Hiển thị các bài đăng có nhãn Tần Quan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tần Quan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2023

Thước Kiều Tiên 鵲橋仙 - Tần Quan

 

鵲橋仙 - 秦觀 Thước Kiều Tiên - Tần Quan

纖雲弄巧, Tiêm vân lộng xảo,
飛星傳恨, Phi tinh truyền hận,
銀漢迢迢暗度。 Ngân hán điều điều ám độ.
金風玉露一相逢, Kim phong ngọc lộ nhất tương phùng,
便勝卻、人間無數。Tiện thắng khước, nhân gian vô số.

柔情似水, Nhu tình tự thủy,
佳期如夢, Giai kỳ như mộng,
忍顧鵲橋歸路。 Nhẫn cố thước kiều quy lộ.
兩情若是久長時, Lưỡng tình nhược thị cửu trường thời,
又豈在、朝朝暮暮。Hựu khởi tại, triêu triêu mộ mộ.

Chú Thích

1 Thước Kiều Tiên 鵲橋仙: tên từ điệu, tên khác là “Thước kiều tiên lệnh 鹊桥仙令”, và “Kim phong ngọc lộ tương phùng khúc 金风玉露相逢曲”. Bài này gồm 56 chữ, 2 đoạn, mỗi đoạn 5 câu, 2 trắc vận. 

Cách luật:

X B X T cú
X B X T cú
X T X B X T vận
X B X T T B B cú
X X T, X B X T vận

X B X T cú
X B X T cú
X T X B X T vận
X B X T T B B cú
X X T, X B X T vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2 Tiêm vân 纖雲: mây mầu mỏng.
3 Lộng xảo 弄巧: ý nói mây mầu tại không trung biến hóa thành các hình dạng khác nhau.
4 Phi tinh 飛星 = lưu tinh 流星: sao đổi ngôi, xao xẹt, vẫn thạch cháy khi chạm tầng khí quyển. Có người nói chữ này ám chì sao Ngưu lang Chức nữ.
5 Truyền hận 傳恨: truyền đạt mối hận đến nơi nào đó hay là cho ai đó.
6 Ngân hán 銀漢: dải ngân hà.
7 Điều điều 迢迢: xa xăm.
8 Ám độ 暗度 = ám độ暗渡lặng lẽ đi qua.
9 Kim phong 金風: gió vàng = gió thu.
10 Ngọc lộ 玉露: bạch lộ 白露= sương trắng. Trích dẫn câu thơ của Lý Thương Ẩn 李商隱:

“恐是仙家好别离,Khủng thị tiên gia hảo biệt ly,
“故教迢递作佳期。Cố giao điều đệ tác giai kỳ.
“由來碧落銀河畔,Do lai bích lạc ngân hà bạn,
“可要金風玉露時。Khả yếu kim phong ngọc lộ thì.

“Sợ rằng người tiên thích biệt ly,
“Nên để người mong đợi rất lâu.
“Xưa nay trời để mây mầu đến bên ngân hà,
“Sao phải cần lúc gió thu và sương trắng”.

11 Tiện thắng 便勝: thuận lợi hơn, hơn. Khước 卻: dùng làm trợ từ.
12 Giai kỳ 佳期: Cuộc hẹn ước gặp gở của đôi nam nữ tình nhân.
13 Nhẫn cố 忍顧: Nhẫn nhịn nhìn về.
14 Thước kiều 鵲橋: cầu chim ô thước.
15 Quy lộ 歸路: đường về.
16 Nhược thị 若是: nếu như.
17 Cửu trường 久長: dài lâu.
18 Triêu triêu mộ mộ 朝朝暮暮: sớm sớm tối tối, sáng sáng chiều chiều.

Dịch Nghĩa

Bài từ theo điệu Thước Kiều Tiên của Tần Quan.


Mây mầu mỏng biến hóa hình dạng,
Sao đổi ngôi (sao xẹt) truyền báo niềm uất hận,
Dải ngân hà xa xăm, yên lặng (Ngưu Lang Chúc Nữ) đi qua.
Trong gió thu và sương trắng lại gặp nhau (trong ngày thất tịch 7-7)
Vẫn còn thuận lợi hơn nhiều người ở nhân gian (gần nhau mà không hợp nhau).

Tình mềm như nước,
Thời gian gặp nhau đẹp như mộng,
(Lúc chia tay) cố nhịn (đau thương) mà nhìn con đường về là cầu thước.
Tình của 2 người nếu như dài mãi (bất biến) theo thời gian.
Đâu cần phải sớm chiều bên nhau

Phỏng Dịch

1/ Thước Kiều Tiên - Cầu Ô Thước


Mây mầu xảo diệu,
Sao bay đưa hận,
Xa thẳm ngân hà lội bộ.
Gió thu sương ngọc lại tương phùng,
Thuận lợi hẳn, người đời vô số.

Tình mềm như nước,
Gặp nhau như mộng,
Nhẫn nhịn cầu về không ngó.
Hai bên như nếu mãi dài lâu,
Há đâu phải, ngày ngày gặp gỡ.

2/ Cầu Ô Thước

Mây biến hóa, sao bay báo hận,
Ngân hà xa tít âm thầm qua.
Gặp nhau trong gió thu sương bạc,
Thuận lợi hơn đời chán vạn gia.

Nhu tình như nước, thời như mộng,
Chẳng nỡ nhìn ô thước lối về.
Đôi lứa chung tình dài mãi mãi,
Có đâu sớm tối phải gần kề!

