Hiển thị các bài đăng có nhãn Tô Thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tô Thức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023

Biệt Tuế 別歲 - Tô Thức - Bắc Tống Liêu


Tô Thức và em là Tô Triệt là con của Tô Tuân (người đương thời gọi lả Tam Tô: Tô Tuân là văn hào thời Tống, rất giỏi nuôi con thành tài; Tô Thức và em là Tô Triệt đều là đại thi hào thời Tống)

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú.

Thái độ của ông rất hào sảng, lạc quan; tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui, ông là người giàu tình cảm, cho nên phản ánh tới thơ và từ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Ông là người có tài nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, gồm có Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên đời Đường, Âu Dương Tu, Tô Tuân (cha Tô Thức), Tô Thức, Tô Triệt (em Tô Thức), Vương An Thạch và Tăng Củng).

Nguyên tác   Dịch âm

別歲              Biệt tuế

故人适千里 Cố nhân thích thiên lý,
臨別尚遲遲 Lâm biệt thượng trì trì.
人行猶可復 Nhân hành do khả phục,
歲行那可追 Tuế hành na khả truy.
問歲安所之 Vấn tuế an sở chi,
遠在天一涯 Viễn tại thiên nhất nhai.
已逐東流水 Dĩ trục đông lưu thuỷ,
赴海歸無時 Phó hải quy vô thì.
東鄰酒初熟 Đông lân tửu sơ thục,
西舍彘亦肥 Tây xá trệ diệc phì.
且為一日歡 Thả vi nhất nhật hoan,
慰此窮年悲 Uý thử cùng niên bi.
勿嗟舊歲別 Vật ta cựu tuế biệt,
行與新歲 Hành dữ tân tuế từ.
去去勿回顧 Khứ khứ vật hồi cố,
還君老與衰 Hoàn quân lão dữ suy.

Dịch nghĩa

Tiễn Năm (Cũ)

Cố nhân lên đường đi xa ngàn dặm,
Lúc chia tay vẫn còn bịn rịn.
Người đi còn mong có ngày trở lại,
Năm tháng ra đi, làm sao đuổi theo kịp?
Hỏi thử, “năm” đi đâu?
Đi xa đến một ven trời nào?
Hay đã theo dòng nước chảy xuôi về đông,
Đổ vào biển và không bao giờ trở lại?
Xóm đông, rượu vừa ngấu;
Nhà mé tây, lợn nái cũng vừa mập thêm ra.
Hãy cứ vui cho hết trọn một ngày,
Để bù lại một năm đầy sầu héo.
Cứ để mặc cho năm cũ qua đi (đừng thèm để ý tới nó),
Và kệ cho năm mới tiễn nó đi.
Bảo nó hãy đi đi, đừng có quay đầu lại.
Gởi trả lại nó tuổi già và sức yếu kém.

Dịch thơ

Tiễn Năm Cũ

Cố nhân đi ngàn dặm,
Giã biệt còn băn khoăn.
Đi rồi muốn trở lại,
Năm đi ai ăn năn?
Thử hỏi năm đi đâu?
Đi đến ven trời nào?
Theo nước trôi về đông,
Vào biển về được sao?
Xóm đông rượu vừa ngấu,
Thôn tây lợn béo mau.
Vui trọn ngày cái đã,
Bù lại một năm sầu.
Mặc kệ thây năm cũ,
Để mới tống cũ đi.
Cũ đi chớ quay lại,
Trả mi tuổi già suy.

Lời bàn

Tô Thức làm bài ngũ ngôn trường thiên 16 câu này theo một văn phong hồn nhiên từ đầu đến cuối. 8 câu đầu so sánh sự khác biệt giữa người và thời gian: người già nua thì muốn trở về đường cũ (để vui thú thời thanh xuân) mà không thể được; thời gian thì trôi đi biền biệt không màng tới quá khứ nữa. 8 câu sau nói rằng cách duy nhất để hưởng thụ cuộc đời là vui hưởng hiện tại, đừng thương tiếc quá khứ nữa.

Để giải nghĩa cụm từ “biệt tuế”, không gì bằng trích đoạn văn dưới đây trong Thi Viện:

“Cuối năm 1060 khi làm quan ở Kỳ Dương, Tô Thức làm ba bài thơ Quỹ tuế, Biệt tuế và Thủ tuế gửi về nhà. Phong tục ở đất Tây Thục quê ông, cuối năm người ta tặng đồ ăn cho nhau gọi là “quỹ tuế”, mang rượu và thức ăn tặng nhau thì gọi là “biệt tuế”, kể từ đêm trừ tịch cho đến rạng ngày nguyên đán mà không ngủ gọi là “thủ tuế”, thức đêm để canh chừng một năm cũ sắp qua và một năm mới sắp đến”.

Con Cò
***
Tiễn Năm Cũ

Người xưa xa ngàn dặm,
Bịn rịn chia tay nhau.
Người biệt còn quay lại,
Năm đi kiếm ở đâu!!
Hỏi, tìm năm chốn nào?
Tận phía chân trời cao,
Về hướng đông theo nước,
Biệt tăm trong biển sâu.
Rượu vừa ngấu xóm trước,
Heo béo mập nhà sau.
Cứ một ngày vui trọn,
Đền bù năm héo sầu,
Mặc cho năm cũ biến,
Năm mới tiễn đi mau.
Đi tới đừng quay cổ,
Trả mi già ốm đau.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Jan. 17/2023.
***
Bài này có ý rất đặc biệt: người đi còn có thể trở về, năm đã đi là đi luôn, không biết tới đâu. Thời gian là thứ chỉ đi tới, không bao giờ đi lui.
Bài thơ khó dịch lắm, chỉ dịch thoát thôi.

Tiễn Năm Cũ

Cố nhân đi ngàn dặm,
Từ giã vẫn chần chờ,
Người còn mong trở lại,
Năm chẳng đợi bao giờ.
Hỏi năm đi đâu tá?
Chân trời chẳng bến bờ?
Hay theo dòng nước chảy,
Tuôn ra biển nhấp nhô…?
Xóm đông, rượu vừa ngấu,
Nhà tây, lợn đã to,
Hãy vui một ngày trọn,
Bù lại cả năm lo,
Đừng than đưa năm cũ,
Để năm mới tiễn cho,
Đi đi, đừng quay lại,
Đem già với âu lo.

Bát Sách,
(20/08/2023)
***
Tống Tiễn Cựu Niên

Cố nhân nghìn dặm lên đường,
Chia tay bịn rịn - phong sương bụi trần.
Người đi có lúc miên man,
Vó câu quay lại, xóm làng hồi gia.
Năm dài lả lướt cợt cà,
Cách chi đuổi kịp mượt mà tháng trôi?
Thời gian xa hút chân trời,
Về đâu thử hỏi - ỉ ôi dạ lòng.
Theo dòng suối chảy hướng đông,
Đổ vào biển cả - hư không mất rồi!
Thôn đông, men rượu nồng hơi,
Mé tây, lợn nái trúng thời béo ra.
Hãy vui trọn vẹn, hoan ca!
Để bù niên cũ lệ sa vắn dài.
Mặc cho con tạo lá lai,
Chả thèm đếm xỉa khắc thời đã qua.
Kệ cho năm mới tống xa,
Tiễn đưa niên cũ - chớ mà bâng khuâng!
Đừng quay đầu lại bần thần,
Trả ngươi tuổi hạc - sức lần yếu suy...

