một chiều ta dừng lại
Bên dòng sử hôm nào
Xanh mãi hồn non nước,
Trăm năm, ngàn năm sau.

Bến Tre, một mùa an hạ.

Mặc Phương Tử


Tình Cờ Gặp Nhau


Tình Cờ Gặp Nhau

Quán trọ dừng chân chiều đông giá
Núi rừng nhòa nhạt tỏa hơi sương
Bập bùng ánh lửa hồng đôi má
Cho người lữ khách chạnh say hương

Dường như dìu dịu thơm mùi tóc
Của nàng sơn nữ chốn non cao
Thoang thoảng ấm nồng hơi thở nhẹ
Cho hồn lãng tử chợt nao nao

Gió lùa khe cửa trong đêm vắng
Tha thiết trao tâm sự vắn dài
Rồi mai đây chia tay đôi ngả
Nghìn trùng xa ai buồn hơn ai?

Và "một mùi hương" đã xa nhưng còn gần trong tâm tưởng

Loc Phuc
***
Dư Hương

Mai này về với trời cao
Nhớ nhau thầm gọi lời chào nước mây
Muộn phiền dẫu đã đong đầy
Tiếng thơ còn vọng bụi bay nẻo nào?
Trời đêm ngước hỏi trăng sao
Lá khuya rớt rụng rơi vào hư vô

Yên Nhiên
 

Thầy Tôi



Tôi được học với Thầy môn Triết Luận Lý, Tư Thục Khai Thành, Hà Nội niên khoá 1952-53, năm cuối Trung Học Phổ Thông, chuẩn bị thi Tú Tài 2, ban B Toán Lý Hóa. 

Chỉ qua mấy giờ đầu tiên, phần thuyết giảng của Thầy đã lôi cuốn chúng tôi vào một thế giới hoàn toàn mới lạ. Không còn lối học nhồi sọ, từ chương, khoa cử. Thầy khuyên không cứ nhất thiết phải viện dẫn Cuvilier hay Foulkier, 2 bộ sách Triết kinh điển đương thời cho bậc trung học để bảo vệ luận cứ của mình. 

Hãy luôn luôn chứng tỏ là mình, ý kiến của chính mình về mọi vấn đề học hỏi. Tháng 8 năm 1954, với tư cách là Quản Thủ Thư Viện Đại Học Hà Nội, Thầy đã cùng nhóm Sinh Viên chúng tôi di chuyển vào Sài Gòn, buổi đầu tạm trú ở trường Nữ Trung Học Gia Long. 
Mấy ngày này, tôi may mắn được Thầy kéo đi theo, thầy trò cùng ngồi trên một cyclo thuê bao lang thang cả ngày, hết ngõ này đến ngách nọ̣, được Thầy chỉ dẫn cho học hỏi thêm về dân tình, cây trái miền Nam hai mùa mưa nắng ̣và nhất là một đêm trắng không ngủ nhớ mãi không quên ở Đại Thế Giới trong khu Dân Sinh Chợ Lớn. Một bài học sống về môn Tâm Lý Học, phản ứng vui buồn được thua và niềm say mê của con người bình dân trong chiếu bạc. 
Đêm ấy, hai thầy trò chúng tôi cũng đánh chơi trải nghiệm cho vui cho mãi đến sáng, cuối cùng đều thua sạch số tiền nhỏ bỏ túi để đi Taxi, đành phải cuốc bộ về Banque De L'Indochine ở Sài Gòn, chờ ngân hàng mở cửa, để Thầy lấy tiền, nhưng bù lại dọc đường, lần đầu tiên trong đời, tôi lại được Thầy chỉ dẫn cho biết cách nhìn các góc cạnh để thấy được bộ mặt thực sinh hoạt của một thành phố lớn, lúc đêm hết sáng về, mải mê nghe Thầy nói, lòng vui, thật tình không biết mệt. Mấy ngày sau, giữa lúc ngồi hầu thầy ăn trưa trong một quán bên đường ở Trung Lương, cửa ngõ vào thành phố Mỹ Tho, thầy đã nói tôi nên tiếp tục học hỏi thêm và nếu có thể sau này có khả năng giúp Thầy hoàn thành tâm nguyện, là làm cho được một bộ Sử chân thực, đầy đủ, và đúng nghĩa cho nước nhà. 