HHD 
8-2019
***
Thước Kiều Tiên

1/

Mây mầu đổi dạng
Sao băng truyền hận
Ngân hà xa, thầm đổi chỗ
Gió thu, móc ngọc lại tương phùng
Thuân lợi hơn người trần vô số

Tình mềm như nước
Ngày vui như mộng
Nhìn cầu Thước, đau cũng cố
Lứa đôi nếu dài mãi khôn ngưng
Đâu cần phải sớm chiều gặp gỡ

2/ Cầu Ô Thước

Mây chó, sao băng truyền hận khổ
Ngân hà xa thẳm thầm dời chỗ
Gió thu, móc ngọc lại tương phùng
Thuận lợi hơn người trần thế đó!

Tình mềm như nước, tuyệt ngày vui!
Cầu Thước nhìn về đau cũng cố
Đôi lứa nếu bền mãi chẳng ngưng
Đâu cần sớm tối luôn tao ngộ!

Lộc Bắc
Nov23

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Phong Lưu Tử 風流子 - Tần Quan



風流子 - 秦觀 Phong Lưu Tử - Tần Quan

東風吹碧草, Đông phong xuy bích thảo,
年華換、行客老滄洲。Niên hoa hoán, hành khách lão thương châu.
見梅吐舊英, Kiến mai thổ cựu anh,
柳搖新綠, Liễu dao tân lục,
惱人春色, Não nhân xuân sắc,
還上枝頭, Hoàn thướng chi đầu,
寸心亂,北隨雲黯黯,Thốn tâm loạn, Bắc tùy vân ảm ảm,
東逐水悠悠。 Đông trục thủy du du.
斜日半山, Tà nhật bán sơn,
暝煙兩岸, Minh yên lưỡng ngạn,
數聲橫笛, Sổ thanh hoành địch,
一葉扁舟。 Nhất diệp thiên châu.

青門同攜手, Thanh môn đồng huề thủ,
前歡記、渾似夢裏揚州。Tiền hoan ký, hồn tự mộng lý Dương Châu.
誰念斷腸南陌, Thùy niệm đoạn trường nam mạch,
回首西樓。 Hồi thủ tây lâu.
算天長地久, Toán thiên trường địa cửu,
有時有盡, Hữu thời hữu tận,
奈何綿綿, Nại hà miên miên,
此恨難休。 Thử hận nan hưu.
擬待倩人說與, Nghĩ đãi thính nhân thuyết dữ,
生怕人愁。 Sinh phạ nhân sầu.

Chú Thích

1- Phong lưu tử 風流子: tên từ bài, gồm 110 chữ, đoạn trước có 12 câu với 4 bình vận, đoạn sau có 10 câu với 4 bình vận. Cách luật:


X X X X T cú
B X T, X T T B B vận
T X X X X cú
T B B T cú
X B X T cú
X X X B vận
X X X, X B B T T cú
X T T B B vận
X T T B cú
X B X T cú
X B X T cú
X T B B vận

X B B X T cú
B X T, B X X T B B vận
X T X B B T cú
X T B B vận
T X X X X cú
X B X T cú
X B X X cú
X T B B vận
X T X B X T cú
X T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Đông phong 東風: gió xuân.
3- Niên hoa 年華: cảnh sắc thời tiết mùa xuân, xuân quang.
4- Hành khách 行客: hành nhân, người đi xa nhà.
5- Lão 老: gian lao vì lữ hành.
6- Thương châu 滄洲: bến nước, bến cảng. Thương Châu cũng là tên một thị trấn thuộc tỉnh Hà Bắc, TH.
7- thổ 吐 = thổ lộ 吐露: lú ra, mọc ra.
8- Anh 英: chỉ hoa, nụ hoa.
9- Dao 搖: lay, lắc lư.
10- Não nhân 惱人: làm buồn lòng người, làm cho người phiền não. Não nhân xuân sắc. Mượn câu thơ của La Ẩn 羅隱 đời Đường trong bài thơ “Xuân nhật diệp tú tài khúc giang 春日葉秀才曲江”:

“春色惱人遮不得,Xuân sắc não nhân già bất đắc,
“別愁如謔避還來。Biệt sầu như hước tỵ hoàn lai.
“Cảnh sắc mùa xuân làm phiền lòng người, ngăn không được,
“Nỗi sầu ly biệt như đùa bỡn, tránh vẫn đến”.

11- Hoàn thượng chi đầu 還上枝頭: còn lên đến đầu cành. Ý nói người tâm tình áo não bấn loạn.
12- Thốn tâm 寸心: tấc lòng, tâm tình.
13- Minh yên 暝煙: sương khói lúc chiều tối.
14- Hoành địch 橫笛: ống sáo cầm ngang mặt khi thổi, ngày xưa còn gọi là hoành xuy 橫吹: thổi ngang.
15- Nhất diệp thiên châu一葉扁舟: một chiếc thuyền nhỏ.
16- Thanh môn 青門 = thanh thành môn青城門: tên cửa thành Trường An 長安 vào thời nhà Hán.
17- Tiền hoan 前歡: những vui thú trong quá khứ, những vui sướng xưa kia.
18- Hồn tự 渾似 = toàn tự 全似: đều giống như, toàn giống như.
19- Mộng lý Dương Châu 夢裏揚州: chuyện quá khứ ở Dương Châu như một giấc mộng. Lấy chữ từ câu thơ của Đỗ Mục trong bài thơ “Khiển hoài 遣懷”: Thập niên nhất giác Dương Châu mộng 十年一覺揚州夢: mười năm chợt tỉnh ngộ giấc mộng Dương Châu.
20- Đoạn trường 斷腸: đau lòng, buồn lòng hết sức.
21- Nam mạch 南陌: đường lộ ở ngoại ô phía nam thành, cũng có thể hiểu là “Tại hướng nam của con đường nhỏ ở ngoại ô”. Trong bài này chữ nam mạch chỉ nơi chia tay ở ngoại ô thành Biện Lương, kinh đô Bắc Tống.
22- Tây lâu 西樓: chỉ nơi nữ nhân ở, ám chỉ người yêu.
23- Toán thiên trường địa cửu 算天長地久: cho là trời dài đất lâu, mượn câu thơ của Bạch Cư Dị 白居易trong bài Trường hận ca 長恨歌:

“天長地久有時盡,Thiên trường địa cửu hữu thời tận,
“此恨綿綿無絕期。Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ.
“Trời đất lâu dài cũng có lúc hết,
“Mối hận này liên miên không kỳ hạn”.