Khánh-Hưng
***
Tiễn Năm Cũ

Người đi xa ngàn dặm
Giã biệt nghe ai hoài…
Mòn mong ngày gặp lại
Thời gian bất tái lai
“Năm” bóng câu biền biệt
Xa tít tận trời phai
Theo nước về đông hướng?
Chảy ra biển không quay

Thôn đông rượu vừa nhấp
Hiên tây lợn béo phì
Vui lên hết ngày đã…
Bù tròn năm sầu bi
Mặc kệ cho năm cũ
“Nghinh tân tống cựu “đi
Cũ đừng quay đầu nhé!
Tuổi già gửi tặng mi

Kiều Mộng Hà
Aug21st2023
***
Hán bản của bài Biệt Tuế có đăng trong hai sách của Tô Thức:

Thi Chú Tô Thi - Tống - Tô Thức 施註蘇詩-宋-蘇軾
Đông Pha Toàn Tập - Tống - Tô Thức 東坡全集-宋-蘇軾

Nguyên bản: Phiên âm: Dịch thơ:

別歲-蘇軾 Biệt Tuế - Tô Thức Tiễn Năm Cũ

故人适千里 Cố nhân thích thiên lý Bạn cũ thật xa rồi,
臨別尚遲遲 Lâm biệt thượng trì trì Chia tay dạ bồi hồi.
人行猶可復 Nhân hành do khả phục Người đi còn trở lại,
歲行那可追 Tuế hành na khả truy Thời gian qua mất thôi!

問歲安所之 Vấn tuế an sở chi Hỏi năm đi đâu biệt,
遠在天一涯 Viễn tại thiên nhất nhai Có đến tận chân trời?
已逐東流水 Dĩ trục đông lưu thủy Hay đông thế mà chảy,
赴海歸無時 Phó hải quy vô thì Vào biển mới ngừng trôi?

東鄰酒初熟 Đông lân tửu sơ thục Xóm đông rượu thơm phức,
西舍彘亦肥 Tây xá trệ diệc phì Nhà tây lợn béo phì.
且為一日歡 Thả vi nhất nhật hoan Hãy vui một ngày trọn,
慰此窮年悲 Uý thử cùng niên bi Bù những tháng sầu bi.

勿嗟舊歲別 Vật ta cựu tuế biệt Chớ than năm cũ hết,
行與新歲辭 Hành dữ tân tuế từ Để ‘mới’ tiễn ‘cũ’ qua.
去去勿回顧 Khứ khứ vật hồi cố Đi đi đừng trở lại!
還君老與衰 Hoàn quân lão dữ suy Trả lại mi ‘yếu già’.

Bài thơ cổ phong dễ hiểu, dễ cảm thông, có thể chia ra 4 đoạn, mỗi đoạn 4 câu và có 1 đề tài.

Con người và thời gian
Thời gian đi đâu?
Vui sống trong hiện tại
Tiễn biệt thời gian

Ngày 22-8-2023
Phí Minh Tâm

***
Tiễn Năm

Người xưa thích ngàn dặm
Chia tay vẫn chậm lâu
Người đi còn trở lại
Năm hết níu làm sao ?!

Hỏi thử năm đi đâu?
Xa đến chân trời nào
Xuôi đông dòng nước chảy
Ra biển chẳng quay đầu

Xóm đông rượu vừa ngấu
Nhà tây lợn nái bầu
Một ngày tròn hoan hỉ
Bù lại một năm đau

Chớ quên tiễn năm cũ
Bảo nó năm mới chào
Đi đi chớ quay lại
Mang tuổi già-hư hao

Người xưa thích chuyện dặm ngàn
Chia tay thì cứ dùng dằng ủ ê
Người đi còn có lúc về
Năm tàn đi khuất chẳng khi quay đầu

Thử xem năm cũ chốn nào
Đến nơi xa thẳm trời cao đất dầy?
Xuôi đông lúc cạn lúc đầy
Ra ngoài biển lớn chẳng quay trở về

Xóm đông rượu ngấu lưỡi tê
Nhà tây lợn nái bụng xề tròn vo
Trọn ngày say khướt chuyện trò
Cho bù năm trọn âu lo chuyện nhà

Chớ quên từ biệt năm qua
Mặc cho năm cũ kề cà tân niên
Cũ đi đừng ngoái cổ liền
Mang theo bao nỗi ưu phiền lão suy!

Lộc Bắc
Jan23
***
Tống Cựu Nghinh Tân

Bạn tạ từ ra đi
Thoáng buồn đưa tay vẫy
Mong ngày sau tái ngộ
Thời gian chẳng hồi quy

Tháng năm trôi biền biệt
Đến góc trời miên viễn
Dòng nước chảy về đâu
Hay nổi trôi ra biển

Xóm đông thơm rượu nồng
Nhà tây nuôi béo lợn
Vui trọn một ngày đi
Đừng u sầu héo hon

Buồn chi năm cũ tàn
Tống cựu để nghinh tân
Đi đi đừng trở lại
Không già đâu, tuổi vàng!

Thanh Vân


Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2023

Tây Giang Nguyệt Kỳ 3 西江月其三 - Tô Thức (Bắc Tống)Từ


Tiểu sử của tác giả

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô. Thái độ của ông rất hào sảng lạc quan, tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui, ông là người giàu tình cảm, cho nên phản ánh tới từ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Ông là người có tài nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, gồm có Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên đời Đường, Âu Dương Tu, Tô Tuân (cha Tô Thức), Tô Thức, Tô Triệt (em Tô Thức), Vương An Thạch và Tăng Củng), khoáng đạt nhất, tư tưởng và tính tình cũng phức tạp nhất.

Ông sinh năm 1036 (có sách nói là 1037), mất năm 1101. Hồi 10 tuổi, cha là Tô Tuân đi du học bốn phương; mẹ, họ Trình, dạy ông học. Khi nghe giảng về truyện Phạm Bàng (danh tướng đời Đông Hán, có công dẹp rợ Khương), ông khái nhiên hỏi mẹ: “Con sau này được như Phạm Bàng, mẹ có chịu không?” Bà mẹ đáp: “Con mà được như Phạm Bàng thì mẹ sao lại không làm được như mẹ Bàng?”

Mới mười lăm mười sáu tuổi ông đã thông kinh sử, rất thích đọc sách của Giả Nghị và Lục Chí). Như vậy ta thấy ông rất trọng đạo Nho và có chí giúp nước. Nhưng khi đọc sách Trang Tử, ông lại bảo: “Trước kia tôi có ý kiến, nhưng chưa diễn ra được; nay đọc sách này, hợp ý tôi quá”. Tính tình ông phức tạp, mâu thuẫn ở điểm đó; suốt đời ông chịu ảnh hưởng cả Nho, lẫn Lão và Phật nữa, nhờ vậy mà tâm hồn ông khoáng đạt, tuy trong hoạn đồ chìm nổi nhiều phen mà không có giọng ai oán như Giả Nghị, Liễu Tông Nguyên, vẫn mỉa mai ngạo đời được. Cũng nhờ vậy mà văn ông siêu thoát, có nhiều vẻ hơn các nhà khác.

Năm 21 tuổi ông đậu tiến sĩ, nhờ bài Hình thưởng trung hậu chi chí luận (bài này Âu Dương Tu rất thưởng thức, ngờ là của Tăng Củng làm nên không lấy ông khôi nguyên mà hạ xuống á nguyên). Ông lãnh chức Chủ bạ Phúc Xương rồi làm quan luôn ba chục năm, nhưng chìm nổi bất thường, một phần vì ông có giọng mỉa mai, hay làm thơ châm biếm về chính trị, nên ít người ưa; một phần vì ông đứng vào phe cựu đảng của Tư Mã Quang, nên khi tân đảng của Vương An Thạch lên cầm quyền thì ông bị biếm ra những châu quận ở ngoài.

Ông làm Thông phán ở Hàng Châu, rồi chuyển qua Mật Châu, Từ Châu, Hồ Châu, có hồi vì chê bai tân pháp mà bị giam vào ngục, rồi biếm đi Hoàng Châu, làm chức Đoàn luyện phó sứ. Ở Hoàng Châu, ông cùng các ông lão nhà quê ngao du sơn thuỷ, cất nhà ở một sườn núi phía đông (đông pha), rồi lấy hiệu là Đông Pha cư sĩ (do đó người đời sau gọi ông là Tô Đông Pha).

Năm 1085, vua Triết Tông lên ngôi, Thái hoàng thái hậu đương chính, bỏ chính sách của Vương An Thạch, dùng cựu đảng, ông được gọi về kinh, nhận chức Trung thư xá nhân, rồi chức Hàn lâm học sĩ kiêm Thị độc học sĩ, nhưng không được lâu, rồi lại bị đổi ra Hàng Châu, Dĩnh Châu, Định Châu cũng vì tính hay châm biếm.

