Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

Giọt Lệ Ăn Năn - Nhạc&Lời Vũ Lương Đúng (VLTP) - Thanh Sử Hát


Nhạc&lời:Vũ Lương Đúng (VLTP)
Tiếng Hát: Thanh Sử  

Lẽ Thật Là Đây

 

Điều báo năm xưa nay hiện nguyên 
Những chi ngôn sứ đã loan truyền 
Công trình cứu độ như từng hứa 
Sự việc phục sinh thật hiển nhiên
Chúa dạy tông đồ đi khắp cõi 
Ban Lời Hằng Sống giúp đàn chiên 
Hiểu ra sai trái mà đền tội 
Hầu được nghỉ an vời tổ tiên. 

Thái Huy 
4/14/24

Dấu Chân Kỷ Niệm - Nhạc Sĩ:Thúc Đăng

  

Dấu Chân Kỷ Niệm

Chuyện tình đôi mươi chan chứa không bao giờ vơi
Như dòng suối tình êm ái
Có anh và em còn ai còn ai nữa
Đã yêu nhau trong cuộc đời
Chuyện mình từ một chiều dừng chân trú mưa
Ta bên nhau nhìn công viên lá đổ
Tuy chưa quen mà sao tình như đã,
dẫu ngoài còn e.

Trời làm mưa tuôn nên khiến xui anh gặp em
Cho mình kết lời hẹn ước
Cớ sao trời cho tình yêu rồi ngăn cách
Mấy ai không rơi lệ sầu
Tình vừa nồng thì vừa được tin xót thương
Em ra đi về bên kia cõi đời
Xe tang lăn buồn trong lòng phố vắng,
khóc em âm thầm...

Ôi! Em về đâu?
Vùi lấp mối duyên đầu
Anh ơi còn đâu?
Tuổi xuân mình đang chớm
Nay em về đâu?
Về thế giới xa nào?
Cho đời hiu hắt như nghĩa trang

Một mình lê bước anh đến công viên ngày xưa
Nghe làn gió buồn xao xác
Ngỡ linh hồn em tựa theo ngàn cơn gió
oán than khóc duyên ban đầu
Nầy là vườn kỷ niệm ngày ta mới quen,
Đây công viên chiều xưa thêu mối tình,
Nay không em vườn hoang buồn xơ xác,
nghĩa trang lạnh lùng...

Tác giả: Thúc Đăng

***
Cảm tác

Giọt Lệ Cho Tình Yêu

 

Tình đôi mươi muôn đời chan chứa
Không hề vơi như suối êm trôi
là chuyện tình lứa đôi trọn kiếp
Đã đam mê suốt cả cuộc đời

Chuyện khởi từ buổi chiều mưa đó
Ta dừng bên ghế đá công viên
nhìn lá đổ thầm nghe tình nở
trong đoi tim, nhưng cố thản nhiên

Trời đổ mưa khiến ta gặp gỡ
Cho mình lời hẹn ước trao nhau
Nhưng Trời lại cách ngăn vô cớ
Khôn cầm dòng nước mắt thương đau

Tình vừa nồng bỗng anh ngơ ngác
Em đã về thế giới hoang vu
Chiếc xe tang buồn trong phố vắng
Vườn năm xưa khỏa lấp mây mù

Em về đâu? Vùi lấp mối duyên
Còn đâu nữa tuổi xuân đang chớm
Em đã về một góc trời riêng
Đời hiu hắt như trong nghĩa địa

Một mình lê bước đến công viên
gió buồn xao xác nỗi niêm riêng
Anh ngỡ linh hồn em theo gió
Than khóc vì ta không có duyên

Vườn kỷ niệm ngày nao quen biết,
Đây công viên chắp cánh Uyên ương
Nay không em nên vườn xơ xác,
một cõi buồn hoang vắng thê lương

Đèo Văn Trấn
Iowa, USA 7/27/2024



Không Đành Giận Nhau

 

Không trời không đất không ta
Không không mấy kiếp cũng là không không
Buồn chi thân thế long đong
Buồn chi duyên nợ bềnh bồng bèo mây

Vẫy chào bóng cỏ bóng cây
Bóng hoa hình bướm hao gầy hồn quê
Bơ vơ gió gọi hương về
Cho thơm chờ đợi cho mê hẹn hò

Cần chi trốn chạy quanh co
Ba sinh hương lửa gọi đò sắc không
Vụng tu lòng thẹn với lòng
Mười năm thơ mộng môi hồng mắt xanh

Từ hương khói lạnh vắng tanh
Từ dang dở nhớ không đành giận nhau
Đất bồi lấp bể chiêm bao
Gọi tên bỗng thấy hồn đau nhang tàn

Buồn vui nào lỡ vương mang
Xin cho gửi lại thế gian ân tình ...

MD.09/27/07
LuânTâm


Montreal Phố Lên Đèn

 

( Cảm tác hình Montreal về đêm)

Yêu Montreal phố lên đèn
Trong mơ hồ tưởng đêm Sài Gòn
Có người thích đi tìm quá khứ
Trên phố lạ thấy hình ảnh quen.

Yêu Montreal phố lên đèn
Những ô cửa kính sáng bừng lên
Building cao tầng khoe rực rỡ
Nghe gió ru mình kể chuyện đêm.

Hè phố thênh thang chờ bước ta
Montreal hay Sài Gòn xưa
Sự sống khi màn đêm buông xuống
Đêm của tìm nhau của đợi chờ.

Xe cộ chạy trên đại lộ dài
Ai sẽ buồn vui trong đêm này
Vào quán bar làm ly rượu nhé
Tìm thi vị đời trong men cay.

Tiếng nhạc du dương, nhạc không lời
Dư âm quyến rũ những gọi mời
Ai sầu đơn lẻ, ai lãng tử
Mở cửa trái tim mình có đôi.

Yêu Montreal phố lên đèn
Những cửa hàng hào nhoáng đẹp sang
Những con người tìm vui nhân thế
Kề vai dạo bước cùng lang thang.

Đêm Sài Gòn. Đêm Montreal
Rượu cạn, lời buông, sầu chưa tan
Những bước chân vui giờ đã mỏi
Về đi, đường khuya đêm trắng đêm.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( June 30- 2024)

Niềm Vui Người Hạnh Phúc Ta




Đây là bài số bảy trăm mười bốn (714) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.
“Không ai dạy được bạn về cách sống hạnh phúc trong hôn nhân, bạn hãy tự học lấy” nhé!

Không phải chúng ta chỉ mong cầu chúng ta sẽ được hạnh phúc trong hôn nhân mà thôi mà chúng ta còn mong ước cuộc đời của ta luôn luôn được hạnh phúc nữa đấy!

Nhưng thế nào là hạnh phúc? Cũng như danh từ “Tình Yêu” rất khó giải thích cho đúng nghĩa “làm sao cắt nghĩa được tình yêu” như đã nói ở trên, danh từ “Hạnh Phúc” cũng trừu tượng, mơ hồ đến nỗi có người phải thốt:
“Hạnh phúc là điều gì đó quá đỗi mơ hồ mà ta buộc phải mơ đến nó”.
Comte De Bellege

Hạnh phúc thật là khó cắt nghĩa quá, phải không bạn?

Hạnh phúc khi ẩn khi hiện, khi có khi không tùy theo quan điểm, cách nhìn của mỗi người về hạnh phúc, tùy theo hoàn cảnh sống của mỗi người vì chưa hẳn người giàu ở nhà cao cửa rộng là người có hạnh phúc và cũng chưa chắc người nghèo ở nhà tranh vách lá là người không có hạnh phúc, bạn nhỉ?.

Nhiều cuộc khảo cứu cho thấy rằng: “Những người không hạnh phúc là những người thường lo nghĩ, luôn bất đồng và không chấp nhận ý kiến của người khác. Người có hạnh phúc là người dễ hòa đồng với mọi người chung quanh, có thể chấp nhận những điểm bất đồng một cách dễ dàng, uyển chuyển, có lòng thương yêu và tha thứ.”

