Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Trọng Lệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Trọng Lệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2022

Hạ Buồn

 

Chưa bao giờ mùa HÈ có 2 tháng buồn đến như vậy.Những người tôi hâm mộ và quí mến cứ lần lượt ra đi.Mở đầu là Nhạc Sĩ CUNG TIẾN, người mà một thời tôi đã có dịp sinh hoạt chung trong những đêm văn nghệ do Tổng liên đoàn Học Sinh và Sinh Viên Vùng Thủ đô SÀI GÒN tổ chức ở Rạp hát NORODOM, sau này đổi tên là RẠP THỐNG NHẤT.  

Trưng Vương chúng tôi góp mặt với vũ khúc Thiên Thai. Các anh Duy Trác, Cung Tiến lúc đó còn là sinh viên. Tôi còn nhớ anh Duy Trác đơn ca bài "Em Gắng Chờ". Anh Cung Tiến hợp ca bài "Bát  Học" với chị Kim Tước,Tường Huệ và ai nữa tôi quên mất. Tất cả chúng tôi 75 người Hợp ca bài "Tiếng Hò Miền Nam"
Chúng tôi trình diễn hai đêm liên tiếp, thành công ngoài sức tưởng tượng. Đêm nào cũng chật rạp không còn một chỗ trống.
Hai đêm Đại Hội Sinh Viên Học sinh tưng bừng, rộn rã, với những kỷ niệm khó quên không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi. Hồi đó những cô nữ sinh Trưng Vương mới lớn, ai cũng mộng mơ và có dịp là nghêu ngao hát "...lòng cuồng điên vì nhớ, ôi đâu người, đâu ân tình cũ, chờ hoài nhau trong mơ nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa, cố nhân xa rồi... có ai về lối xưa"
Tuy hay rên rỉ những lời hát lãng mạn trong bài HOÀI CẢM của Cung Tiến, nhưng cả lũ chúng tôi đã đứa nào nếm mùi yêu đương đâu mà biết cuồng vì nhớ và thất vọng vì chờ với mong?
Người yêu còn chưa có, thì kiếm đâu ra cố nhân? Vậy mà cứ mê mẩn bài Hoài cảm mới lạ chứ.

Nhạc sĩ Cung Tiến vừa ra đi, tiếp theo là GS TOÀN PHONG Nguyễn Xuân Vinh, Cựu Đại Tá TƯ LỆNH KHÔNG QUÂN của Quân lực VNCH, Tác Giả cuốn truyện nổi tiếng "Đời Phi Công" gồm những lá thư tình ướt át thật hay của chàng Không quân hào hoa viết cho người yêu là cô Phượng đã mang đến cho chúng tôi, những cô gái ở tuổi mộng mơ cả một bầu trời mơ ước.

Sau GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh là một người bạn và cũng là hội viên Văn Bút của Vùng ĐÔNG BẮC HOA KỲ chúng tôi, GS PHẠM TRỌNG LỆ ra đi thật bất ngờ. Trước đó ông còn vui vẻ ăn uống với con, hơn 1 giờ sau ông đã ra người thiên cổ. Không té ngã, không bệnh hoạn, không một triệu chứng gì khác lạ. ông ngồi thoải mái trên ghế và ra đi thật nhẹ nhàng. Đi nhanh chóng như vậy quả là may mắn cho ông, nhưng quá bất ngờ đau đớn cho những người trong gia đình còn ở lại. Nghĩ đến ông tôi luôn nhớ đến khuôn mặt thật hiền hòa, trên môi lúc nào cũng nở nụ cười thật tươi và lối nói chuyện thật dí dỏm có duyên.Tuy ít gửi bài lên DIỄN ĐÀN VBVĐBHK nhưng ông luôn gửi mail riêng khen ngợi và góp ý với các Tác giả, ông đọc tất cả các bài tôi giới thiệu trên Diễn Đàn không bỏ sót một bài nào.Ông là một hội viên đáng quí và đáng kính.
GS PHẠM TRỌNG LỆ rất uyên bác,ông hay chuyển ngữ những bài thơ nổi tiếng của ngoại quốc sang tiếng Việt, ông cũng viết những bài khảo cứu rất công phu. Ông cũng là một thành viên kỳ cựu của Ban biên tập TAM CÁ NGUYỆT SAN CỎ THƠM.

Mọi người quen biết chưa hết bàng hoàng vì sự ra đi bất ngờ của GS Phạm Trọng Lệ, thì lại được tin một khuôn mặt quen thuộc khác của Vùng Hoa thịnh Đốn cũng bén gót theo sau, đó là Tiến sĩ TẠ CỰ HẢI.Ông Hải sinh hoạt rất hăng hái trong Cộng đồng người VIỆT ở vùng Thủ đô Hoa kỳ, ông là cựu Chủ Tịch Liên Hội cựu Chiến sĩ VNCH, ông rất thành công trong ngành Địa ốc. Ngoài ra ông cũng viết văn, làm thơ và là cựu Hội viên VĂN BÚT VÙNG ĐÔNG BẮC HOA KỲ.

Cùng thời gian Tiến sĩ Hải ra đi, Văn bút vùng ĐÔNG BẮC HOA KỲ lại mất thêm một hội viên nữa, Thi sĩ SONG PHƯƠNG, em rất khỏe mạnh, xinh đẹp, dễ thương. Lúc nào cũng làm việc rất hăng say mà không biết mệt. Em bận đi làm và hàng ngày còn phải săn sóc hai bà Mẹ. Mẹ em và mẹ chồng. Em bị "cô vít", nhờ đi khám bệnh để điều trị cô vít nên BS khám phá ra em bị Cancer máu thời kỳ chót.Thật là tin sét đánh. Chỉ vài ba tháng sau em ra người thiên cổ. Đau đớn nhất cho em là em có hai người con. Một trai, một gái. Con trai mới ngoài 30, một hôm vào nhà thương thăm mẹ, trên đường về đi làm, cháu bị tai nạn xe hơi chết ngay tại chỗ.Viết đến đây nước mắt tôi lại chảy, nghĩ đến những điều đau đớn mà em phải chịu, tôi thương cảm và xót xa vô cùng. Đúng là "Họa vô đơn chí". Người dễ thương như em sao Trời lại bắt phải chịu nhiều tai họa như vậy?
SONG PHƯƠNG với tôi thân tình như một cô em gái nhỏ. Trước khi từ biệt cõi trần em còn text vội cho tôi mấy dòng "chị ơi em mệt quá, em gửi đến chị tất cả yêu thương hòa cùng nước mắt, em phải đi rồi..." Vĩnh biệt SONG PHƯƠNG yêu dấu của tôi.

Tuần này lại được tin Thi, Họa sư VŨ HỐI cũng vừa ra đi. Ông là một người tài hoa vượt bực, uyên bác, làm thơ rất hay, vẽ tranh nức tiếng nhiều nơi trên thế giới. Ông có tài viết Thư Pháp rất đẹp, không ai có thể sánh được. Thượng Đế ban cho ông hai bàn tay vàng với 10 ngón đều có hoa tay nên ông phóng bút thật nhanh chóng, dễ dàng, như rồng bay phượng múa. Ông được rất nhiều giải thưởng và được mời vẽ tranh cho cố Tổng thống KENNEDY. Ông là một hội viên kỳ cựu của Văn Bút VN Hải ngoại Vùng Đông Bắc Hoa kỳ. Điều đáng phục nhất là những năm trong tù đầy Cộng sản, ông không chịu khuất phục nên bị chúng hành hạ dã man khiến bị mù một mắt.

Tôi được quen biết ông lâu năm và có dịp gặp gỡ thường xuyên, truyện trò thân mật trong những buổi hội họp của Cộng đồng. Tuy là người nổi tiếng nhưng lúc nào ông cũng hòa nhã , vui vẻ, và đáng quí nhất là rất khiêm tốn nên được mọi người quí mến.Trên khuôn mặt ông không bao giờ thiếu nụ cười hiền hòa. Ông nói chuyện rất vui và dí dỏm. Nghe thứ nam của ông là HỌA SĨ Vũ Quốc kể: một hôm đi tiệc về ông vui chuyện nói: Buổi tiệc hôm nay có nhiều "giai nhân" quá. Ông con tưởng bố nói có nhiều người đẹp, ai ngờ "giai nhân" của bố ý nói là người nói giai, nói dài, nói dở. Hôm đưa tiễn ông, tôi được yêu cầu Đại diện VĂN BÚT VĐBHK lên nói vài lời tiễn biệt. Tôi nói rất vắn tắt, một người bạn hỏi tôi sao nói ngắn thế? Tôi trả lời: Tôi sợ ông lại ngồi dậy gọi tôi là "giai nhân" thì khổ. Người bạn mở to mắt tỏ vẻ không hiểu, sau khi tôi cắt nghĩa bà ấy bật cười lớn làm tôi hoảng hồn phải chận lại ngay vì trong đám ma mà cười thì kỳ quá. Ông ra đi thật nhẹ nhàng nhanh chóng, trước khi vĩnh biệt cõi trần ông còn giơ tay vẫy chào các con và nói "Bố sắp đi rồi, bố sẽ phù hộ cho các con "

Mùa HÈ năm nay với tôi là một mùa HÈ thật buồn, mùa HÈ của chia ly, mất mát. Mùa hè Vĩnh biệt...
Cầu xin tất cả những người đã ra đi đều đến một nơi đầy hoa thơm cỏ lạ, để tiếp tục vui với thơ văn và nhạc trong cuộc sống mới thật an bình, hạnh phúc.

Hồng Thủy

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

Cố Hương Tình Yêu Và Hoài Niệm


G.s. Phạm Trọng Lệ giới thiệu

Hình ảnh quê hương in trong tâm khảm khiến người xa xứ lúc nào cũng khắc khoải nhớ nơi chôn rau cắt rốn, con đê ngoài làng, chiều quê cậu bé chờ mẹ đi chợ về, và khi trưởng thành, hình ảnh người yêu bên bụi tre: đó là những hình ảnh mà nhà thơ Phan Khâm như một nhà đạo diễn quay lại những đoạn phim ngắn hồi tưởng lại kỷ niệm cũ.