24- Nại hà 奈何: làm sao mà? làm thế nào?
25- Miên miên 綿綿: liên miên, liên tục không dứt.
26- Hưu 休: hết, dứt. Nan hưu 難休: khó dứt.
27- Nghĩ 擬: suy nghĩ.
28- Thính nhân (qìng rén) 倩人: nhờ người giúp.

Dịch Nghĩa

Gió xuân thổi lên ngọn cỏ xanh,
Cảnh xuân thay đổi, người du hành gian nan nơi bến nước.
Nhìn cây mai trổ nụ như xưa,
Dương liễu lắc lư cành cành xanh non.
Cảnh sắc mùa xuân làm phiền não lòng người,
Lại còn lên đến đầu cành liễu,
Tâm tình tôi bấn loạn, Nhìn theo mây đen ảm đạm phương bắc,
Nhìn theo dòng nước xuôi đông miên man.
Ánh tà dương chiếu trên sườn núi,
Hai bên bờ khói sương lúc chiều xuống,
Vài tiếng sáo (truyền lại),
Một chiếc thuyền con.
(Lúc xưa) từng dắt tay nhau đi chơi ở cửa thành,
Nhớ những vui xưa ở Dương Châu toàn như trong giấc mộng.
Ai còn ghi nhớ lúc chia tay đau lòng ở ngoại ô thành nam,
Quay đầu nhìn lầu tây (nhìn nơi nàng ở),
Cho dù trời đất lâu dài,
Cũng có lúc hết,
Tại sao phải buồn bã dằng dặc,
Mà không bãi thoát ra được.
Nghĩ đến việc nhờ người đem tâm tình này nói với cô ta,
Lại sợ cô ta sinh ra ưu sầu.

Phỏng Dịch

1 Phong Lưu Tử - Tình Hận Dương Châu


Gió xuân vờn cỏ thắm,
Xuân cảnh đổi, lữ khách đắm Thương Châu.
Thấy mai nở nụ xưa,
Liễu lay cành mới,
Não người xuân sắc,
Phiền vương não đầu.
Tâm tình loạn, bắc nhìn mây ảm đạm,
Dòng nước bạc đông lưu.
Sườn núi ánh dương,
Hai bờ sương khói,
Đâu đây tiếng sáo,
Một chiếc thuyền câu.


Cửa thành cùng quyến luyến,
Vui xưa đó, toàn như mộng đến Dương Châu.
Ai nhớ đường nam thương cảm,
Nhìn lại tây lâu.
Mặc thiên trường địa cửu,
Điêu tàn có lúc,
Tại sao miên man,
Hận mãi dài lâu.
Cũng muốn nhờ người nói hộ,
Lại sợ nàng sầu.

2 Tình Hận Dương Châu


Gió vờn cỏ thắm đổi mầu xuân,
Bến nước gian nan lão khách nhân.
Nhìn liễu lay cành mai trổ nụ,
Não lòng xuân sắc loạn tâm thần.

Bắc phương ảm đạm lớp mây mù.
Dòng nước xuôi đông chẩy lững lờ,
Nắng chiều lưng núi đôi bờ khói.
Vài tiếng sáo ngang, thuyền mộng mơ.

Từng dắt tay nhau ngoài cửa thành,
Dương châu như mộng vui ngày xanh.
Nhớ chăng ly hận đường mòn cũ,
Ngước mắt lầu tây tưởng bóng hình.

Trời đất dài lâu có lúc cùng,
Hận này còn mãi khúc tình chung.
Nhờ ai chuyển đến người yêu mến,
Nỗi nhớ, người xưa buồn lắm không?

HHD 
05- 2021
***
Phong Lưu Tử

1-

Gió đông lay cỏ biếc
Cảnh xuân thay, day diết khách Thương châu
Thấy mai trổ nụ xưa
Liễu lay cành nhỏ
Sắc xuân phiền não
Còn lên liễu đầu
Lòng rối loạn, Bắc theo mây ảm đạm
Nước xuôi Đông rầu rầu
Chiều tà sườn non
Hai bờ khói ám
Sáo đưa dăm tiếng
Một chiếc thuyền câu

Cửa thành đưa tay dắt
Nhớ vui xưa hồn mơ mộng chốn Dương Châu
Ai nhớ đau lòng đường nhỏ
Lầu tây quay đầu
Dù trời dài đất rộng
Cũng có khi hết
Cớ chi buồn hoài
Hận này khó lui
Nghĩ đến nhờ người nói giúp
Nhưng sợ gây sầu!


2- Hận Tình Xưa

Gió đông thổi lung lay cỏ biếc
Cảnh xuân thay, da diết khách Thương
Mai trổ nụ, liễu cành vươn
Sắc xuân phiền não, bi thương đầu cành

Lòng rối loạn, mây xanh ảm đạm
Nước xuôi đông, nắng rám sườn non
Hai bờ khói ám chiều buông
Sáo đưa vài tiếng thuyền con độc hành

Từng dắt tay, cửa thành mở rộng
Nhớ vui xưa hồn mộng Dương Châu
Đau lòng đường nhỏ quay đầu
Trời dài đất chậm có đâu vô cùng!

Sầu cớ chi, ngập ngừng không bỏ?
Hận mang hoài, không xả nhẹ lòng?
Nhờ người nói giúp cho xong?
Nhưng e sầu não, nàng không thỏa tình!