Cũng có thể những người không có hạnh phúc là những người thích so sánh với người khác những gì mình đã có với những gì mình muốn có và luôn luôn đuổi bắt những gì mình muốn có. Ví dụ như chúng ta không bằng lòng với ngôi nhà chúng ta đang ở, cái xe chúng ta đang đi vì người bạn của ta mới mua một căn nhà to đẹp hơn cái nhà ta đang ở, đi xe Mercedes sang trọng hơn cái xe Honda ta đang đi trong khi khả năng tài chánh của mình không thể thoả mãn ước muốn mua nhà lớn xe đẹp được!

Thế là chúng ta buồn bực, thế là chúng ta đau khổ!

Bạn có đồng ý với tôi chăng: Có những ước muốn có thể làm thăng hoa cuộc sống nhưng cũng có những ước muốn quá sức, không chính đáng làm mất đi hạnh phúc gia đình mà mình đang có vì ước muốn thì vô giới hạn, không có điểm dừng?

Nhà Phật gọi những sự so sánh đó, những ước muốn đó là những “phiền não”. Nếu ta bớt đi được những phiền não đó thì ta sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn.

Hãy cảm thấy hạnh phúc với những gì mình đang có trong tầm tay và tự nhủ rằng: “Những người ở nhà to, đi xe đẹp kia có thể là những người đang mắc nợ như “Chúa Chổm”, nếu mất việc thì họ sẽ mất nhà mất xe ngay.”
Sự thật trong tình hình kinh tế suy thoái hiện tại đã chứng minh điều này là đúng vì không thiếu gì nhiều chủ nhà to, biệt thự lớn đã trở thành dân “homeless” vì bị thất nghiệp. Vậy bạn hãy cùng tôi vui sướng đi khi bạn và tôi còn đang còn ở trong ngôi nhà nhỏ bé nhưng ấm cúng hiện tại, bạn nhé!

Ngoài hạnh phúc vật chất, còn có những niềm vui hạnh phúc tinh thần khi chúng ta làm được việc thiện lành theo lời dạy của các đấng cha lành Phật, Chúa.

Người viết có phúc duyên được quen biết Thầy Thích Tánh Tuệ qua thơ văn vì tôi rất thích những bài thơ của Thầy tuy đơn sơ, giản dị, nhưng lời thơ của Thầy đi sâu vào trái tim của Bạn, của tôi khiến cho Bạn và tôi sống an nhiên, tĩnh lặng và biết làm chuyện thiện lành qua các phật sự đầy tình nhân ái của Thầy: giúp đỡ những người nghèo khổ ở Việt Nam, ở Ấn Độ, xây giếng giúp người nghèo ở Ấn Độ v...v..

Mời Bạn đọc bài thơ đầy tình nhân ái của Thầy Tánh Tuệ dưới đây:
Sống đời ý nghĩa

Hãy giúp đỡ đi nếu có thể
Đừng nề hà cân nhắc thiệt hơn
Cũng đừng mong ai đó trả ơn
Đời ý nghĩa khi làm thiện nguyện

Hãy cứ cho đi đừng tiếc rẻ
Mai ta về chẳng thể mang theo
Thế gian biết bao kẻ khó nghèo...
Đời ý nghĩa là khi cống hiến

Hãy cứ thương đi dù ai ghét
Dù ai ganh bôi bác thị phi
Thói đời vẫn vậy chấp mà chi
Đời ý nghĩa là khi tha thứ

Hãy chia nhau những gì mình biết
Đừng khư khư ích kỷ giữ riêng
Mai chết đi sẽ bị thất truyền
Đời ý nghĩa là khi chia sẻ...
(Như Nhiên Thích Tánh Tuệ)

Kính tri ân Thầy Thích Tánh Tuệ.
Qua lời giới thiệu của Thầy Thích Tánh Tuệ, người viết và các thân hữu được gieo duyên góp bàn tay nhỏ bé của mình với Nhóm Hành Thiện của anh Nguyễn Huy Điền và các thiện nguyện viên giúp đỡ cô nhi, người già neo đơn,trẻ em bị ung thư bại não, thương phế binh VNCH v..v... Nhóm Hành Thiện chỉ là một nhóm nhỏ, không khoa trương rầm rộ, nhưng làm việc thiện nguyện rất tận tâm, nhanh chóng, tiền được trao tận tay người nhận, có chụp ảnh xác nhận rõ ràng. Xin cảm ơn Nhóm Hành Thiện nhé.

Bên cạnh đó, người viết cũng được góp phần công đức với các Phật tử Bửu Hưng Tu Viện xây giếng nước, xây nhà tình thương, giúp mổ mắt, giúp người nghèo ở Việt Nam. Vui thay! Lành thay!

Kính tri ân Sư Cô Huệ Hương và cảm ơn Nhóm cựu nữ sinh trường nữ trung học Lê Văn Duyệt đã thực hiện thiện sự này.

Tâm tình hôm nay của người viết chỉ muốn nói lên một việc: "Khi làm được những chuyện thiện lành đó, chắc hẳn Bạn và tôi sẽ thấy hạnh phúc vô cùng khi đã đem được niềm vui đến những người nghèo khổ ở Việt Nam vì "hạnh phúc nhận về là khi biết cho đi". Bạn đồng ý chứ? Cảm ơn các thân hữu đồng cảm với người viết. Tôi xin đa tạ.


Người viết cũng xin được chia sẻ quan niệm về Hạnh Phúc qua bài thơ "Hạnh Phúc Ở Nơi Đâu", xin mời Bạn đọc để làm kết luận cho bài tâm tình của người viết hôm nay. Xin cảm ơn Bạn nhé.

Hạnh Phúc ở Nơi Đâu

Thật không thể bảo đấy là Hạnh Phúc
Khi con người sống lừa dối lẫn nhau,
Lúc ghét nhau, vẫn phải ...cố cười chào
Dẫu yêu lắm, vẫn chối rằng ... chưa có

Con người mãi vẫn có điều chưa rõ
Những nhiệm mầu của xúc cảm con tim
Nên con người vẫn cứ mãi kiếm tìm
Định nghĩa của Tình Yêu và Hạnh Phúc

Rất giản dị, rất tầm thường ...Hạnh Phúc
Là tiếng cười, là lời nói trẻ thơ
Được gặp nhau, sau bao phút đợi chờ
Được ôm ấp trong vòng tay cha mẹ

Hạnh phúc đến trong an vui, mạnh khỏe
Từ tinh thần, thể chất, đến tâm linh,
Khi trái tim xúc động thật chân tình
Những tình cảm của vui, buồn, yêu, giận

Khi buồn khổ, cứ để dòng lệ ngấn
Lúc mừng vui, hãy nở nụ cười tươi
Đối với tôi: Hạnh Phúc của con người
" Là giây phút sống thật cùng cảm xúc !"

Đừng tìm mãi nơi đâu là Hạnh Phúc
Có thể gần, cũng có thể thật xa
Xa hay gần là ở tại Tâm ta
Ta cảm nhận thế nào là thế đó!
(Sương Lam)

Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 714-ORTB 1143- 52924)

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

10 Ca Khúc - Thơ: Hồng Thuỷ - Phổ Nhạc: Nhạc Nguyễn Ánh 9,Nhật Bằng, Vĩnh Điện,Văn Sơn Trường, Nguyễn Tuấn



Thơ: Hồng Thuỷ
Phổ Nhạc:Nguyễn Ánh 9, Nhật Bằng, Vĩnh 
                  Điện,Văn Sơn Trường, Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Nhiều Ca Sĩ 
Thực Hiện: Lê Tuấn.

TìnhTa(4)

 

Anh nào muốn ... tình mình chia đôi ngã
Để đêm về trống vắng nỗi cô liêu
Tình xa bay, niềm đau xót thật nhiều
Cho anh thấy, tình yêu giờ tan vỡ

Anh nào muốn ... tình như khung cửa nhỏ
Khép kín hoài, chẳng hé mở yêu đương
Để tình duyên cách trở chia đôi đường
Rồi oán trách, tình yêu là thế đó!