Mỗi đoạn phim là một bài lục bát bốn câu mà câu đầu, trừ 18 bài, còn thì toàn bắt đầu bằng:

Em từ lục bát bước ra
Em từ lục bát bước ra
Màu thời gian anh muốn pha thế nào?
Anh đang pha mực tím vào
Nhớ thời cắp sách…ngọt ngào thơm tho
(bài số 3)

Ai cũng nhớ thời cắp sách ngày xưa, trong giờ viết tập Écriture, học sinh dùng ngòi bút sắt giống đầu lá tre, chấm vào lọ mực tím viết trên giấy có dòng kẻ ô đều đặn. Các em lớp năm lớp tư còn được thầy hay cô giáo nắn nót chỉ cho cách viết từng chữ.

Khó mà lựa ra những bài mình ưng ý như khi xem bức họa trăm ngựa, mỗi con có một vẻ đẹp và dáng riêng, hay khi bước vào một gia đình đông con, ướm hỏi gia chủ trong những đứa con trong gia đình, ông hay bà thương đứa nào nhất. Người đọc tập thơ của Phan Khâm cũng lưỡng lự, và sự lưỡng lự đó có thể hiểu được.

Em từ lục bát bước ra
Ðầu xuân tươi thắm mùa hoa anh đào
Gặp em chưa mở lời chào
Mà em đã trói anh vào hôn mê
(bài 7)

Ðây là “tiếng sét ái tình”: yêu mà “mê” tức là không còn lý luận, mà có thể không cần lý trí; chữ “trói” cho tình yêu một sức mạnh vô hình ràng buộc kẻ yêu nhau.

Em từ lục bát bước ra
Hoàng hôn nhạt nắng chiều tà đó em
Khoảng không gian thật êm đềm
Xin gieo hạt giống cho đêm nẩy mầm
(bài 23)

Hễ đã đọc xong một bài là sức thơ lôi cuốn khiến tự nhiên muốn đọc bài tiếp, như người uống ngụm rượu ngon lại muốn hớp thêm ngụm nữa. Tôi cũng thích những bài số 22, 38 và 61.

Một nhà ngữ học Mỹ là Benjamin Lee Whorf (1897-1941) có đưa ra một thuyết về ngôn ngữ và văn hoá gọi là Nguyên tắc Tương đối Ngôn ngữ (linguistic relativity principle), theo đó, một cách tóm tắt, mỗi con người trong một nền văn hoá từ bé đến khi khôn lớn, đã thấm nhuần những nét đặc thù về ngôn ngữ và văn hoá và những nét đặc thù này ảnh hưởng đến thế giới quan và nhận thức của người đó. Tỉ như khi ở xa miền đất mình sinh trưởng thì có lòng nhớ thương. Quốc văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị, trang 171, kể câu chuyện một người du lịch nhiều nơi khi trở về quê, họ hàng hỏi ông, đi xa thấy nơi nào là đẹp. Ông trả lời chỗ quê hương đẹp hơn cả. Có khi mối ràng buộc trong tâm khảm đó là những hình ảnh hay vật dụng như nhà thi sĩ Pháp Lamartine có viết trong bài Milly ou la terre natale: “Objets inanimés, avez vous donc une âme? Qui s’attache à nôtre âme et la force d’aimer?” Vật vô tri hẳn có hồn /Khiến lòng ta phải yêu thương chẳng rời?

Những hình ảnh hay kỷ vật ta yêu thương ấy có khi là con đường làng dưới chân bờ đê nơi cậu bé ngóng mẹ đi chợ chiều về, có khi là bụi tre la ngà chàng đứng cùng người yêu, có khi là mùi hương áo cũ (như xưa vua Tự Ðức nhớ nàng cung nữ: “Ðập cổ kính ra tìm lấy bóng/Xếp tàn y lại để dành hơi”), hay giọng nói, tiếng chim sơn ca trên cành, hoàng hôn nhạt nắng lưng đồi chàng níu tay xin người yêu nán lại, hay xin thời gian chậm trôi, có khi là bên ly cà phê người quân nhân ngồi cùng đồng đội trong quán cà phê ở phố núi ở một tỉnh cao nguyên, có khi là quán ăn kẹo mạch nha hay kẹo gừng, có khi là hình ảnh người vợ đang kỳ “đơm bông nở nhụy” với những lời nói trìu mến, nũng nịu (“bắt đền anh đây” –bài 53, hay “Nhìn đi, ruột bỏ ngoài da đây nè”--bài 67). Những hình ảnh đó như những mảnh kính mầu tạo nên một tấm khảm hay một thứ kính vạn hoa.

Một mặt khác, một nhà nghiên cứu về huyền thoại (mythology), ông Joseph Campbell (1904-1987, tác giả cuốn the Power of Myth, 1988 và The Hero of a Thousand Faces, 1949), còn đi một bước xa hơn Whorf, nói rằng con người tuy văn minh mà vẫn còn bị ràng buộc bởi những huyền thoại như những bộ lạc xưa mà khi một dân tộc đều tin vào những huyền thoại chung thì có thể thành một sức mạnh ràng buộc nhau (thí dụ huyền thoại con Rồng cháu Tiên của người Việt, Thái dương Thần nữ của người Nhật).

Giáo sư E. D. Hirsch của trường U-Va, đồng tác giả cuốn sách tên là Dictionary of Cultural Literacy (Houghton Mifflin Co., 1988), nói rằng một dân tộc như Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ phải có một khối văn hoá hay kiến thức chung để cùng chia xẻ (shared common knowledge), nếu họ muốn giao tiếp đàm thoại với nhau; đó là những ngữ vựng chung, ngôn ngữ thể thao, ngôn ngữ của những trường đại học danh tiếng gọi là ivy-league, và ông gọi đó là một “ngôn ngữ” chung, hay hiểu biết văn hoá. Nghĩa là theo ông phải có một vốn liếng tối thiểu về ngôn ngữ, lịch sử gọi là cultural literacy, như địa dư, thể thao, văn chương, truyện thần thoại, các bài dân ca, truyện nhân gian, căn bản luật pháp, âm giọng của một phương ngữ để có thể tương tác với nhau. Nếu giả thuyết của Benjamin Lee Whorf, lý thuyết về mythology của nhà huyền thoại học Joseph Campbell, và lập luận về văn hoá của g.s. Hirsh về kiến thức chung của một dân tộc có điều hợp lý thì chúng ta có thể coi những hình ảnh, ẩn dụ và ngôn ngữ trong thơ của thi sĩ Phan Khâm trong tập thơ 101 Bài Lục Bát cũng nhằm ghi lại cho ta khỏi quên tiếng nói, hình ảnh, âm thanh, âm nhạc, mùi vị, phương ngữ, một quá khứ xa xưa của một xã hội có trật tự. Nếu như vậy thì thơ ông ngoài mục đích đem lại cho người đọc niềm hân hoan, khoái cảm mỹ học như là một thứ “elixir of love”, còn giúp ta khỏi quên những nét tinh tế của tiếng mẹ, những nét đẹp của quê hương, như cảm giác vui thú khi ta nhìn những mảnh kính mầu tạo nên một mô-sa-íc của một bức kính mầu trên cửa sổ một nhà thờ cổ. Thi sĩ đã nối những hình ảnh đẹp với người đọc, mỗi bài thơ như một thông điệp tới người đọc rằng họ có một thời trong quá khứ ở một nơi cùng gọi là quê hương và đã có những kỷ niệm chung.

Thi sĩ Phan Khâm cũng là tác giả một số tập thơ, trong đó có bài dường như thuộc phái ấn tượng impressionism, cũng có bài có vẻ thuộc phái tượng trưng symbolism, có bài lan qua cả siêu thực surrealism (Xem: Bên Dòng Thạch Hãn (2002), Dòng Sông Thao Thức (2007) do Cơ Sở Cỏ Thơm xuất bản; cuốn thứ 2 do nhà văn Hồ Trường An viết lời giới thiệu rất tỉ mỉ. Ngoài ra thi sĩ Phan Khâm cũng có nhiều CD & DVD thơ phổ nhạc bởi nhiều nhạc sĩ hữu danh).

Cách đây hơn hai tháng thi sĩ Phan Khâm có gửi cho tôi bản thảo của tập thơ gồm 101 bài thơ lục bát và ngỏ ý muốn tôi viết “vài lời giới thiệu”. Tôi rất hân hạnh và đọc nhiều lần những bài thơ trong tập “Em Từ Lục Bát Bước Ra” gồm 101 bài lục bát: lời thơ óng chuốt, mượt mà và giầu hình ảnh, gợi tình, gợi cảm. Tôi muốn dùng chữ sensual. Như khi ta đọc đoạn vịnh Kiều gặp Kim Trọng trong tiết Thanh Minh của Chu Mạnh Trinh: “Dãy hoa nép mặt gương lồng bóng/Ngàn liễu rung cương sóng gợn tình”.) Tuy nhiên, tập thơ không phải chỉ là những lời thơ tình yêu mà thôi mà còn gửi gấm trong đó những hình ảnh của một quê hương nề nếp, yên bình, có mẹ hiền, có người yêu, có chim sơn ca, có ánh nắng vỗ vào mạn thuyền, có tà áo dài bay như dải bờ biển cong hình chữ S, có chén trà mạn sen cùng người yêu ngồi uống trên chiếu cạp điều …

Tóm lại, đây là những kỷ niệm của một quá khứ trong một xã hội -- có thể thiếu thốn về vật chất -- nhưng có trật tự của một nếp sống văn minh. Ðây là những nuối tiếc của những người phải bỏ xứ ra đi tìm tự do và đất sống, lúc rảnh rỗi ngồi nghe những dòng nhạc của một thời được những ca sĩ hay nhạc sĩ nổi danh trình bày mà mình ưa thích. Như hình ảnh mầu xanh chen lẫn mầu vàng trên những ống tre la ngà trong bài lục bát số 6 làm tôi nhớ đến bài Nắng chiều của Lê Trọng Nguyễn qua lời ca của ca sĩ Hà Thanh, giọng Huế khó quên. Thấp thoáng đâu đó, người đọc thơ thấy những vần lục bát của Kiều, nhưng đây là những vần lục bát được làm mới. Ðây là những vần thơ đọc lên, như thi sĩ Trần Mộng Tú đã viết, thấy “thơm tho cả miệng”, lòng thêm trong sáng, óc thêm sảng khoái.