Thầy ơi, kể từ ngày ấy đến nay, con là Phạm khắc Trí, học trò của Thầy đây, cũng đã 65 năm qua rồi, con thật đã phụ lòng tin cậy của Thầy! 

Phạm Khắc Trí
 11/08/2019
Đôi Dòng Tiểu Sử:

Thầy tôi là Nguyễn Thiệu Lâu (1916-̀1967), 
Tú Tài Toàn Phần Pháp năm 1935. Có 5 Chứng Chỉ về Sử, Địa, và Văn Chương Đại Học Sorbonne, Paris (1937-1939). 
Giáo Sư các trường Khải Định Huế (1939), 
Khai Thành Hà Nội (1952-1954). 
Phụ Tá Giám Đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ, chuyên khảo về Sử Điạ (1939 - 1945). 
Giám Đốc Ngoại Kiều Vụ (1946). 
Quản Thủ Thư Viện Đại Học Hà nội (1952-1956). 
Mất ngày 19 tháng 8 năm 1967, sau hơn 50 ngày nhịn ăn, đợi chết, tại Dưỡng Đường Saint Paul, Sài Gòn, vợ con không ngăn cản được.

Thu Nẫu



Xướng: Thu Nẫu

Rì rào ngọn gió thả lời ru
Lác đác bên song lá cuốn vù
Cúc dại lao xao mừng đổi tiết
Rừng thưa xào xạc tủi vào thu
Heo may hiu hắt ...đời phiêu bạt
Mây tím chờn vờn ...kiếp lãng du
Tí tách mưa rơi gây gấy lạnh
U buồn trời mãi đặc sương mù

Thanh Hoà
***
Các Bài Họa:

Sầu Thu

Biển vắng thì thầm tưởng tiếng ru
Thời gian bỗng chốc vội qua vù
Gieo lời thương cảm dầu xa xứ
Bỏ chuyện tranh giành dẫu sắp thu
Thôi cứ chờ mong niềm ảo vọng
Sao hoài mê đắm cõi phù du
Nhà ai có lẽ vừa đun bếp
Cuộn mảnh sầu tư gửi khói mù

 Như Thu
***
Chờ Thu

Cảnh xám u buồn tiếng gió ru
Cơn mưa trắng vẫy bóng chim vù
Qua rồi phượng đỏ loang mầu hạ
Chẳng thấy cây vàng phủ sắc thu
Lá ngọc nghiêng cành xao trí tưởng
Hoa hồng rụng cánh lãng hồn du
Trần gian nhuộm xuống đời đen thảm
Kỷ niệm sầu rêu vén lối mù

Minh Thuý
***
Thu Sầu

Mong hoài được hưởng tiết mùa thu
Sắc lá thay màu, đẹp lắm ru…
Khí mát, nắng vàng ta mộng tưởng
Trời xanh, mây trắng khách phiêu du
Buồn thay xứ ấy mưa vần vũ
Chán ngắt năm nay cảnh mịt mù
Những khiến hồn người như nặng trĩu…
Lòng se theo tiếng Gió vù vù


Cao Bồi Già
04-11-2019
***
Đông Về

Đông về lạnh lẽo, gió nào ru
Vang dội đó đây tiếng rít vù
Nắng úa, hết rồi bao sáng hạ
Heo may, đâu nữa những chiều thu
Bao vây lũ lụt, gian cùng khổ
Khốn đốn gạo cơm, lãng với du
Mong mỏi nàng Xuân mau lại đến
Xua tan giá rét, cảnh thôi mù.


