Hiển thị các bài đăng có nhãn Giả Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giả Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2025

Góc Đường Thi: Độ Tang Càn 渡桑乾 - Giả Đảo


Giả Đảo và bài thơ

Lại tiễn biệt, lại chia tay, nhưng không phải với người, cũng không phải với vật, mà là với ĐẤT... Đất là Đất Nước nơi mà ta đang cư trú, là Quê Hương, nơi chôn nhau cắt rốn, Quê Hương thứ hai, thứ ba... Nơi đã bảo bọc ta trong cuộc sống lưu vong xa rời Quê Cha Đất Tổ...
Xin kính mời tất cả cùng đọc và cùng dịch để thắm thía hơn nỗi niềm xa xứ với bài thơ sau đây :

渡桑乾                     Độ Tang Càn

客舍併州已十霜, Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương,
歸心日夜憶咸陽。 Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương.
無端更渡桑乾水, Vô đoan cánh độ Tang Càn Thủy,
卻望并州是故鄉。 Khước vọng Tinh Châu thị cố hương!
賈 島                       Giả Đảo

Chú Thích:
1. Khách Xá 客舍 : là Ở nơi đất khách. Xá : là chỗ trọ, là nhà ở.
2. Thập Sương 十霜 : Mười mùa sương giáng. Mỗi năm chỉ có một mùa sương giáng. Thập sương là mười năm.
3. Ức 憶 : là Nhớ. Hồi ức là Nhớ lại.
4. Vô Đoan 無端 : là Khi khổng khi không. là Tình cờ , là chuyện đến mà không có dự tính trước, ta nói là Bỗng Dưng.
5. Khước 卻; là Lại ,là Phó từ bổ nghĩa cho Động từ đi sau nó. Khước Vọng 卻望 : là Lại nhìn, lại ngắm.

Dịch nghĩa:

Qua sông Tang Càn

Ở trọ nơi đất khách là xứ Tinh Châu nầy đã mười năm nay, nhưng trong lòng ngày đêm luôn luôn nhớ về quê cũ là xứ Hàm Dương. Hôm nay, tình cờ lại phải đi qua sông Tang Càn để rời xa xứ Tinh Châu, thì lại cảm thấy quyến luyến nơi nầy, mặc dù thuyền đi đã xa rồi, nhưng vẫn còn trông ngóng về phía Tinh Châu như là trông ngóng về phía cố hương vậy !

Diễn nôm:

Tinh Châu đất khách mười năm trường,
Lòng vẫn nhớ về đất Hàm Dương.
Tang Càn nay lại sang sông nữa,
Trông ngóng Tinh Châu ngỡ cố hương!

Lục bát:

Mười năm quán khách Tinh Châu,
Lòng quê thường vẫn nhớ sầu Hàm Dương.
Tang Càn qua bến vấn vương,
Rời Tinh Châu ngỡ Hàm Dương dạo nào!

Xúc cảnh sinh tình, xin được cảm tác qua thực tế của cuộc sống định cư trên đất MỸ như sau:

Đất khách Ca-li mấy chục sương,
Việt Nam không lúc nhớ cùng thương!
Di cư nay lại qua Tết xát (Texas),
Rời đất Ca-li ngỡ cố hương!!!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

***
Sang Bến Tam Càn

Tinh Châu đất khách mười năm
Ngày đêm mãi nhớ âm thầm Hàm Dương
Tang Càn sang bến sầu vương
Rời Tinh Châu ngỡ cố hương thuở nào!

Kim Oanh

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

Độ Tang Càn 渡桑乾 - Giả Đảo

  


渡桑乾                     Độ Tang Càn

客舍併州已十霜, Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương,
歸心日夜憶咸陽。 Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương.
無端更渡桑乾水, Vô đoan cánh độ Tang Càn Thủy,
卻望并州是故鄉。 Khước vọng Tinh Châu thị cố hương!
賈 島                       Giả Đảo

Chú Thích:
1. Khách Xá 客舍 : là Ở nơi đất khách. Xá : là chỗ trọ, là nhà ở.
2. Thập Sương 十霜 : Mười mùa sương giáng. Mỗi năm chỉ có một mùa sương giáng. Thập sương là mười năm.
3. Ức 憶 : là Nhớ. Hồi ức là Nhớ lại.
4. Vô Đoan 無端 : là Khi khổng khi không. là Tình cờ , là chuyện đến mà không có dự tính trước, ta nói là Bỗng Dưng.
5. Khước 卻; là Lại ,là Phó từ bổ nghĩa cho Động từ đi sau nó. Khước Vọng 卻望 : là Lại nhìn, lại ngắm.