(Phạm Trọng Lệ, Phan Khâm, Vũ Hối – 2018)

Nếu độc giả đang cầm trong tay tập thơ của thi sĩ Phan Khâm, minh hoạ bởi nhà thư họa Vũ Hối, xin hãy nâng tập thơ nhỏ lên, bên ấm trà thơm, và bình hoa xuân, chậm rãi đọc hay ngâm to từng bài cho mình hay người đối ẩm nghe, lâu lâu ngừng lại, hớp một ngụm trà, rồi đọc tiếp. Trong khoảng không gian yên tĩnh giữa ta với thơ, bên cạnh những câu thơ sáu tám giầu hình ảnh, ta cũng thưởng thức những nét tung hoành của nhà thư họa Vũ Hối. Ta hãy nghe những vần thơ gợi cho ta những hình ảnh xưa của một chỗ gọi là quê nhà. Ta sẽ yêu những vần thơ lục bát văng vẳng như lời ca dao, lời ru của mẹ hiền, hay lời thủ thỉ của người yêu. Ta sẽ có cảm giác lâng lâng như được nâng bổng lên từng cao của mỹ cảm. Ðây là quà tặng của tiếng Việt, qua lời thơ lục bát thuần Việt, cho người Việt đau đáu trong tim những hình ảnh dịu hiền của một quê hương xa xưa. Mà vì ở xa cố hương, cuộc sống vội vã của một xứ tiện nghi càng làm ta nghĩ tới những hình ảnh của một quá khứ mà ta không thể níu lại, kể cả những nét của một thời thanh xuân, nhưng tiếng nói của thơ, ngôn ngữ thơ với khả năng kỳ diệu của nó, hình như đã làm sống lại những kỷ niệm và hình ảnh của thời gian đã mất, xoa dịu nỗi khắc khoải và tăng thêm nguồn hứng khởi trong tim ta.

Cám ơn thi sĩ Phan Khâm và nhà thư họa Vũ Hối và hân hạnh giới thiệu Em Từ Lục Bát Bước Ra.

101 TỎ BÀY (Em từ lục bát bước ra) của Phan Khâm
Virginia 3/22/2016.
Phạm Trọng Lệ

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2022

Cáo Phó Giáo Sư Phạm Trọng Lệ

 


Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ Thành Kính Phân Ưu Giáo Sư Phạm Trọng Lệ


Thay Mặt VBVNHNVĐBHK:  Hồng Thủy

Sonnet 71. William Shakespeare - Nín Đi Em - Phạm Trọng Lệ

 

Nín Đi Em

Bản dịch Phạm Trọng Lệ

Khi ta chết xin người yêu đừng khóc
Khi chuông buồn chậm nhỏ xuống hồn ta
Cho thế gian hay khắp chốn gần xa
Lìa bể khổ, ta hoà cùng sâu bọ.
Xin đừng nhớ đến bàn tay từng viết
Những lời này vì da diết yêu em
Thà lãng quên trong ý nghĩ êm đềm
Hơn là để em chìm trong phiền muộn
Khi đọc những vần này, người yêu hỡi,
Thì thân ta là cát bụi cỏ xanh
Ta xin em đừng nhắc đến tên mình
Để đời ta và tình em tàn tạ
E trần ai xảo trá thấy em buồn
Nhạo biếm em với hồn người khuất xa.

Phạm Trọng Lệ
***
Sonnet 71. William Shakespeare

No longer mourn for me when I am dead
No longer mourn for me when I am dead
Than you shall hear the surly sullen bell
Give warning to the world that I am fled
From this vile world with vilest worms to dwell;
Nay, if you read this line, remember not
The hand that writ it; for I love you so,
That I in your sweet thoughts would be forgot,
If thinking on me then should make you woe.
O, if (I say) you look upon this verse,
When I (perhaps) compounded am with clay,
Do not so much as my poor name rehearse,
But let your love even with my life decay,
Lest the wise world should look into your moan,
And mock you with me after I am gone.
*
Sonnet 71 in modern English
When I’m dead don’t mourn for me any longer than you can hear the surly sullen bell telling the world that I’ve fled this vile world to live with the even more vile worms.
No, if you read this line, don’t remember the hand that wrote it because I love you so much that I would like you to forget me rather than that, thinking about me, such thoughts would make you sad.
Oh, I insist that if you read this poem when I’m, perhaps, mixed with clay, you must not even utter my poor name but let your love die with me in case the world, in its wisdom, should look closely at your mourning and mock you about me once I’ve gone.

Anh Đã Đi Rồi

 

Anh đi Anh đã đi rồi!
Nghe tin buồn quá đứng ngồi không yên
Chúng mình thân thiết do duyên!
Đồng môn cùng họ thêm duyên cùng nghề?

Văn thơ biên khảo bộn bề!
Giảng đường bụi phấn đi về sáng khuya
Vì dịch Vũ Hán cách chia !
Mong sao bớt dịch mai kia gặp người?

Nhớ Anh nhớ nhất nụ cười!
Quên buồn đỡ khổ kiếp người phù Vân?
Mặc cho thế sự xoay vần.
Rượu ngon chia sẻ bao lần bạn ơi!

Hai năm Đại dịch khắp nơi!
Anh luôn có mặt vui chơi họp bàn.
Sống vui thanh thản an nhàn!
Anh “đi” nhẹ nhõm Thiên Đàng trời mây!

Âm dương xa cách từ đây
Tiếc thương Lệ nhớ sao khuây sầu này?
Cỏ Thơm hợp tác bao ngày!
Trách Trời cay nghiệt đã bày chia ly

Đôi dòng tiễn biệt Anh đi
Về Trời thanh thản tiếc chi cõi đời?
Hôm nay mưa gió ngoài trời!
Dâng hương lòng đóa sen ngời ngát thơm

Thái Hưng/ PGH
 

Lê Tống Mộng Hoa Thành Kính Phân Ưu Giáo Sư Phạm Trọng Lệ

Giáo sư Phạm Trọng Lệ chúc mừng 52nd Wedding Anniversary của anh chi Cuong Trâm.522.2022.
​Xin Cảm ơn anh Phan Anh Dũng và chị Hồng Thủy đã thông báo "Tin Rất Buồn" về Giáo sư PHẠM TRỌNG LỆ đã đột ngột từ trần Thứ Sáu 7/22/2022 tại tư gia ở Virgina.

Cách đây hai tháng, nhân buổi tiệc kỷ niệm 52 năm ngày cưới của anh chị Đinh Hùng Cưòng - Ngọc Trâm anh PHẠM TRỌNG LỆ đã lên chúc mừng anh chị Cưòng - Trâm và nói rất duyên dáng khiến mọi người cười rộ, nhưng chính anh ấy thì không cười!

Thấy sự việc nầy quá hay, nên MHoa có chụp ngay tấm hình( kèm theo đây).
Không ngờ đó lại là những "Lời bông đùa thân thương" sau cùng mà anh LỆ đã dành cho một số bạn bè, thân hữu đã từng quen biết, hâm mộ anh bấy lâu nay!
Sự ra đi bất ngờ của nhà biên khảo, nhà văn, nhà thơ, nhà dịch thuật, nhà báo, nhà giáo
PHẠM TRỌNG LỆ là một mất mát lớn lao cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nói chung, và Cơ Sở Cỏ Thơm,Thế Hữu Văn Đàn, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ nói riêng.

Nguyện cầu linh hồn anh được thanh thản, vui cười cõi VĨNH HẰNG như anh đã từng cười vui bao nhiêu năm qua.

Lê Tống Mộng Hoa
VBVNHNVĐBHK- 7252022.

 

Trần Quốc BảoThành Kính Chia BuồnTang Gia Tiến Sĩ Phạm Trọng Lệ


TIN BUỒN! ... TIN QUÁ BUỒN !!!

Chao ôi! sáng nay dậy, đọc Email anh Đinh Hùng Cường báo
TIN BUỒN là : Anh PHẠM TRỌNG LỆ đã ra đi !!!
Thật vậy sao!
Tôi gục đầu xuống laptop chan hòa nước mắt!
Mới ngày 23 tháng 5 vừa rồi, anh Pham Trọng Lệ gửi cho tôi Bài TỰA anh viết cho tâp thơ tôi sắp in. Sau dó anh còn Email qua lại, nói chuyện với tôi về tập thơ và thăm hỏi nhau.
Chỉ cách dây ít ngày, anh gửi cho tôi mấy tấm hình, theo ý tôi muốn, dể in vào cuối Bài Tựa anh viết...
Vậy mà nay Anh đi rồi! Than ôi! Anh đã đi rồi!!!

Xin Thành Kính gứi lời Chia Buồn cùng
Tang Gia Tang Quyến của Tiến Sĩ Phạm Trọng Lệ.
Nguyện Cầu Hương Linh Anh Vĩnh Viễn An Vui Trên Cõi Trời.

Trần Quốc Bảo và gia đình
Kính Bái Viếng

***
PHÙ VÂN của Thi sĩ Trần Quốc Bảo – Tựa của gs. Phạm Trọng Lệ

Mùa hè năm 1592 là năm kịch sĩ và nhà soạn kịch William Shakespeare và các đoàn hát kịch London Globe phải đóng cửa trong 14 tháng vì tại thành phố London có tới 10,000 dân chết vì dịch, theo giáo sư James Shapiro chuyên về Shakespeare và Comparative Literature tại đại học Columbia. Đó là một cơn dịch độc hại vì lúc đó chưa có cách trị mà sau này lịch sử gọi là The Black Death, hay là the Bubonic Plague. Shakespeare đã dùng thời gian đó viết nên một số vở kịch để đời: Venus and Adonis (1593), Lucrece (1594) và Lover’s Complaint (1609). Tai họa chưa hết: Một năm trước khi Shakespeare viết kịch Romeo and Juliet (1594-1595), người con trai sinh đôi của William Shakespeare tên là Hamnet chết nghi vì dịch hạch khi được 11 tuổi và 6 tháng. Cậu bé là con trai duy nhất của William Shakespeare và Anne Hathaway. Người con trai duy nhất của nhà thơ Anh sống cùng thời với Shakespeare là Ben Jonson, thi sĩ và kịch sĩ và kịch tác gia (tác giả bài thơ “To Celia,” Drink to me only with thy eyes…) cũng chết về dịch hạch năm 1603 khi em lên 7 tuổi.

