Thứ Năm, 22 tháng 9, 2022

Tân Định & Đa Kao Thân Yêu Những Con Đường Còn Giữ Tên Xưa

 
(Xin được Kính Tặng đến bà con Tân Định & Đa Kao và những ai đã từng đi qua nơi đây.)

Cho đến bây giờ, dù đã xa Tân Định và Đa Kao nhiều năm, nhưng trong tôi “Tân Định và Đa Kao” lúc nào cũng là một nỗi nhớ khôn nguôi! Chúng cứ thôi thúc tôi hoài. Đã bao năm qua, tôi muốn tìm về chốn này, để sống lại với kỷ niệm thuở học trò, mà tình yêu khi đó “chỉ biết đôi mắt nhìn nhau cũng đủ rồi.” Tôi cứ hẹn nhiều lần, nhưng vẫn chưa bao giờ thực hiện được ước mơ của mình. Rồi! một dịp tình cờ đưa đến. Giấc mơ đã trở thành hiện thực. Tôi đã có hai tuần lễ đi qua, đi lại, đi tới, đi lui. đi xuôi, đi ngược trên những con đường kỷ niệm của Tân Định và Đa Kao. Điều làm tôi rất đổi ngạc nhiên và thích thú nhất là nhiều con đường trong khu vực này vẫn không hề bị đổi tên.

Thật vậy! Sau 30 tháng 04, năm 1975. Một số tên đường của thành phố Sài Gòn thân yêu đã bị đổi bằng những cái tên xa lạ. Nay, được thấy lại các tên đường ở khu Tân Định và Đa kao không bị thay đồi nhiều, trong lòng tôi bỗng nhiên dâng lên một sự xúc động mãnh liệt và một niềm sung sướng vô biên.

Xin mời các bạn cùng tôi tìm về những con đường kỷ niệm thân yêu của Tân Định và Đa Kao với những bồi hồi, rung động khó quên của thời niên thiếu không bao giờ phôi pha, dù năm tháng trôi qua như cơn gió thổi.

Trước hết, xin bắt đầu từ Cầu Kiệu với con đường Hai Bà Trưng đi về phía Sài gòn. Khoảng đường này, bên tay phải là hẻm Vựa Gạo số 477 HBT. Nơi các ghe thuyền ngày xưa chọn làm bến tấp nập xuống gạo ở đây, để từ đó gạo được giao lại cho các chợ. Hẻm có nhà của Hoạ Sĩ vẽ áo dài ba miền Nam,Trung, Bắc nổi tiếng Lê Trung. Ông đã từng doạt nhiều giải thưởng lớn về Hội Hoạ. Con hẻm đi ra được hẻm 60 Cù Lao Yên Đổ, phòng khám mắt của Bác Sĩ Kính, tiệm bán bông cườm cho đám tang, tiệm thuốc Bắc của ông Lang Sách. Nay là tiệm bán “Bánh Tầm Bì 370 - Đặc Sản Bạc Liêu” của con trai cua rơ nước rút Nguyễn Văn Châu thuê mở quán ăn. Cua Rơ xe đạp Nguyễn Văn Châu đã làm nên một kỳ tích vô tiền khoáng hậu, mà cho đến nay chưa từng có bất cứ cua rơ xe đạp VN nào tạo được “Trong cùng năm 1961, ông đã đoạt chức Vô Địch nước rút Á Châu ở Đông Kinh và Đông Nam Á Vận Hội ở Ngưỡng Quang.” 

Hẻm cô Hai Kim, số 451 HB. Bên phải đầu hẻm là tiệm điện Ngọc Sơn, trong hẻm có cô Hai Kim chuyên cắt lể, giác hơi, cạo gió và bán thuốc tể. Cạnh bên là nhà của Dịch Giả các truyện kiếp hiệp nổi tiếng Từ Khánh Phụng vớ các truyện: Trảm Lư Bảo Kiếm, Hoả Long Thần Kiếm, Quái Khách Muôn Mặt, Song Nữ Hiệp Hồng Y Kiếm Hiệp,…có lò làm bánh hủ tiếu và bánh cuốn tráng hơi của người Hoa chuyên đem bỏ mối trong vùng, Bà Năm Cà Lì bán vải ở chợ Tân Định. 

Bên trái hẻm là tiệm sửa xe gắn máy Chín Kết sửa xe Mô Tô, nhà thuốc Nhân Phong Đường hay còn gọi là Thuốc cam Hàng Bạc số 447 B - HBT. Trước cửa trên quay kính bên trái có trưng bày một con nai bằng gỗ mun, nhìn tưởng như thật. Gia đình Nhân Phong Đường hầu hết ở nước ngoài. Hiện chỉ còn người con trai út là cựu quân nhân Binh Chủng Thiết Giáp VNCH ở lại trông coi và kế nghiệp. Trước năm 1975, ông chủ thuốc cam Hàng bạc có nhiều bộ sưu tập đồ cổ rất giá trị. Nhất là những binh khí và đồ sành sứ cổ xưa. Đặc biệt, có một con chim sáo nhỏ bằng ngọc thuộc loại quý hiếm. 