Dịch nghĩa:

Qua sông Tang Càn

Ở trọ nơi đất khách là xứ Tinh Châu nầy đã mười năm nay, nhưng trong lòng ngày đêm luôn luôn nhớ về quê cũ là xứ Hàm Dương. Hôm nay, tình cờ lại phải đi qua sông Tang Càn để rời xa xứ Tinh Châu, thì lại cảm thấy quyến luyến nơi nầy, mặc dù thuyền đi đã xa rồi, nhưng vẫn còn trông ngóng về phía Tinh Châu như là trông ngóng về phía cố hương vậy!

Diễn nôm:

Tinh Châu đất khách mười năm trường,
Lòng vẫn nhớ về đất Hàm Dương.
Tang Càn nay lại sang sông nữa,
Trông ngóng Tinh Châu ngỡ cố hương!

Lục bát:

Mười năm quán khách Tinh Châu,
Lòng quê thường vẫn nhớ sầu Hàm Dương.
Tang Càn qua bến vấn vương,
Rời Tinh Châu ngỡ Hàm Dương dạo nào!

Xúc cảnh sinh tình, xin được cảm tác qua thực tế của cuộc sống định cư trên đất MỸ như sau:

Đất khách Ca-li mấy chục sương,
Việt Nam không lúc nhớ cùng thương!
Di cư nay lại qua Tết xát (Texas),
Rời đất Ca-li ngỡ cố hương!!!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

***
Sang Bến Tang Càn

Tinh Châu đất khách mười năm
Ngày đêm mãi nhớ âm thầm Hàm Dương
Tang Càn sang bến sầu vương
Rời Tinh Châu ngỡ cố hương thuở nào!

Kim Oanh

***
Qua Sông Tang Càn

Tinh Châu lưu lạc những mười năm
Quê cũ Hàm Dương mãi luyến thầm
Xuôi bến Tang Càn rời đất khách
Tinh Châu ngoảnh lại lệ khôn cầm

Lục Bát:

Mười năm khách trọ Tinh Châu
Hàm Dương quê cũ dạ sầu vấn vương
Tang Càn bến nước xuôi đường
Dần xa ngoảnh lại ngỡ dường đấy quê

Kim Phượng

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

Đề Thi Hậu 題詩後 - Giả Đảo

 

題詩後  Đề Thi Hậu - Giả Đảo

Tóm tắt tiểu sử Giả Đảo 

Giả Đảo (賈島,779-843) hiệu Kiệt Thạch Sơn Nhân, là người Phạm Dương, tỉnh Hà Bắc (nay thuộc ngoại ô Bắc Kinh).
Thời trẻ, ông thi nhiều lần không đỗ, đi làm tăng tại Lạc Dương, pháp danh là Vô Bản. Sau đến kinh đô Trường An, ngụ tại chùa Thanh Long. Ở đấy, ông gặp được Hàn Dũ và nghe lời danh sĩ này hoàn tục.
Tác phẩm của ông để lại là Trường Giang tập, gồm 10 quyển.
Thơ Giả Đảo phần nhiều viết theo thể thơ ngũ ngôn luật thi và ông đã tỏ ra sởtrường về thể loại này.
Từ điển văn học (bộ mới) viết:
Đặc sắc của thơ Giả Đảo là lạ lùng, trầm tĩnh, ít có niềm vui và nỗi buồn bồng bột. Phong cách cô đơn hiu quạnh đó đã từng được một số nhà thơ cuối thời Đường rất chuộng. Do vậy họ tôn sùng ông, sớm chiều cúng bái ông như Phật và sau này phái Giang hồ cuối thời Tống cũng suy tôn Giả Đảo là ông Tổ.
Ông mất năm 64 tuổi, tại nơi làm quan ở Phổ Châu.