Anh nào muốn ... tình yêu là đau khổ
Trái tim này dành sẵn chỉ riêng em
Anh ước mơ một cuộc sống êm đềm
Bên em mãi, chẳng bao giờ xa cách

Anh nào muốn ... làm thân đời lữ khách
Để cách xa ôm nỗi nhớ khôn rời
Để tháng ngày, lòng vương vấn khôn nguôi
Em sẽ hiểu ... ngày nào em sẽ hiểu

Nguyễn Vạn Thắng

Gửi Về Nguyễn Phan Ngọc An



Mến gửi về Nguyễn Phan Ngọc An

Nơi Bắc Cali đẹp nắng vàng
Thăm nàng thi sĩ giàu tình cảm
Thơ rót ngọt ngào quá chứa chan
Thương chị vương vào bệnh trầm kha
Nỗi đau tử biệt thật xót xa
Vô thường biến chuyển theo sinh diệt
Mong chị hết buồn gắng vượt qua
Nhớ tới biển xanh với nắng hè
Thu vàng lá đỏ lắm mộng mơ
Đông về tuyết trắng rơi ngoài cửa
Xuân đến ong đùa bướm với hoa
Tâm sự đưa vào những vần thơ
Để vơi phiền muộn bớt bơ vơ
Tình thân văn hữu cầu chúc chị
Phục hồi sức khỏe đẹp hơn xưa

Việt-Chỉnh


Tu Es Irremplaçable(Michel Quoist)-Không Ai Có Thể Thay Thế Bạn Được... (Thái Lan Dịch)


Tu Es Irremplaçable

Si la note disait: ce n'est pas une note qui fait une musique... il n'y aurait pas de symphonie.
Si le mot disait: ce n'est pas un mot qui fait une page... il n'y aurait pas de livre.
Si la pierre disait : ce n'est pas une pierre qui peut monter un mur... il n'y aurait ni maison, ni église ni
cathédrale.
Si la goutte disait : ce n'est pas une goutte d'eau qui peut faire une
rivière... il n'y aurait pas d'océan.
Si le grain de blé disait: ce n'est pas un grain de blé qui peut ensemencer un champ... il n'y aurait pas de moisson.
Si l'homme disait : ce n'est pas un geste d'amour qui peut sauver l'humanité... il n'y aurait jamais de justice et de paix, de dignité et de bonheur sur la terre des hommes.
Comme la symphonie a besoin de chaque note,
Comme le livre a besoin de chaque mot,
Comme la maison a besoin de chaque pierre,
Comme l'océan a besoin de chaque goutte d'eau,
Comme le moissoneur a besoin de chaque grain de blé, l'humanité tout entière a besoin de toi, là où tu es.
Et on pourrait ajouter : là comme tu es, avec ta joie, ton espérance, ta souffrance, ta misère, ta vieillesse.
L'humanité toute entière a besoin de toi, car tu es unique.
Aimé de Dieu et donc
IRREMPLAÇABLE.

Michel Quoist

***
Bài Dịch:

Không Ai Có Thể Thay Thế Bạn Được... 

Nếu như nốt nhạc nói rằng: một nốt nhạc sẽ không làm được âm nhạc...thì sẽ chẳng có bản giao hưởng nào.
Nếu như từ ngữ nói: một từ ngữ sẽ không làm nên trang thơ văn... thì sẽ chẳng có sách báo nào.
Nếu như phiến đá cho rằng: chỉ một phiến đá sẽ không xây được bức tường... thì sẽ chẳng có được nhà cửa, nhà thờ, cũng chẳng có giáo đường
Nếu như giọt nước nói rằng: chỉ một giọt nước sẽ không làm được con sông... thi đại dương sẽ không hiện hữu.
Nếu như hạt lúa nói rằng: chỉ một hạt lúa sẽ không thể nào gieo hạt cho cánh đồng... thì sẽ chẳng có mùa gặt.
Nếu con người nói rằng: chỉ một hành động yêu thương sẽ không thể nào cứu vãn nhân loại... thì sẽ không bao giờ có công lý và hòa bình,

Bởi vì bài giao hưởng rất cần từng nốt nhạc để thành hình,
Vì cuốn sách, thư tịch cần mỗi từ ngữ,
Vì ngôi nhà thì cần từng viên đá,
Vì đại dương thì cần đến từng giọt nước,
Vì người thợ gặt thì cần từng hạt thóc,
Toàn nhân loại khắp nơi rất cần đến bạn, bất kể bạn đang ở nơi chốn nao.

Và ta còn có thể ghi thêm: nơi đó, với con người của bạn,
Với niềm vui, lòng hy vọng, nỗi đau, nỗi thống khổ, tuổi xế chiều của bạn,
Toàn nhân loại khắp nơi đang cần đến bạn, vì bạn là duy nhất.
Bạn được Thượng Đế yêu thương, vì vậy nên 
KHÔNG AI CÓ THỂ THAY THẾ BẠN ĐƯỢC.

Thái Lan Dịch




Hạnh Đầu Đà


- Ông Xã ơi, cho em hỏi chuyện này coi
- Nhờ người ta thì nói nghe ngọt xớt, còn đụng chuyện thì giũa te tua. Chuyện gì? Em làm như tui Bát Đại Tinh Thâm vậy.
- Thôi mà, em hỏi nè, mấy tháng nay, vụ sư Minh Tuệ đăng đầy trên youtube, có nhiều cái không hiểu anh giải thích dùm nghen.
- Không hiểu gì hỏi đi, không biết anh giải đáp được hông đây
- Có một số vị thượng toạ, chủ trì các chùa nói sư Minh Tuệ không phải là tu sĩ, đọc được bao nhiêu Kinh kệ, hiểu bao nhiêu Phật Pháp, đúng là Ba trợn ôm nồi cơm điện đi xin ăn khắp nơi... rồi nào là 13 Hạnh Đầu Đà, nào là Y phấn tảo...
- À hên quá, cái này thì anh biết chút chút, nhưng cũng phải coi lại vì có nhiều chi tiết không nhớ, hẹn tối nghen.
Sau đó tôi vào mạng, dựa vào một ít hiểu biết cộng với một số thông tin trên mạng để thoả mãn những thắc mắc của Bà Xã.

1- Y Phấn Tảo (衣 粉 掃)

- Chiếc áo của tu sĩ tu theo Hạnh Đầu Đà, gồm những mảnh vải vụn bị bỏ đi, được các vị thu lượm trên đường đi khất thực, kết nối lại thành tấm áo để mặc..
- Có phải là áo ngũ sắc không?
- Không phải. Do áo được may bằng những mảnh vải lượm bất kỳ, nên Y Phấn Tảo sẽ có nhiều màu sắc có thể chỉ 2-3 hoặc nhiều hơn, chứ không chỉ 5 màu.

2- Hạnh Đầu Đà

Có nhiều người cho rằng tu theo Hạnh Đầu Đà là tu khổ hạnh hành thể xác. Điều này không đúng lắm, mặc dù hai từ Đầu Đà có nghĩa khổ cực khó khăn. Muốn tìm hiểu phép tu này khá dài dòng. Trước hết phải tìm ra nguồn cội.
Trước khi Phật Giáo xuất hiện, tiểu lục địa Ấn Độ có giáo phái Bà La Môn thống trị. Do đó, Giáo lý của Phật Giáo và Bà La Môn có một số quan điểm tương đồng. Trong đó điều quan trọng nhất chính là Giải Thoát
Theo Bà La Môn có 3 con đường chính để đạt đến giải thoát, trong đó có con đường tu khổ hạnh cực đoan giống như hành xác vậy.