Thanh Trương
***
Tuổi Thu
Chiều về văng vẳng suối ngàn ru
Đàn sẻ ngoài sân thoảng cánh vù
Từng chập gió gào chao cánh bướm
Mấy hồi lá đổ gợn hồ thu
Mỏi mòn thân khách đời phiêu lãng
Não nuột quê người cuộc phiếm du
Phiên phiến cái già hồn giá buốt
Đường về ngắn mãi khói mây mù

Mailoc
***
Thu Đọng Mù Sa

Buồn ôi nẫu nuột, não nề ru
Giọng hát xa xôi quyện gió vù
Đã bốn phương trời khô lá rụng
Còn thêm cuối nẻo úa vàng thu
Nàng thơ giấu mặt thương tình khúc
Lữ khách dừng chân đợi viễn du
Hạc thả lênh đênh hiu hắt tiếng
Người bên song mộng ngó sa mù ...


Hawthorne 2 - 11 - 2019
Cao Mỵ Nhân
***
Nhớ Về
Nghe thoảng nhà sau tiếng Mẹ ru
Lũ chim vội vã cánh bay vù
Tuyết rơi như bụi năm gần hết
Lá rụng lớp dầy đã dứt thu
Hơi lạnh nhớ nhà nơi tít tắp
Gió lùa thương nước chốn du du
Cà phê hương nức đâu người cũ
Khói thuốc ngày xưa tỏa mịt mù

Lộc Bắc
***
Ảo Ảnh Thu

Hồn mãi chìm trong tiếng nhạc ru
Mặc cho ngày tháng cứ qua vù
Nắng vàng mấy độ phai màu tóc
Mưa lạnh bao mùa nhạt sắc thu
Gió buốt...e buồn thân lữ khách
Đường dài...ngại mỏi bước phiêu du
Xòe tay ...ngỡ nắm bàn tay cũ
Chỉ thấy quanh đây khói mịt mù...!

Thy Lệ Trang

Đừng Bỏ Vội Cuộc Vui



(Gửi các bạn tuổi vàng)

Gần đây y bỗng dưng giở chứng:
Cờ biếng chơi, đàn bỏ xó quên
Nàng Thơ gọi, quay mặt làm lạ
Tố nữ trong tranh ngắm kém duyên.*

Sách ngại đọc, chất chồng bụi phủ
Báo lười xem, bừa bộn đầy bàn
Ti-vi phát ngấy: giường và súng
Phim chưởng riết nhàm: kiếm với cung.
Đầu biếng chải, áo quần xốc xếch
Ăn kém ngon, ngủ cũng bớt say
Bạn hữu rủ rê đi hội họp
Gật đầu ừ hử... lại chuồn thôi.

Giang hồ tiếu ngạo ngày càng ngại
Thắng cảnh, danh lam cũng dửng dưng
Quanh quẩn ngày đêm mình với bóng
“Hồ trường” rót mãi vẫn buồn vương.

Đèo Ba Dội xưa ham thử thách
Bỗng ngại ngùng mỏi gối đau lưng
Cờ nổi tiếng xe lồng, pháo nổ
Chưa ra quân giờ đã quy hàng.

Khám bệnh, ông thầy khen: “GOOD hết!
Tự mình ám thị đấy mà thôi”
Thương cho y tưởng già treo kiếm
Mọi việc đời rũ áo, rửa tay.

Nguyễn Du xưa cũng từng hối tiếc
Ba trăm năm trước khóc giùm ta
“ Nghĩ thương nết cũ còn cuồng tính
Những muốn truy hoan ngại tuổi già.” **
Bạn ơi! Đừng bỏ vội cuộc vui
Vui được cứ vui tới trọn đời
Ngay cả sau khi ta nhắm mắt
Đường mây vẫn tiếp tục rong chơi...


Hoàng Xuân Thảo
*Cầm kỳ thi hoạ: bốn thú chơi của người xưa
**Thơ Nguyễn Du:
“Mỗi liên cố thái duy cuồng tại
Dục mịch tân hoan nại lão hà.”

***
Làm Sao Mà Bỏ Được

Bác Khôi ơi! Thưa bác Khôi ơi!