Lời Phi Lộ

Giả Đảo là người gọt văn, chọn chữ rất cẩn thận khi làm thơ.
Truyện kể rằng, trong một đêm trăng sáng, Giả đang đi dạo, ngắm phong cảnh, thấy chim chóc đậu ở mấy cành cây bên bờ ao, và một ông sư đứng trước cổng chùa, phân vân chưa biết nên gõ hay đẩy cửa. Trước cảnh ấy, Giả xuất thần làm 2 câu thơ
Điểu túc trì biên thụ,
Tăng THÔI nguyệt hạ môn.
(Chim đậu trên cây cạnh ao,
Sư ĐẨY cửa dưới trăng.)

Nhưng Giả phân vân không biết nên dùng chữ THÔI hay chữ XAO.
THÔI là đẩy. Ban đêm mà đẩy cửa thì có vẻ lén lút, không quang minh chính đại. XAO là gõ. Nếu gõ thì làm khuấy động không gian yên tĩnh rất nên thơ vàêm đềm.
Giả vừa đi vừa suy nghĩ, tay trái dắt lừa, tay phải hết đẩy lại gõ, vô tình đụng phải xe của Hàn Dũ, là một thi sĩ nổi tiếng, đang làm Kinh Triệu Doãn. Giả xin lỗi rồi trình bầy tự sự, Hàn khuyên Giả nên dùng chữ XAO. Và câu thứ 2 thành “Tăng XAO nguyệt hạ môn”.
Từ đó, THÔI, XAO trở nên thành ngữ để chỉ việc gò chữ khi viết văn, Vì gò chữ như vậy nên Giả làm thơ rất vất vả, và rất lâu, như bài thơ này:

Nguyên tác       Dịch âm
題詩後             Đề Thi Hậu

二句三年得     Nhị cú tam niên đắc,
一吟雙淚流     Nhất ngâm song lệ lưu.
知音如不賞     Tri âm như bất thưởng,
歸臥故山秋     Quy ngoạ cố sơn thu.
 
Dịch thơ:
Đề Sau Tập Thơ

Ba năm làm được hai câu,
Một lần ngâm, ứa dòng châu đôi hàng.
Tri âm nếu chẳng ngó ngàng,
Thì ta về khểnh thu vàng núi xưa.

Bát Sách
***
Dịch nghĩa
Đề sau tập thơ

Ba năm mới làm được hai câu,
Ngâm lên một tiếng, hai dòng lệ rơi không cầm được.
Người tri âm nếu không cùng hưởng,
Mùa thu sang ta về núi cũ nằm.

Dịch thơ
 
Đề sau tập thơ
Ba năm được hai câu,
Một ngâm hai dòng châu.
Tri âm mà chẳng thưởng,  
Về ngủ núi thu sầu.


Con Cò
***
Các Bài Thơ Dịch Khác:

Đề SauThơ

1- 
Ba năm chuốt mấy câu,
Ngâm vọng lệ rơi sầu,
Chẳng đẹp lòng tri kỷ,
Núi xưa thu ẩn sâu.

2-
Ba năm viết được vài câu,
Dưng dưng mắt lệ âu sầu lúc ngâm,
Nếu không đẹp ý tri âm.
Ta về núi cũ sơn lâm thu này.
 


Mỹ Ngọc
Oct. 26/2021.
***
Ba năm làm được đôi câu
Ngâm lên một chút lệ châu hai hàng
Bạn bè nếu chăng ngó ngàng
Đành về núi cũ thu sang nằm dài
 
LTĐQB
***
Không Còn Ai

Ba năm trau chuốt câu thơ
Tự ngâm tự cảm thẫn thờ lệ rơi
Tri âm chẳng một bóng người
Thu sang về với núi đồi tịch liêu
 
Aesthete

I spent three years to sharpen up two verses
As I recited them, tears welled up in my eyes
If there were no poetic soulmate for me
I'll retreat into the mountains


Yên Nhiên
***
Đề Sau Tập Thơ

1-
Hai đoạn ba năm được
Một ngâm song lệ rơi
Tri âm không thưởng thức
Về núi cũ thu ngơi!