Theo giáo sư Shapiro, chính những thời gian bị dịch tễ mà các nhà văn thi sĩ lại sáng tác mạnh hơn hết: Ngoài Romeo and Juliet, Shakespeare viết các vở kịch nổi tiếng King Lear, Macbeth, Antony and Cleopatra, Coriolanus và Timon of Athens. Trong kịch Romeo and Juliet, tu sĩ Lawrence nhờ sư huynh John thân tín mang thư báo cho Romeo biết tin Juliet uống thuốc ngủ khiến nàng chết giả trong 42 tiếng và xác nàng sẽ được họ dòng họ Capulet đặt trong hầm mộ, và như đã tính trước trong thư, chàng sẽ kịp đến đón khi nàng tỉnh dậy. Nhưng Friar John có nhiệm vụ đưa thư vô tình vào thăm một nhà có người bị bịnh dịch hạch nên bị dân làng đem búa đinh đóng chặt, nhốt luôn trong nhà có người bị bịnh và Verona lúc đó đang có bịnh dịch nên phải cách ly. Nên khi Romeo tới hầm mộ, thấy Juliet nằm lạnh lẽo trên thảm đá, đinh ninh nàng đã chết nên sau phút tuyệt vọng than khóc, chàng uống thuốc độc tự tử.

Kể lại chuyện này để chứng tỏ Shakespeare trong thời dịch đã đem nạn dịch làm chất liệu cho tác phẩm.

Trong khi thế giới lo sợ chết, còn “bày đặt” viết lách làm gì? Nghĩa là, tại sao văn thi sĩ viết? Có thể họ muốn làm nhân chứng để ghi lại sự kiện cho đời sau, cho con cháu, viết để tạm quên cái chết cận kề, viết để chia sẻ với người đồng thời, viết để sáng tác, mà sáng tác, trong một khía cạnh nào đó, là để chứng tỏ mình còn sống. Viết để thấy khả năng của chữ có thể làm lòng người phấn khởi, dạy cách xem xét nhân tình, gây dựng sự đồng tâm và dạy cách oán trách mà không phẫn nộ, như Khổng tử có lời khuyên người trẻ: “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán.”

Nhưng nhìn vào chiều dài của lịch sử nhân loại, việc chiến tranh, hay đại dịch là việc của một thời, việc văn chương, hay rộng hơn, nghệ thuật, nhìn từ một góc cạnh nào đó, là việc của muôn đời. Mới đây, June 5, trong một bài viết cho TIME 100 SUMMIT, nhà hảo tâm và từ thiện Bill Gates, đã nhận xét Đại dịch Covid 2020-2021 đã lấy mất 20 triệu sinh mạng dân số trên toàn thế giới; riêng tại Hoa Kỳ 1 triệu người, tức là về nhân số, tính ra là 0.2% xem ra còn “may mắn” vì có thể tới 0.5%, và ông tiên đoán trong vòng 20 năm nữa có thể có một đại dịch—do tự nhiên hay cố ý—mức rủi ro theo Gates, trên 50% nên ông đã đề nghị WHO cần 3,000 chuyên viên về bịnh dịch tễ rải rác khắp thế giới và ngân quỹ một tỷ đô-la để theo xát và loan báo kịp thời chặn đứng sự bộc phát trong vòng 100 ngày, vì quá 100 ngày thì dịch sẽ lan thành đại dịch pandemic.

Có thể cho rằng viết thế là một nhận xét bi-quan; không, chỉ là nhìn thẳng vào sự thật. Con người, may mắn thay, có những vì cứu tinh như Pasteur, Yersin, Salt, Jenner, v.v... đã chế ra những thứ thuốc để cứu nhân loại. Trong những thế kỷ qua, Công Nghệ Y-khoa Medical Technology đã sáng chế ra ít nhất 100 sáng kiến như vaccine chống bệnh đậu mùa, dịch hạch, flu vaccines, CT Scanner và MRI (magnetic Resonance imaging), antibiotic, Organ transplants thay bộ phận, hypodermic needle, ống nghe tim phổi stethoscope, X-ray, electrocardiography (tâm biểu đồ), v.v…
Con người với khối óc bền bỉ khao khát nghiên cứu khoa học và kỹ thuật đã tìm ra những cách trị một số chứng bịnh hiểm nghèo.

Tóm lại, cuốn thơ quí vị cầm trên tay gồm 120 bài phần lớn đã làm trong thời gian 2020-2022, thời gian mà thế giới lâm vào đại dịch Covid. Tác giả tập thơ, thi sĩ Trần Quốc Bảo, năm nay ở tuổi 92, viết cuốn này theo ông là cuốn thơ để làm “kỷ niệm cuối đời”.

Nội Dung Tập thơ Phù Vân

Tập thơ Phù Vân chia làm hai phần: Phần 1 –Tâm Tư. Chàng tuổi trẻ Trần Quốc Bảo trong thời hình thành quân đội, xuất thân khóa 2/Võ Bị Địa Phương Trung phần (1951-52), EMR, École Militaire Régionale du Centre Vietnam, khi mãn khóa đậu ưu hạng 5/164, chức vụ chuẩn úy, trung đội trưởng, lúc 22 tuổi rưỡi. Sau 25 năm phục vụ quân ngũ, nhận được đệ ngũ đẳng Bảo quốc huân chương. Nhưng vì bản tính khiêm nhường không muốn đề cập đến binh nghiệp, vì theo lời tác giả “người lính bại trận thật chẳng có gì đáng nói.” Ngay trang đầu tập thơ tác giả bộc lộ lòng mình với quốc kỳ VNCH, tạ ơn Thiên chúa, cha mẹ, nước giang tay rộng nhận ông và gia đình (Tạ ơn dân tộc Hoa Kỳ / Rộng tay đón chúng tôi, khi cùng đường / Đoàn người tị nạn tha phương. Tạm dung, chấp nhận Quê hương đất này! Bài 3) Ông cũng không quên tạ ơn hiền nội, bằng hữu, bạn thơ, bạn lính.

Thơ ông đa dạng: phần lớn bằng thơ lục bát; một số 8 chữ, 7 chữ, đường thi thất ngôn bát cú (bài 16), ca tụng vợ (bài 18, Vì Có Em), tình yêu vợ (bài 19 Chơi vơi Thuyền Mộng), yêu vợ (bài 21 Cõi Mộng), khu vườn riêng như một thế giới nhỏ (bài 26, Vui Trầm); buổi sáng an bình khu vườn hạnh phúc (bài 32, 33), bốn mùa xuân hạ thu đông, bạn thơ, bạn lính (bài 40)… Thơ và nhạc, tận dụng những điệu ca dân tộc (Nhớ Huế bài 64), Hò Huế (bài 65).

Nhưng người đọc cũng không quên thi sĩ Trần Quốc Bảo có óc khôi hài humor và tài thuyết phục: bài 15 Quà vợ…

Trong phần 2, của tập Phù Vân, tác giả đã qua nhiều vùng của quê hương mà trong thời gian xa nhà phục vụ trong quân đội, ông đã trải qua như: Huế, các vùng chợ nổi bán trái cây, hoa quả trên những con thuyền ở miền sông Tiền. Trong phần này, tác giả nhìn ra thế giới quanh ông. Thiên nhiên đủ bốn mùa xuân hạ thu đông, cây cỏ chim chóc trong vườn, nhưng cũng có cảnh ngộ mủi lòng như người lính hôn con còn nằm trong bụng mẹ trước khi ra trận, như chiến tranh ở Ukraine. Những cảnh bên ngoài đời, con người dù sinh ra trong nghịch cảnh—như cô Sarah Talbi trời sinh ra không có hai tay, cụt nhẵn từ vai trở ra, nhưng đã tập luyện cho mình đôi chân để dùng chân mở cửa, mở khóa, thay quần áo cho con gái 3 tuổi, cho mình, nấu ăn, đưa con đi chơi ngoài công viên, ăn ngoài restaurant. Cô sống như một phụ nữ can đảm, độc lập, tự lo cho mình và cho con. Nghe tiếng cười trong trẻo của hai mẹ con, người đọc càng cảm phục người mẹ trẻ này. Ngoài ra còn nhiều chuyện mủi lòng và cảm phục: bài 90, Kim Cương Trong Đống Rác, cô thiếu nữ Thái Lan Mint Chalida dồn rác vào túi giúp mẹ, nhưng khi thi đậu đầu hoa hậu, về nhà quì xụp lạy bà mẹ cám ơn công ơn dưỡng dục. Tại Việt-Nam, ca sĩ Phi Nhung đi về săn sóc đàn con nuôi 23 đứa chẳng may bị Covid-19 mà thiệt mạng. Trong cái nhìn xa hơn bên ngoài, tác giả cũng vinh danh bà Kolinda Grabar, vị nữ tổng thống xứ Croatia, vừa đẹp lại có tài.

Về những thói hư tật xấu, nhìn vào thế giới nội tâm: Sự Thật và Dối Trá: bức tranh của vị giáo sư hội họa vào năm 1884 người Pháp tên là Jean Léon Gérôme, The Truth Comes Out of Her Well. Nàng Dối Trá một ngày kia rủ nàng Sự Thật cùng xuống giếng tắm mát. Nhân lúc bạn không để ý Dối Trá tráo bộ đồ đẹp của bạn, rồi ra ngoài đời loan những lời nói dối. Sự Thật thành lõa lồ (từ tích đó ngày nay ta có thành ngữ the naked truth), sợ ra ngoài thiên hạ thấy mình trần truồng mà đàm tiếu, đành trốn trong giếng.

Nhưng tác giả không phải chỉ viết toàn chuyện lạc quan. Sau một cơn bạo bệnh, ở tuổi 92, phải “vịn” vào thơ để trỗi dậy, tác giả nhìn rõ thêm một bài học: phù vân, vanitas vanitatum, cát bụi thành cát bụi từ đó mà có tựa của tập thơ. Nhưng không yếm thế. (Cho dù cuộc sống phù vân. Tôi như cây cỏ ân cần nở hoa! Bài 117).

Sách Này Cho Ai?

- Cho mọi người thích nghe và đọc truyện. Ngày xưa thời Trung cổ không có báo chí, radio, thì có những chàng thi sĩ cưỡi ngựa hát-- griots, minstrels-- đọc thơ để loan tin cho các kiều nữ ở trên lâu đài thời Trung cổ.
-Những bạn lính, bạn thơ, bạn văn, và cho tất cả những ai yêu tiếng Việt, thơ Việt.
-Các trường dạy tiếng Việt hay phụ huynh, hay thư viện có thể dùng một số bài trong tập thơ để làm giờ nghe ông bà giúp cháu tập đọc và kể chuyện cho các con em học sinh.