Lộc Bắc
Oct23




Thứ Hai, 9 tháng 10, 2023

Mãn Đình Phương 滿庭芳 - Tần Quan



滿庭芳 - 秦觀 Mãn Đình Phương - Tần Quan

山抹微雲, Sơn mạt vi vân,
天連衰草, Thiên liên suy thảo,
畫角聲斷譙門。 Họa giác thanh đoạn tiều môn.
暫停征棹, Tạm đình chinh trạo,
聊共引離尊。 Liêu cộng dẫn ly tôn.
多少蓬萊舊事, Đa thiểu bồng lai cựu sự.
空回首、煙靄紛紛。Không hồi thủ, yên ái phân phân.
斜陽外, Tà dương ngoại,
寒鴉萬點, Hàn nha vạn điểm.
流水繞孤村。 Lưu thủy nhiễu cô thôn.

銷魂。 Tiêu hồn.
當此際, Đương thử tế,
香囊暗解, Hương nang ám giải,
羅帶輕分。 La đái khinh phân.
謾贏得, Mạn doanh đắc,
青樓薄倖名存。 Thanh lâu bạc hãnh danh tồn.
此去何時見也, Thử khứ hà thời kiến dã,
襟袖上、空惹啼痕。Khâm tụ thượng, không nhạ đề ngân.
傷情處, Thương tình xứ,
高城望斷, Cao thành vọng đoạn,
燈火已黃昏。 Đăng hỏa dĩ hoàng hôn.

Chú Thích


1- Mãn Đình Phương 滿庭芳: tên từ điệu, gồm 95 chữ. Đoạn trước có mười câu, 4 bình vận. Đoạn sau có 11 câu, 5 bình vận. Cách luật:

X T B B cú
B B X T cú
T X B T B B vận
T B B T cú
T T T B B vận
X T B B T T cú
B B T, X T B B vận
B B T cú
B B X T cú
B T T B B vận

B B vận
B T T cú
B B T T cú
X T B B vận
T B T,
B B T T B B vận
T T B B T T cú
B X T, X T B B vận
B B T cú
B B T T cú
X T T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần
(Những thanh X là những thanh mà Tần Quan đã thay đổi từ chính thể).

2- Mạt 抹: bôi lên, thoa lên. Vi vân 微雲: đám mây nhỏ.
3- Liên 連; liền. Bản khác chép niêm 黏: dán vào, dính vào.
4- Họa giác畫角: tù và dùng trong quân đội.
5- Thanh đoạn 聲斷: âm thanh không liên tục, tiếng nối tiếng dứt.
6- Tiều môn 譙門: thành môn 城門, toà nhà trên thành làm vọng gác.
7- Chinh trạo 征棹: thuyền viễn hành, thuyền đi đường xa. (Trạo: mái chèo, phiếm chỉ thuyền).
8- Tạm đình chinh trạo 暫停征棹: tạm dừng thuyền nghỉ ngơi. Tác giả ám chỉ việc trú ngụ tại nhà quan Thái Thủ đất Hội Kê (hoặc Cối Kê Kuàiji) 會稽làm thượng khách.
9- Liêu 聊: hứng thú.
10- Dẫn 引: cử, nâng.
11- Tôn 尊: ly uống rượu, chén uống rượu.
12- Liêu cộng dẫn ly tôn聊共引離尊: Hứng thú cùng nâng chén rượu ly biệt. (Chủ nhân mở tiệc chiêu đãi rất lớn, mời rất nhiều khách và nhiều ca nữ giúp vui trong đó có người ca nữ mà Tần Quan yêu mến.)
13- Bồng lai cựu sự 蓬萊舊事: chuyện ái tình của nam nữ trong quá khứ. Tác giả ám chỉ những ngày hoan lạc ở Bồng Lai các 蓬萊閣, nơi tác giả tạm trú làm khách trong nhà quan Thái Thủ đất Hội Kê 會稽 (Thiệu Hưng, TH ngày nay).
14- Yên ái 煙靄: mây mù.
15- Phân phân 紛紛: tạp loạn, mang loạn.
16- Hàn nha 寒鴉: một loài chim quạ có mầu đen và xám.
17- Nhiễu 繞: vòng quanh, vòng vo chung quanh.
18- Hàn nha vạn điểm, Lưu thủy nhiễu cô thôn寒鴉萬點,

流水繞孤村: mượn câu thơ của Tùy Dương Đế 隋煬帝:
“寒鴉千萬點,Hàn nha thiên vạn điểm, (ngàn vạn điểm hàn nha),
“流水繞孤村.” Lưu thủy nhiễu cô thôn. (dòng nước quanh cô thôn).

19- Tiêu hồn 消魂: Cực độ tương tâm. Tâm thần hoảng hốt không biết mình ở đâu.
20- Hương nang 香囊: túi đựng chất thơm và đồ trang sức của phụ nữ.
21- La đái 羅帶: Dải lụa cột ngang thắt lưng
22- Mạn 謾: uổng phí, vô ích.
23- Mạn doanh đắc, Thanh lâu bạc hãnh danh tồn謾贏得,青樓薄倖名存: hốt nhiên được mang danh kẻ bạc tình trong đám lầu xanh. Trích dẫn câu thơ của Đỗ Mục杜牧:

“十年一覺揚州夢,Thập niên nhất giác Dương Châu mộng
“贏得青樓薄倖名. Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.

“Mười năm chợt tỉnh giấc mộng ở Dương Châu,
“Có được tên tuổi là kẻ bạc tình trong giới lầu xanh”.