2-
Ba năm làm được hai câu
Một ngâm lệ rỏ âu sầu sóng đôi
Tri âm nếu chẳng góp lời
Trở về núi cũ nằm ngơi thu vàng!

Lộc Bắc
***
Nguyên Tác:   Phiên Âm:     Dịch Thơ:

題詩後*-賈島 Đề Thi Hậu - Giả Đảo Tuyệt Cú

二句三年得 Nhị cú tam niên đắc     Hai câu mất ba năm,
一吟雙淚流 Nhất ngâm song lệ lưu Lệ tuôn tràn khi ngâm.
知音如不賞 Tri âm như bất thưởng Không bạn cùng thưởng thức,
歸臥故山秋 Quy ngọa cố sơn thu    Về quê sống âm thầm.

* Tựa bài thơ có một ghi chú được nói bên duới.

Sách Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩

--聖祖玄燁 có đăng bài Đề Thi Hậu như một bài tuyệt cú riêng lẻ, trong khi các sách Trường Giang Tập - Đường - Giả Đảo 長江集--賈島 (mộc bản bên trên), và các sách Nguyên, Tống, Minh, Thanh khác… đăng 4 câu thơ như một phần tập thơ, nên không thấy có tựa riêng. Tựa bài trong NĐTĐT có một ghi chú: Đảo ngâm thành “độc hành đàm để ảnh, sổ tức thụ biên thân” nhị cú hạ, chú thử nhất tuyệt” 島吟成獨行潭底影數息樹邊身二句下註此一絶 (Đảo ngâm hai câu “Đi một mình dưới đáy vực, đếm hơi thở bên thân cây", ghi chú này độc đáo). Hai câu thơ này trong bài Tống Vô Khả Thượng Nhân 送無可 上人 của Giả Đảo.

Có một điển tích khác nói vể sự khó khăn, cân nhắc chữ của Giả Đảo trong thơ.
Một ngày nọ, ông đang cưỡi lừa, đột nhiên nghĩ ra hai câu thơ: Điểu túc trì biên thụ, tăng xao nguyệt hạ môn (Chim ngủ trên cây bên hồ, sư gõ cửa dưới trăng) trong bài Đề Lý Ngưng U Cư 題李凝幽居.
Ngay từ đầu ông nghĩ dùng tăng thôi nguyệt hạ môn (sư đẩy cửa dưới trăng.)
Cảm thấy không hay, ông mới dùng chữ xao = gõ, dùng xao = gõ lại cảm thấy không bằng thôi = đẩy. Nghĩ tới nghĩ lui không quyết định được, liền quơ tay làm ra tư thế gõ gõ ở trên lưng con lừa. Vì quá say mê ý thơ, lừa của ông chạm vào đội thị vệ của Kinh Triệu Doãn Hàn Dũ. Bị bắt đưa gặp Hàn Dũ, ông trình bày chuyện mình đắc ý làm thơ lại có một chữ không định được. Hàn Dũ, cũng là một nhà thơ, suy tư một lúc lâu, rồi khuyên ông dùng chữ xao = gõ.
 
Chữ xao = gõ hay hơn chữ thôi= đẩy ra sao? Chữ xao = gõ khiến cho câu thơ trong tĩnh có động, trong động có tĩnh. Chúng ta có thể nghĩ về một bức tranh: một đêm trăng sáng, tất cả đều tĩnh mịch, bỗng nhiên vang lên một tiếng gõ cửa nhẹ nhàng, làm náo động những con chim đâu trên cây bên hồ. Tiếng động như vậy càng rõ ràng trong sự yên tĩnh của đêm.
 