Ngôn từ giản dị, vần thơ nhẹ nhàng, lời thơ như ca dao, như lời kể chuyện. Có nhiều truyện cảm động, nghe bùi ngùi, có truyện gây thêm lòng cảm phục, khơi dậy lòng ái quốc.

Nhưng quí vị chỉ nghe lời kể lại của tôi như trên thì chỉ hưởng một phần nhỏ, rất nhỏ, trong cái tập thể phong phú của một hoàn-cầu thu nhỏ, như người cưỡi ngựa xem hoa. Các ngài phải đọc, để cười, để rớt nước mắt, rồi để lạc quan hơn về thế giới chúng ta đang sống tuy không hoàn hảo.

Trân trọng giới thiệu một tác phẩm thơ nâng cao tâm hồn, một cuốn sách gối đầu giường.

Phạm Trọng Lệ
-Tốt nghiệp ĐHSP, cử nhân g.k. ĐHVK, cựu giảng viên ĐHSP Saigon, và Tiền giang, sinh viên ban tiến sĩ Đại học BGSU (Ohio) (1975-77), MS in Library Science, Catholic Universty (1986), Fulbright Fellowship (1973-75)


Giáo Sư Phạm Trọng Lệ Đi Rồi!

Năm trước anh cho trà,
Tôi mời các bạn già đồng ẩm.
Hương trà thơm và thịnh tình nồng ấm,
Nhưng vắng anh,
Vị trà không đậm.
Mời anh về Richmond.
Anh hẹn, anh sẽ về.
Nhưng công chuyện bộn bề,
Đành chờ dịp thuận tiện.
Ai ngờ... thế là thôi!
Nay anh đi rồi!
Nay anh đã đi rồi!

Năm nay anh cũng gửi trà,
Gói trà, gói trọn thiết tha ân tình!
Trà ngon, không uống một mình…
Lại hẹn hò nhau nữa!
Gửi Email anh hứa,
Chờ qua mùa nắng lửa,
Sẽ về tĩnh tọa trà thiền với chúng tôi.
Nắng còn rực rỡ lưng trời,
Gói trà nguyên đó, bồi hồi chờ anh.
Ai ngờ... thế là thôi!
Nay anh đi rồi!
Nay anh đã đi rồi!

Tôi hoàn thành tập thơ Phù Vân,
Anh coi qua, lấy làm ưng ý
Hạ bút viết Tựa, với tình tri kỷ.
Và trao lời khích lệ ân cần,
Phù Vân được lắm! Tâp thơ… hay!
Rồi thân mật ứng khẩu:
“Một mai gió cuốn mây bay,
Còn lưu, chút kỷ niệm này, cho nhau!”
Tôi vô tình, nào biết lời ứng nghiệm
Ai ngờ… Thế là thôi!
Nay anh đi rồi!
Nay anh đi thật rồi!

Anh Phạm Trọng Lệ ôi!
Anh đi để lại tiếc thương.
Tiễn anh, dâng nén Tâm Hương chân tình!
Nguyện Hương Hồn sớm siêu linh,
Về miền Cực lạc An bình Thiên thu!

Thành kính bái biệt!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

Con Hổ Và Tục Ngữ, Thành Ngữ Việt-Anh-Pháp

                                    

Mồng Một Tết âm lịch sắp tới là năm con Hổ hay Nhâm Dần nhằm vào ngày thứ ba mồng 1 tháng 2 năm dương lịch 2022. Bài này phần nào có vài chi tiết về sinh vật học, có thể thiếu tế nhị, nên xin coi như một bài khoa học. Vì giới hạn, bài cũng để dành vài khía cạnh văn hóa của con Hổ vào một dịp khác. Bài sẽ bàn về tục ngữ ca dao dính dáng ít nhiều đến hổ. Ít có con vật nào được từ điển uy-tín Larousse dành cho thành ngữ jaloux comme un tigre.  

Figure 1: link: vi.wikipedia.org/Hổ: Bà Hổ Trách Ông chồng

“Sao giờ này hai giờ sáng mới vác cái bộ mặt dễ ghét về nhà?”

---(xin dùng câu trên dưới hình hổ cái bên trái đang trách hổ đực đi khuya về trễ)
(Xin lấy Hình ở cột bên mặt, trong vi.wikipedia/Hổ, hình thứ 20, tính từ trên xuống dưới, nếu không nhận trực tiếp) Đoạn này Mở đầu bài để thính giả lưu ý.---

Vào bài:

Nói đến Hổ, người dân thường—nhất là đồng bào miền Thượng ở thế kỷ trước-- thường tỏ lòng kính cẩn, phải thờ cúng, thậm chí chỉ dám nói khẽ đến tên như ông hùm, ông kễnh, ông cọp, ông khái, ông ba mươi; lại có nơi còn có bầy bàn thờ hình Ông Hổ…bài này cũng nói đến Bà Hổ thường bị Ông quên lãng. Bà mang thai (từ 93-105 ngày), sinh ra mỗi lứa từ 2-4 con, hiếm khi tới 6 con, Mỗi con nặng 780 đến 1,600g (1.72 đến 3.53 lb), thường sinh trong khoảng giữa tháng 3 và tháng 6, và nhất là tháng 9. 

Sau khi mẹ đẻ ra, hổ con như “mù,” mắt nhắm nghiền, được hổ mẹ cho bú sữa từ lúc lọt lòng suốt 5 hay 6 tháng. Tuy mắt nhắm mà hổ con theo mẹ bằng mùi của mẹ. Khi hổ con lớn lên, có thuyết cho rằng hổ con theo mẹ bằng hai vết trắng sau tai mẹ, nhưng chưa xác-định rõ. Có chỗ cho rằng hai chấm trắng đó, eye spots hay predator spots, có nhiệm vụ như “tai giả” để đề phòng một con vật lạ tấn công từ phía sau.   Một tuần sau khi đẻ, hổ con nhú răng sữa, và từ một hay hai tuần sau, hổ con mới mở mắt. Hổ mẹ vẫn cho bú sữa tiếp đến 4 tháng hay lâu hơn, và nuôi trong hang trước khi cho tập đi theo đàn, cho ăn thịt và dần dần dạy cách săn thú khác. Lúc này khi con còn nhỏ bà mẹ tha con bằng cách cắn nhẹ vào gáy mang đến một cái hang hay hốc đá khác để được an toàn hơn.  

Còn ông Hổ bố, sau ba bốn ngày, thời gian tìm hiểu có khi lâu hơn từ tháng 11 đến tháng 2, trong thời gian quen biết courting, kiên nhẫn đeo đuổi ve vãn tán tỉnh, có khi còn kiếm thịt về cho nàng ăn, trong thời gian ‘quen hơi bén tiếng,’ sau khi nàng chọn một trong số mấy chàng đeo đuổi, và nếu hài lòng chàng nào thì nàng nằm doãi chân về phía sau, tỏ những dấu hiệu “chịu”–cả chàng và nàng, được nhận là tỏ tình rất ồn ào—nàng ồn không kém. Chừng bốn năm ngày sau, chàng “biến dạng.”  Có điều lạ nữa là sau khi “giao phối” xong thì chàng phải rút lẹ khi có dấu hiệu nàng không muốn nữa. Thời gian “trăng mật” của hổ cái chỉ từ 3 đến 6 ngày. 

Rất hiếm khi có hổ đực cùng đi theo hổ cái săn sóc con, dù là con mình. Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ: vào tháng May, 2015, vì có máy chụp hình đặt ở gần bẫy nên đã ghi lại là trong trại Bảo Vệ Thú Sikhote-Alin Nature Reserve, một con hổ Amur đực đi qua, theo sau bởi một con hổ cái và ba hổ con trong khoảng hai phút.  Đây là một bằng chứng hổ có thể sống như một gia đình.  Trường hợp nữa, tại Khu Dành Riêng Nuôi Hổ Ranthambore, phía bắc Ấn Độ, một con hổ đực giống Bengal nuôi hai con hổ con mồ côi vì mẹ bị bịnh chết. Hai hổ con được hổ bố tha đồ ăn về cho ăn, bảo vệ chúng và có vẻ còn luyện cho chúng cách săn. (Nguồn: en.wikipedia.org under ‘the tiger’). Hổ đực, khi bình thường kiếm được mồi thì để cho hổ cái và hổ con ăn trước rồi mới ăn sau, chứ không háu ăn như sư tử.  

Hổ cái chọn sinh con ở một nơi khá kín đáo như bụi lau cao, hốc đá, động nhỏ hay hang, để “vượt cạn một mình.” Không có cảnh hổ đực quanh quẩn kế bên để chia sẻ tiếng ‘vợ’ đau đẻ, nghĩa là hổ đực không như mấy ông nhà quê ngày xưa khi vợ đẻ, làm những việc có vẻ thiếu ‘lô-gic’ như “leo lên mái nhà,” nhổ cọc chuồng lợn, lăn ra đường, v.v… như mấy “tục” của mấy ông chồng ở vài vùng quê ngoài Bắc Việt thời xưa. (Xem: Nguyễn Dư, Phong tục về Sinh đẻ, Đất Việt (2015).)  

Bà hổ mẹ một mình chịu nỗi đau đớn. Đẻ con, bà tự lo, không có cô mụ đỡ hay bác sĩ sản khoa ở bên, bà tự đỡ đẻ lấy. Khi đẻ xong, bà dọn dẹp sạch sẽ --tránh để lại dấu vết và mùi máu khiến những con vật khác đánh hơi mò tới gây hại cho hổ con mới sinh, lúc đó còn nhắm nghiền mắt. Bà mẹ hổ dọn sạch bằng cách nào? –“Ăn luôn bộ nhau” của mình. 

Những tháng sau, tự bà mẹ hổ, thường không có hổ đực đi cùng, chỉ dạy cho hổ con cách đi theo, cách săn, và bảo vệ hổ con khi có con vật khác lại gần. Chỉ có bà mẹ. Đây là một trường hợp Hổ cha “bị mất điểm” trách nhiệm chung.  

Hổ con lớn dần và trong năm đầu, chỉ có từ 35 đến 50 phần trăm sống sót. Lý do là vì hổ con còn vụng về, mải cựa quậy, tò mò, chạy xa khỏi hang và… hoặc quên mất đường về, bị lạc, hay bị tuyết lạnh và đói rồi chết, hay bị một con hổ đực nào đó cắn chết. Hổ đực lạ cắn chết hổ con, để được giao tiếp với hổ mẹ sớm hơn, nếu như hổ mẹ không phải cho con bú. 