24- Thanh lâu 青樓: nơi phụ nữ ở, cũng được dùng để chỉ nơi kỹ nữ ở.
25- Bạc hãnh 薄倖: bạc tình.
26- Khâm tụ 襟袖: cổ áo và tay áo.
27- Không nhạ 空惹: hoàn toàn đụng chạm tới, dính líu tới.
28- Đề ngân 啼痕: vệt nước mắt.
29- Vọng đoạn 望斷: đưa mắt nhìn thật xa.

Dịch Nghĩa

Trên núi có vệt mây.


Bầu trời nối tiếp với đám cỏ uá. (1 kiểu hành văn thịnh hành thời xưa)
Trên thành tiếng tù và ngập ngừng.
Tạm dừng thuyền viễn hành,
Hứng khởi cùng nhau (với đám kỹ nữ) nâng chén rượu chung vui, nói lời tiễn biệt.
Bao nhiêu khúc tình ái trước đây,
(Bây giờ) nhắc lại chỉ là những đoạn khói mây hỗn tạp.
Phía ngoài ánh tà dương,
Bầy quạ như hàng vạn điểm (đen),
Dòng nước chẩy vòng vo quanh xóm làng đơn độc.

Lòng buồn thương cực điểm.
Trong lúc đó,
(Nàng) âm thầm mở túi đựng chất thơm và đồ trang sức,
Dải thắt lưng lụa nhẹ mở (Lấy kỷ vật ra tặng cho chàng)
(Theo tập quán xưa, khi mới gặp nhau hay lúc chia tay thường tặng nhau kỷ vật).
Lấy được tên tuổi (một cách vô ích),
Là kẻ bạc tình trong giới lầu xanh.
Lần đi này không biết lúc nào mới thấy lại,
Trên tay áo cổ áo, dính toàn là vệt nước mắt.
Trong lúc tình buồn,
Đứng trên thành cao nhìn thật xa,
Thấy đèn, lửa nổi lên, đã đến lúc hoàng hôn

Phỏng Dịch

1/ Mãn Đình Phương - Luyến Tình


Núi quết mây vương,
Trời liền cỏ úa,
Ngập ngừng tiếng ốc cao thành.
Tạm dừng phiêu lãng,
Cử chén biệt ly tình.
Tất cả thần tiên chuyện cũ,
Quay nhìn lại, sương khói linh tinh.
Tà dương chiếu,
Quạ đen vạn điểm,
Dòng nước nhiễu thôn bình.

Buồn tênh.
Trong lúc đó,
Hương trang lén mở,
Giải lụa trao anh.
Được ban hão,
Lầu xanh bạc bẽo hư danh.
Cách biệt bao giờ gặp lại?
Trên tay áo, giọt lệ long lanh.
Thương tình lắng,
Thành cao ngó suốt,
Chiều đến lửa đèn quanh.

2/ Luyến Tình

Núi cao phủ đám mây viền,
Bầu trời cỏ uá nối liền mầu xanh.
Tù và từng tiếng trên thành,
Thuyền xa đến bến tạm đình vui chơi.

Cùng nhau nâng rượu ly bôi,
Bao nhiêu tình cũ đầy vơi rối mờ.
Quạ đen muôn điểm chiều mơ,
Cô thôn dòng suối lững lờ uốn quanh.

Tiêu hồn một thoáng đến nhanh,
Túi thơm dải lụa chút tình trao nhau.
Bạc hãnh lang chốn thanh lâu,
Một lần từ biệt quay đầu viễn phương.

Bao giờ gặp lại người thương?
Não lòng nước mắt còn vương áo hồng.
Thành cao buồn đọng ngóng trông,
Xa xa đèn lửa trời không chiều về.

HHD 
6- 2019
***
Mãn Đình Phương, Tần Quan

1-

Mây nhạt núi cao
Trời liền cỏ, lác
Tù và vọng gác mất còn
Thuyền ngưng, chèo nghỉ
Hứng, nâng rượu biệt ngon
Bao nhiêu ái ân ngày cũ
Nhắc lại chỉ khói mây vờn
Ngoài nắng quái
Quạ đen vạn điểm
Nước chảy vòng cô thôn

Nát hồn

Trong lúc đó
Túi hương lén mở
Dải lưng nhẹ tuồn
Được tên tuổi
Lầu xanh bạc bẽo tiếng đồn
Nay đi khi nào thấy lại?
Trên áo dài đầy ngấn lệ tuôn
Buồn tình lúc
Thành cao nhìn suốt
Đèn lửa thắp hoàng hôn.

2-

Vệt mây núi, trời liền cỏ, lác
Tù và nơi vọng gác mất còn
Thuyền dừng chèo nghỉ dưới non
Hứng nâng rượu biệt lời buồn tiễn đưa

Bao tình yêu, ngày xưa ân ái
Nhắc lại chi chỉ khói mây vờn
Ngoài nắng quái, quạ vạn con
Nước sông uốn lượn chảy tròn xóm thôn

Trong lúc đó, sầu buồn cực điểm
Nơi túi hương, dấu diếm vàng son
Mở giải lụa, tư trang tuồn
Lầu xanh bạc bẽo danh cồn bấy lâu

Nay bước đi khi nào thấy lại
Ngấn lệ tràn đầy vải áo khăn
Thành cao nhìn suốt mấy tầng
Hoàng hôn đèn thắp bội phần buồn tênh!

Lộc Bắc
Sept23



Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

Lâm Giang Tiên 臨江仙 - Tần Quan



臨江仙 - 秦觀 Lâm Giang Tiên - Tần Quan

千里瀟湘挼藍浦, Thiên lý Tiêu Tương noa lam phố,
蘭橈昔日曾經。     Lan nhiêu tích nhật tằng kinh.
月高風定露華清。 Nguyệt cao phong định lộ hoa thanh.
微波澄不動,        Vi ba trừng bất động,
冷浸一天星。        Lãnh xâm nhất thiên tinh.