Làm sao có chuyện bỏ cuộc chơi,
Khi văn-phong đó luôn mạch lạc,
Lúc chữ nghĩa kia vẫn tươi vui,
Già nhưng tâm ổn: còn vui mãi,
Yếu mà thân an: hết buồn thôi,
Bác nay đôi tám (88) chờ đôi chín (99),
Mười một năm vèo sẽ vui trôi.

Lê Xuân Cảnh

***
(Thân tặng anh Khôi và anh Nhiếp)

Tuổi già chán quá nhỉ anh Khôi!
Nghĩ lại chúng ta đã một thời
“ Tứ khoái “ Trời ban đều hưởng cả 
Nay già suy sụp lẽ thường thôi

Nay già suy sụp lẽ thường thôi
Nghĩ vậy để vui tiếp cuộc đời
Ngày ngày mở máy lên Face book
Gẫu chuyện, làm thơ...trí thảnh thơi

Gẫu chuyện làm thơ trí thảnh thơi
Sẻ chia kinh nghiệm trải trong đời...
Tán đồng ý kiến anh Khôi nói
“Xin chớ vội vàng bỏ cuộc chơi"

Ước mong quý hữu khỏe vui
Chờ ngày bách tuế anh Khôi tới nè
Chúc Anh trăm tuổi Anh nhe.

Nguyễn Tích Lai 

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

Mơ Tan - Nhạc Nguyễn Tâm Hàn - Tiếng Hát Hà Thanh


Nhạc: Nguyễn Tâm Hàn 
Tiếng Hát: Hà Thanh 
Thực Hiện: Nguyễn Tâm Hàn


Sầu


Sầu


Tình yêu một thoáng vuột tầm tay
Tiếc nuối sao vơi những tháng ngày
Mây tím giăng sầu sầu chất ngất
Thêm cho đầy giấc mộng chua cay 


Kim Phượng
***
Cảm Tác:

Tình Đắng Cay


Thuở mới yêu nhau tay nắm tay
Sánh bước song đôi cứ mỗi ngày
Ai đâu ngờ tình hai lối rẽ!
Tim nhói đau khóc tình đắng cay

Phan Lương


Bưởi Biên Hòa



Bưởi Biên Hòa nổi tiếng từ xưa
Tân Triều tứ tuyệt ngon chưa đâu bằng.
***
Em có về miền quê xứ Vĩnh
Nhớ dùm anh cặp bưởi Biên Hòa
Một lần thưởng thức đã thiết tha
Cảm giác ấy ngọt ngào anh nhớ mãi

Quên Đi

Vãn Thượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương 輓上將國公興道大王 - Phạm Ngũ Lão


Đọc thơ Bát Cú Của Phạm Ngũ Lão.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, luật trắc vần bằng của Phạm Ngũ Lão, một danh tướng đời nhà Trần. Bài thơ có nội dung đáng ngưỡng mộ. Xin chép ra sau đây:

Nguyên tác:                 Phiên âm
輓上將國公興道大王 VãnThượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương

長樂鐘聲遞一槌, Trường Lạc chung thanh đệ nhất chuỳ,
秋風蕭颯不勝悲。 Thu phong tiêu táp bất thăng bi.
九重明鑑今亡矣, Cửu trùng minh giám kim vong hĩ,
萬里長城孰壞之。 Vạn lý trường thành thục hoại chi.
雨暗長江空淚血, Vũ ám trường giang không lệ huyết,
雲低嶺 道鎖愁眉 Vân đê lĩnh đạo toả sầu my.
仰觀奎藻詞非溢, Ngưỡng quan khuê tảo từ phi dật,
魚水情深見詠詩。 Ngư thuỷ tình thâm kiến vịnh thi.