Figure 2: Mẹ hổ dùng răng tha con 

Độ ba tuổi rưỡi, con hổ cái bắt đầu trưởng thành sinh lý, còn hổ đực thì muộn hơn một năm, nghĩa là độ 4-5 năm. Nếu ở ngoài rừng hoang, Hổ có thể sống được 20 năm, còn nếu trong Khu Bảo Vệ thì sống đến trên  20 năm, lâu nhất ghi được là 26 năm. 

Hổ bị người săn nên dần dần mất giống, có nơi dần dần tuyệt chủng.

Năm 2016, nhìn vào bảng tổng số hổ sống hoang dã ở các quốc gia thì trong số 3,890 con hổ sống ở ngoài rừng, nước còn số hổ lớn nhất là Ấn Độ (2,225), Nga (433), Indonesia (371), Mã Lai (250). Trung Quốc còn trên 7 con, Việt Nam còn không quá 5 con. Tục săn hổ để lấy thịt, xương, bộ phận khác cũng khiến một số lớn hổ bị diệt. Cũng có nơi tổ chức săn hổ cho du khách đi săn và lấy da.  

(Nguồn credit: vi.vikipedia.org./Hổ)

Bảng kê số lượng hổ sống ngoài hoang dã ở các quốc gia (2016) ước tính là 3890.

Hổ là loài dã thú độc cư (solitary life) ban ngày thức, thường ngủ ban đêm, sống một mình trong vùng của mình mà bề mặt chiếm diện tích khá lớn, thường chỉ khi kiếm được bạn và giao tiếp mới sống cùng nhau. Vẻ mặt hổ nghiêm trang, đẹp và khỏe, hấp dẫn, chạy nhanh, mắt vàng hay hổ phách (yellow or amber), tròng mắt đen, ban đêm mắt sáng quắc, toát ra vẻ oai phong, bộ lông mầu nâu thẫm, hay xám, có vằn đen, lưng và đuôi dài, cân đối và nhịp hàng như gợn sóng. Tiếng hầm làm các loài khác e sợ. 

=>Figure 3: A tiger walking.

(Credit: Ranthambore National Park) 

(trích) Một đoạn trong bài “Nhớ Rừng” chuyển sang tiếng Anh của ba dịch giả: 

“Với Tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi. /

Với khi thét khúc trường ca dữ dội, / Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng /  Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng / Vờn bóng âm thầm lá gai, cỏ sắc / Trong hang tối mắt thần khi đã quắc / Là khiến cho mọi vật đều im hơi. / Ta biết ta chúa tể cả muôn loài…   Thế Lữ, Nhớ Rừng, bản 1941.

-Bản dịch của Nguyễn Khắc Viện et al. 

(trích) et le vent qui rugit dans les bois, et les torrents qui ébranlent les montagnes
et les hurles où je clamais la grande et terrible épopée, 
J’avançais à pas lents et majestueux, 
je me faufilais, telle la vague qui s’enroule
jouant avec des ombres profondes des feuilles épineuses, des herbes coupantes
Dans mon antre ténébreux, quand j’ouvrais mes yeux divins
Tous les êtres alentour se taisaient leur souffle.  
Je sais que je suis le roi des mille et mille espèces…

Source: “Nostalgie des Forets” (Nhớ rừng)  Traduction en français par Nguyen Khac Vien, et al. Anthologie de la Littérature Vietnamienne. Tome III. Hanoi: Editions en Language Étrangères, 1973, p 416.

-Bản dịch của Nguyễn Ngọc Bích (1975)

(trích) I hear the blast of winds, torrents shaking the hillside,

and my own terrible immortal voice
rolling through the spaces as I glide
among silent shadows, prickling leaves, fiery grasses,
my skin undulations in rhythmic waves.
When my eyes sparked green and gold in the cave, nothing moves,
I knew I was king of animals… 
“Green Nostalgia”

(Soliloquy of a tiger in a Zoo by Thế Lữ)

Translated by Nguyễn Ngọc Bích, A Thousand Years of Vietnamese Poetry, New York: Alfred A. Knopf, 1975, p.160).

-Bản dịch của Thomas D. Lê (2004)

“Yearning for the Jungle”
(The voice of a tiger in captivity in a zoo)
(Trích) Mighty howling winds, and thundering falls,
Roaring my epic and powerful roar,
I strutted in commanding steps sure and pround,
My rhythmic wave-like body strong and stout,
Stalking silent ‘mongst brambles and sharp grass.
In dark caves once I flashed my awesome eyes
All life lay quiet holding its hushed breath.
I basked in smugness, king of all creatures…
(trích)
Translated by Thomas D. Lê
19 September 2004

Note: Người viết hy vọng có dịp trở lại đầy đủ những bản dịch tiếng Anh bài “Nhớ Rừng,” kể cả bản tiếng Anh của Burton Raffel vào một bài khác.  

Nhà thơ Anh lãng mạn William Blake (1757-1827) cũng có bài thơ the Tyger. (tyger là lối viết chính tả của Blake) Bài thơ này G.S. William Harmon chọn là bài thơ phổ thông nhất trong 500 bài thơ được in trong các hợp tuyển thơ “most popular poem among 500 selected in anthologies.” Trong bài thơ này Blake chất vấn Thượng Đế hay Tạo Hóa đã tạo ra con cừu một con vật nhu mì sao, chính bàn tay Ngài lại tạo ra con hổ, một con vật hung ác? Một câu hỏi làm ta suy nghĩ. 

The Tyger 

William Blake (1757-1827)

Tyger Tyger, burning bright,
In the forests of the night:
What immortal hand or eye,
Could frame thy fearful symmetry?
In what distant deeps or skies.
Burnt the fire of thine eyes?
On what wings dare he aspire?
What the hand, dare seize the fire?
And what shoulder, & what art,
Could twist the sinews of thy heart?
And when thy heart began to beat,
What dread hand? & what dread feet?
What the hammer? What the chain,
In what furnace was thy brain?
What the anvil? What dread grasp,
Dare its deadly terrors clasp?
When the stars threw down their spears
And water’d heaven with their tears:
Did he smile his work to see?
Did he who made the Lamb make thee?
Tyger Tyger burning night,
In the forests of the night:
What immortal hand or eye,
Dare frame thy fearful symmetry?
(from Songs of Experience)

Blake is considered a precursor of British Romanticism, a mystic nhà thơ huyền bí, a visionary poet nhìn xa trông rộng, painter, printmaker, neglected in his time, but considered the best poet in the twentieth century.His notable studies are by Northrop Frye, Anatomy of Criticism,and Fearful Symmetry: A study of William Blake (Princeton UP).

Tóm tắt ý nghĩa bài The Tyger: The Tyger là một trong những bài thơ tiêu biểu của Blake trong Songs of Experience viết năm 1794. Chủ đề của bài thơ là ai tạo nên con hổ, con vật gây kinh sợ uy nghi nhưng rất đẹp và cân đối. Trong rừng sâu đêm tối, nhà thơ hỏi, ai là người tạo nên thân hình dữ tợn mà cân đối của con hổ, ai lên núi hay bầu trời cao để tìm được ánh lửa trong mắt hổ, ai mất bao công sức để tạo nên thớ thịt của trái tim hổ, và khi hổ đã thành một con vật sống động, thi sĩ tự hỏi chắc Đấng Tạo hóa hài lòng vì Ngài đã dùng búa, đe để tạo nên vẻ cân đối của con hổ,  chắc Ngài hài lòng về tác phẩm mà Ngài tạo nên. Hay nếu không phải Thượng đế thì là ai tạo ra hổ?  (Credit: Tóm tắt ý trong eng-literature.com)

(Muốn nghe giọng đọc bài The Tyger, quí vị có thể vào Google, nghe Youtube của kịch sĩ Ian Richardson.) 

Hổ cái tương đối khá chung tình nhưng khá kén chọn ‘bạn tình’. 

Theo Ranthambore, xin tóm tắt những điều kỳ lạ ta chưa biết về hổ: Hổ là loài thú thuộc giống mèo rừng (wild cats) lớn nhất; nó có thể tát chết người, có thể bơi đến 60 cây số một ngày, lưỡi có nước bọt là chất khử trùng antiseptic nên dùng lưỡi liếm cho con, vằn đen vẫn in trên da dù da hổ bi lột, nước tiểu có mùi giống như ngô có rưới bơ lỏng (như các cô cậu hay ăn trong khi xem movies; như vậy khi đi picnic trong rừng nếu ngửi thấy mùi ngô rang bơ, chớ tưởng là đang cùng bồ vào rạp hát) mà nên nghĩ là có hổ ở gần. Hổ thích kiên nhẫn rình con mồi, rất giỏi hòa mình với lá cây và cỏ, khi có cơ hội rồi mới nhẩy ra vồ, có thể tới 60 km/một giờ, nhưng chỉ một đoạn ngắn. Hổ còn biết nhại tiếng kêu của một số con vật, và đây một ưu điểm để săn các con thú khác.

(credit: https://ww.ranthamborenationalpark.com/amazing-facts-about-the-tigers)    

Hổ được chia làm 9 giống subspecies: Xưa ở từ Phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ và Transcaucasia đến bờ biển Nhật Bản và từ Nam Á đến Nam Dương. Ngày nay trong 9 giống chia tùy địa lý: Bengal, Caspian,  Siberian (Amur), South China, Indochinese, Malayan, Bali, Javan, Sumatran. Ghi chú: ba giống tuyệt chủng được gạch dưới tên. Nay chỉ còn sáu

(Xem thêm: vi.wikipedia.org/hình tượng con hổ trong văn hóa

Như đã nói, hổ thích đi một mình trong rừng khi sống ở nơi hoang dã, cần có một lãnh thổ nhiều kilomet vuông. Nếu có một con hổ nhỏ hơn vào vùng đất của nó, thường thì nó để yên nếu không tranh giành với một con hổ cái của nó. Một cách mà con hổ nhỏ hơn chịu phục con lớn là con hổ nhỏ hơn nằm ngửa lưng trên mặt đất, dơ bốn chân lên trời để hở bụng lông trắng tỏ ý qui phục. Con hổ lớn thấy vậy sẽ để yên cho con hổ nhỏ đi lại hay ở trong lãnh thổ nó cho đến một ngày nào đó sau này, con hổ nhỏ hơn lớn thêm và đủ mạnh để tranh vùng đất của hổ lớn, nếu lúc đó hổ lớn đã già hay yếu. 