Kế bên là tiệm cà phê tên Hải Nàm của người Việt gốc Hoa. Nơi đây bà con thuộc giới bình dân thường đến thưởng thức cà phê pha bằng vợt. Hai chân ngồi trên ghế theo kiểu ngồi nước lụt, miệng nhâm nhi ly cà phê xây chừng, môi bập bẹ điếu thuốc Rê Gò Vấp, Cotab, Bastos xanh đỏ…để bàn chuyện thời sự, bàn những con số đề sẽ xổ vào buổi chiều, giá cả hàng hóa lên xuống hàng ngày, chuyện chính chị, chính em, bàn về đua ngựa cuối tuần ở trường đua Phú Thọ, với các con ngựa được mang tên các nữ nghệ sĩ cải lương danh tiếng như: Út Bạch Lan, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết.. Ngoài cà phê ra, còn có hủ tíu mì, hoành thánh,bánh bao, xíu mại. Buổi chiều có thêm xe bán tiết canh, lòng heo của bà Thìn, nhà trong hẻm 60 Yên Đổ - Cù Lao.

Phía bên trái, dưới chân Cầu Kiệu là con hẻm nhỏ số 478 HBT chuyên bán chó, kèm theo một đội quân chuyên săn bắt chó. Dụng cụ hành nghề rất đơn giản: một ống nước dài khoảng một thước rưởi, bên trong luồn một sợi dây cáp nhỏ, được thắt nút thòng lọng. Họ lùng sục khắp hang cùng, ngỏ hẹp trong thành phố, ra đến tận ngoại ô để tìm nguyên liệu chó, đem về cung cấp cho các quán Cờ Tây. Em chó nào chạy lang thang là chỉ vài giây, bằng thao tác thuần thục, các tay săn bắt chó đã đưa thòng lòng vào cổ em và ném ngay vào bao bố trong có đựng tro, để cho em bị ngộp, không sủa, không giẫy giụa, hoặc ú ớ được. Nếu em chó nào đẹp, có giá trị thì chờ vài ngày cho chủ nhân đến tìm chuộc lại theo luật giang hồ. Kế tiếp là tiệm trà Phật Tổ, cây xăng nhỏ HBT, tiệm bán đồ điện Thành Mỹ, tiệm sơn Mậu Ký và cửa hiệu bán xe đạp cùng phụ tùng Đoàn Văn Thẩm được các cua rơ xe đạp thích đến mua, hay đặt phụ tùng sản xuất từ Pháp và Ý Đại Lợi. Sau này, có thêm tiệm bán xe đạpTuấn Kiệt với bà chủ đeo kính trắng, gọng nhựa đen, miệng lúc nào cũng cười tươi như hoa nở.

Quẹo trái ở ngã ba là đường Trần Quang Khải. Đầu đường là phòng mạch của Bác Sĩ Hạnh. Trước khi đi ngoại quốc đã làm giấy tờ hợp pháp giao lại căn nhà cho người em tên Lịch. Nay, vợ chồng anh hành nghề bôm và vá ép xe giá rất bình dân. Họ làm ăn rất đàng hoàng, uy tín và có lương tâm, tiệm Bida TQK, về sau đổi thành Salon bán xe TQK. Đi thêm vài bước là con đường nhỏ tên Nguyễn Hữu Cảnh, còn gọi là đường Xóm Chùa vì trong hẻm có nhiều chùa chiền. 

Đầu hẻm, phía bên phải là chỗ mài dao kéo, tông đơ, rồi đến tiệm bánh cuốn Thanh Trì vẫn còn tồn tại, có lẽ đã hơn nữa thế kỷ? Bà chủ đã mất cách đây vài năm, các con gái bà tiếp tục nối nghiệp. Nằm đối diện là Hãng Sáo Công Ty, rồi tới Trường Việt Nam Học Đường, số 38 đường Đặng Tất do Thầy Phan Hiếu Kính làm Hiệu Trưởng và Trường Trung Học Tư Thục Văn Lang, số 51 Trần Quí Khoách do Thầy Ngô Duy Cầu làm Hiệu Trưởng. Trường Văn Lang bắt đầu bằng hai dãy nhà lợp bằng tôn trên nền đất từ các ao rau muống. Sau đó Thầy Cầu cho xây dựng từ từ. Sau này, trường Văn Lang được xem như có bề thế nhất trong vùng. Thành phần giáo sư giảng dạy rất hùng hậu. Đa số đang là Giáo Sư của các Trường Công Lập nổi tiếng như Pétrus Ký, Chu Văn An… Năm nào, tỷ lệ học sinh trường Văn Lang cũng đều đạt thành tích rất cao trong các kỳ thi Tú Tài 1 và Tú Tái 2 do Bộ Giáo Dục tổ chức.. Thầy Cầu mất đúng vào ngày 30 tháng 04, năm 1975. 

Hiện nay Trường Văn Lang là trường duy nhất trong khu vực Đa Kao và Tân Định còn tồn tại và vẫn giữ tên Văn Lang. Đối diện trường Văn Lang là Cư Xá Kiến Ốc Cục Tân Định, dành cho công chức. Đi vào phía trong là chùa Vạn Thọ và một số chùa nhỏ khác nằm rải rác. Ngoài ra có dãy phố mười căn, trong đó có gia đình ban kích động nhạc thần đồng CBC danh tiếng một thời, vì các nghệ sĩ trình diễn đều còn ở lứa tuổi nhi đồng.