 范五老                    Phạm Ngũ Lão
***
Chú thích từ ngữ:

Vãn ( 輓): viếng người chết.
Trường Lạc (長樂): Tên một cung điện đờì nhà Hán, ở đây dùng chỉ cung điện đời nhà Trần.
Đệ (遞): (có bộ sước phía trước chỉ sự chuyển động: chợ đi chợt đứng): chuyển giao, thay đổi, lần lượt.
Táp (颯): tiếng gió vi vu, xào xạc.
Thăng (勝): rất, lắm. Cũng đọc là thắng: được, hơn.
Cửu trùng (九重): chín tầng, trời, chỗ ở của vua.
Hĩ (矣): vậy, dùng chỉ chấm dứt câu nói.
Thục (孰): chữ dùng để hỏi: sao, ai, cái gì?
Chi (之): đại danh từ chỉ cái ấy. Khi là động từ thì nghĩa là đến, tới.
Ám ( 暗): che khuất.
Đê ( 低): có bộ nhân chỉ người: thấp, cúi xuống. Đê đầu: cúi đầu xuống.
Lĩnh (嶺) sườn núi (có bộ sơn trên đầu chỉ núi)
Đạo ( 道) (có bộ sước ): đường đi.
Tỏa (鎖): cái khóa, phong kín, che lấp.
Ngưỡng (仰): ngẫng đầu.
Quan (觀):nhìn 
Khuê tảo (奎藻): chỉ văn chương.
Dật (溢): quá độ.
Từ phi dật (詞非溢): không thừa lời.

Dịch nghĩa:

Viếng Điếu Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương
Một hồi chuông từ cung Trường Lạc vang lên,
Gió thu hiu hắt, nghe đau thương khôn xiết.
Tấm gương sáng của cửu trùng, nay đã mất rồi,
Bức trường thành vạn dặm ai làm cho sụp đổ?
Mưa phủ kín trường giang, lệ máu tuôn
Mây sa xuống sạn đạo, hàng mi sầu.
Ngước trông lên văn chương cô đọng,
Tình thâm cá nước đã hiện ra trong thơ vịnh. 

*Có sách chép bài thơ này là của Bùi Tông Hoan.

Đôi dòng về tác giả:
Phạm Ngũ Lão ( 范五老; 1255–1320) là danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người góp công rất lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288. Đương thời, danh tiếng của ông chỉ xếp sau Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn – người được xem như vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự phong kiến Việt Nam.

Lời bàn:
Về Xuất xứ:
Bài thơ được xếp vào văn học đời Trần mà thời điểm và hoàn cảnh sáng tác khó xác định. Phạm Ngũ Lão có công trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên. Ông mất năm 1320, còn Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất năm 1300. Vậy Phạm Ngũ Lão sáng tác bài thơ nầy trong khoảng thời gian từ 1300 tới 1320, nghĩa là sau khi Trần quốc Tuấn mất ông mới làm bài văn tưởng nhớ. Phạm Ngũ Lão đã làm nhiều bài thơ thể hiện chí nam nhi và lòng yêu nước. Tiếc rằng các tác phẩm của ông đã thất lạc gần hết, chỉ còn lại hai bài thơ là “Thuật hoài” (Tỏ nỗi lòng) và “Vãn Hưng Đạo Đại Vương” (Khóc viếng Hưng Đạo Đại Vương). Trong đó bài “Thuật hoài” là áng thơ thể hiện hùng tâm tráng chí của một bậc đại trượng phu. Bài Vãn Hưng Đạo Đại Vương cũng gây tranh cãi về xuất xứ, có người cho nó là bài điếu văn, hay văn tế. Nhưng xét về hình thức ta thấy nó không phải là văn tế vì văn tế không phải làm theo cách nầy và thường bắt đầu bằng câu: Hỡi ôi! Than ôi! Ở đây hoàn toàn là một bài thất ngôn bát cú! Phạm Ngũ Lão nhân đi viếng đến thờ Hưng Đạo ( hoặc dự lễ tang) mà xúc động nên làm bài thơ nầy.

Câu1/: bài thơ có nóí tới tiếng chuông cung Trường Lạc đời nhà Hán bên Trung Quốc, chuông gióng lên khi có một biến cố trọng đại như trong trường hợp hoàng đế băng hà. Vậy tiếng chuông Trường Lạc chỉ hồi chuông báo tử của hoàng gia. 