獨倚危檣情悄悄,Độc ỷ nguy tường tình thiểu thiểu,
遙聞妃瑟泠泠。    Dao văn phi sắt linh linh.
新聲含盡古今情。Tân thanh hàm tận cổ kim tình.
曲終人不見,        Khúc chung nhân bất kiến,
江上數峰青。        Giang thượng sổ phong thanh.

Chú Thích

1- Lâm giang tiên臨江仙: tên từ bài, nguyên là ca khúc của Đường giáo phường, gồm 58 chữ, hai đoạn, mỗi đoạn 3 bình vận. Cách luật:

X T X B B T T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T cú
X T T B B vận

X T X B B T T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T T cú
X T T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Tiêu Tương 瀟湘: tên dòng sông, tương truyền hai bà phi của vua Thuấn tự trầm tại đây.
3- Noa lam 挼藍: nước trong xanh.
4- Lan nhiêu 蘭橈: mái chèo làm bằng gỗ lan, đại chỉ thuyền.
5- Tích nhật tằng kinh昔日曾經: ngày xưa từng đi qua, tác giả muốn nói tới điển tích Khuất Nguyên xưa kia từng đến đây.
6- Lộ hoa 露華: giọt sương.
7- Vi ba 微波: sóng nhỏ, sóng lăn tăn.
8- Trừng 澄: ngưng, ngừng.
9- Lãnh tẩm nhất thiên tinh 冷浸一天星: Lạnh thấm một trời sao, bầu trời đầy sao lạnh lẽo hoặc là mặt nước lạnh lẽo in bóng bầu trời đầy sao. Tác giả mượn ý câu thơ trong bài Tây Giang Nguyệt 西江月của Âu Dương Quýnh 歐陽炯, đời Ngũ Đại五代:

“月映長江秋水,Nguyệt ánh trường giang thu thủy,
“分明冷浸星河。Phân minh lãnh tẩm tinh hà.”

Trăng chiếu trên dòng nước mùa thu của sông Trường Giang,
Rõ ràng lạnh thấm dải ngân hà.

10- Nguy tường 危檣: cột buồm cao.
11- Thiểu thiểu 悄悄: lặng lẽ, vẻ ưu sầu.
12- Phi sắt 妃瑟: Trong phần Viễn du遠遊 của bài Sở từ 楚辭 do Khuất Nguyên 屈原 sáng tác có câu:

“使湘靈鼓瑟兮,Sử Tương linh cổ sắt hề,
“令海若舞馮夷。Lệnh hải nhược vũ phùng di.

Hãy để thần sông Tương gẩy đàn sắt chừ,
Lệnh cho thần biển và thần sông cùng hợp múa.

Tương truyền hai bà phi của vua Thuấn 舜sau khi tuẫn tiết đã biến thành vị thần cai quản sông Tương. Phi sắt 妃瑟 chỉ tiếng đàn sắt, 1 loại đàn tranh, của hai bà phi của vua Thuấn.

13- Linh linh 泠泠: hoang vắng buồn bã.
14- Tân thanh 新聲: khúc nhạc mới sáng tác, đại chỉ khúc nhạc.
15- Hàm 含: bao gồm, chứa đựng, hiển hiện,
16- Hai câu cuối: mượn câu thơ của Tiền Khởi 錢起đời Đường trong bài “Tỉnh thí Tương linh cổ sắt 省試湘靈鼓瑟 làm bài Tương linh gẩy đàn sắt trong lúc thi Hội”:

“曲終人不見,Khúc chung nhân bất kiến, khúc đàn hết người không thấy,
“江上數峯青。Giang thượng sổ phong thanh. Trên sông thấy vài ngọn núi xanh.

Dịch Nghĩa

Sắc nước trong xanh tại bến đậu thuyền trên sông Tiêu Tương ngàn dặm,
Thuyền lan (của Khuất Nguyên) ngày xưa đã từng qua đây.
Trăng trên cao, gió lặng, những giọt sương trong vắt,
Sóng lăn tăn ngừng hẳn, không nổi lên,
Cái lạnh thấu đến bầu trời sao (hoặc là muôn sao ánh chiếu trên mặt nước lạnh).

Một mình đứng dựa cột buồm cao, tâm tình ưu sầu lặng lẽ,
Nghe thấy tiếng đàn tranh của Tương Phi (như) từ xa xôi hoang vắng.
Khúc đàn (như) thố lộ mối u tình cổ kim.
Khúc đàn chấm dứt (mà) không thấy người đâu,
(Đứng ở) trên sông (chỉ thấy) những mỏm núi xanh.

Phỏng Dịch:

1/ Lâm Giang Tiên - Tiếng Đàn Trên Sông

Ngàn dặm Tiêu Tương trong biếc bến,
Thuyền lan xưa đã từng qua.
Trăng cao gió lặng giọt sương hoa.
Bình yên không sóng nổi,
Lạnh giá thấm ngân hà.

Đứng dựa buồm cao tình lắng đọng,
Vẳng nghe hoang vắng đàn xa.
Cổ kim u hận bản tình ca.
Khúc tàn người chẳng thấy.
Sông nước núi xanh hòa.


2/ Tiếng Đàn Trên Sông

Tiêu Tương bến nước trong xanh,
Thuyền lan ngày trước viễn hành từng qua.
Trăng cao gió lặng sương hoa,
Sóng con ngừng hẳn ngân hà lạnh xâm.
Buồm cao đứng dựa âm thầm,

Xa xa hoang vọng tiếng cầm Tương phi.
Tân ca thố lộ lâm ly,
Cổ kim u hận tình si não lòng.
Khúc tàn người cũng vắng không,
Núi xanh vài ngọn trên sông gợi sầu.