Phía tay phải là quán cơm cây Điệp, kế bên là hãng sản xuất Gạch Bông Vân Sơn và tiệm Billards mang cùng tên. Nhìn sang bên đường là tiệm giặt ủi Tần Tiến, cho thuê xe xích lô đạp, làm bản kẽm Dầu, trường Trung Học Tư Thục Tân Thạnh của Thầy Phan Út. Trưóc khi đi vào cổng trường, phải đi ngang Bảo Sanh Viện Ngô Liêng. Hẻm Trường Tân Thạnh đi ra được đường Đặng Dung. Quẹo bên trái có khách sạn Đặng Dung , quẹo bên phải là nhà Thầy Hiệu Trưởng Văn Lang Ngô Duy Cầu, số 48 A Đặng Dung. Nay là phòng chữa răng Ngọc Nha và nhà của gia đình Thuốc Cam Hàng Bạc.

Đi tiếp sẽ gặp chùa Cô Hồn hay Tân Hiệp Nam Nữ Hội, số 186 TQK, cây xăng TQK, Photocopy Hoàng Sơn, xe nước mía chị Hai số 186 Bis. Cô em gái tên D…là nữ sinh Lê Văn Duyệt rất xinh xắn và duyên dáng. Nhờ thế mà xe nước mía chị Hai lúc nào cũng tấp nập khách đến thuởng thức,mà đa số là học sinh. Nhiều anh chơi nổi kêu một lúc hai, ba ly và tình nguyện rửa và dọn ly giùm. Tuy nhiên, một chàng Sĩ Quan tốt nhiệp khoá 19 Võ Bị Đà Lạt thuộc binh chủng quanh năm hành quân với bưng biền và lặn lội ở Rừng Lá Thấp đã được nàng đáp lại tình yêu. 
Đây là một mối tình lãng mạn và trong sáng. Nhưng định mệnh oái ăm đã không đưa đến một kết thúc tốt đẹp vì thân mẫu cô đã quyết liệt từ chối. Lý do là khác biệt về tôn giáo và nhất là không muốn cô sớm trở thành quả phụ thơ ngây ở tuổi vừa mới chớm hai mươi. Cuối cùng hai người đành phải nhắm mắt chia tay. Nghe đâu gia đình nàng đang định cư ở Canada. Còn chàng sau năm 1975 tiếp tục dùi mài kinh sử hơn mười năm ở Đại Học không có ngày tốt nghiệp. Chàng đã cùng gia đình đến Mỹ theo diện H.O và định cư ở Nam Cali. Thỉnh thoảng chàng cũng viết nhiều bài gồm đủ các đề tài và được độc giả các nơi ái mộ. Nghe đâu chàng cũng đã từng đoạt giải “Viết Về Nước Mỹ” nhiều lần.

Đường Bà Lê Chân bên tay phải, ngay góc đường là quán cơm tấm bì, chả, sườn nướng, xí mại và cà phê pha vợt bình dân tên Ngọc Long của vợ chồng con trai nghệ sĩ lão thành Bảy Nhiêu. Kế bên có bà Sáu bán nước trà Huế và hai bàn đá banh tay lôi cuốn các học sinh kéo đến thường gây ồn ào trước khi vào học và lúc tan trường. Đôi khi sinh ra ẩu đả vì cá độ, chọc quê nhau. Cả hai bên thắng hay thua thì quần áo, mặt mày đều dính dầu nhớt lem luốc. Chắc chắn về nhà sẽ bị ăn đòn.

Nằm đối diện là Đình Phú Hoà, số 159 TQK nơi các đoàn hát bộ và cải lương thường đến tập và diễn tuồng. Diện tích Đình Phú Hoà đang dần dần bị thu nhỏ lại vì được dùng chỗ giử xe, cho thuê mặt bằng và xây cất nhà cửa bất hợp pháp. Sát bên Đình Phú Hoà là lớp Anh Ngữ của Giáo Sư Nguyễn Thế Thông.
Nằm trên đường Bà Lê Chân phía bên trái có một hẻm nhỏ với ông Sáu Hộ chuyên bó bột trị trật xương, gãy xương tay chân, tiệm Kim Thạch bán văn phòng phẩm, dụng cụ hoc sinh, nhà in Bùi Văn Tạ, bảo sanh viện Hà Đông Hà. Trước mặt có con đường mang tên Mã Lộ. Hồi xưa có bến xe thổ mộ và xe cá. Con đường này chạy song song phía sau chợ Tân Định. Đi thêm khoảng mười mét là đường Hai Bà Trưng. Nằm ngay góc Bà Lê Chân và HBT là Y Viện Tân Định. Phía bên phải có tiệm thịt bò Thành Thể và ba tiệm vàng Đình Thể, HữuThành và Mỹ Thịnh. Hai ông bà Mỹ Thịnh sản xuất hàng tá con. Tất cả đều là gái. tướng cô nào cũng đều dong dỏng cao. Nghe đâu ông bà đi cầu tự được một đấng con trai? Cũng nói thêm ở gần đó có nhà thuốc Đông Y Đức Nguyên số 350 HBT của Đông Y Sĩ Chánh Kỷ. 
Bên trái là chợ Tân Định hoạt động hầu như suốt ngày. Ban ngày là hoạt động về chợ búa. Còn về chiều và tối thì các hàng quán: Trái cây, hột vịt lộn, ốc gạo, ốc hương, ốc len xào dừa, khô mực, đu đủ bò khô, gan cháy, hủ tíu mì, sâm bổ lượng, cháo lòng, bánh cuốn…
Bà con đi ngang qua thường hay bị chèo kéo lại và lực lượng bán vé số vừa thấy khách ngồi là chạy lại mời mọc. Chưa tính đến các cái bang thường gây phiền phức cho thực khách khi vừa ăn xong, chưa rời khỏi bàn đã bị họ nhào tới thu gọn chiến trường chớp nhoáng.