Câu 2/: gió thu hiu hắt gây niềm xúc cảm đau thương khôn xiết! 

Câu 3/: đề cao chiến công hiển hách của vua nhà Trần và tài trị nước an dân, đem lại ấm no thanh bình cho đất nước, nay Trần Hưng Đạo băng hà thì đó là một sự mất mát vô cùng to lớn cho dân tộc. 

Câu 4/: nói tới Vạn Lý Trường Thành ám chỉ hai lần đánh bại quân Nguyên, ví Hưng Đạo Đại Vương như bức trường thành vững chắc chống lại rợ Hung Nô xâm lăng Trung Quốc trong mấy ngàn năm. Còn trong nước ta thì ngài như bức tường thành vững chắc giúp vua nhà Trần chống quân xâm lược Mông-Nguyên. Tiếc thay khi ngài mất thì coi như bức trừơng thành cũng đổ theo.

Câu 5/: Mưa phủ Trường giang lệ máu rơi: ý nói quân ta chiến thắng oai hùng trên sông Bạch Đằng, phá tan chiến thuyền của Ô Mã Nhi.

Câu 6/: Từ ngữ lĩnh đạo, tạm dịch là sạn đạo, đường lên núi cheo leo, khúc khuỷu, khó đi. Nguyên là lối đi ở trên cao thông từ vùng này qua vùng khác ở những nơi núi non hiểm trở. Điển cố này muốn nhắc đến công lao của Hàn Tín khi giúp Hán Cao Tổ đánh Ba Thục. Tác giả cũng có ý ví Hàn Tín với Trần Quốc Tuấn.

Câu 8/: "Ngư thuỷ tình thâm " ý nói mối ân tình như cá gặp nước giữa tác giả với đức Thánh Trần mới vịnh thi làm thơ ai điếu. Chuyện kể lúc Trần Hưng Đạo trẩy quân, gặp Phạm Ngũ Lão đang ngồi vót nan giữa đường , đan sọt. Lính lấy giáo đâm vào đùi ông chảy máu, ông vờ như không biết. Đức Thánh Trần Hưng Đạo lấy làm lạ, cho lính gọi tới hỏi chuyện, sau cất nhắc lên rồi gả con gái nuôi cho ông . 


Diễn thơ:

Ai Điếu Thượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương

Trường Lạc cung, vang dội tiếng chuông
Gió Thu hiu hắt nỗi canh trường
Cửu Trùng soi sáng đà tan biến 
Thành quách phai mờ mãi vấn vương
Mưa phủ sông dài tuôn máu lệ
Mây sa sạn đạo nhíu mi hàng
Ngưỡng trông khuê tảo lời cô đọng
Cá nước tình sâu vịnh cảm thương.

Nguyễn Cang

***
Bài Họa Diễn Thơ:

Khóc Đức Quốc Công Trần  

Dinh trung vọng lại những hồi chuông 
Hiu hắt hơi thu luống đoạn trường 
Vạn cổ xa hình trang dũng tướng
Ngàn năm vắng dạng bóng thân vương 
Quân tình ủ dột châu rơi má
Ngựa chiến sầu bi lệ nhỏ hàng
Trắng một màu tang nơi soái phủ 
Sơn hà tiễn biệt ngấm bi thương

Đinh Tường

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019

Thu Quyến Rũ - Sáng Tác Đoàn Chuẩn &Từ Linh - Thùy Dương


Sáng Tác: Đoàn Chuẩn & Từ Linh
Ca Sĩ: Thùy Dương
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình



Thu Hỡi


Heo may lành lạnh chạm vai gầy
Thu của năm nào lãng đãng đây
Ghế đá chơ vơ lòng chạnh nhớ
Công viên quạnh quẽ lệ rơi đầy
Trào dâng ngọn bút dư âm lại
Khuấy động hồn thơ giấc mộng xây
Thu hỡi rằng thu thu đã chết
Tình này theo gió nhốt vào mây 


Kim Phượng