HHD 
9-22
***
Lâm Giang Tiên 

1-

Ngàn dặm Tiêu Tương xanh bến nước
Thuyền lan ngày trước từng qua
Trăng cao, gió lặng, đọng sương hoa
Sóng nhỏ ngưng không nổi
Lạnh thấm đến thiên hà

Mình dựa cột buồm tình lặng lẽ
Tương phi đàn sắt nghe xa
Xưa nay thổ lộ khúc đàn ca
Khúc hết người đâu thấy
Sông biếc núi dăm ba!

2 -

Bến nước xanh Tiêu Tương vạn lý
Chiếc thuyền lan ngày ấy từng qua
Trăng cao gió lặng sương hoa
Sóng con ngưng nổi thiên hà lạnh tanh

Dựa cột buồm tâm tình lặng lẽ
Đàn tương phi vọng nhẹ xa xa
Cổ kim hàm chứa khúc ca
Khúc xong người vắng, núi hòa sông xanh!

Lộc Bắc
Sept23


Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

Hành Hương Tử 行香子 - 秦觀 - Tần Quan

 

行香子 - 秦觀 Hành Hương Tử - Tần Quan


樹繞村莊, Thụ nhiễu thôn trang,
水滿陂塘。 Thủy mãn bi đường.
倚東風、豪興徜徉。Ỷ đông phong, hào hứng thảng dương.
小園幾許, Tiểu viên kỷ hử,
收盡春光。 Thu tận xuân quang.
有桃花紅, Hữu đào hoa hồng,
李花白, Lý hoa bạch,
菜花黃。 Thái hoa hoàng.

遠遠圍牆, Viễn viễn vi tường,
隱隱茅堂。 Ẩn ẩn mao đường.
颺青旗、流水橋旁。Dương thanh kỳ, lưu thủy kiều bàng.
偶然乘興, Ngẫu nhiên thừa hứng,
步過東岡。 Bộ quá đông cương.
正鶯兒啼, Chính oanh nhi đề,
燕兒舞, Yến nhi vũ,
蝶兒忙。 Điệp nhi mang.

Chú Thích

1- Hành hương tử行香子:tên từ bài, tên khác là nhiệt tâm hương 爇心香, gồm 66 chữ, đoạn trước có 5 bình vận, đoạn sau có 3 bình vận. Cách luật:

X T B B vận
X T B B vận
X B X, X T B B vận
X B X T cú
X T B B vận
T X B X cú
X B T cú
X B B vận

X B X T cú
X X B X cú
X B X, X T B B vận
X B X T cú
X T B B vận
T X B X cú
X B T cú
T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Bi đường 陂塘: ao hồ.
3- Đông phong 東風: gió xuân. Ỷ đông phong 倚東風: đưa mặt, người hứng gió xuân.
4- Thảng dương徜徉: nhàn du閒游.
5- Kỷ hử 幾許: có bao nhiêu, ý nói ít, nhỏ.
6- Thái hoa hoàng: có lẽ tác giả chỉ cây cải xanh có hoa phát mầu vàng.
7- Vi tường 圍牆: tường vây quanh.
8- Mao đường 茅堂: nhà tranh, nhà lá.
9- Dương 颺 = phi dương 飛揚: gió thổi phất phới.
10- Thanh kỳ青旗: cờ tửu điếm mầu xanh.
11- Thừa hứng 乘興: thừa lúc cao hứng.
12- Đông cương東岡: sườn núi phía đông.
13- mang 忙: bận bịu.

Dịch Nghĩa

Hàng cây vây quanh làng.
Nước tràn đầy ao hồ.
Hứng gió xuân, hào hứng tản bộ.
Vườn nhỏ không to bao nhiêu,
Lại thu hết quang cảnh mùa xuân.
Có hoa đào mầu hồng,
Hoa mận trắng,
Hoa cải vàng.

Xa xa có bức tường vây quanh,
Thấp thoáng có căn nhà lá.
Cờ tửu điếm phất phới, nước chẩy bên cầu.
Ngẫu nhiên cao hứng, bước qua vùng núi phía đông.
Chim oanh đang hót,
Chim yến múa,
Con bướm bận bịu.

Phỏng Dịch

1 Hành Hương Tử - Mùa Xuân Thôn Trang


Cây mọc quanh làng,
Mặt nước ao tràn,
Dựa xuân phong, bộ hứng lang thang.
Khu vườn bé nhỏ,
Thu hết xuân quang.
Có hoa đào hồng,
Mận hoa trắng,
Cải hoa vàng.

Cách quãng vây tường,
Mái lá loang loang.
Quán cờ xanh, khe nước cầu ngang.
Ngẫu nhiên thừa hứng,
Bước quá đông cương.
Tiếng kêu chim oanh,
Én bay lượn,
Bướm tung tăng.

2 Mùa Xuân Thôn Trang

Quanh làng cây mọc nước ao tràn.
Phơi phới gió xuân, bước dạo sang.
Khu vuờn nhỏ bé xuân xanh thắm,
Mận trắng đào hồng hoa cải vàng.

Xa xa tường nhiễu thoáng nhà tranh,
Nước chẩy bên cầu cờ quán xanh.
Ngẫu nhiên hứng bước qua đông ngạn,
Oanh hót yến bay bướm lượn quanh.

HHD
06-2021
***
Hành Hương Tử - Tần Quan

1-

Cây bao quanh làng
Ao hồ nước tràn
Đón gió xuân, hào hứng đi hoang
Vườn nhỏ chút tẹo
Thu hết ánh quang
Có hoa đào hồng
Hoa mận trắng
Cải ngồng vàng

Xa xa vây tường
Thoáng mái lá buông
Cờ rượu bay, nước chảy cầu ngang
Bỗng nhiên cao hứng
Đồi đông bước sang
Đương hót chim oanh
Chim yến múa
Bướm vội vàng!