                                                         Nguyễn Du và Hổ 

Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã dùng chữ “Hùm” chỉ con cọp, hay con hổ cả thảy 6 lần (Tham khảo: Đào Duy Anh, TĐTK), Có thêm một câu có dùng chữ “sư tử” để người đàn bà ghen là Hoạn Thư. Tích nhà thơ Tô Đông Pha diễu bạn là Trần QuýThường sợ vợ là nàng Liễu Thị ở tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, bên Tầu có tình ghen bốc lửa, nổi máu tam bành, trong đó có hai câu:

Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên..
(Bỗng nghe sư tử Hà Đông hống
Tay buông gậy chống bụng rối beng).

1. Miệng hùm nọc rắn: 

-Thân ta ta phải lo-âu,
 Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này (K2015)
(chỉ nơi hiểm nghèo)
My life I must take into my own hands, 
beware a tiger’s jaws, a serpent’s fangs (HST, The Tale of Kiều, p105)

(Đoạn này tả trong khi Hoạn Thư về thăm nhà, Kiều đang ở lầu Quan Âm Các chép kinh thì Thúc Sinh tới, đôi bên than thở; ngờ đâu cả hai không biết Hoạn Thư chợt về nấp một chỗ nghe. Thấy tình trạng này mình không thể ở lâu được, cũng có thể Kiều hiểu ý của Hoạn Thư quá thông minh muốn nàng phải rời đi, tuy trước được cho phép ra chép kinh, nhưng tình trạng lúc đó nếu không thoát đi, Thúc Sinh trong tương lai sẽ lén vợ gặp Kiều nữa, và nếu vậy, nơi đó sẽ thành một nơi hiểm nghèo, Kiều quyết định lấy trộm chuông vàng trốn đi.)  

2. Bán hùm buôn sói

-Nữa khi muôn một thế nào.
Bán hùm buôn sói chắc vào lưng đâu?
Should later it turn out that I have bought
A tiger in a poke, where shall I turn? (HST, p109)

(Bán hùm buôn sói: người buôn bán bất lương. Mại lang mãi hổ, tả khoán vô bằng: bán sói buôn hùm, viết văn tự không bằng cớ.) (Đào Duy Anh, TĐTK, p27).)

3. Trướng hùm: bức màn, cái lều bằng vải bằng da cọp kết lại làm chỗ ngồi, cũng chỉ chỗ chỉ huy của ông tướng. 

Trướng hùm mở giữa trung quân
Từ quân cùng với phu nhân cùng ngồi.
- K2315-2316 
(Đọan này tả Từ Hải để Thúy Kiều lập tòa án phán xử và trừng phạt những kẻ xưa (như Sở Khanh, Ưng, Khuyển, Tú Bà…) ác độc với nàng, và đền công và thưởng những người tốt như vãi Giác Duyên.  
Under a tent erected in the midst 
 Lord Từ and his fair lady took their seats. (HST, p119).   
4. Râu hùm hàm én (gốc từ nhóm chữ Yến hàm hổ cánh – Hàm én cổ cọp – tướng của Ban Siêu, tướng nhà Hán). Cụ Nguyễn Du tả nhân vật Từ Hải như tướng Ban Siêu đời Hán, nhưng cụ đổi “cổ cọp” ra “râu hùm”: 
Râu hùm hàm én mày ngài, 
 Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.” - K2167
 His shoulders were five inches broad [and] his body was ten feet tall. (HST, p199.) 
A tiger’s beard, a swallow’s jaw, and brows
as thick as silkworms—he stood broad and tall. 
His shoulders were five inches [and] his body was ten feet tall. (HST, p113)

The physiognomy of the military hero, Từ Hải, is similar to that of the famous Han commander Pan Ch’ao. (HST, p198). Diện mạo Từ Hải được ví như tướng Ban Siêu đời Hán. (Xem thêm: gs Phạm Thị Nhung trong “Kiều gặp Từ Hải” (c2165-2210) trong https://gsptn.blogspot.com?m=1) 

5. Kề răng hùm-sói gửi thân tôi đòi (K2670)

(She served a wolf, she did a tiger’s will. (HST, p137)

Tam Hợp đạo cô trả lời câu hỏi của vãi Giác Duyên tại sao Kiều ăn ở hiếu nghĩa mà lại gặp toàn những nỗi đoạn trường: ấy là vì “Oan kia theo mãi với tình.”     

6. Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn (K2516)

The fiercest tiger, taken unawares, / will lick the dust and meet an abject end (HST, p129)

Đoạn này Kiều kể lại Từ nghe lời Kiều về giải binh với triều đình mong có ngày nàng cũng được về cố hương, ngờ đâu bị Hồ Tôn Hiến vờ tiếp sứ, nhưng khi Từ bất ý, bèn đánh úp, anh hùng cũng chẳng ngờ, chết đứng ngoài mặt trận.

7. Trước hàm sư tử người đằng la (K1350)

 I shall be prey to her, your lioness.
(Ho-tung lioness sư tử Hà Đông – Si Shih)

(Đoạn này dùng “sư tử” chỉ Hoạn Thư, Kiều xin Thúc Sinh về nói khéo với với chị cả Hoạn Thư, chị thương cho bề nào thiếp cũng cam, biết là Hoạn Thư ghen như sư tử Hà Đông (Sơn Tây, Trung Quốc, mà Tô Đông Pha có bài thơ ngắn diễu bạn). 

                                                           VÀI CÂU TỤC NGỮ

-1. Không vào hang hổ sao bắt được cọp con (Bất nhập hổ huyệt yên đắc hổ tử). If you dare not venture to enter the tigress’den, how can you catch her cubs? 

(Phải có gan mạo hiểm mới làm được việc khó.) Tương tự trong tiếng Anh: No pain, no gain hay: Nothing ventured, nothing gained. Lời tướng Ban Siêu đời Hán.

-2. Họa hổ, họa bì, nan họa cốt

Tri nhân, tri diện, bất tri tâm

(Vẽ cọp, vẽ da, xương khó vẽ,
Biết người, biết mặt, nhưng không biết lòng).
(Nguồn: Tục ngữ Hán Việt: beta.wikiquote.org) 
(In drawing a tiger, easy to draw its skin, (but) hard to draw its skeleton,
In knowing a man, easy to know his face, (but) hard to know his heart.) 
Dịch giả Gió Vi Vu dịch thoát ý của hai câu trên trong:
Dò sông dò biến dễ dò, 
Đố ai lấy thước mà đo lòng người.

Nguồn: Gió Vi Vu, TUYỆT CHIÊU (the CATBIRD SEAT) by James Thurber (KhoaHocNet.com, 12-11-21).

Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cùng nói ý ấy:
Cùng đường dù tính chữ tòng
Biết người, biết mặt biết lòng làm sao?
Nữa khi muôn một thế nào,
Bán hùm buôn sói chắc vào lưng đâu?
(K2119-2122)

If cornered, I must wed and serve a man
how do I know him, know his face, his heart?
Should later it turns out that I have bought
A tiger in a poke*, where shall I turn?

(HST, K2121-2122)

*proverb: buy a pig in a poke: Mua phải của giả vì không xem kỹ. Mua mèo trong bị. Giáo sư Huỳnh Sanh Thông đổi “a pig in a poke” thành “a tiger in a poke.”   

-3. Le tigre aussi a besoin de sommeil. (proverbe chinois)

Hổ cũng cần ngủ.
(Cơ thể của mọi loài cần phải ngủ để phục lại sức, cho dẫu mạnh như hổ)
(Source: Citation-celebre.leparisien.fr) 

-4. Hồ giả hổ uy.

The fox borrows the tiger’s terror. 
Cáo mượn oai hổ.
(Tục ngữ Trung Hoa, câu này trách kẻ lợi dụng uy quyền của kẻ lớn mạnh để hăm dọa hay hà hiếp kẻ khác.) 

-5. Agneau en peau de tigre, craint encore le loup (proverbe chinois) 

Cừu dù có da hổ, vẫn sợ chó sói.  

-6. Hổ phụ sanh hổ tử (tục ngữ Trung Hoa)

Cha tài giỏi làm sao, sanh con làm vậy. English: Tiger father begets tiger son (Chinese). Nếu cha giỏi và con thất bại, thì đổi câu này thành “hổ phụ sanh cẩu tử”). 

-7. Hổ lạc bình-dương bị khuyển khi.

Cọp xuống đất bằng bị chó khinh.
(Hết thời, nay một mình tới đất lạ, bị những kẻ không ra gì khi dể, hiếp đáp. (VNTĐ, A-L, phụ lục.)

-8. Ne blâme pas Dieu d’avoir créé le tigre, remercie-le plutôt de ne pas lui avoir donné des ailes. (proverbes éthiopiens/Indien)

Đừng trách Thượng Đế đã tạo ra con hổ; thay vì hãy thầm cám ơn Ngài đã không ban cho nó thêm đôi cánh. (Tục-ngữ Éthiopie)   

Trời sanh hùm chẳng có vây
Hùm mà có cánh hùm bay lên trời (Ca Dao)

(LVĐ & LNT, VNTĐ, A-L, p. 652). 

(Source: https://citation-celebre.leparisien.fr)

-9. Cọp chểt để da, người ta chết để tiếng.  

(Con hổ sau khi chết còn để lại bộ lông cho người đời quí trọng; con người sau khi chết còn để tiếng lại. Khuyên ta nên ăn ở sao cho được tiếng tốt.)
Hổ tử lưu bì nhân tử lưu danh.
Japanese: A man’s good name is as precious to him as its skin to a tiger.
(Danh thơm đối với một người cũng quí như bộ da đối với con hổ.)
Hãy so sánh câu tục ngữ Hán Việt này với câu tiếng Anh và tiếng Pháp. Trong vở kịch Julius Caesar của Shakespeare.

Sau khi nhân vật Brutus người được Caesar quí mến đã cùng bọn phản loạn đâm ông 33 nhát và nhát của Brutus là nhát cuối cùng, và là nhát hạ gục Caesar, người thương Brutus như con, Brutus bước ra tiền đình quốc hội La Mã  nói với người dân La Mã rằng phải giết Caesar vì ngài có tham vọng và vì Brutus yêu thành Rome hơn, thì đến lượt Antony bước ra nói:

     The evil that men do lives after them
     The good is oft interrèd with their bones.
(Antony, Julius Caesar, hồi III, cảnh ii, dòng 77-78)
(Nguyên văn: Những điều ác con người làm, vẫn còn sống sau khi họ chết
Còn điều tốt thì thường chôn vùi theo với xương họ.)
Dịch vần:
Tiếng xấu, dẫu chết rồi, người đời nhớ mãi
Danh thơm, vừa nằm xuống, thiên hạ quên ngay.     
(PTL phỏng dịch)
Le mal que font les hommes vit après eux
Le bien est souvent enterré avec leurs os.
 (Jules César par William Shakespeare traduit par M. Guizot (ebook project Guttenberg #15841, released May 17, 2005).