Năm 1093, vua Triết Tông mới thực cầm quyền, lại dùng tân đảng, và hoạn đồ của ông càng trắc trở, bị biếm hai ba lần, có lần tới Quỳnh Châu (nay là đảo Hải Nam). Sống tịch mịch, già cả mà vất vả, phải cất lấy nhà mà ở, thuốc thang không có, đành viết sách để tiêu khiến. Năm 1100, vua Huy Tông lên ngôi, ông được đại xá, về lục địa, năm sau mất ở Thường Châu.

Ông ở trong phái thủ cựu, không ưa những cải cách mạnh bạo của Vương An Thạch, khi luận về chính trị thường giữ đạo trung hoà, không cầu gấp thành công, cứ bình tĩnh đợi sự tình biến đổi mà đối phó. Ông viết những bài Tần Thuỷ Hoàng luận, Thương Ưởng luận, mượn cổ mà chê kim, có ý so sánh chính sách của Vương An Thạch với chính sách của Tần Thuỷ Hoàng, của Thương Ưởng, bảo chính sách đó dùng ít thì hại ít, càng dùng nhiều càng hại nhiều.

Tuy nhiên ông không phải là cổ hủ, rất lo đến kinh tế, võ bị, lập một kế hoạch di dân, đề nghị nuôi binh ở trong dân (thời bình thì là nông dân, nhưng luyện tập quân sự để thời loạn thì thành lính), ông lại thực hiện được công việc khơi sông ở Từ Châu, công việc đắp đê ở Hàng Châu, làm lợi cho nông dân rất nhiều. Đê đó mang tên ông (Tô đê), trồng đào liễu ở hai bên, rất ngoạn mục.

Ông sáng tác được 4000 bài thơ, 300 bài từ, tản văn rất nhiều bài hay (như Phóng Hạc đình ký, Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú, v.v...). Tác phẩm ông lưu lại có bộ Đông Pha văn tập 60 quyển, bộ Đông Pha thi tập 25 quyển, bộ Đông Pha từ 1 quyển, bộ Cửu Trì bút ký 2 quyển, bộ Đông Pha chí lâm 5 quyển. Ngoài ra, vâng lời dặn dò của cha lúc lâm chung, ông viết tiếp cuốn Dịch truyện mà cha bỏ dở, rồi viết thêm những cuốn: Luận ngữ thuyết, Thư truyện để truyền bá đạo Khổng. Văn nhân đương thời rất trọng ông, và coi ông là người nối gót Âu Dương Tu trên văn đàn.

Ông vì chịu ảnh hưởng của Lão, Trang, nên văn ông như hành vân lưu thuỷ, hùng vĩ mà khoáng đạt, không chịu một sự trói buộc nào cả (như bài Siêu nhiên đình ký, Phóng Hạc đình kí và nhất là bài Tiền Xích Bích phú).

Chẳng những văn ông hay, thơ ông tuyệt mà vẽ cũng khéo, viết chữ cũng tài, ông lại thông cả âm nhạc nữa. Thực là một thiên tài trác việt. Lâm Ngữ Đường, một học giả Trung Hoa hiện nay, rất trọng ông, cho rằng văn ông càng về già càng bình dị, sâu sắc, viết một cuốn kể đời ông, tức cuốn The gay genius - Life and times of Su Tungpo.

Nguyên tác Dịch âm

西江月其三 Tây Giang Nguyệt Kỳ 3  

照野彌彌淺浪 Chiếu dã my my thiển lãng,
橫空隱隱層霄 Hoành không ẩn ẩn tằng tiêu.
障泥未解玉驄驕 Chướng nê vị giải ngọc thông kiêu,
我欲醉眠芳草 Ngã dục tuý miên phương thảo.

可惜一溪風月 Khả tích nhất khê phong nguyệt,
莫教踏碎璚瑤 Mạc giao đạp toái quỳnh dao.
解鞍欹枕綠楊橋 Giải yên y chẩm lục dương kiều,
杜宇一聲春曉 Đỗ vũ nhất thanh xuân hiểu.
 Tô Thức 

Chú giải

照野 chiếu dã: chiếu đồng nội.
彌彌 my my: khắp nơi.
驄驕 thông kiêu: ngựa tốt có lông trắng pha xám.
障泥 chướng nê: Cái chắn bùn ở dưới bụng ngựa. Câu này ý nói sắp phải lội qua dòng suối (vì thế sẽ phải cởi cái chắn bùn ra).
璚瑤 quỳnh giao: Ngọc quỳnh dao, ở đây ẩn dụ cho ánh trăng.
西江月其三 蘇軾

Dịch nghĩa

Tây Giang Nguyệt Kỳ 3

Trăng chiếu khắp nơi trên đồng cỏ (trong gió) trông như từng lớp sóng ngắn,
Ngang trời thấp thoáng những tầng mây (vì có gió nhẹ).
Cái chắn bùn buộc dưới bụng ngựa ngọc vẫn chưa cởi,
Cỏ thơm khiến ta say muốn ngủ một giấc.

Đẹp thay một dòng suối đầy gió trăng (suối phong nguyệt),
Chớ để cho ai đạp vỡ ngọc quỳnh dao (chớ cho ai lội xuống suối khuấy động ánh trăng).
Cởi yên ngựa làm gối ngủ ở trên cầu có cây dương liễu,
(sẽ đánh một giấc cho tới khi có) Một tiếng cuốc kêu buổi sớm xuân.

Bài này làm trong thời gian Tô Đông Pha bị biếm trích đi Hoàng Châu. Một đêm xuân cưỡi ngựa bên sông Kỳ Thuỷ 蕲水, gặp quán rượu uống say, theo trăng tới một cây cầu nhỏ, cởi yên ngựa làm gối nằm nghỉ, ngắm cảnh cho đến sáng khi con cuốc đánh thức dậy.

Dịch từ

Tây Giang Nguyệt Kỳ 3

Trăng chiếu cỏ hoang tợ óng,
Ngang trời thấp thoáng từng mây.
Chắn bùn chưa cởi ngựa đêm nay,
Ta muốn ngủ say vì mùi cỏ.

Đẹp thay con suối trăng gió,
Xin đừng đạp ngọc quỳnh dao.
Cởi yên làm gối ngủ trên cầu,
Một tiếng cuốc kêu xuân sớm.

Lời bàn:

Đúng là phong thái của một thi sĩ lãng du bất đắc trí (khi bị biếm đi Hoàng Châu); thèm rượu thì cứ uống cho say; buồn ngủ thì cứ ngủ (ngay cả trên cầu). Nhưng thấy cảnh thiên nhiên quá đẹp (suối đầy trăng gió) thì trân quý, không muốn ai lội xuống nước làm vỡ cảnh gió trăng này. Từ của Tô Đông Pha đẹp tuyệt vời!

Nhưng đọc lại câu 3, Con Cò tự hỏi tại sao họ Tô lại nói tới cái chắn bùn buộc dưới bụng ngựa (một chi tiết rẻ tiền và rất khó diễn đạt với 7 chữ) trong bài thơ tao nhã này?

Tìm được câu trả lời rồi: Bởi vì cái chắn bùn tiềm ẩn nhiều ý lắm. Con sông này nhỏ. Chiếc cầu cũng nhỏ (người đi được nhưng ngựa thì không; nên phải cột ngựa ở đầu cầu có cây dương liễu; ngày mai mới dắt nó lội qua sông. Vậy thì cứ ngủ ở trên cầu một giấc cho thoải mái rồi sáng mai hãy cởi cái chắn bùn ra để sang sông). Còn nữa, Tô nói rằng ngủ tới khi tiếng cuốc kêu buổi sáng đánh thức dậy nhưng kỳ thực Tô ngắm cảnh suốt đêm (để canh chừng không cho ai lội suối làm bể ngọc quỳnh).

Con Cò
***
Tây Giang Nguyệt Kỳ 3

Chiếu khắp đồng hoang sóng ngắn,
Ngang trời ẩn hiện mây bay,
Chắn bùn chưa tháo ngọc câu oai,
Muốn ngủ khướt say trên cỏ.
Đẹp quá suối đầy trăng gió,
Chớ cho khuấy vỡ ánh châu,
Tháo yên nằm gối liễu xanh cầu,
Chỉ có cuốc kêu xuân sớm.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
July 19/2022.