Từ Đình Phú Hoà nhìn sang bên kia là đường Trần Nhật Duật. Xe chè Huỳnh Thị Ngà nằm ngay góc đường. Bà chủ là người miền Bắc di cư. Xe chè bà nổi tiếng về đậu xanh, đậu đỏ và bánh lọt nước dừa không nơi nào sánh bằng. Bà cũng bán thêm nước chanh muối, sương sáo, sương sa. Vào giờ tan học học sinh các trường kéo đến rất đông , bà bán không kịp. Đường TND chạy dài tới khu nông cơ cũ. Cuối cùng, được chấm dứt bằng một nhánh sông nhỏ chảy ngang qua. Học sinh trốn học thường đến đây tắm sông, trèo hái trứng cá, bần, bình bát, keo và mướn ghe chèo ra đến Long Vân Tự và cầu Phan Thanh Giản - Xa Lộ Sàigòn & Biên Hoà.

Trên đường Trần Nhật Duật có bốn con đường nhỏ mang tên các nhân vật lích sử đi ngang qua. Thứ tự như sau: Đặng Dung, Đặng Tất, Trần Quí Khoách và Trần Khánh Dư. Riêng, hai đường Đặng Dung và Trần Khánh Dư chạy dài đến đường Trần Khắc Chân, còn gọi là xóm Cầu Mới, đi ra được đường Chi Lăng - Gia Định. Trên đường Trần Nhật Duật, hẻm số 21 có tiệm chụp hình Nguyễn Kỳ nổi tiếng. Một thời được các nữ sinh kéo đến rất đông. Họ thường đến đây chụp hình kỷ niệm, chân dung để dán trong lưu bút ngày xanh. Chủ nhân có biệt tài tô điểm, thêm thắt làm cho hình đẹp sắc sảo và giá trị hơn.

Nhà số 10 là Trường Trung Tỉểu Học Tư Thục Huỳnh Thị Ngà do Bà Huỳnh Thị Ngà làm chủ, kiêm Hiệu Trưởng. Trường thành lập từ năm 1947, ban đầu chỉ là những lớp bậc ở Tiểu học ở căn nhà trệt. Dần dần xây lên nhiều tầng và phát triển thêm Trung Học Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp. Bà là một phụ nữ giỏi, đảm lược. Thời nào Bà cũng giao thiệp rộng trong các giới chức đương quyền và các Phong Trào Phụ Nữ. Bà biết chèo chống, điều hành và giữ vững ngôi trường Huỳnh Thị Ngà, mà chung quanh có nhiều trường trung học tư thục khác như: Văn Lang, Việt Nam Học Đường, Văn Hiến, Huỳnh Khương Ninh, Vương Gia Cần, Tân Thạnh, Les Lauriers, Nguyễn Công Trứ, Đông Tây Học Đường... 

Các Hiệu Trưởng đều là nam giới. Họ đã dùng mọi cách để cạnh tranh với trường bà, nhưng không ảnh hưởng được gì hết! Đặc biệt, Trường HTN còn là trường duy nhất ở Sàigòn có nhận nữ sinh Nội Trú. Phụ huynh rất an tâm khi gửi con vào đây học nội trú. Bà dạy dỗ, chăm sóc, theo dõi thường xuyên và áp dụng kỹ luật thật nghiêm khắc với các em.Trường lúc nào cũng đông học sinh, thi cử luôn luôn đạt thành tích tốt. Bà khuyến khích học sinh tham gia các chương trình văn nghệ, các công tác phục vụ cộng đồng, cứu trợ các nạn nhân bị thiên tai và thăm viếng thương bệnh binh đang được điều trị ở các Quân Y Vện. Những học sinh góp mặt thường được bà nâng đỡ cho miễn hay giảm một phần học phí. Nữ minh tinh điện ảnh nổi tiếng Thẩm Thúy Hằng, Ca sĩ Trang Mỹ Dung, Thảo Ly, Phương Đại,Thần đồng Phương Mai, Vũ Bộ Song Kim…đều từng là học sinh trường HTN. 

Ngoài ra, Bà còn dành một phòng rộng nhất cho Giáo Sư dạy Pháp Văn Trần Văn Chánh thuê mở Cour Particulier ở tầng trệt. Giáo Sư Chánh là thân phụ của Bộ Trưởng Y Tế VNCH là Trần Lữ Y (Louis.) Lúc đầu Thầy mở các lớp luyện thi Tú Tài 1&2 Pháp tại tư gia gần trường Huỳnh Khương Ninh, trước nhà có cây mít ướt đã già, múi nhỏ, nhưng ngọt và thơm. Sau này học sinh các trường theo chương trình Pháp như: Marie Curie, Jean-Jacques Rousseau, Couvent des Oiseaux, Pasteur, Taberd... đến ghi tên học rất đông, nên Thầy phải chuyển sang trường Huỳnh Thị Ngà mới có thể chứa đủ.