Ghi chú:
Nhị cú: theo ghi chú trong tựa bài Đề Thi Hậu như nói trên, hai câu thơ: Độc hành đàm để ảnh, sổ tức thụ biên thân (Đi một mình dưới đáy vực, đếm hơi thở bên thân cây) 1ấy từ bài Tống Vô Khả Thượng Nhân 送無可上人 của Giả Đảo. Cũng có thể là hai câu Điểu túc trì biên thụ, tăng xao nguyệt hạ môn
(Chim ngủ trên cây bên hồ, sư gõ cửa dưới trăng) trong bài Đề Lý Ngưng U Cư 題李凝幽居.
Tri âm: người có hiểu biết sâu sắc và đánh giá chính xác; Bá Nha giỏi cổ cầm, Chung Tử Kỳ biết nghe đàn. Nghe tiếng đàn Bá Nha có ý chí ở vùng núi cao, Tử Kỳ liền nói nga nga hề nhược Thái sơn (chót vót như núi Thái sơn); tiếng đàn thanh thoát ý như nước chảy, Tử Kỳ nói dương dương hề nhược giang hà (mênh mang như nước sông Hà).
Quy ngọa: từ quan về quê
Cổ sơn: núi cũ, ẩn dụ cho quê hương
 
Dịch Nghĩa:
Đề Sau Tập Thơ


Mất ba năm làm hai câu thơ,
Ngâm lên nước mắt chảy hai dòng.
Không bạn tri âm thưởng lãm,
Sẽ trở về quê sống cho hết đời.

 
Inscribed in the Poetry Book by  Jia Dao
It took me three years to produce two verses
When reciting them, tears dropped from my eyes
If you, my soul friend, do not appreciate them
I will return to the mountain to sleep through autumn.
 
Inscription After a Poem by Jia Dao
I thought about these two lines for three years before writing them,
At first reading, hot tears could not be helped.
With no one who understands my thoughts and feelings to appreciate them,
I shall go back to my hometown in the mountains and live through my autumn years.

Phí Minh Tâm
***
Bài Cảm Tác:

 Thơ sao bón quá người ơi!
Nhớ tới tri kỷ một đời không quên
Sao duyên mình chẳng gặp hên!
Năm nay không gặp sẽ bèn về quê

Đồ Cóc
***
Góp ý:

知音如不賞 tri âm như bất thưởng
Như ta thấy trong các câu dịch qua Anh ngữ do cùng một người (Tàu) dịch (Jia Dao), có hai lối hiểu câu thơ thứ 3.
If you, my soul friend, do not appreciate them
With no one who understands my thoughts and felings to appreciate them
Lối hiểu và dịch nào đúng? Chữ =thưởng là một từ hài thanh, thuộc bộ 賞 =bối (vật quý) và có nghĩa nguyên thủy là quà tưởng lệ; về sau được dùng với các nghĩa ban thưởng, thưởng thức, ngợi khen. Người 知音=tri âm là người tâm đầu ý hiệp, hiểu lòng/ý ta, nên "bất thưởng" phải có nghĩa là 'không thấy hay', không buồn khen, và lối dịch thứ nhì không đúng.
***
歸臥故山秋  quy ngoạ cố sơn thu

Câu này càng không dễ hiểu vì chữ =thu. Người đời sau cương ẩu rằng là một từ hội ý, gồm hay chữ hòa và hỏa với nghĩa lúa chín trong mùa thu nhưng thật sự ra trong giáp cốt văn chữ cho thu vẽ hình một con dế và dế là biểu tượng của mùa thu (với người Tàu cổ); lối viết đổi đi từ thời tiểu triện và trên thẻ tre với bộ , có thể vì không còn ai biết chữ nguyên thủy, mặc dầu nó hiện diện trong kim văn. Ngoài nghĩa mùa thu, còn có các nghĩa năm, lúc, già cỗi, nhưng hiểu lối nào thì chữ cũng "tối nghĩa" trong câu 4! 