Còn theo Đức Thế Tôn (Thích Ca Mâu Ni) Tôn chỉ của Phật Giáo là theo Trung Đạo. Trung Đạo mà Thế Tôn truyền dạy là ở giữa 2 cực: tu theo Khổ nhục và tu dựa theo Lạc thú (thụ hưởng vật chất khi tu niệm). Điều này thấy hơi giống đạo Trung Dung trong Nho Giáo
Đức Thế Tôn từng bảo:

“Này Ca Diếp, ‘ tất cả có’ là một cực đoan. ‘tất cả không có’ là một cực đoan khác. Này Ca Diếp, ở giữa hai cực đoan này là trung đạo, bởi vì đây là một sự nhận thức đúng đắn về sự vật…”
"Này Ca Diếp, ‘ngã (bản thể luôn tồn tại vĩnh viễn trong mỗi người)’ là một cực đoan. ‘Không có ngã' là một cực đoan khác. Ở giữa hai cực đoan này là quan điểm Trung đạo mà nó không hình tướng, không biểu lộ, không chống đỡ, không thực thể, không ký hiệu và không khái niệm. Này Ca Diếp, đây được gọi là trung đạo, sự nhận thức đúng đắn về các sự vật.
Theo quan niệm thời bấy giờ, tu là phải thật khổ thì mới đắc đạo. Vì vậy, ngài đã bỏ ra năm năm tầm sư học đạo, sáu năm khổ hạnh rừng già, thực tập tất cả các phương pháp tu khổ hạnh: Hành thân hoại thể, phơi nắng, phơi sương, Có ngày ăn chỉ một hạt đậu hoặc một hạt mè, có khi nhịn đói,... đến mức thân thể tiều tụy, thậm chí suýt chết.

Lúc ấy, Ngài giác ngộ ra rằng, tu khổ hạnh cực đoan không đem lại lợi ích, và từ bỏ lối tu khổ hạnh cực đoan, quay trở về tu tập theo con đường trung đạo, tức là nuôi dưỡng thân này có đủ sức khỏe để hành các Pháp.
Cuối cùng, Ngài thành tựu đạo quả nhờ Pháp tu Trung đạo này. Từ đó, Đức Phật đã hướng dẫn Tăng đoàn thực hành pháp tu Trung Đạo, trong đó có pháp tu Hạnh Đầu Đà.

Trong hàng đệ tử Phật, tuy có nhiều tăng tu theo Hạnh Đầu Đà, nhưng chỉ có Đại Tôn Giả Ca Diếp là người đầu tiên thực hiện đầy đủ pháp tu Hạnh Đầu Đà. Tôn giả Đại Ca-Diếp đã trọn đời giữ hạnh đầu-đà. Dù rằng, lúc tuổi cao sức yếu, đạo giải thoát đã viên mãn, và chính Như Lai có lời khuyên “nên bỏ hạnh khất thực, cho đến các hạnh đầu-đà khác, mà nên nhận lời mời của các trưởng giả và nhận y áo” nhưng Tôn giả vẫn giữ vững công hạnh. Một phần vì Tôn giả vốn đã quen với hạnh đầu-đà, nhưng quan trọng hơn, có lẽ Tôn giả ngầm gửi một lời nhắn nhủ sâu xa đến hàng hậu thế chúng ta hiện nay.

Từ đó, Thế Tôn đã xác định một cách chắc chắn với chúng đệ tử:
Nếu Hạnh Đầu Đà này được ở đời thì pháp của Ta cũng sẽ được lâu dài ở đời. Nếu có pháp ở đời, thì thiên đạo tăng thêm, ba đường ác liền giảm (Lời nói này rất đúng với hiện tại. Khi sư Minh Tuệ xuất hiện thì những Giả Tăng, Ma Tăng dần lộ diện và bị chúng Phật Tử rời xa). Này các Tỳ-kheo, hãy học như Ca-diếp tu tập.

Như vậy, các Tỳ-kheo, nên học điều này.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
Theo các Tài liệu ghi chép Hạnh Đầu-đà (Dhuta), là hạnh tu khắc khổ để dứt bỏ các tham dục. Có 12 Hạnh Đầu Đà (có nơi ghi 13 do tách Khất Thực thành 2 Hạnh) :

12 Hạnh Đầu Đà:

1- Y phục làm bằng những mảnh vải rách. 
2-Chỉ dùng ba y. 
3-Khất thực mà ăn. 
4-Chỉ ăn một bữa vào giờ trưa. 
5-Không ăn quá no. 
6-Không giữ tiền bạc. 
7-Sống độc cư. 
8-Sống trong nghĩa địa.
 9-Sống dưới gốc cây. 
10-Sống ngoài trời. 
11-Không ở cố định, thường du hành. 
12-Ngồi ngủ, không nằm ngủ.

13 Hạnh Đầu Đà:

Mặc y phấn tảo: Đây là loại y được làm từ những miếng vải vụn, rách, không dùng đến được lấy từ nghĩa địa, bệnh viện, ở ngoài đường hay ở rừng,…Sau đó được giặt sạch và vá lại thành y để mặc. Vị hành giả tu tập không nhận sự cúng dường y áo của thí chủ mà đi nhặt những vải này. Cho nên không bị lệ thuộc vào thí chủ.

Chỉ mặc ba y: Vị tu sĩ tu hạnh đầu đà chỉ có ba y, bao gồm: thượng y, trung y và hạ y. Chư Tăng dùng y đó đến khi rách, thậm chí là không còn chỗ vá mới được may mới.

Phải khất thực để sống: Ở hạnh này, chư Tăng tu hành hạnh đầu đà mang bình bát đi khất thực để nuôi sống bản thân mình. Chư Tăng không đợi tín chủ mời đến nhà để cúng mà phải mang bình bát khất thực.

Khất thực theo thứ lớp: Đây là việc đi khất thực theo từng nhà, không vì chọn gia chủ giàu sang mà bỏ những gia đình nghèo khổ, không tới nơi có nhiều đồ ăn ngon mà phải khất thực tuần tự. Đó là một hạnh của người tu hành Pháp đầu đà.

Ngồi ăn một lần: Đó là khi ăn, nếu đã đứng dậy thì vị tu sĩ đó không ăn nữa, có người đến cúng thêm cũng sẽ không ăn.
Ăn bằng bình bát

Không để dành đồ ăn: Vị hành giả khi thọ thực không để dành đồ ăn còn dư (hoặc đồ tín chủ cúng dường) cho ngày hôm sau.
Sống ở trong rừng
Ở dưới gốc cây
Ở ngoài trời
Ở nghĩa địa

Nghỉ ở đâu cũng được: Tu sĩ tu hành hạnh đầu đà không chọn chỗ nghỉ, mà tùy thuận nghỉ ở đống rơm, gốc cây,...
Ngồi ngủ, không được nằm ngũ.
Còn việc một số tu sĩ Phật Giáo thuộc giáo hội Phật Giáo Việt Nam nói Sư Minh Tuệ không biết bao nhiêu pháp môn Phật pháp ..thì chính các vị ấy mới không rành các tu tập trong đạo Phật, vì Hạnh Đầu Đà là một phép tu tập của Phật Giáo.

3- Kết Luận

Từ sau Tôn Giả Ca Diếp hơn 2500 năm, không ai có thể tu tập trọn vẹn Hạnh Đầu Đà, mãi đến nay có lẽ chỉ mình Sư Minh Tuệ mà thôi. Không biết thời gian sau này, có được vị sư nào tu tập được 13 Hạnh Đầu Đà nữa hay không?
Cũng vì sự khó khăn trong tu tập Hạnh Đầu Đà, nên Sư Minh Tuệ đều được Chúng Tăng, cũng như Phật tử trong nước sùng bái. Chẳng những thế, các tổ chức tôn giáo trên khắp thế giới, không riêng gì Phật giáo, các tôn giáo khác đều rất kính trọng và ngưỡng mộ sư Minh Tuệ.
Có người còn coi Sư là vị Phật sống của thời hiện đại. Đúng là chuyện ngàn năm mới có một!

Huỳnh Hữu Đức
(Tài liệu tham khảo: Thư Viện Hoa Sen, Giác Ngộ online)

Một Kiểu Người Sẽ Không Bao Giờ Già Đi

Có một kiểu người cả đời chẳng hề già đi, năm tháng dường như đã lãng quên họ. Cái già đi chỉ là tuổi tác, còn khí chất và thần thái là không hề thay đổi. Tất cả là bởi họ mang trên mình những điều rất đặc biệt này.

1. Một tâm hồn chất phác ngây thơ

Thật khó khi kinh qua trường đời mà vẫn giữ được một tâm hồn chất phác ngây thơ. Đó không phải là kiểu “hồn nhiên như cô tiên” mà là sau những cay đắng của cuộc đời vẫn tin tưởng vào điều tốt đẹp.

Đó là một tâm hồn trong sáng, không đánh mất sự hồn nhiên hiếu kỳ đối với vạn vật. Người như vậy thường hạnh phúc và tươi trẻ.