Trường hoạt động cho đến ngày 30/04/1975. Tính ra tồn tại gần ba mươi năm. Bà HTN mất cuối năm 1992 tại tiễu bang Virginia (Hoa Kỳ.) Lúc còn sinh thời, Bà có ước mơ lấy lại ngôi trường thân yêu, mà Bà đã bỏ ra bao nhiêu công sức tạo dựng. Nhưng ước mơ của Bà đã không bao giờ trở thành hiện thực .

Đối diện trưòng Huỳnh Thị Ngà, góc đường Đặng Dung là nhà gíáo sư khiêu vũ Nguyễn Trọng ở trên lầu một, phía trưóc có cây me to. Học sinh các trường chung quanh thường leo lên hái, Những trái me được túm gọn lại trong áo sơ mi. Khi vừa trèo xuống, thỉnh thoảng bị các anh hùng du đảng xóm chợ Tân Định tịch thu hết chiến lợi phẩm. Lúc đó chỉ biết mếu máo, năn nỉ xin lại vài trái ăn cho đỡ ghiền. 
Cách đó vài căn là nhà Giáo Sư Huỳnh Văn Mĩ (i ngắn.)Thầy Mĩ nổi tiếng về dạy Pháp Văn, nhất là phương pháp phân tích các mệnh đề rất dễ hiểu. Thầy cũng là một trong những Võ Sư có công sáng lập môn phái Hàn Bái Đường. Không ai nghe nhắc về vợ thầy, sau khi hết giờ dạy học chỉ thấy Thầy đi chợ một mình, tay xách cái gà mên. Thầy có con trai tên H..đẹp trai, giỏi võ và tốt nghiệp Bác Sĩ Quân Y.. Thầy Mĩ mất ở Nam Cali năm 2004, hưởng thọ 93 tuổi. 
Học sinh trường Huỳnh Thị Ngà rất nễ sợ thầy. Trong giờ Thầy dạy, không em nào, cho dù bặm trợn đến đâu cũng không dám hó hé, quậy phá hay lơ là vì thầy rất nghiêm và khó. Em nào vô kỹ luật. Thầy sẵn sàng có biện pháp thích đáng ngay lập tức. Bà Huỳnh Thị Ngà là học trò hồi nhỏ của Thầy. Phải kể thêm ở đây xe kem của một người miền Bắc di cư có cô con gái tên Mai và xe bò viên của ông Tàu có đổ xí ngầu ăn bò viên. Thường thường là ông thắng. Trường hợp ông thua thì bò viên ông múc chung cho người thắng nhỏ hơn là loại bán bình thường cho khách.

Bây giờ trở ngược ra đường Trần Quang Khải đi về phía Đa Kao. Trước khi đến một ngã năm. Phía bên trái là phòng nha khoa trang bị máy móc hiện đại của vợ chồng đều là Nha Sĩ. Vợ là Nha Sĩ tên Hạnh. Dáng người mảnh mai, trang nhã. Bệnh nhân đang đau răng được bà chữa trị, tự nhiên cảm thấy không đau. Bà có nụ cười đẹp, hiền từ, hai hàm răng trắng đều. Gia đình tôi là khách hàng quen thuộc của bà. Chồng là Không Quân Thiếu Tá Nha Sĩ Dương Quảng Định đã từng tu nghiệp ở Hoa Kỳ (phục vụ tại Trung Tâm Giám Định Y Khoa Không Quân.) Hai vợ chồng rất đẹp đôi. Đi thêm khoảng ba mươi thước gặp một Villa cổ, phía trước có Depot rác nhỏ. Các công nhân quét rác sau khi gom rác xong đem đến đây đổ. 

Bên kia đuờng là chỗ cho thuê sách, tiểu thuyết và truyện kiếm hiệp Đức Hưng, kế bên là tiệm hàn gió đá Sáu An, tiệm hớt tóc Hải Vân. Cách đó vài căn là nơi chuyên sản xuất xích lô đạp và xe ba bánh có tên Ngọc Quế.

Khi đến ngã năm, bên tay trái là đường Trần Khắc Chân, nhìn về phia tay phải là đường Nguyễn Phi Khanh và Trần Văn Thạch (nay là Nguyễn Hữu Cầu.) Có nhà may Tụ Bảo, tiệm buôn Thế Giới, vựa trái cây, lò bánh mì, nhà Bác Sĩ Trần Văn Văn, Cinéma Modern, nhà sách Yểm Yểm Thư Quán. 
Đối diện là xóm Cảnh Sát, vì đa số những gia đình ở đây đều phục vụ trong ngành Cảnh Sát và nhà Quái Kiệt Tùng Lâm. Hẻm này đi ra được đường Đinh Công Tráng. Căn nhà nằm ngay góc Nguyễn Phi Khanh và Trần Văn Thạch của ông bà Bùi Ngọc Phương. Ông tự phong cho mình là vua dầu hoả Việt Nam và dự định ứng cử Tổng Thống VNCH. Sau năm 1975 ông mất ở trong tù.