2-

Cây quanh làng ao hồ đầy nước
Đón gió xuân chân bước đi hoang
Vườn nhỏ xíu, gom ánh quang
Đào hồng, mận trắng, ngồng vàng cải xanh

Một mái lá, tường quanh xa thấy
Cờ rượu bay, nước chảy cầu ngang
Bỗng cao hứng, đồi đông sang
Oanh ca, yến múa, rộn ràng bướm bay!

Lộc Bắc
Aug23


 

Thứ Năm, 17 tháng 8, 2023

Giảm Tự Mộc Lan Hoa 減字木蘭花 - Tần Quan

  


減字木蘭花 - 秦觀 Giảm Tự Mộc Lan Hoa - Tần Quan

天涯舊恨。 Thiên nhai cựu hận.
獨自淒涼人不問。 Độc tự thê lương nhân bất vấn.
欲見迴腸。 Dục kiến hồi trường.
斷盡金爐小篆香。 Đoạn tận kim lô tiểu triện hương.

黛蛾長斂。 Đại nga trường liễm.
任是春風吹不展。 Nhiệm thị xuân phong xuy bất triển.
困倚危樓。 Khốn ỷ nguy lâu.
過盡飛鴻字字愁。 Quá tận phi hồng tự tự sầu.

Chú Thích

1- Giảm tự mộc lan hoa減字木蘭花: Đoạn trên và đoạn dưới của từ bài Mộc lan hoa giảm đi mỗi đoạn 6 chữ, còn lại tổng cộng 44 chữ. Mỗi đoạn có 2 trắc vận và 2 bình vận. Cách luật:

X B X T trắc vận
X T X B B T T vận
X T B B bình vận
X T B B X T B vận

X B X T đổi trắc vận
X T X B B T T vận
X T B B đổi bình vận
X T B B X T B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; vận: vần

2- Nhân bất vấn 人不問: không ai hỏi han tới.
3- Hồi Trường 迴腸: nội tâm bứt rứt không yên.
4- Kim lô 金爐: lò đốt hương, nhang bằng kim khí.
5- Triện hương 篆香: hương, nhang làm thành hình chữ thọ, chữ vạn của nhà Phật v.v.
6- Đại nga 黛蛾: chân mày của nữ giới.
7- Liễm 斂: nhíu mày.
8- Nhậm thị 任是: nhiệm bằng, cho dù.
9- Bất triển 不展: không vui, không thư thích.
10 Khốn 困 = khốn quyện困倦: mệt mỏi.
11- Nguy lâu 危樓: lầu cao.
12- Phi hồng 飛鴻: chim nhạn bay. Phi hồng tự 飛鴻字: đàn nhạn bay xếp thành hình đội như chữ nhất, nhị v.v. do đó đàn nhạn gọi là nhạn tự.

Dịch Nghĩa:

Ở xa quê hương trùng trùng mà hận cũ không quên.
Một mình chịu đựng buồn thảm thê lương không bạn bè hỏi thăm.
Muốn biết lòng tôi lo buồn bứt rứt ra sao.
(Thì nó như) cái lư vàng đã đốt hết khoanh hương vòng.

Đôi chân mày của mỹ nhân nhíu lại.
Cho dù gió xuân thổi cũng không làm tôi bình thản.
Mệt mỏi dựa lan can trên lầu cao.
Nhìn bao nhiêu đàn nhạn bay qua giống như những hàng chữ, đều là những chữ sầu.

Phỏng Dịch:

1/ Giảm Tự Mộc Lan Hoa - Muộn Phiền

Chân trời hờn dỗi.
Buồn bã cô đơn không bạn hỏi.
Muốn thấy tình trường.
Cháy tận lư vàng nén triện huơng.

Làn mi nhíu lại.
Dù có gió xuân không thấy đổi.
Buồn dựa lầu cao.
Chim nhạn từng đàn đếm nỗi sầu.

2 /Muộn Phiền

Chân trời hận cũ còn vương,
Không người thăm hỏi thê lương riêng mình.
Muốn xem phiền muộn tâm tình,
Lư vàng cháy tận tàn nhanh hương vòng.

Mỹ nhân nhíu chặt mi cong,
Dù xuân nổi gió cũng không tươi mầu.
Lan can dựa mỏi lầu cao,
Bao nhiêu đàn nhạn là bao chữ sầu.

HHD 
06-2021

Giảm Tự Mộc Lan Hoa – Sầu muộn

1-

Cuối trời hờn dỗi
Thê lương một mình, không ai hỏi
Muốn biết cõi lòng
Lư vàng chậm đốt đoạn hương vòng

Mày cong nhíu lại
Không giãn ra dù gió xuân thổi
Mệt dựa lầu cao
Nhìn thảy nhạn bay, chữ chữ sầu!

2-

Cuối trời hận cũ chưa quên
Một mình thê thảm thân quen hững hờ
Muốn hay lòng dạ buồn lo
Lư vàng chậm đốt quanh co hương vòng

Mỹ nhân mày nhíu, mi cong
Gió xuân thổi gắt dãn không chút nào
Dựa rào mệt mỏi lầu cao
Nhạn bay thành chữ, biết bao chữ sầu!

Lộc Bắc 
 Aug23
***
Ngổn Ngang

Quê xa hận cũ nào nguôi
Bạn bè chẳng viếng ngậm ngùi thở than
Biết chăng lòng dạ ngổn ngang
Lư vàng cháy lụn tợ nhang cuộn vòng

Mỹ nhân nhíu đôi mày cong
Gió xuân đưa đến đây không an nhàn
Lầu cao mỏi tựa lan can
Sầu bao nhiêu chữ nhạn mang bao sầu

Kim Oanh