2. Coi trọng dáng vẻ hàng ngày

Ăn mặc tươm tất, chú trọng vẻ ngoài cũng là một điều quan trọng. Người già chúng ta không nên “tuổi chưa cao mà hồn đã lão”, tâm trí lúc nào cũng đặt trong cảnh tương lai mờ mịt, quá khứ u buồn, cảm thấy chăm chút bản thân là việc của giới trẻ.

Người trẻ tuổi có sự hấp dẫn tự nhiên nên không cần phải để tâm vào việc ăn mặc. Còn người có tuổi, bất luận ở nhà hay ra ngoài đều nên tùy thời phục sức, tao nhã đúng mức, mang lại niềm vui cho bản thân và mọi người. Khi bạn ăn mặc trang nhã, hiển lộ tinh thần sung mãn, thì tự nhiên cũng tự tin hơn, nhìn vào thấy trẻ ra cả chục tuổi.

3. Kiên trì đọc sách học tập, du lịch

Những người nhìn vào trẻ trung phần lớn đều kiên trì với phương châm “không ngừng tinh tiến, không ngừng học hỏi”. Trong bụng đã có một bồ sách, một kho thi thư thì ắt tâm hồn phong phú, dung mạo phong lưu.

Đọc sách giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan, du lịch giúp mở mang tầm mắt. Người ham thích đọc sách và du lịch, đối với bất cứ sự việc gì đều tự có kiến giải, không phải kiểu người bảo sao hay vậy, tự nhiên thần thái ung dung, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân.

4. Tấm lòng lương thiện

Những người nhìn vào trẻ trung, thường là thuần phác, thiện lương. Quá trình tu tâm dưỡng tính của họ thăng hoa thể hiện thành thần thái, tướng mạo bên ngoài. Cũng bởi tướng tùy tâm sinh, nên người có tâm từ bi, có lòng nhân ái, luôn luôn phát ra một loại hào quang. Với người khoan dung, hơn nửa gương mặt là có phúc tướng. Với người mà tính tình dịu dàng thì tướng mặt đã toát lên sự thân thiện.

5. Có mục tiêu theo đuổi

Người mà nhìn vào trẻ trung sẽ luôn trong trạng thái tinh thần phấn chấn và tràn trề sức sống. Dù là đã nghỉ hưu rồi, trong cuộc sống nên đặt những mục tiêu mới. Trong phạm vi mà khả năng cho phép, hãy tích cực tham gia các loại hoạt động như ca hát, chụp ảnh, khiêu vũ…

Như vậy, cuộc sống bày ra trước mắt bạn sẽ có sức sống hơn, cũng sẽ khiến bạn không bao giờ thấy mình già đi vậy.

6. Biết cảm mến cuộc đời

Đam mê cuộc sống vẫn chưa đủ, nếu như có thể có chút lòng cảm mến với nó thì sẽ hoàn mỹ hơn. Không hưởng thụ những ưu việt mà đồng tiền mang lại, nguyện ý bỏ tâm tư trồng mấy chậu cây cảnh hay bắt tay chế tác mấy món đồ chơi, có những đam mê sở thích khác.

Người như vậy, thời gian làm sao nhẫn tâm để bạn già đi đây?

7. Kiên trì vận động

Thân thể khỏe mạnh mới là nền tảng duy trì sự trẻ trung. Người mà trông không có vẻ già đi nhất định đều kiên trì vận động, khiến bản thân từ trong đến ngoài đều tỏa ra sức sống.

8. Tâm thái trẻ trung

Người có tâm thái trẻ trung sẽ tích cực trải nghiệm những điều mới mẻ, luôn hiếu kỳ khám phá những điều mới lạ. Trên người họ, bạn có lẽ cũng có thể nhìn thấy nếp nhăn nơi khóe mắt chân mày. Nhưng điều khiến bạn nhìn không chớp mắt là gương mặt với thần thái ung dung và tâm trạng yêu đời của họ.

Nhà văn Murakami Haruki đã từng nói: “Con người ta không phải là dần dần trở nên già đi, mà là trở nên già đi chỉ trong nháy mắt“.

Con người trở nên già đi, không phải bắt đầu từ nếp nhăn đầu tiên, hay cọng tóc bạc đầu tiên, mà là bắt đầu từ ngay cái thời khắc buông bỏ chính mình.

Chỉ có những ai không từ bỏ chính mình, mới có thể sống thành người không sợ già, và cũng sẽ không thấy mình già đi.

Therese Huỳnh Sưu tâm

Y Phục Phụ Nữ Việt Nam


Hồi còn bé tí, Sao Khuê sống ở trong làng, quê muà xấu xí, chỉ có quần đen áo

 trắng. Rồi một hôm, có cô em họ cùng tuổi từ Hà Nội về chơi, cô ấy được mặc áo đầm, lại còn được phi–dê (uốn tóc) nữa, đẹp ơi là đẹp, cứ như là con búp bê vậy đó, khiến Sao Khuê ao ước được mặc áo đầm. Khi sấp xỉ 10 tuổi, lúc ra Hải Phòng để đợi di cư vào Nam, Sao Khuê thỏ thẻ với mẹ xin chiếc áo đầm thì bị bà thím phán một câu:

– Cẳng như cái cẳng gà thì mặc đầm sao được!...

Cái mộng mặc áo đầm phải chờ đến lúc xuất giá mới được mặc, rồi chừng sang đất Đầm rồi thì tha hồ mà mặc, mặc kệ cẳng gà hay đùi heo, ta cứ hết mặc váy dài lại sang váy ngắn. Nhưng mà này! Này! Quí vị có biết là cái váy đâu phải là chỉ của đầm mới có. Cái váy ấy à nó được các bà, các cô A–na–mít mặc từ lâu lẩu lầu lâu rồi nhé, căn cứ vào mấy câu thơ:

Cái thúng mà thủng hai đầu
Bên ta thì có bên Tàu thì không.
(Câu Đố Vui trong dân gian)

Như vậy không phải chỉ từ ngày Pháp đô hộ chúng ta mới có người mặc váy mà váy là y phục của phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa.

Nào? Căn cứ vào những câu thơ thì váy gồm có tới 4 mảnh vì ngày xưa vải chỉ dệt được bằng tay nên khổ vải hẹp, do đó phải cần đến 4 mảnh vải may dính lại với nhau mới được chiếc váy:

Ăn chơi cho thỏa thòa thoa.


Ghép 4 mảnh vải lại là rõ ràng chúng ta có cái thúng thủng cả hai đầu để tròng vào người từ chân đến bụng. Làm sao để giữ cho nó khỏi tuột đây? Dễ lắm! lấy dải luạ mà buộc quanh ngang đáy lưng ong thành cái dây lưng mà giữ. Ngoài cái dây lưng, các cô nhà giàu còn được cha mẹ sắm cho bộ xà tích (*) bằng bạc buộc kèm với chiếc dây lưng có dắt theo đồ têm trầu và ống vôi bằng bạc, còn giới bình dân thì chỉ có cái ruột tượng đựng tiền có dắt cái khăn trầu trong gói vài miếng trầu. Ruột tượng dài như dây lưng nhưng may thành hình cái túi ống dài trong có thể đựng tiền được, to bằng bàn tay nên gọi là ruột con voi (tượng là voi).


Nếu váy của đồng bào Thượng có nhiều mầu rực rỡ thì váy dân tộc Kinh thường bằng vải bông, bằng sồi hay bằng đũi. Người giàu cũng có váy luạ nhưng thường chỉ có màu đen nên gọi là váy thâm, đôi khi có mầu nâu do nhuộm bằng củ nâu.