Góp ý của Bát Sách:

Đây là một bài từ có nhiều chữ khó, và quá súc tích, vì chữ ít mà ý nhiều nên BS đọc mấy lần mới hiểu ý tác giả, và cũng nhờ vào giải thích của ÔC nên sáng thêm một chút nữa.

- Chiếu: là chiếu sáng, nhưng vật gì chiếu sáng? Đọc toàn bài mới hiểu là trăng.
- Dã: là đồng nội, bãi hoang, quê mùa, hay những gì ở bên ngoài thành.
- My là nước đầy, ngập, tràn, đầy tràn.
- Ẩn: là kín, giấu, nấp, trốn.
- Tiêu: chữ khó, có nghĩa là khoảng trời trống, mây, sương mù, mưa bay.
- Chướng: có rất nhiều nghĩa như che, chắn, ngăn, cản, lấp, bảo vệ.

Chướng nê trong bài này là cái chắn bùn. Nhưng BS chưa biết nó gắn ra sao ở con ngựa, nhờ anh Tâm, anh Giám tìm hộ.

- Thông: là ngựa trắng xám.
- Kiêu: là kiêu căng, cao lớn, mạnh mẽ.

Ngọc thông kiêu chỉ con ngựa tốt, cao lớn, khỏe mạnh, chẳng hiểu có đúng không?

- Tích: là tiếc nuối, yêu quý, tham lam.
- Mạc: không phải, đừng, chớ nên.
- Đạp: là đạp, giẫm lên, đi tại chỗ.
- Toái: là đập vụn, làm vỡ nát, nhỏ mọn. Ở bài này là làm vỡ.
- Yên là yên ngựa.
- Y: là dài, xanh tốt, dựa, tựa vào.

Bài này đại khái kể chuyện tác giả cưỡi con tuấn mã, một mình nhẩn nha dạo nơi đồng hoang : ánh trăng chiếu vằng vặc khắp nơi, cỏ dại mọc cao, khi gió thổi, đám cỏ nhấp nhô như sóng nhẹ. Trên không, trăng sáng, có những từng mây ẩn hiện, lấp ló vắt ngang… Tác giả chưa tháo tấm chắn bùn ở bụng ngựa, vì ông thấy mùi cỏ thơm, muốn say mà ngủ. Hai chữ tuý miên này làm BS thắc mắc. Cả bài từ không có chỗ nào nói tới rượu thì tự nhiên sao lại say rượu được? Mà Tô đâu có say! Trước cảnh trăng thanh gió mát, bóng trăng in trên mặt nước như một viên ngọc quỳnh giao, ông còn tự khuyên mình không nên cho ngựa bước xuống khe suối mà làm vỡ viên ngọc ấy. Ông cởi yên ngựa làm gối, ngủ ở trên cầu có cây dương màu xanh, cho tới sáng sớm, khi nghe cuốc kêu mới tỉnh dậy.

Đọc bài của ÔC, thấy viết” ngắm cảnh cho đến sáng, khi con cuốc đánh thức dậy “. Nếu ngắm cảnh cho đến sáng thì đâu cần con cuốc đánh thức. BS nói cho vui thôi, không phải đá giò lái, để ÔC muốn sửa thì sửa.

Tây Giang Nguyệt Kỳ Ba

Trăng chiếu đồng hoang gợn sóng,
Ngang trời lấp ló từng mây,
Chưa cởi chắn bùn ngựa tốt ngay,
Muốn say cỏ thơm, ta ngủ.

Đáng tiếc một khe trăng gió,
Chớ nên đạp vỡ quỳnh giao,
Tháo yên làm gối ngủ cầu dương,
Sáng sớm cuốc kêu tỉnh giấc.

Bát Sách.
(Ngày 20 tháng 07 năm 2022) *
*Hôm nay là ngày chia đôi đất nước, 68 năm về trước.

***
Tây Giang Nguyệt Kỳ 3

Đồng lóa dập dờn sóng cạn
Lưng trời thấp thoáng mây cao
Chắn bùn chưa tháo khỏi ngựa câu
Ta muốn ngủ say ngát cỏ

Thích thay gió trăng một suối
Chẳng để đạp vỡ quỳnh dao
Tháo yên làm gối, liễu dương cầu
Xuân sớm cuốc kêu một tiếng!

Đồng ánh chiếu dập dờn sóng nhỏ
Mây lưng trời lấp ló tầng cao
Chắn bùn chưa tháo ngựa câu
Cỏ thơm ta muốn ngọt ngào ngủ say

Suối gió trăng đẹp thay muôn vẻ
Ngọc quỳnh dao đừng để vỡ tan
Yên làm gối, liễu dương màn
Sớm xuân một tiếng cuốc khan bên cầu!

Lộc Bắc
***
Màn Trời Chiếu Đất

Nhấp nhô tựa sóng, cỏ tranh,
Ánh trăng chiếu rọi, đồng xanh ngút ngàn.
Bầu trời thấp thoáng phù vân,
Chắn bùn - tuấn mã còn mang nặng nề.
Mùi hương thảo mộc đê mê,
Khiến ta thèm ngủ - chân tê mỏi chồn!
Gió trăng đùa bỡn nơi cồn,
Đẹp thay dòng suối - thả hồn ngất ngây.
Chớ ai lội nước cuồng say,
Kẻo không vỡ nguyệt - ngọc này quỳnh dao.
Cởi yên, đầu gối tựa cao,
Bên cầu, dương liễu lao xao khôn dừng.
Thiu thiu giấc điệp mông lung,
Cuốc kêu xuân thắm - đón vừng đông lên...

Khánh-Hưng
***
Tây Giang Nguyệt西江月: nguyên là tên một ca khúc của Đường giáo phường, sau lấy làm tên cho một điệu từ. Điệu từ này có 50 chữ chia làm 2 đoạn, mỗi đoạn có 4 câu 6 chữ - trừ câu 3 có 7 chữ, có 2 bình vận (vần bằng) và 1 diệp vận (chữ cuối của đoạn trên và đoạn dưới là diệp vận thanh trắc).
 

Ghi chú:

Di di: trông như làn sóng nước động
Tằng tiêu: những đám mây mỏng tràn ngập bầu trời
Chướng nê: một tấm vải hoặc gấm lót dưới yên ngựa, kéo dài đến hai bên bụng ngựa để che bụi bặm.
Ngọc thông kiêu: tuấn mã tráng kiện, ngựa tốt mạnh mẽ
Khả tích: thương tiếc
Quỳnh dao: ngọc quỳnh dao, ẩn dụ ánh trăng trong suối
Đỗ vũ: chim đỗ quyên

Dịch nghĩa:

Tây Giang Nguyệt Kỳ 3

Chiếu dã di di thiển lãng
Trăng chiếu khắp nơi trên đồng cỏ trông như từng lớp sóng ngắn,
Hoành không ẩn ẩn tằng tiêu
Trên bầu trời ẩn hiện mấy tầng mây.
Chướng nê vị giải ngọc thông kiêu
Chắn bụi bên hông ngựa quý vẫn chưa cởi,
Ngã dục túy miên phương thảo
Ta muốn ngủ say một giấc giữa cỏ thơm.

Khả tích nhất khê phong nguyệt
Đáng thương một dòng suối đầy gíó trăng,
Mạc giao đạp toái quỳnh dao
Không để con ngựa đạp vỡ ngọc quỳnh dao (chớ cho nó lội xuống suối khuấy động ánh trăng).
Giải yên y chẩm Lục Dương kiều
Cởi yên ngựa làm gối ngủ bên cầu Lục Dương,

Đỗ vũ nhất thanh xuân hiểu

Say giấc cho đến khi nghe tiếng đỗ quyên báo buổi sáng sớm mùa xuân.

Điền từ:

Vì không hát được bài dịch, nên chỉ điền từ một cách máy móc cho có nghĩa và nhất là đúng thanh và vần theo từ phổ.