-10. Dieu a inventé le chat pour que l’homme ait un tigre à caresser chez lui.

Victor Hugo
Thượng Đế đã tạo ra mèo để người có một con hổ để vuốt ve ở nhà.

-11. Quand un homme désire tuer un tigre, il appelle cela sport; quand un tigre desire le tuer, it apple cela férocité.

George Bernard Shaw

Khi con người muốn giết một con hổ thì người ta gọi hành động đó là “thể thao”; khi con hổ giết một người thì người ta gọi đó là “hung ác”.

(Source: https// evene.lefigaro.fr/citations/mot.php?mot.tigre&p=2)

                                                       Hổ và Chính Trị

11. Qui est à cheval sur un tigre, n’en descend pas aisément. (Proverbe chinois) 

Cưỡi trên lưng cọp rồi khó mà bước xuống. 
Trong thế kỷ 20, có ít nhất ba chính khách nổi tiếng tây phương dùng ý của câu tục ngữ Trung Hoa kể trên “Ngồi trên lưng hổ khó bước xuống.”
=>a) Người thứ nhất: thủ tướng Anh Churchill:
“Dictators ride to and fro upon tigers from which they dare not dismount. And the tigers are getting hungry.” Winston Churchill, “Armistice – or Peace?” the Evening Standard (11 Nov. 1937).

Những kẻ độc tài cưỡi hổ đi đi lại lại mà không dám bước chân xuống. Và những con hổ mỗi lúc một đói. (Thủ tướng Anh đọc diễn văn “Đình Chiến hay Hòa Bình?” 11 tháng 11 1937. Ngụ ý cảnh cáo những nước những nhà đại kinh doanh Anh, Pháp, Mỹ vì e ngại chiến tranh mà tìm cách đình chiến với Đức Quốc Xã trước khi chiến tranh thứ hai. Nhưng rồi Đức xâm lăng Ba Lan và Đệ Nhị Thế chiến bắt đầu. (quoteinvestigator.com)

=>b) Người thứ 2: Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman:
“…Being a president is like riding a tiger. A man has to keep on riding or he is swallowed.”
(Làm Tổng Thống cũng như người cưỡi hổ. Phải ráng cưỡi nếu không thì bị hổ nuốt chửng.)

Tổng thống giải thích tiếp: “The fantastically crowded months of 1945 taught me that a president either is constantly on top of events, or, if he hesitates, events will soon be on top of him. I never felt that I could let up for a moment.”  Những tháng vĩ đại đầy biến cố trong năm 1945 đã dạy tôi một bài học là làm tổng thống hoặc là phải không ngừng nắm vững các biến cố, hoặc nếu ngần ngại, biến cố sẽ chóng tràn ngập. Nên không lúc nào tôi ngưng nghỉ. (Harry S. Truman, Memoirs, vol II, Years of Trial and Hope (1956), ch. 1. (Source: Quora.com) 

=>c) Người thứ ba: John F. Kennedy
Trong diễn văn nhậm chức, tổng thống Hoa Kỳ trước tiền đình quốc hội, Jan. 21, 1961, John F. Kennedy nói trong bài diễn văn:
“Those who foolishly sought power by riding the back of the tiger ended up inside.”
Những kẻ xuẩn ngốc tìm quyền lực bằng cách cưỡi trên lưng hổ rồi cuối cùng chấm dứt đời mình  trong bụng hổ. (Diễn văn nhậm chức Inaugural Address, Jan. 21, 1961.) 

Nguồn gốc: câu nói trên --cưỡi lưng hổ chỉ e lúc bước xuống—Kị Hổ Nan Hạ--gốc ở đâu mà ra:

--William Scarborough (c. 1875) “He who rides a tiger is afraid to dismount. Kẻ nào cưỡi hổ thì sợ lúc bước xuống”—chính ông lại dùng câu tục ngữ số 2082 trong cuốn Chinese Proverbs năm 1875. (Ch’i ‘hu nan hsia pei).
(Source: William Safire, www.nytimes.com/2005/02/06/magazine/metaphor-madness.html/)

                                                                      Idioms

Tương tự với câu “cưỡi hổ chỉ e lúc bước xuống” có câu sau:

-Have a tiger by the tail: Nắm hổ đằng đuôi (rồi không dám thả ra). Have become associated with something powerful and potential dangerous. Nghĩa: Rơi vào tình trạng nan giải. Thí dụ: You have a tiger by the tail: you bit more than you chew. Bạn nắm hổ đằng đuôi rồi: bạn nhận một việc gian nan quá sức bạn.

(Richard Spears, McGraw-Hill Dictionary of American Idioms and Phrasal Verbs (2005)) 

                                                     Ngữ Vựng để thỏa chí tò mò

Tiếng Pháp hổ đực gọi là TIGRE (tiếng Anh TIGER), hay tên khoa học thuộc loài mèo, chi là Panthera và loài là tigris, (từ tiếng Latin, và tiếng Hy Lạp tigris.) Hổ cái tiếng Pháp là tigresse. Tiếng Anh là tigress. Tự điển Larousse ghi thêm nghĩa bóng của tigre: extrêmement jaloux và cho thí dụ: Jaloux comme un tigre, femme aggressive (Phải chăng mấy nhà soạn tự điển người Pháp và người Mỹ và các nhà từ điển khác, dám “liều lĩnh” ám chỉ mấy cô đầm chân dài, và có móng đỏ chăng? Và không phải chỉ có một số cô đầm Pháp mới bị đặt tên là “cọp cái” mà thôi; ở nhiều nơi, như quê hương Việt Nam, cũng có những “bà hổ” mà quí ông nên cẩn thận khi gọi là “hổ cái”-- chứ tuyệt nhiên chớ bao giờ gọi là “cọp cái”-- vì có thể bị hiểu nhầm, động chạm đến “ba bành” ai đó. Tự điển The American Heritage Dictionary Fourth Edition thứ lớn, cũng định nghĩa tigress là hổ cái, và cũng định nghĩa ai đó là “a woman regarded as daring and fierce.” Một phụ nữ coi như táo bạo và hung dữ. Tự điển Webster’s New World College Dictionary 2001 ngoài định nghĩa tigress là “a female tiger” còn chú thêm nghĩa bóng là “A woman thought of as like a tiger in sensuous sleekness, ferocity.
À! in sensuous sleekness: một bà được người ta nghĩ như một con hổ, mượt mà khêu gợi, hung dữ.  
…Figure cô gái đẹp ngồi cạnh con hổ 
Chú thích dưới hình: Bên con cọp tượng trưng sức mạnh và uy nghiêm, người đẹp tương trưng phụ nữ can trường của thế kỷ 21.   
Thú lai giống:  Trong sở thú hay khu bảo tồn, hổ hay sư tử có khi được nuôi chung, Hổ có thể sinh con với sư tử. Hay ngược lại. Hổ con mà bố là hổ, mẹ là sư tử, tiếng Pháp gọi là: Tigron hay Tiglon. Tiếng Anh: Tiglon (hay tigon). Loại ‘sư hổ’ bố sư tử mẹ hổ lai giống thường lớn hơn bố mẹ sinh ra chúng.
 Còn bố là sư tử, mẹ là hổ, con đẻ ra tiếng Pháp gọi là gì? ligron hay tigon
Collective noun: Một đoàn hổ đi với nhau gọi là an ambush of tigers or a streak of tigers.

Hổ Giấy:

Mao Zedong dùng tiếng Hổ giấy, Tigre du papier, Paper tiger, nguyên văn hổ giấy zhilaohu chỉ một vật hay người bề ngoài tưởng là mạnh mẽ hay đe dọa nhưng không hiệu quả, và câu nói nổi tiếng đã do Mao Zedong của đảng CS Trung Quốc tuyên bố. Nhưng thực ra người đầu tiên dùng danh từ này là Robert Morrison, nhà truyền giáo và soạn từ điển người Anh trong Tập Ngữ Vựng Tiếng Quảng Đông năm 1828. Trong một cuộc họp mặt với Henry Kissinger năm 1973, Mao kể một chuyện vui là ngưởi đầu tiên dùng tiếng “paper tiger” khi nói chuyện với ký giả Anna Louise Strong tháng 8, 1948. “Bom nguyên tử là Hổ giấy mà người Mỹ dùng để hù dân.” Năm 1956 và 1957, cũng đàm thoại với Strong, Mao nói: “ Bề ngoài thì mạnh nhưng thực ra không có gì phải sợ…” Khi Mao chỉ trích Thủ tướng Nga Nikita Khrushchev, vì hòa hoãn với Hoa Kỳ, Thủ tướng Nga được tường thuật là đã tuyên bố đáp lại: “Hổ giấy có răng nguyên tử.” (The paper tiger has nuclear teeth.) (Nguồn: en.wikipedia.org under “Paper tiger”).  

Biên khảo của G.S. Phạm Trọng Lệ

--Viết xong 15 tháng 11, 2021. Bổ chính 1/12/22. Bài này đã đăng trong Tam Cá Nguyệt Cỏ Thơm tháng 12/2021 và Firmament số January 2022 --PTL 

Tham Khảo
-Bài này dùng tài liệu trong wikipedia tiếng Anh và tiếng Việt.
Huỳnh Sanh Thông. The Tale of Kiều. Yale University Press, 1983.
Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ. Việt Nam Tự Điển. Saigon: Khai Trí, 1970.
Đào Duy Anh. Tự Điển Truyện Kiều. 1971.
William Harmon. The Top 500. New York: Columbia University Press, 1992.
Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim. Truyện Thúy Kiều. 7th ed. Đại Nam, 1925 (rpt).
Justin Kaplan, Gen. ed., Bartletts’ Familiar Quotations. 16th edition, Boston, Toronto, London: Little. Brown and Company, 1992.
Citations:
https://www.dicocitations.com/proverbes-dictons-tigre-php
https://even.lefigaro.fr/citations/mot.php?mot=tigre&p=2
https://citation-celebre.leparisien.fr