Còn đâu cái váy luạ sồi,
cái dây lưng đũi của hồi sang xuân...
(Chân Quê - Nguyễn Bính)


Váy thường thì chỉ dài lưng lửng giữa đầu gối và bàn chân để đi lại được dễ dàng, khi đi chơi thì váy được may dài tới tận gót chân cho tha thướt. Đố quí vị biết chứ các cô ngày xưa có dám mặc váy ngắn không? Có chứ:

Cô kia cắt cỏ bên sông
Cái váy thì ngắn, cái... thì dài.
(Cô Kia Cắt Cỏ Bên Sông- Khuyết Danh)

Cái gì dài ấy à? Cái váy thì ngắn, cái mông thì dài chứ còn gì nữa ạ, chứng tỏ ngày xưa các cô cũng sexy ghê lắm. Nói vậy chứ không phải vậy đâu. Thật ra thì váy không ngắn, nhưng khi làm việc, đi cấy, đi cầy, mò cua, bắt ốc... phụ nữ phải xắn váy cho ngắn lên để dễ bề làm việc – đàn bà thì xắn váy quai cồng, đàn ông thì xắn quần móng lợn cho nó gọn ấy mà.

Đã vậy lại còn có một cái váy mang tên là váy đụp. Quí vị nên biết ngày xưa vải dệt từ bông, sợi hay tơ tằm rất công phu do đó đắt đỏ nên vải dệt xong phải ngâm nhiều lần với bùn non cho dầy và cứng để cho lâu rách hoặc ở những chỗ hay bị rách người ta phải độn thêm vải hay vá chằng vá đụp sau khi bị rách bởi vậy có tên cái váy đụp.


Váy, may dễ, mặc vào thoải mái, lại tiện dụng như khi ra ao công cộng để tắm, tắm 
xong, choàng cái váy lên tận cổ là có thể đứng tại chỗ để thay áo mà không ai nhìn thấy ngực trần, khi thay áo xong rồi từ từ trụt váy xuống là vẫn kín như bưng! Váy, lúc cần lại có thể đựng được đồ đạc, hứng được trái cây như bức tranh “hứng dưà”, vẽ cô thiếu nữ tốc cả váy lên mà hứng quả dừa do người trên cao thả xuống!

Nguồn gốc xa xưa nhất của chiếc váy là cái nơm úp cá.

– Ở các nước Ả Rập, nó được gọi là Djoubba, có nghĩa là linh thiêng.
– Người Trung Hoa dùng chiết tự gọi là xuẩn chừ, gồm hai bộ phận ghép lại với nhau: chữ Y “rách” ghép với chữ “quân”. Từ “quân” chỉ bậc nam nhi với nghĩa tôn vinh.

Thời Đông Sơn, người Lạc Việt dùng váy bằng lá cây hay lông vũ xòe ra. Sau đó dùng váy mở ngắn (một mảnh vải quấn vào thân) rồi đến váy kín gồm hai mép díu lại với nhau thành hình cái nơm.

Một thời gian dài, người ta dùng váy lưỡi trai bảy bức bằng lĩnh hoặc sồi dài chấm gót, cạp váy thường rộng bản, khoảng 8–10cm với nhiều màu. Tô điểm thêm cho chiếc váy là cái thắt lưng màu mỡ gà, hồng đào hay hoa lý... thắt so le buộc múi, buông rủ dịu dàng. Khi lao động người ta mặc váy ngắn trên đầu gối bằng vải thô kệch mà bền gọi là cái “sống”. Các phụ nữ trong cung đình mặc váy rộng, có nhiều nếp với vải lụa hạng sang và quý nên gọi là xiêm.

Ngày xưa, những chiếc váy đẹp nhất, thướt tha nhất là những chiếc váy của chị em ở đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là vùng Đình Bảng, Hà Bắc. Những năm 1954–1959, có váy kiểu dài quá đầu gối, may phồng và hơi khum ở phần dưới (váy chuông). Đến năm 1960, váy được may thẳng, xẻ nhỏ ở giữa thân sau, xếp ly hoặc may bó. Năm 1968, váy mini ra đời, ngắn đến đầu gối. Năm 1980, xuất hiện váy dài đến chân có cài khuy bấm... Theo thời gian, chiếc váy ngày càng được cải tiến và đi vào nhịp sống hiện đại của người Việt. (internet)

Đố quí vị biết vậy chứ bên trong và bên trên cái váy có gì? Bên trong ấy à? Để coi!... không có gì hết!... còn bên trên váy là... cái yếm. Yếm mặc để che ngực là một mảnh vải vuông, một góc may cổ xẻ, cổ thià, cổ xây, có dải buộc treo lên cổ, hai bên cạnh có dải buộc vòng ra sau lưng.


Cái yếm có màu hoa mơ, hoa lý, hoa đào nhưng thường các cô thích màu đỏ cho nổi nên có tên là yếm đào, yếm thắm:

Hỡi cô yếm thắm loà loà
Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm
Ước gì anh được ở gần
Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh.
(Ca Dao Tục Ngữ)

Có một bức hoạ vẽ một cô thiếu nữ ngủ ngày, váy thì cuốn lên, yếm lại trễ xuống khiến cho anh học trò đi qua nhìn đã đời muốn rớt con mắt rồi mà khi đi khỏi vẫn còn cứ ngoái đầu lại mà nhìn, đi không nổi. Bức tranh này lấy ý từ bài thơ “Thiếu Nữ Ngủ Ngày” của “Hồ Xuân Hương”:

Chiều hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong!

Nhưng mà chả nhẽ lúc nào các cô ấy cũng ăn mặc như thế này thì hấp dẫn quá hả quí vị?
Thật ra đó chỉ là y phục mặc ở trong nhà, chứ khi ra ngoài đường họ phải có cái áo khoác ngoài chứ. Nếu chỉ đi gần gần thì có cái áo ngắn gọi là áo cộc, cộc tức là cụt, tiếng miền Bắc ấy mà. 


Áo cộc này ngắn, tay rộng, hai vạt trước không cài khuy hay chỉ cài lưa thưa để khoe cái yếm mầu. Khi đi chợ, đi thăm ai hay hội hè thì phải mặc áo dài. Áo dài, nếu là 4 mảnh ghép lại thì gọi là áo tứ thân; cũng do khổ vải hẹp nên hai vạt sau may dính liền, chỗ dính gọi là sống áo, hai vạt trước quàng chéo nhau trước bụng rồi buông rủ xuống đầu gối, thêm chiếc dây lưng dài màu tươi rói, cột chéo bên ngoài rồi cũng được buông thõng xuống cùng với vạt áo, đẹp ơi là đẹp...

Ngày xưa các bà các cô đi ra ngoài đều mặc áo dài, dù là đi chơi, đi bán hàng rong, đi chợ. Áo dài thường bao giờ cũng mặc ngoài cái áo ngắn.

Nhưng có chị thuyền chài, thấy vậy không tiện nên mặc áo ngắn ra ngoài, bởi thế mới có câu:


Cũn cỡn như con thuyền chài
Áo ngắn mặc ngoài, áo dài mặc trong.

Kiểu mặc này sau lại được các bà các cô ở tỉnh thành bắt chước. Họ mặc ra ngoài áo dài cái áo len, áo nhung, áo da thành một kiểu áo khoác ngoài... nhưng đó là lúc cái váy đã được thay thế bằng cái quần.

Quí vị biết không, số phận của cái váy cũng gian truân lắm nhé.

– Khi nước Việt ta bị nhà Minh đô hộ, Hoàng Phúc cấm con trai và con gái không được cắt tóc, đàn bà con gái không được mặc váy mà phải mặc áo ngắn cài một bên, quần dài như người Tàu, nên cái áo ngắn dù cài một bên hay chính giữa còn có tên là áo “khách” do dân miền Bắc vẫn gọi người Tàu là khách trú.

– Khi lấy lại được độc lập, nhà Lê, vua Lê huyền Tông cấm đàn bà mặc quần có ống chân tức là trở lại mặc váy như xưa.

– Tuy vậy đến thời Trịnh–Nguyễn phân tranh, để làm ra khác với đằng ngoài tức miền Bắc, chúa Võ Vương ra lệnh bỏ váy mặc quần.