Điệu Từ Tây Giang Nguyệt:

Theo trang 詞牌 西江月 (sou-yun.cn), có 1314 bài từ theo điệu Tây Giang Nguyệt. Riêng Tô Thức, từ năm 1079 đến 1097, đã làm 15 bài Tây Giang Nguyệt, mỗi bài có một tựa khác nhau để phân biệt. Tựa Tây Giang Nguyệt Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3… (không theo thứ tự thời gian) chỉ thấy ở Việt Nam mà không thấy trên trang web chữ Hán nào. Bên dưới là thông tin thêm của trang Sưu Vân về 3 bài Tây Giang Nguyệt của Tô Thức do Thi Viện đăng.

Tây giang nguyệt kỳ 1 - 西江月其一 (Tô Thức - 蘇軾)
詩詞 蘇軾 西江月 黃州中秋 (sou-yun.cn)

Tựa: 西江月 黃州中秋 Tây Giang Nguyệt Hoàng Châu Trung Thu

Làm tại: Tỉnh Hải Nam… (năm 1097) 海南省海南省直辖县级行政区划儋州市 Hải Nam Tỉnh Hải Nam Tỉnh Trực Hạt Huyện Cấp Hành Chánh Khu Hoa Đam Châu Thị.

Tây giang nguyệt kỳ 2 - Trùng cửu - 西江月其二-重九 …
詩詞 蘇軾 西江月 重陽棲霞樓作 (sou-yun.cn)

Tựa: 西江月重陽棲霞樓作Tây Giang Nguyệt Trùng Dương Thê Hà Lâu Tác
Làm tại: Lầu Thê Hà, Hoàng Cương, Hồ Bắc (năm 1083)湖北省黄冈市栖霞楼Hồ Bắc Tỉnh Hoàng Cương Thị Thê Hà Lâu.
Tây giang nguyệt kỳ 3 - 西江月其三 (Tô Thức - 蘇軾)
詩詞 蘇軾 西江月 春夜行蘄水山中。過酒家飲。酒醉,乘月至一溪橋上,解鞍曲肱。醉臥少休。及覺已曉。亂山攢擁,流水鏘然,疑非塵世也。書此詞橋柱上 (sou-yun.cn)

Tựa:
西江月 春夜行蘄水山中。過酒家飲。酒醉,乘月至一溪橋上,解鞍曲肱。醉臥少休。及覺已曉。亂山攢擁,流水鏘然,疑非塵世也。書此詞橋柱上 Tây Giang Nguyệt Xuân Dạ Hành Kỳ Thủy Sơn Trung, Quá Tửu Gia Ẩm. Tửu Túy, Thừa Nguyệt Chí Nhất Khê Kiều Thượng, Giải Yên Khúc Quăng. Túy Ngọa Thiểu Hưu. Cập Giác Dĩ Hiểu. Loạn San Toàn Ủn, Lưu Thủy Thương Nhiên, Nghi Phi Trần Thế Dã. Thư Thử Từ Kiều Trụ Thượng .

Làm tại: Huyện Hy Thủy, Hoàng Cương, Hồ Bắc (năm 1082) 湖北省黄冈市浠水县Hồ Bắc Tỉnh Hoàng Cương Thị Hy Thủy Huyện.

Họa đồ Google bên dưới cho thấy vị trí của Hoàng Châu, sông Kỳ và sông Hy ngày nay, cả hai sông đổ vào sông Dương Tử phía nam Hoàng Cương.

Câu: Bài này làm trong thời gian Tô Đông Pha bị biếm trích đi Hoàng Châu. Một đêm xuân cưỡi ngựa bên sông Kỳ Thủy 蕲水, gặp quán rượu uống say, theo trăng tới một cây cầu nhỏ, cởi yên ngựa làm gối nằm nghỉ, ngắm cảnh cho đến sáng. trong Bài thơ: Tây giang nguyệt kỳ 3 - 西江月其三 (Tô Thức - 蘇軾) (thivien.net) là dựa vào tựa bài trong sách của Tô Thức, nhưng không có cho nguồn tài liệu cũng như không ghi chú rõ ràng.

Xin xem mộc bản trong các sách in với tựa bài tử và ghi chú:

Tống - Tô Thức Tống - Hoàng Thăng Thanh - Huyền Diệp

Đông Pha Từ - Tống - Tô Thức 東坡詞-宋-蘇軾

又(春夜行蘄水中過酒家飲酒醉乘月至一溪橋上解鞍曲肱少休及覺已曉亂山蔥茏不謂人世也書此詞於橋柱上 )

Hựu (Xuân dạ hành Kỳ Thủy trung quá tửu gia ẩm tửu túy thừa nguyệt chí Nhất Khê kiều thượng giải yên khúc quăng thiểu hưu cập giác dĩ hiểu loạn sơn thông lung bất vị nhân thế dã thư thử từ vu kiều trụ thượng)

Tạm dịch:

Lại (Đêm Xuân đi dọc sông Kỳ Thủy, ghé quán rượu, uống say, theo trăng đến cầu Nhất Khê, cởi yên ngựa, khoanh tay, nghỉ ngơi một lúc, cảm nhận những ngọn núi xanh um hỗn độn trong ánh bình minh, nghi ngờ không phải nhân thế, vậy viết bài từ này trên cột cầu)

Hoa Am Từ Tuyển - Tống - Hoàng Thăng 花菴詞選-宋-黃昇

西江月(公自序雲春夜行蘄水中過酒家飲酒/醉乘月至一溪橋上解鞍曲肱少休及覺已曉亂山蔥茏不謂人世也書此語橋柱上)

Tây giang nguyệt (công tự tự vân xuân dạ hành kỳ thủy trung quá tửu gia ẩm tửu túy thừa nguyệt chí nhất khê kiều thượng giải yên khúc quăng thiểu hưu cập giác dĩ hiểu loạn sơn thông lung bất vị nhân thế dã thư thử ngữ kiều trụ thượng)

Ngự Tuyển Lịch Đại Thi Dư - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選歷代詩餘-清-聖祖玄燁
前調(月夜蘄水橋上) 蘇軾

Tiền điều (nguyệt dạ kỳ thủy kiều thượng) Tô Thức
Giai điệu phía trước (trên cầu Kỳ Thủy vào đêm trăng) Tô Thức

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:


Bài này làm trong thời gian Tô Đông Pha bị biếm trích đi Hoàng Châu. Một đêm xuân cưỡi ngựa bên sông Kỳ Thuỷ 蕲水,...

Đề nghi Con Cò xét lại các dữ kiện này; nếu Tô Thức đang ở bên sông Kỳ Thủy thì tại sao tựa đề lại có Tây Giang? Hoàng Châu (黄州) là một địa danh ở Hồ Bắc và Kỳ Thủy một con sông trong vùng đó. Tô Thức bị đi đày lần đầu (1080-86) đến Hoàng Châu thật và lấy biệt danh Đông Pha từ đó nhưng tựa đề bài thơ chỉ Tây Giang (西江) và Tây Giang là phụ lưu chính của Châu giang (珠江) trong tỉnh Quảng Đông.

Tây Giang là Xi trong bản đồ trên, và là hợp lưu của Quế Giang 桂江/Gui) và Tầm Giang (浔江/Xun). Tô Thức bị đi đày lần thứ nhì (1094-1100) xuống Huệ Châu (惠州), rồi Đam Châu (儋州, đảo Hải Nam). Ta có thể thấy Huệ Châu trên bản đồ (Huizhou, trên Hương Cảng), trên tả ngạn Đông Giang (東江/Dong). Địa điểm này gần Tây Giang hơn là Hoàng Châu, và ở đó sáu năm chắc chắn thi nhân/họa sĩ họ Tô đã đi du ngoạn khắp vùng.