- 漢語多功能字庫  Hán Ngữ Đa Công Năng Tự Khố cho ta:「春秋歲嘗」.歲」,「嘗」皆是祭名。歲祭一年舉行一次,「嘗」是秋季 的祭祀.
“xuân thu tuế thường”. ‘tuế’, ‘thường’ giai thị tế danh. 'tuế' tế nhất niên cử hành nhất thứ, 'thường' thị thu quý đích tế. [lễ tế xuân thu. 'tuế' và 'thường' là tên (của lễ). Tuế {lễ đầu năm} cử hành mỗi năm một lần, thường là lễ nùa thu.]
Hai chữ =thường và =thưởng viết gần giống hệt nhau và phát âm tựa nhau.
Có phải chăng Giả Đảo nghĩ đến các âm thường/thưởng khi viết thu? Thôi thì nếu bạn tri âm không khen hai câu thơ thì ta về núi thưởng thức mình ta vậy.

Huỳnh Kim Giám


Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2016

Xuân Hành 春行 - Giả Đảo

Nói đến Hành, trong thơ xưa, thường là một loại thơ, tự sự, trữ tình, tự do, gần như nghĩ sao viết vậy, phóng túng, ít chịu gò bó theo một thể luật nhất định. Như, Đoản Ca Hành của Tào Tháo "Đối tửu đương ca/ nhân sinh kỷ hà / thí như triêu lộ / khứ nhật khổ đa ..." (Trước rượu nghêu ngao / đời người bao lâu / như giọt sương mai / ngày qua khổ nhiều...).Như,Trường Can Hành của Lý Bạch :"Thiếp phát sơ phú ngạch / Chiết hoa môn tiền kịch / Lang kỵ trúc mã lai / Nhiễu sàng lộng thanh mai "(Tuổi thiếp tóc vừa xòa trước trán / đang chơi bẻ hoa đóng tuồng trước nhà / Chàng cỡi ngựa tre ngang qua / Nghịch ném mơ xanh vào đầy giường thiếp). Như, Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị: "Tầm Dương giang đầu dạ tống khách / phong diệp địch hoa thu sắt sắt/ chủ nhân há mã khách tại thuyền/ cử tửu dục ẩm vô quản huyền..." (mà Cụ Phan Huy Vịnh đã chuyển dịch là "Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách /quạnh hơi thu lau lách đìu hiu/ người xuống ngựa khách dừng chèo/ chén quỳnh mong cạn sớm chiều trúc ty ). Bài Xuân Hành của Giả Đảo đã là một trường hợp hiếm thấy, là một bài hành hay,thanh thoát mà sâu lắng, được viết trong khuôn khổ một bài thơ Đường ngũ ngôn bát cú, cách luật nghiêm chỉnh! Tác giả thật không hổ danh được người đời truyền tụng là một nhà thơ "nhị cú tam niên đắc" (phải mất 3 năm mới làm được 2 câu thơ vừa ý). Ngày xuân đôi lời dông dài cho vui, xin được chia xẻ điều thú vị này với mọi người yêu chuộng thơ xưa. PKT 04/05/2016




Xuân Hành - Giả Đảo (793 - 865)

Khứ khứ hành nhân viễn 
Trần tuỳ mã bất cùng
Lữ tình tà nhật hậu
Xuân sắc tảo yên trung
Lưu thuỷ xuyên không quán
Nhàn hoa phát cố cung
Cựu hương thiên lý tứ
Trì thượng lục dương phong

Dịch Xuôi: Xuân Hành


Người đi là đi mãi / bụi đường mòn vó ngựa / tình lữ chiều nắng tắt / thoáng xuân trong sương mai / suối chảy qua quán trống vắng / hoa trôi từ cung xưa nào / nhớ về quê cũ giờ xa xôi quá / liễu xanh rủ bên hồ gió động lao xao. 

Dịch Thơ

Xuân Hành
(1) Hai bài ngũ ngôn cổ thể tháng 12 năm 2007

Bài 1/
Người đi còn mê mải
Quên ngựa lấm bụi đường
Chiều gợi sầu lữ thứ
Thoáng xuân buồn trong sương
Suối trôi bên quán trống
Hoa lạc từ trời nao
Quê xưa giờ xa quá
Liễu hồ xanh lao xao. 