– Đến đời vua Minh Mạng, năm 1828, nhà vua ra chiếu bắt dân xứ Bắc phải ăn mặc theo dân đằng trong nghiã là mặc quần có chân:

Tháng chín có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì lột lấy quần chồng sao đang
Có quần ra quán bán hàng
Không quần lấp ló đầu làng trông quan.
(Tháng Tám Có Chiếu Vua Ra - Khuyết Danh)


Phép vua thường thua lệ làng nên nếu ở chốn tỉnh thành, các bà các cô đã tuân chỉ mà tròng vào người chiếc quần vải hay quần nái thâm – nái tức là một loại luạ dày – thâm là màu đen – quần, bây giờ tiến bộ đã có giải rút luồn trong cạp, buộc nút đàng trước. Người khá giả thì có quần lĩnh, quần luạ... áo hoa. Chiếc áo khách ngắn gần đầu gối được kéo dài ra thành chiếc áo dài cài ở một bên bằng khuy vải tết lại thay cho áo tứ thân:

Hôm nay đi chuà Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Em cùng thầy me dậy
Em vấn đầu soi gương
Khăn nhỏ đuôi gà cao
Em đeo giải yếm đào
Quần lĩnh áo the mới
Em cầm nón quai thao...
(Chùa Hương -Nguyễn Nhược Pháp)


Nếu ở miền Trung, đàn bà vẫn giữ được tục mặc áo dài khi ra đường dù là đi chèo đò hay đi bán hàng rong thì ở miền Bắc và miền Nam, nhiều bà đã giản dị hoá, đi ra ngoài chỉ có áo ngắn với quần dài, miền Nam gọi chiếc áo ngắn này là áo bà ba.

Dù là áo ngắn hay áo dài thì áo của ba miền vẫn có chút đỉnh khác nhau. Khi may áo thì cũng có phân biệt tà Bắc (nối nẹp ngoài) với tà Nam (nẹp gấp vào từ tà áo), tà Nam thường rộng hơn tà Bắc mà ngực áo lại ôm hơn. Tuy mặc áo dài nhưng các bà thường lại đi chân đất! sau này mới có guốc mộc (đẽo bằng gỗ không sơn phết) hay guốc vông (gỗ cây vông), tuy vậy trên đầu lại có khăn! Nhà giàu mới có hài thêu, mũi hài cong lên.


Miền Bắc quấn khăn vành dây, khăn nhung hoặc vấn tóc trần hay búi tóc lửng. Khăn vành dây may bằng vải, tóc được chải qua một bên, bao lại bằng khăn theo chiều dài, dùng kim gút giữ cho khỏi tuột sau đó quấn quanh đầu. Khăn nhung bằng nhung màu đen cũng quấn như thế nhưng cần độn thêm tóc cho tròn đẹp. Nhà quê nhà mùa thì có khăn mỏ quạ: lấy một miếng vải vuông thường là màu đen, xếp chéo lại làm hai không bằng nhau, quàng lên đầu, hai chéo khăn buộc lại với nhau ở trước cằm, khi buộc như vậy trước trán nhọn lại thêm màu đen giống như mỏ con quạ vì vậy có tên là khăn mỏ quạ.


Các cô thiếu nữ còn trẻ thì thả tóc thề, kẹp tóc sau lưng bằng cái kẹp có ba lá làm bằng nhôm nên gọi là kẹp ba lá:

Thuở đó em vừa thôi kẹp tóc...
Yêu anh... yêu anh em làm thơ...
(Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài - Phạm Duy)

Vậy là khi thôi kẹp tóc, phải vấn khăn hay búi tóc là hết tuổi ngây thơ...

Ở miền Trung, các cô thường thả tóc thề và các bà vấn khăn hay đội khăn hoàng hậu. Sao Khuê không biết “khăn hoàng hậu” xuất phát từ lúc nào nhưng thấy tranh vẽ hình Hai Bà Trưng sau này đều có đội khăn này chứ trước kia thì họa sĩ quấn khăn vàng dây cho hai Bà. Về sau các cô dâu hay đôi khi cả phù dâu cũng đội luôn, có lẽ là cô nào cũng là ái hậu của chú rể phải không quí vị. Khăn hoàng hậu bây giờ có đủ mầu xanh, đỏ, vàng, v.v. nhưng thời còn Vua thì màu Vàng dành cho hoàng tộc; quan lại và thường dân không được quấn khăn màu vàng vì vậy khăn thường có màu xanh dương cho quan hay màu đen cho dân.


Trong Nam, các bà thường bới tóc rồi bao lại bằng cái lưới hay vắt cái khăn rằn. Cả đàn ông lẫn đàn bà đều có thể sử dụng khăn rằn. Khăn rằn thường là vải ca rô, có khi được vắt qua vai, có khi quấn lên đầu che nắng. Khi đi đường nắng, muốn cho mát thì nhúng ướt khăn rồi đội lên đầu hay vắt lên vai. Ở miền quê, đường đi không những đo bằng cây số mà còn đo bằng cái Zắt Zai (vắt vai):

– Từ đây ra chợ bao xa?
– Ba cái zắt zai!

Ba cái vắt vai có nghiã là nhúng ướt cái khăn rằn rồi đi đến lúc khăn khô, nhúng như vậy 3 lần (thời gian đi bằng ba lần khăn được nhúng ướt rồi đi bộ cho đến lúc khăn khô).

Thiếu nữ miền Nam điển hình khoảng 1940 là cô Ba, hình được in trên hộp đựng xà bông cô Ba sản xuất tại Nam kỳ đeo xâu chuỗi chín vòng vàng, áo dài cổ thấp, tóc bới.


Để che mưa nắng khi ra ngoài có nón lá, nón dứa (làm bằng lá dứa). Miền Bắc còn có một loại nón rộng vành gọi là nón quai thao. Nón rách mất cả vành gọi là nón mê. Nón cho lính nhà vua gọi là nón dấu, nhỏ và dày, cứng hơn nón thường. Nón lá miền Trung có gài bên trong giưã hai lớp lá một hai câu thơ nên được gọi là nón bài thơ:

Mát mặt anh hùng khi nắng hạ
Che đầu thục nữ lúc mưa xuân.
(Vịnh Cái Quạt - Hồ Xuân Hương)


Thời xưa chưa có áo mưa, những khi thi trời mưa to thì có áo tơi. Áo tơi do những tàu lá tơi, giống như lá dừa để lợp nhà, kết lại mặc choàng bên ngoài cho đỡ ướt và đỡ lạnh...

Trở lại với áo dài. Vào những năm 1935–1940, hoạ sĩ Nguyễn cát Tường, ký tên là Lemur phụ trách phần trang trí cho các tờ Phong Hoá và Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Ông còn là chủ nhân một cửa hàng thời trang nên đã đưa ra phong trào cải cách y phục phụ nữ. Ông vẽ những kiểu áo quần tân thời vừa đẹp vừa gọn với những đường eo, chỗ thắt làm nổi bật nét đẹp của thân hình phụ nữ thay cho những chiếc áo cổ truyền thùng thình, lượt thượt. Tất cả các kiểu áo dài đều không còn sống áo tức chỗ nối ở hai vạt áo; tà áo rộng vừa đủ, thân hẹp sát người, tay áo nối liền với vai, cổ kín, cổ cao, cổ bẻ, cổ hở được gọi chung là áo Lemur được các thiếu nữ Hà Nội hưởng ứng trước tiên. Đặc biệt là khuy cài trước kia làm bằng vải tết lại như nút Tàu nay được thay bằng khuy bấm nhập cảng từ Pháp:


Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo dài khuy bấm, em làm khổ anh...
(Chân Quê - Nguyễn Bính)

Lẫn lộn giữa các kiểu áo tân thời này vẫn còn những kiểu áo cũ:

Còn đâu cái váy luạ sồi
Cái dây lưng đũi của hồi sang xuân
Còn đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen.
Nói ra sợ mất lòng em
Xin em, em hãy giữ nguyên quê mùa...
(Chân Quê - Nguyễn Bính)

Nhưng sau đó thì áo tứ thân, khăn mỏ quạ dường như biến mất nhường chỗ cho quần chùng áo dài.

Khăn nhung vấn tóc cho vừa
Đi giày mõm nhái, đeo hoa cánh bèo.
Quần thâm lĩnh Bưởi cạp điều
Hột vàng quấn cổ ra chiều giàu sang.
(Chân Quê - Nguyễn Bính)

Khi bắt đầu mặc quần, các bà các cô thường chỉ mặc quần đen, hay đôi khi nâu chứ không ai dám mặc quần trắng, ai mặc quần trắng thì bị gọi là me Tây vì chỉ có những người đi lại với Tây mới mặc quần trắng. Về sau thì... quen mắt các cô thích mặc quần trắng cho thanh lịch, quần đen lại chỉ mặc khi... bị kẹt.