Bài từ kỳ nhị có hai câu: 涼南浦當年戲馬會東徐, 今日淒涼南浦 Đương niên Hí Mã hội Đông Từ, Kim nhật thê lương Nam Phố kể chuyện năm xưa họ Tô đi chơi hội Hí Mã ở Từ Châu nhưng năm nay làm người cô đơn ở Nam Phố. Các trang chữ Hán, và Việt vin vào địa danh Hí Mã đài và Từ Châu để nói rằng Tô Thức đang ở Hà Bắc nhưng nếu ta đi tìm địa danh Nam Phố thì sẽ ... chưng hửng vì nó không có thật (hoặc chỉ có thật ở Đại Hàn)! Nam phố chỉ là một từ kép dùng trong các bài từ để nói đến sự chia ly, xa cách. Trích từ 南浦 (词牌名) Nam phố (từ bài danh)

南浦原指南面的水边, 后常用来称指送别之地 Nam phổ nguyên chỉ Nam diện đích thủy biên, hậu thường dụng lai xưng chỉ tống biệt chi địa. Nguyên thủy Nam phố chỉ bờ Nam của sông, sau này thường dùng để chỉ nơi tống biệt.

Nơi tống biệt ngày nay không nhất quyết phải là nơi giao hoan ngày xưa; và thế có nghĩa rằng các bài từ Tây Giang chưa hẳn đã được sáng tác ở Hoàng Châu.

Huỳnh Kim Giám
***
Bài Cảm Đề:

Trăng tròn soi bóng giòng sông
Soi cả thôn nữ chỗ nông đầm mình
Nhấp nhô sóng vuốt thân hình
Nõn nà trắng muốt mặt xinh tuyệt vời
Ta cũng muốn, bơi tới người
Chỉn e nàng thẹn chẳng cười với ta
Bỏ đi tóc che thân ngà
Thôi thì ôm gối tà tà mơ tiên

Đồ Cóc

Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2023

Hoài Cựu(Tô Đông Pha - Đời Tống)


Năm nay, trong tiết đông lạnh, vùng Plano Texas, chỗ chúng tôi ở, trời trở chứng, nhiệt độ trong ngày lên xuống thất thường, dường như cơ thể già nua đã không thích ứng kịp , đầu gối bị đau nhức , đôi khi chịu không thấu , lại nhớ đến...con lừa trong thơ Tô Đông Pha. "Lộ trường , nhân khốn , kiển lư tê" . Đường còn xa, người đã mỏi mệt , mà con lừa cưỡi thì chân lại đi khập khiễng, kêu đau. Trong cơn đau nhức trời hành này , năm cùng tháng tận, tôi ngồi viết mấy hàng chữ này để mọi người thân quí trong nhà đọc cho vui cùng tôi và cùng nhau, thân tâm an lạc , đón mừng năm 2014, một Năm Mới an lành,hanh thông, và như ý.
PKT 12/29/2013

Hoài Cựu

Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê
Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
Hồng phi na phục kế đông tây
Lão tăng dĩ tử thành tân tháp
Hoại bích vô do kiến cựu đề
Vãng nhật kỳ khu hoàn ký phủ
Lộ trường nhân khốn kiển lư tê

Tô Đông Pha (1037 - 1101)

Phụ chú:

Nguyên đề bài là: Họa Tự Do Mãnh Trì Hoài Cựu, họa bài Mãnh Trì Hoài Cựu của Tử Do. Tử Do là em của Tô Đông Pha. Mãnh Trì là tên huyện thuộc tỉnh Hà Nam.

Dịch Xuôi: Hoài Cựu

Đời người rồi sẽ đi về đâu nhỉ
Có phải tựa như một con chim hồng bay đạp trên tuyết rơi
Ngẫu nhiên để lại dấu chân trên tuyết
Rồi thoắt đó bóng hình chim đã bay vút đông tây mất hút rồi
Vị tăng già đã viên tịch , ngôi tháp mới cho tăng vừa mới xây xong
Bức tường cũ thơ đề nay đã đổ nát không còn thấy chữ viết nữa
Không biết đường đi gian truân ngày trước có được ghi lại không
Bây giờ chỉ biết, đường còn xa, người đã mỏi mệt, con lừa khập khiễng kêu đau

1/
Nhớ Xưa
(PKT - Mây Tần)

Ðời người rồi sẽ về đâu nhỉ,
Một cánh hồng bay trong tuyết rơi.
Mới đó dấu chân còn lỗ chỗ,
Mà giờ hình bóng đã mù khơi.
Tăng già tháp mới chôn phần xác,
Thơ viết tường rêu lấp mất lời.
Khổ nạn ngày qua như mộng ảo,
Ðường dài, lừa ốm, tội nhau thôi.

2/
Tha Hương Cảm Tác
Mây Tần - PKT

Một đời lận đận bao gian khổ,
Số kiếp phong sương những đoạn trường.
Lòng đỏ khôn nguôi niềm biệt xứ,
Trời xanh khéo bỡn nỗi tha phương.
Ba chìm, bảy nổi còn ngơ ngác,
Chín ghét, mười thương những vấn vương.
Đất khách, tuổi già quay ngó lại,
Chiếc thân khôn dại cõi vô thường!

Phạm Khắc Trí
***
Hoài Cựu

Đi về đâu hỡi, kiếp con người ?
Tựa cánh chim bằng lướt tuyết rơi
Vừa thấy dấu chân in thảm trắng
Thì đà bóng dáng khuất mù khơi
Tăng già yên nghỉ sâu lòng tháp
Tường cũ tang thương nhạt chữ lời
Hiểm trở đường xưa, ai có nhớ
Lừa đau, người mỏi, nẻo xa xôi. 

Lộc Mai
***
Hoài Cựu

Đường vạn nẻo đời người chẳng biết
Tựa cánh hồng giẫm tuyết rơi đầy
Dấu chân bỗng chốc còn đây
Mà hồng heo hút đông tây xa vời
Trong tháp mới sư già thâm tịch
Tường đổ rồi dấu tích thơ đâu
Nhớ thương khập khểnh dãi dầu
Mệt nhoài la mỏi nỗi sầu đường xa

Mailoc phỏng dịch
Cali 29-12-13
***
Nhớ Xưa

Nhân sinh nào biết về đâu nhỉ?
Như cánh chim hồng giẫm tuyết rơi.
Ôi dấu chân kia còn rõ đó
Mà hình bóng ấy đã xa rồi.
Tăng già tháp giữ thân yên ổn
Tường cũ lời ghi nét nhạt phai.
Đường trần muôn thuở luôn gian khổ
Dặm thẳm. người lừa mệt quá thôi.

Chiều ngày 30/12/2013
Quang Tuấn
***
Kính Thưa Quý Thầy, Cô, Anh, Chị,
Vừa nhận được Bài của Các Thầy Cô, tôi tìm ngay bản chữ Hán gởi ra đây để cùng nhau tham khảo.

和子由澠池懷舊 Hoạ Tử Do Mãnh Trì Hoài Cựu

人生到外知何似, Nhân sinh đáo xứ(?) tri hà tự
應似飛鴻踏雪泥。 Ứng tự phi hồng đạp tuyết nê
泥上偶然留指爪, Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
鴻飛那復計東西。 Hồng phi ná phục kế đông tê(tây)
老僧已死成新塔, Lão tăng dĩ tử thành tân tháp
壞壁無由見舊題。 Hoại bích vô do kiến cựu đề
往日埼嶇還記否, Vãng nhật kỳ khu hoàn ký phủ
路人長困蹇驢嘶。 Lộ nhân trường khốn kiển lô đề.

Có một điều ở câu thứ nhất, chữ thứ tư (外) là chữ ngoại có nghĩa là bên ngoài.

Nhớ Lại Nơi Xưa

Sinh ra rồi sẽ đến đâu đây
Tựa cánh hồng đi trên tuyết lầy
Móng vuốt hãy còn lưu dấu vết
Bay nhanh chẳng thiết hướng đông tây
Sư già tháp mới vùi xương cốt
Tường đổ thơ đề mất tiếc thay
Hiểm trở lối xưa giờ vẫn nhớ
Người la mệt lả đoạn đường này

Quên Đi
***
和子由澠池懷舊 Họa Tử Do Mãnh Trì Hoài Cựu

人生到處知何似, Nhân sinh đáo xử, tri hà tự
應似飛鴻踏雪泥。 Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê
泥上偶然留指爪, Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
鴻飛那復計東西。 Hồng phi na phục kế đông tê.
老僧已死成新塔, Lão tăng dĩ tử, thành tân tháp
壞壁無由見舊題。 Hoại bích, vô do kiến cựu đề.
往日埼嶇還記否     Vãng nhật kỳ khu, hoàn ký bĩ
路長人困蹇驢嘶。 Lộ trường nhân, khốn kiển lư đề.