Bài 2/

Ra đi rồi đi mãi
Ngưa quen bụi đường xa
Chiều dậy sầu lữ thứ
Sương xuân buông nhạt nhòa
Quán vắng buồn soi nước
Tình ai theo hoa trôi
Quê trùng trùng cách trở
Gió liễu hồ chơi vơi 


(2) Bài đường luật ngũ ngôn bát cũ tháng 4 năm 2016

Một đi là mãi mãi
Bụi nản ngựa đường xa.
Chiều nắng tàn vương vấn
Sáng sương xuân nhạt nhòa.
Suối buồn qua quán trống
Hoa lạc nhớ cung xưa.
Quê cũ ngàn trùng cách
Liễu hồ gió nhẹ đưa.


Phạm Khắc Trí
***
Đi Đi Xuân Ơi!


Người đi xa xa mãi,
Dặm hồng ngựa mỏi mòn.
Bóng chiều nghiêng ngã xế,
Sương mờ sáng xuân non.
Suối buồn bên quán vắng,
Cổ cung hoa héo hon.
Nẻo về đâu quê cũ,
Liễu soi hồ gió hôn!


Mai Xuân Thanh dịch
Ngày 05 tháng 04 năm 2016
***
春行 Xuân Hành


去去行人遠, Khứ khứ hành nhân viễn,
塵隨馬不窮。 Trần tuỳ mã bất cùng.
旅情斜日後, Lữ tình tà nhật hậu,
春色早煙中。 Xuân sắc tảo yên trung
流水穿空館, Lưu thuỷ xuyên không quán,
閑花發故宮。 Nhàn hoa phát cố cung.
舊鄉千里思, Cựu hương thiên lý tứ,
池上綠楊風。 Trì thượng lục dương phong.

賈島                 Giả Đảo

***
Xuân Hành

Người sao lại mãi đi xa

Bụi đường theo vó ngựa qua mịt mùng
Khách buồn chiều xuống mông lung
Màu xuân lạc giữa một vùng sương mai
Nước bên quán vắng xuôi dài
Hoa sầu cung cũ sắc phai hương tàn
Nhớ quê xa lắc dậm đàng
Bên hồ dương liễu ngỡ ngàng gió xuân.

Quên Đi dịch
***

Xuân Hành 

Người đi đi miệt mài xa
Dặm đường vó ngựa vụt qua bụi mù
Sầu lòng chiều nhạt âm u
Thoáng xuân bao phủ một vùng sương mai
Suối buồn quán vắng lắc lay
Cung xưa hiu hắt đọa đày đời hoa
Nghìn trùng nhung nhớ quê nhà
Xuân đi liễu rũ gió sa lệ hồ 

Kim Oanh dịch
***
Xuân Hành

Sao người cứ mãi xa đi
Ngựa mòn chân sải bụi thì mù bay
Bâng khuâng dạ khách cuối ngày
Sắc xuân phủ khói u hoài mùa sang
Nước vòng quán vắng xuôi ngàn
Hương phai cung cũ hoa tàn úa hoa
Nhớ thương nghìn dặm quê nhà
Bờ ao xanh liễu la đà gió đưa

Kim Phượng dịch
***
Xuân Hành

Người đi đi bên trời lủi thủi
Vó câu dồn cuốn bụi trần gian
Chiều về lòng khách miên man,
Sớm mai xuân sắc sương lan khói lồng
Ngang quán vắng một dòng suối nhỏ
Cố cung buồn hoa nở nhàn an.
Lòng quê da diết dặm ngàn,
Bên hồ liễu biếc mơ màng phất phơ 

Mailoc phỏng dịch
***
Tản Mạn Xuân

Người đã ra đi là mãi mãi
Bụi mòn vó ngựa quãng đường xa
Nắng tàn vương vấn chiều buông xuống
Sương sớm nhạt nhoà xuân thoáng qua
Suối chảy miên man bên quán vắng
Hoa trôi lờ lững tự cung xa
Đường về quê cũ xa vời vợi
Gió nhẹ đưa cành liễu thướt tha.

Phương Hà phỏng dịch