Nếu đi ngược chiều trên đường Nguyễn Phi Khanh, ngã ba đầu tiên là đường Huyền Quang có Sơn Trà Đình - Tín Nghĩa Hội, số 113 A Nguyễn Phi Khanh nằm ngay góc. Mỗi năm vào dịp Lễ Vu Lan có trình diễn Hát Bộ. Khán giả đi xem thường ném các quạt giấy có kẹp tiền lên sân khấu, để tưởng thưởng khi đến đoạn nào gây cấn, hấp dẫn. Lúc đó chiên trống thi nhau gõ, đánh liên hồi. Tiếng la hét cổ vũ ầm ỉ.

Đường Huyền Quang mang tên một vị Sư. Con đường dài khoảng hai mươi thước, đi hết đường Huyền Quang gặp đường Lý Trần Quán, quẹo trái là trường Mẫu Giáo Mạnh Mẫu. Nơi đây có nữ Nghị Viên Thành Phố nổi danh TKT, mà một dạo báo chí Sàigòn hết lời ca tụng bà có biệt tài “vừa đánh răng, vừa huýt sáo.” Kế bên là Chả Cá Lã Vọng. Cuối đường sẽ gặp đường Hiền Vương và bên hông nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi. Quẹo trái là Sở Vệ Sinh Thành Phố.

Ngã ba kế tiếp của đường Nguyễn Phi Khanh là Lý Văn Phức, có một Dépot rác rất lớn. Các công nhân vệ sinh đưa rác về đây tập trung, trước khi các xe lớn đến chở đi tái chế và phế thải. Cuối đường là quán cà phê bà Chi, mà các bài viết về cà phê Sàigòn cũ luôn luôn phải nhắc đến. Bây giờ con cháu bà vẫn tiếp tục, nhưng khách không còn đông. Buổi trưa phải bán thêm cơm phần giao đến các văn phòng. Quẹo trái gặp rạp hát Casino Đa Kao (nay là Rạp Cầu Bông) , tiệm thạch chè Hiển Khánh, nhà may Cao Minh, tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, tiệm kem Mỹ Hương là nhà của nhạc sĩ Tây Ban Cầm Đan Phú. Ông thường chơi cho các Đài Phát Thanh và các chương trình Đại Nhạc Hội hàng tuần do Đài Phát Thanh Sài Gòn tổ chức thi tuyển lựa ca sĩ ở Rạp Quốc Thanh và Hưng Đạo. Khi ông đệm đàn, ông rất khó với ca sĩ hát không đúng nhạc hay không thuộc bài bản. 
Tuy nhiên, khi đệm cho nữ ca sĩ Liêu Trai Thanh Thúy hát. Dù ca sĩ Thanh Thúy hát cách nào, đôi khi chỏi, hay rớt nhịp. Ông cũng vui vẻ đệm theo, mà không một chút bực dọc hay phàn nàn. Kế bên là tiệm Thịt Bò Đức Phú. Đối diện bên đường là nhà hàng Pháp tên Casino, tiệm bán quân trang, huy chương và huy hiệu quân đội Quế Anh. Nếu quẹo phải sẽ gặp tiệm hớt tóc Đơ, chuyên hớt tóc theo lối tài tử ngoại quốc, rồi đến Đền Thờ Đức Trần Hưng Đạo số 36 Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu.)Ngỏ vào trong đền phía bên trái bán nhang đèn cho khách thập phương đến cầu khẩn, có bà thầy bói mù chuyên gieo quẻ bói bằng hai đồng xu. Gieo quẻ cho bất cứ ai, khi hai đồng xu vừa rơi xuống chiếu, bà cũng đều nói với thân chủ là sắp nhận được tin vui ở xa và dặn thân chủ nên cẩn thận về đi đứng, xe cộ, kẻo bị tai nạn, nhưng đã đên đây cầu khấn thì được Đức Thánh Trần che chở, nên đều tai qua, nạn khỏi!

Đoạn đường Trần Quang Khải từ đây ra đến đường Đinh Tiên Hoàng, tuy không dài lắm, nhưng có rất nhiều cửa hiệu buôn bán. Phía bên phải là Pharmacy Duyệt, cũng là tên của Dược Sĩ Duyệt, nghe đồn gia đình ông gặp nạn lúc di tản ngày 30/04/1975? rồi đến bảo sanh viện Chung Nam Quế. Nơi các bà bầu khu Đakao và Gia Định thường đến khai hoa nở nhụy. Nhà kế bên trước sân có một hồ nuôi cá tai tuợng rất lớn và hon non bộ. Một phụ nữ rất mập ngồi trước nhà, lúc nào trên tay cũng cầm cây quạt bằng lông gà phe phẩy. Bà hành nghề coi bói bài Tây, thân chủ cũng đông. Tiếp theo có hai tiệm bán phụ tùng và sửa xe Honda, rồi cà phê Ngọc Dung số 77 Trần Quang Khải, của hai chị em tên Ngọc và tên Dung. 