蘇軾                        Tô Thức

Họa Bài Mãnh Trì Hoài Cựu của Tử Do

Chuyện xử thế của con người, ta biết theo ai!
Bắt chước con chim hồng lướt trên bùn tuyết ư?
Bùn tuyết chỉ tình cờ ghi lại dấu vết của nó.
Kế sách "Hồng bay" cũng đâu giải quyết được gì trước nay
Hay như Lão tăng vừa viên tịch để lại ngôi tháp mới xây.
Vì bức tường đã hỏng, bài thơ của ông đề không còn thấy nữa
Ngày trước thật uổng cái kỳ công, vì lời ghi không hay .
Đi đường dài gặp cơn khốn đốn chỉ vì sự thua kém nên chỉ biết kêu lên.

Vài từ ngữ

Đáo xử: đến chuyện xử thế
Ưng tự: nên theo cái nào
Na phục: đâu giải quyết được
Kế đông tây: kế sách xưa nay
Tân tháp: tháp xây dùng đựng cốt nhà sư mới viên tịch
Hoàn ký bĩ: chỉ vì lời ghi không hay (ám chỉ lời chê lúc trước của ông về thơ Vương An Thạch).
Kiển lư: ngựa què từ ngữ chỉ sự thua kém

Bài thơ này, theo tôi nghĩ, là ông than vì chuyện xử thế vụng của mình mà bị đày đi xa (chuyện ông sửa thơ của Vương An Thạch và bị Thạch để tâm, khi hắn lên làm Thừa tướng, hắn đã trả thù bằng cách đày ông đến nhiệm sở mới nơi mà trước đây đã hình thành bài thơ của Thạch, cũng giống chuyện nhạc sĩ Văn Cao, hồi trước có lần Tố Hữu rủ ông lại nhà để khoe mấy bài thơ ông ta mới làm, Văn Cao trả lời : thơ cậu thì có gì mà phải đọc. Tố Hữu để tâm thù, khi nắm quyền đã đày ải Văn Cao suốt đời không ngóc đầu lên nổi, nhờ Văn Cao là tác giả bài Quốc ca nên mới không bị đi tù như các bạn hữu của ông).

Nội dung bài này rất khó dịch cho lọn nghĩa mà không làm sai lạc ý thơ. Nhân đầu năm, thôi thì cũng xin góp lời kẻo bạn Lộc lại hỏi : sao dạo này anh còn dịch thơ Đường nữa không ?

Họa Bài Mãnh Trì Hoài Cựu Của Tử Do

Đường đời xử thế, biết chi nêu
Bắt chước chim hồng, vượt tuyết rêu ?
Rêu tuyết tình cờ in dấu vết
Hồng phi há dễ giải nan điều!
Lão tăng vừa tịch, tháp còn đấy,
Tường nát, khó tìm, thơ đã tiêu.
Công uổng trước kia, phê hạ sách
Đường dài, tài mọn, chỉ đành kêu.


Danh Hữu dịch
***
1. Nguyên Tác Của Bài Thơ:

和子由澠池懷舊 Họa Tử Do Mãnh Trì Hoài Cựu

人生到處知何似, Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
應似飛鴻踏雪泥。 Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê
泥上偶然留指爪, Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
鴻飛那復計東西。 Hồng phi nả phục kế đông tê (tây)
老僧已死成新塔, Lão tăng dĩ tử thành tân tháp
壞壁無由見舊題。 Hoại bích vô do kiến cựu đề
往日埼嶇還記否?   Vãng nhật kỳ khu hoàn ký phủ?
路長人困蹇驢嘶。 Lộ trường nhân khổn kiển lô đề.

蘇軾                        Tô Thức

2. Xuất Xứ Của Bài Thơ:

Năm Gia Hựu Nguyên niên đời Tống Nhân Tông ( năm 1056 ), Tô Tuân dẫn Tô Thức và Tô Triệt lai kinh ứng thí, trên đường đi ngang qua huyện Mãnh Trì, đêm trọ lại cư thất của Phụng Nhàn Hòa Thượng, có đề thơ trên vách chùa.

Năm Gia Hựu thứ 6, Tô Thức ( Tự là Tử Chiêm, Hiệu là Đông Pha Cư Sĩ ) đến nhậm chức quan ở Phụng Tường, trên đường đi, lại đi ngang qua huyện Mãnh Trì, được em là Tô Triệt ( tự là Tử Do ) gởi cho bài thơ " Hoài Mãnh Trì kí Tử Chiêm Huynh Thi " 懷澠池寄子瞻兄詩, nên mới làm bài thơ nầy để họa lại.

3. Góp Ý:

a) Về chữ thứ tư của câu đầu : Bạn Huỳnh Hữu Đức ghi chữ NGOẠI 外 là vì bạn nhầm với chữ Giản Thể của chữ Xứ 處 được viết như thế nầy : 处. Nên câu đầu căn cứ theo nguyên tác phải là :
Nhân sanh đáo XỨ tri hà tự.
b) Chữ đầu của câu thứ 2 phải đọc là ƯNG.
Chữ 應 đọc là ƯNG là Phó từ , có nghĩa : PHẢI, NÊN. Ví dụ : Ưng Thị, Ưng tự( Phải là ).
Đọc là ỨNG là Động Từ, có nghĩa : LÊN TIẾNG. Ví dụ : Đồng Thanh Tương Ứng, Hưởng Ứng.
c) Chữ 那 , ở đây phải đọc là NẢ, vì đúng ra chữ nầy phải được viết như thế nầy : 哪, là Nghi vấn từ dùng để hỏi, có nghĩa là NÀO?, là SAO?.
d) Câu chót phải là:

Lộ Trường Nhân Khổn  kiển lư tê.

Lộ Trường Nhân Khổn là Đường dài người mỏi. Chữ nầy 困 đọc là KHỐN, có nghĩa là KHÓ, ta có từ Khốn Khó. Còn đọc là KHỔN thì có nghĩa là Mỏi Mệt.

4. Diễn Nôm:

Họa Bài Mãnh Trì Hoài Cựu Của Tử Do 

Cuộc sống người đời chẳng biết sao?
Tựa chân nhạn đạp tuyết hôm nào.
Ngẫu nhiên dấu ấn lưu trên tuyết,
Bình thản cánh hồng bay đến đâu?
Tháp mới sư già vừa viên tịch,
Tường hư thơ mất mới hôm nao!
Chông gai ngày cũ quên hay nhớ?
Người mõi đường xa lừa hí đau!

Đỗ Chiêu Đức.
Bài thơ nây còn ẩn Ý THIỀN ở bên trong!
***
1/
Nhớ Mẫn Trì Gởi Anh Tử Triêm

Cầm tay từ biệt trên đồng Trịnh
Cùng nói đường xa sợ tuyết lầy
Ngựa cưỡi về quanh Lương ruộng lớn
Người đi chắc hẳn khỏi Hào tây
Từng làm quan huyện dân còn biết?
Đã trọ tăng phòng viết vách đây
Xa nghĩ độc hành vui ít có
Lặng thinh, ngựa hí tiếng buồn day!


2/
Họa Tử Do Nhớ Chuyện Cũ Mẫn Trì


Đời người phiêu bạt như gì vậy?
Chắc giống chim hồng tuyết đạp lầy
Trên tuyết tình cờ lưu móng vuốt
Hồng bay chẳng kể hướng đông tây
Sư già đã mất thân vào tháp
Tường nát chẳng lưu chữ viết đây
Ngày cũ gập ghềnh còn luyến nhớ?
Đường dài người mỏi, tiếng lừa day!