Chiếc yếm cũng bị đào thải, thay bằng chiếc áo lót, may sát nách còn gọi là áo lá, rồi vì quần trắng cũng cần cái quần lót cho kín đáo mà bây giờ nhỏ lại thành cái sì–líp (slip) cũng như cái sú chiêng (soutien) thay cho cái áo lót; áo lót chỉ dành cho trẻ gái còn nhỏ chưa đủ lớn để mặc sú chiêng.


Khoảng năm 1955–56 cổ áo dài vẫn là cổ cao, che kín cổ, càng ngày càng cao nhưng đến khoảng 1957, bà cố vấn Ngô Đình Nhu trình diện dân chúng với chiếc áo dài hở cổ và hở một chút bờ vai như hình chiếc thuyền do ông Nguyễn Được, giám đốc trung tâm tiểu công nghệ và ông Lê văn Đệ, giám đốc trường Cao đẳng mỹ thuật Sài Gòn vẽ kiểu, về sau được nhiều người hưởng ứng và gọi là “áo cổ bà Nhu”.

Sau đó ít lâu, vào khoảng 1968 cách ráp tay áo cũng được thay đổi, tay áo được ráp thẳng vào cổ áo gọi là tay raglan, cổ áo cũng dần dần hạ thấp xuống... rồi để cho cân xứng, tà áo cũng ngắn dần lên chứ không còn dài đến tận gót chân như trước...

Sau biến cố 1975, người di tản ít có cơ hội mặc áo dài, nếu có thường là áo mang theo khi di tản; còn người trong nước thì cũng không còn áo dài mà mặc, nhà nước bán cho mỗi năm vài thước vải chỉ đủ để may áo ngắn khiến tà áo dài cũng biến mất trên đường phố hơn một chục năm mới trở lại.


Tại hải ngoại, các bà đã an cư lạc nghiệp nên hội hè thường xuyên hơn. Người ta thấy áo dài tái xuất, lộng lẫy và đẹp hơn trước bội phần, áo thêu chỉ màu rồi thêu kim tuyến óng a óng ánh, áo nhung, áo luạ, áo ghép vải màu nọ màu kia, thôi là rực rỡ muôn màu. Khởi đầu vẫn là áo dài tay raglan, cổ thấp, tà ngắn, dần dần cổ áo lại cao lên và tà lại cũng dài ra... đến năm 2005 thì đã dài gần tới gót chân như thời 1960... Cổ áo thì tùy ý thích, thấp có, cao có, hở ít, hở nhiều, cổ vuông, cổ hình trái tim... đã vậy những nhà sản xuất băng ca nhạc lại lăng xê nhiều kiểu, tà xẻ, tà đôi, hở vai, hở tay, thôi là... tùm lum, ai muốn mặc ra sao thì mặc, mỗi người một vẻ chả ai giống ai cả... Con gái, ai cũng chờ:

một ngày khép nép từ biệt mẹ cha,
phận con là gái như hạt mưa sa,
một ngày e lệ bước lên xe hoa... với chiếc áo cưới.
(Bài Thơ Vu Quy - Tuệ Mai)

Nhìn vào những hình đám cưới nhà quê ngày xưa, chúng ta thấy cô dâu mặc áo tứ thân nhưng nhiều mầu sặc sỡ, chân có đôi hài thêu mũi cong lên, đầu có nón quai thao rộng vành...

Khoảng thập niên 40 trở đi, các cô dâu tỉnh thành mặc áo dài nhung, giày cao gót, thập niên 60 các cô lại mặc áo kép, hai áo hay một áo nhưng may bằng hai lượt vải kẹp vào nhau, thường là vải ren ở bên ngoài; sau này từ thập niên 90 trở đi thì có cô vẫn mặc áo ren ngoài áo dài thêu hay áo gấm, có cô lại may áo mệnh phụ ba tà bằng gấm để mặc bên ngoài chiếc áo dài...

Nếu phương Tây có câu “chiếc áo chùng không làm nên thày tu” thì Tàu có câu: “Y phục xứng kỳ đức”. Người mặc áo thày tu chưa hẳn là người tu hành tử tế nhưng khi ăn mặc thì quý cô quý bà cũng phải liệu mà ăn mặc cho xứng với địa vị của mình: làm lớn đừng có cẩu thả áo quần nhăn nheo mất cả oai, đứng đường mà diện áo đẹp hay xách ví Louis Vuitton thì ai mà cho tiền cơ chứ, thấy người ta hở bụng cũng vội khoe cái bụng đầy mỡ ra thì chả đẹp tí nào phải không quí vị...?

Người ta cũng bảo thời trang là sự lộn lại nhưng đổi đi một tí, những người vẽ kiểu áo ngày nay đưa ra nhiều kiểu nhưng kiểu nào thì kiểu, phải có thân hình đẹp thì mặc mới xinh:

Sen xinh sen nở trong ao
Em xinh em mặc kiểu nào cũng xinh!

Tuy vậy những người không có ba vòng kiểu mẫu tức là vòng số 1 (vòng ngực) vòng số 2 (vòng eo) vòng số 3 (vòng hông) bằng nhau hay oái oăm hơn nưã lại là... 1 nhỏ, 2 lớn, 3 teo... nhưng khéo lựa kiểu áo Ả Rập che tuốt luốt nhiều khi trông cũng đặng hơn là người đẹp mà không biết diện hay không có... tiền diện. Điều đó có nghĩa là cái “gu” cũng quan trọng không kém nhưng có gu mà tiên khồng (không tiền)... cũng huề phải không quí vị?

Thực ra thì chuyện áo quần còn nhiều lắm lắm, Sao Khuê chỉ sơ lược chút đỉnh cho quí vị đọc thôi, khi nào hưỡn hưỡn mình nói tiếp vì thời trang: Thiệt là rắc rối!....

Sao Khuê Biên Soạn

Phụ đề: tài liệu và hình ảnh được lấy ra từ tranh cổ truyền VN và internet
(*) dây chuyền thường bằng bạc, có dạng như một sợi dây xích, phụ nữ thời trước dùng đeo ở thắt lưng làm đồ trang sức. Mời đọc Truyện Ngắn Sợi dây xà tích bạc *

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

Thánh Giá Nhiệm Màu!

 

(Nhà Thờ St Paul's Cathedral - Melbourne City)

Giữa thế giới xoay nhanh luôn đổi mới
Hai tâm hồn tìm tới tận đỉnh cao
Thánh giá uy nghiêm Thánh giá nhiệm màu
Một góc lặng cùng gặp nhau yên ả

Thời gian khoảng cách không là gì cả
Đồng tâm hiệp lực vất vả vượt qua
Khoảnh khắc hẹp chan hòa trong tình Chúa
Ngày cùng đêm dẫu lạnh gió đông lùa

Niếm tin rực sáng xua tan cách trở
Thánh giá giăng tay che chở giữa trời
Hai phương đời cầu nguyện nhớ nhau thôi
Trong tình Chúa chiếc nôi vui hạnh phúc!!!


 
 (Nhà Thờ Chánh Tòa St Patrick’s Cathedral - Melbourne City)
 
Thơ&Ảnh: Kim Oanh
4.7/4.8.2024

Biển Tình

 

Biển vắng ...cô đơn
Tình yêu....trống trơn
Người xưa đâu nữa!
Đời buồn gì hơn!

Sóng vỗ... miên man
Thương thân .... khẽ khàng
Vay vài giọt nắng
Hong lòng Xuân sang!

Dấu chân ta in
Thương tưởng bóng hình
Em dường mất hút
Chờ nhau...lai sinh?

Trời xanh thiết tha
Hồn như trơ ra
Phau phau cát trắng
Phôi phai ...nhạt nhòa ....

Thiên Phương
P/S: Viết để nhớ về một thời đóng quân ở Sa Huỳnh - Quảng Ngãi