Đi thêm một chút nữa sẽ gặp Đình Nam Chơn, số 29 TQK. Trước đình có thờ hình ông Cọp rất oai vệ. Bên trái cổng, nằm trong sân đình có cây Đa to, rễ đan với nhau chằng chịt. Có lẽ nó được trồng đã hơn trăm năm? Hiện nay Đình Nam Chơn được xếp là “Di tích Kiến Trúc Nghệ Thuật” cần phải bảo tồn. Thêm vài bước nữa có một Phật Đường nhỏ của người Hoa, phía trước có hai cây Mai Tứ Quý đã già, hoa nở quanh năm. Phật Đường thuộc Giáo Hội Phật Đường Nam Tông có tên là Minh Sư Đạo Quang Nam Phật Đường. Nghe đâu Phật Đường này sẽ được xây dựng lại thành nhiều tầng. Mọi chi phí, tốn kém đều do các Hoa Kiều ở nước ngoài gửi tiền về giúp. Hiện đã lên kế hoạch và đang xin phép chính quyền duyệt.

Kế bên là tiệm vàng Bảo Thành. Ngoài việc bán vàng bạc, nữ trang, cũng còn nổi tiếng về làm bánh Trung Thu, giò lụa, giò thủ và các loại bánh mứt. Trưóc 1975, bà Bảo Thành là chủ thầu các bãi giử xe hai bánh lớn nhất Sàigòn như: Trường Đại học Luât khoa ở đường Duy Tân, Nha Xổ Số Kiến Thiết ở đại lộ Thống Nhất, Rạp Hát Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo, và dọc theo hai bên đường Lê Lợi. Cách một căn là tiệm ăn Tàu có tên Dân Thiên, với các món mì xào dòn, áp chảo, cơm thố và cơm chiên Dương Châu tuyệt vời.

Tiếp tục phía bên trái. Đầu tiên là chi cuộc cảnh sát Tân Định. Kế bên là Đình Nghĩa Hoà được xây dựng vào năm 1917. Bà con thường gọi là Đình Công Thành Ban. Nơi đây chuyên trình diễn hát bộ. Trước đình có thờ một ông Cọp. Hẻm Đình Nghĩa Hoà đi thông ra được đường Trần Khắc Chân. Tiếp theo sẽ đến một dãy phố, có tiệm Ronéo Lửa Hồng quay ronéo, đánh máy và photocopy bài vở, tài liệu cho các học sinh và thầy cô giáo. Tiệm nhộn nhịp nhất vào mùa thi cử. Ngoài ra cũng còn bán những bản nhạc quay ronéo sẵn, giá rất bình dân. Cách đó vài căn là một tiệm bán hòm, tiệm may Của, rồi đến nhà bà con với ông chủ rạp hát Văn Hoa. 

Nổi tiếng ở đoạn đường này là tiệm cầm đồ bình dân Kim Ngân. Bà chủ lúc nào cũng trang điểm lộng lẫy như các cô đào cải lương Thanh Nga, Bạch Tuyết sắp lên sân khấu. Chung quanh cũng có nhiều tiệm cầm đồ, nhưng Kim Ngân thường đông khách hơn vì tiệm cầm mọi mặt hàng giá cao hơn các nơi, cho chuộc với phân lời tương đối thấp và thủ tục đòi hỏi không phức tạp so các nơi khác.

Đi thêm khoảng hai mươi mét nữa là một con hẻm lớn, có thể nói là nổi tiếng nhất vùng Tân Định - Đa Kao. Đó là hẻm Vạn Chài. Đây là địa điểm quy tụ anh hùng hào kiệt tứ xứ về hùng cứ. Mỗi lần chính quyền mở các cuộc hành quân cảnh sát để bắt thanh niên trốn quân dịch hay cư trú bất hợp pháp thì xe cộ, súng ống rầm rộ, ca nô, thuyền nhỏ chạy dài dọc theo sông cầu Bông, đèn pin chiếu pha sáng cả một vùng. Cuối cùng, kết quả chẳng được gì hết! Vì thanh niên trốn quân dịch đã nhảy xuống sông, lặn qua bên phía Gia định, hoặc trốn trong các con hẻm sâu, tối tăm, quanh co khó đi vào. Lực lượng kiểm soát đành bó tay và chào thua.! Đặc biệt, trong hẻm có một trường trung tiểu học tư thục mang tên Văn Hiến do Thầy Phan Ngô làm Hiệu Trưởng. Thầy cũng từng ra ứng cử và đắc cử Nghị Viên thành phố Sài gòn.

Ra khỏi hẻm, quẹo trái là gặp ngay rạp hát Văn Hoa. Rạp này đã từng một thời là nơi hẹn hò của những mối tình học trò thường buồn vu vơ, ăn chưa no lo chưa tới. Nơi của những học sinh cúp cua vào những giờ học, mà các cô cậu cho là nhàm chán. Nhất là học sinh các lớp Đệ Tam thường trốn học nhiều vì là lớp không thi, lớp dưỡng sức để chuẩn bị sang năm chiến đấu với thi cử. Lơ tơ mơ là đơ dèm cùi bắp hay đeo cánh gà chiên bơ lủng lẳng trên vai.

Rạp Văn Hoa là một trong những rạp hát quen thuộc, thanh lịch và sang trọng so với các rạp khác trong vùng, vì có trang bị máy lạnh, màn ảnh rộng và giá vé vào cửa cũng tương đối bình dân. Rạp chiếu đủ các loại phim. Những lúc có phim mới và hấp dẫn, bà con sắp hàng rồng rắn, kéo dài tới tận trước ngỏ xóm Vạn Chài. Khán giả nào không muốn sắp hàng, không muốn chen lấn đổ mồ hôi, dễ bị rách quần, rách áo hoặc bị rạch bóp, thì có thể mua vé chợ đen. Đôi khi phải trả gấp đôi, gấp ba lần. 