Lộc Bắc
Jul2023

Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021

Bốc Toán Tử 卜算子 : Hoàng Châu Định Tuệ Viện Ngụ Cư Tác 黄州定慧院寓居作 - Tô Thức (Đông Pha)

                                                                           

* XUẤT XỨ:
       Người ta hay nói: "Đường Thi, Tống Từ". Tô Đông Pha người đời Tống, nên bài Bốc Toán Tử của ông làm là một bài Từ vì có câu dài ngắn khác nhau. Sang đời Tống, có thể vì bị qúa gò bó trói buộc bởi Luật cuả thơ Đường, nên thi nhân mới buông thả cho câu thơ dài ngắn khác nhau, vừa dễ diễn ý, diễn tình, vừa dễ dùng từ, vừa dễ phổ nhạc cho du dương trầm bổng... Nên thể TỪ xuất hiện,(giống như phong trào THƠ MỚI cuả ta hồi thời Tiền Chiến vậy!).
         Đây là bài Từ được Tô Đông Pha làm vào tháng 12 năm Nguyên Phong thứ 5, để gởi gắm tâm sự khi bị biếm đến Hoàng Châu ngụ ở Định Tuệ Viện sau vụ án Ô Đài Thi.
         Bốc Toán Tử 卜算子 chỉ là tên cuả một Thể loại Từ. Loại từ nầy gồm có 44 chữ chia làm hai vế, vế trên 22 chữ, vế dưới cũng 22 chữ, với bố cục 5-5-7-5 và gieo hai vần trắc ở cuối câu 2 và cuối câu 4. Bài Bốc Toán Tử nầy có tựa chính thức là:

Bốc Toán Tử 卜算子 :
黃州定慧院寓居作    Hoàng Châu Định Tuệ Viện Ngụ Cư Tác

 缺月挂疏桐,        Khuyết nguyệt quải sơ đồng, 
   漏斷人初靜。         Lậu đoạn nhân sơ tịnh.
   時見幽人獨往來, Thời kiến u nhân độc vãng lai,
   縹緲孤鴻影。         Phiếu diễu cô hồng ảnh. 
   驚起卻回頭,         Kinh khởi khước hồi đầu,
   有恨無人省。         Hữu hận vô nhân tỉnh.
   揀盡寒枝不肯棲, Giản tận hàn chi bất khẳng thê,
   楓落吳江冷。        Phong lạc Ngô giang lãnh .
   蘇軾 (東坡)                Tô Thức (Đông Pha)
***

* CHÚ THÍCH:
   - Sơ Đồng 疏桐: SƠ 疏 nầy là Thưa thớt, hời hợt; nên SƠ ĐỒNG là Cây ngô đồng đã xơ xác lá vì trời đã ở buổi cuối đông.
   - Sơ Tịnh 初靜: SƠ 初 nầy là Bắt đầu, là vừa mới. "Nhân chi Sơ, tính bản thiện" là chữ SƠ nầy, nên SƠ TỊNH là mới bắt đầu yên lặng.
   - U Nhân 幽人: chỉ con người lặng lẽ thâm trầm như có tâm sự gì đó.
   - Phiếu Diễu 縹緲: Xa xôi ẩn hiện, chập chờn như có như không.
   - Kinh Khởi 驚起: Chợt giật mình, chợt kinh ngạc...
   - Tỉnh 省 : Xem xét, Khuyên lơn, VÔ NHÂN TỈNH 無人省 : Không có người nào để chia xẻ, tâm sự, an ủi nhau.
   - Giản 揀: là Chọn lựa, chắc lọc.
   - Thê 棲: là Đậu lại, là Nương tựa.

* NGHĨA BÀI THƠ:

Sáng tác khi cư ngụ ở Định Tuệ Viện xứ Hoàng Châu

    Vầng trăng khuyết treo trên cây ngô đồng xơ xác lá, canh đã tàn tiếng người cũng mới vừa yên. Nhưng lại có một người  u nhã còn luôn đi lại một mình, như bóng chim hồng nhạn cô độc đang chấp chới bên trời, bỗng  giật mình quay đầu lại. Ôm mối hận trong lòng mà không ai người biết đến hỏi han. Đã chọn gần hết những cành cây lạnh mà vẫn chưa chịu đậu vào cành nào, đành chịu như chiếc lá phong rơi rụng xuống dòng Ngô Giang lạnh lẽo mà thôi!
     Mượn hình tượng của con chim nhạn cô độc giữa đêm trăng mà gởi gắm tâm sự cuả mình, cao ngạo như cánh hồng cô độc trên cao mà xem thường miệt thị những thói tục tầm thường thấp kém! 
         Bài từ nầy còn có một dị bản nữa với câu cuối cùng là:

         寂寞沙洲冷.      Tịch mịch sa châu lãnh.
Có nghĩa:

           Những cồn cát giữa sông (sa châu) lạnh lẽo vắng tanh!                
         
* DIỄN NÔM:

Trăng khuyết ngô đồng thưa,
Canh tàn người đà vắng.
Thơ thẩn kià ai vẫn vãng lai,
Cánh hồng hun hút bóng.

Giật mình chợt quay đầu,
Hận này ai người thấu?
Cành lạnh khắp cùng khó tìm nơi,
Bãi vắng không nơi đậu!

Lục bát:

Cành thưa trăng khuyết ngô đồng,
Canh tàn lặng tiếng người không ồn ào.
Một mình ngơ ngẩn ra vào,
Như cánh hồng vút trời cao một mình.

Quay đầu ngơ ngác làm thinh,
Hận không người tỏ biết tìm ai đây?
Vòng quanh cành lạnh ngàn cây,
Vắng tanh cồn cát lạnh đầy ven sông!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

***   
Bốc Toán Tử

Trăng khuyết lửng ngô đồng
Lậu tàn người lặng lẽ
Tới lui thơ thẩn vẻ u sầu
Cô hồng trời quạnh quẽ

 Kinh hãi chợt quay đầu,
Hận sầu không ai chạnh
Chọn mãi cành chẳng yên
Im lìm cồn cát lạnh!

Mailoc 
***      
Theo Quên Đi:
 漏斷  Lậu đoạn có nghĩa là Đồng hồ nước đã ngừng nhỏ giọt.

Bốc Toán Tử

黃州定慧院寓居作 Hoàng Châu Định Tuệ Viện Ngụ Cư Tác

缺月挂疏桐             Khuyết nguyệt quải sơ đồng, 
漏斷人初靜             Lậu đoạn nhân sơ tịnh.
時見幽人獨往來     Thời kiến u nhân độc vãng lai,
縹緲孤鴻影             Phiếu diễu cô hồng ảnh. 
驚起卻回頭             Kinh khởi khước hồi đầu,
有恨無人省             Hữu hận vô nhân tỉnh.
揀盡寒枝不肯棲     Giản tận hàn chi bất khẳng thê,
楓落吳江冷。         Phong lạc Ngô giang lãnh .
       蘇軾                                  Tô Thức

Dịch Nghĩa:

Viết khi ở viện Định Tuệ Hoàng Châu

Vầng trăng khuyết đeo trên nhánh ngô đồng
Đồng hồ nước đã ngừng nhỏ giọt và người cũng bắt đầu yên nghỉ.
Ai có thấy một người buồn rầu đi tới đi lui
Như bóng chim hồng cô đơn ẩn hiện
Quay đầu nhìn lại chợt thấy hoảng sợ
Mang nổi ấm ức mà không ai xem xét
Đã chọn hết chỉ thấy những cành lạnh buốt nên không thể đậu
Đành như lá phong rơi rụng xuống dòng Ngô Giang lạnh lẽo. 

Dịch Thơ: Cánh Nhạn lẻ Loi

1/
Trăng khuyết dựa ngô đồng    
Đêm trôi người lặng lẻ   
U uất giờ đây chỉ riêng mình 
Bóng nhạn về khe khẻ  
Chợt sợ quay đầu nhìn  
Hận này ai chia sẻ
Nhìn quanh cành lạnh khó nương thân   
Lá rơi sông vắng vẻ.  

2/
            Ngô đồng vắt vẻo trăng già  
   Đồng hồ ngưng giọt người đà ngủ yên   
             Có ai thấu hiểu niềm riêng
Một thân một bóng truân chuyên nhạn hồng   
               Nỗi lo chợt đến nơi lòng
         Hận này ai biết mà hòng sẻ san  
         Cành cây buốt giá hoang mang 
Lá phong rụng xuống Ngô Giang lạnh lùng
                                                   Quên Đi