Cũng nên nói thêm ở đây. Kế bên rạp hát là một quán cà phê cũng mang tên Văn Hoa, đã đi vào lịch sử của cà phê Saigon. Quán có giàn âm thanh nổi tối tân, nhạc ngoại quốc chọn lọc, hấp dẫn, luôn luôn đổi mới, chỗ ngồi thanh lịch, vị trí thuận lợi và do hai chị em ruột là bà con với vợ của ông chủ rạp Văn Hoa đứng bán.

Cô chị có tên TBD và cô em có tên TBH. Hai chị em đều là nữ sinh trường trung học Huỳnh Thị Ngà. Lúc nào đi học, cả hai cô đều mặc đồ đầm rất xinh xắn. Trông giống búp bê không tình yêu. Nghe đâu cũng có nhiều anh trồng cây si đến uống cà phê thường xuyên mỗi ngày, trong số đó có anh là ca sĩ một ban kích động nhạc nổi tiếng về bài hát Sunday Morning. Ngày nào anh ta cũng đến quán ngồi đồng, vừa thuởng thức cà phê, vừa trồng cây si cô em TBH. Cuối cùng chẳng nên cơm cháo gì! Gia đình Cô TBD hiện ở Montréal, còn gia đình cô TBH từ Montréal chuyển về Pleasanton (California.)vì chồng cô là Kỹ Sư được một hãng điện tử lớn ở Bắc Cali tuyển dụng.

Sau 1975, rạp Hát Văn Hoa vẫn còn hoạt động và coi như đã bị xoá sổ hoàn toàn vào ngày 14 tháng 03, năm 2011. Lúc đầu một công ty mua lại dự định xây một chung cư mười lăm tầng với nhà ở và các cửa hàng ăn uống, cùng các phuơng tiện giải trí khác. Nhưng chính quyền chỉ cho phép xây năm tầng. Do đó công ty tạm ngưng để chờ xin giấy phép xây dựng lại. Trước sau gì cũng sẽ đuợc chấp thuận. Chuyện này chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi! Hiện nay, tạm thời ban ngày nơi đây là chỗ rửa xe và mở quán nhậu. Ban đêm làm chỗ giữ xe hơi.

Đoạn đường còn lại, phải nhắc đến một quán cơm Xã Hội, chuyên phục vụ cho giới lao động, công tư chức với đồng lương thấp và học sinh, sinh viên nghèo. Giá rất bình dân, chỉ năm đồng. Thực đơn gồm ba món thay đổi thường xuyên. Cơm ăn thoải mái, ăn cho đến khi nào no bụng thì thôi! Ngoài ra, còn đưọc tặng thêm một trái chuối tráng miệng và ly trà thơm, nóng bốc khói. 

Sau đó phải kể thêm hai tiệm bán xi măng, gạch, cát và đá rất lâu đời là Tấn Phát và Tâm Long, tên của vợ và chồng được ghép lại. Tiệm bán vật liệu xây dựng Tâm Long số 8 TQK và tiệm vàng Bảo Thành số 9 TQK. Hai tiệm nằm đối diện nhau. Hai bên gia đình coi nhau rất thân tình và đều đông con. Lúc nào cũng có ý muốn làm thông gia với nhau. Nhưng rất tiếc các dâu và rể của cả hai nhà đều là những người ở nơi khác. “Đúng là duyên số do Trời sắp đặt.” Dù có muốn làm mai mối bằng mọi cách, cũng không thể nào được! 

Một chút nữa thì bỏ quên tiệm may áo dài tương đối nổi tiếng là Phương Luân, hiệu ảnh Ngọc Chương, cà phê Cây Trúc nằm ở kế bên. Đi hết đường Trần Quang Khải sẽ gặp đường Đinh Tiên Hoàng. Trước đó gặp một cái đình nhỏ tên là Phú Hoà Vạn số 6 TQK, mà hồi xưa Thầy Vũ Hữu Tiềm thuê để mớ lớp Luyện Thi Đệ Thất vào các trường Công Lập. Nay, Đình Phú Hoà Vạn coi như bị xoá sổ vì một gia đình chiếm cứ từ trước đã cố tình làm mất đi các di tích của đình. Hiện chính quyền địa phương đang tìm mọi cách lấy lại để làm chuyện công ích.

Quẹo trái đi ra cầu Bông, sẽ găp một quán bán thịt gà, vịt và heo quay Thanh Xuân rất đông khách. Cạnh đó là một tiệm chuyên sửa xe Vespa và Lambretta. Nhìn sang bên kia đường là tiệm giầy Đông Hưng và nhà may áo dài Thanh Châu. Tiệm mang tên người con gái lớn nhất. Nhà may Thanh Châu khá nồi tiếng, chuyên may áo dài cho các ca sĩ và áo cưới cô dâu. Hiện nay tiệm may Thanh Châu vẫn tồn tại và có rất nhiều khách đến đặt may mỗi ngày. 

Bên kia đưòng Trần Quang Khải là đường Nguyễn Huy Tự. Phía tay phải có chợ Đa Kao. Trước khi tới chợ Đa Kao, sẽ gặp một gánh chè chỉ duy nhất bán đậu đen. Bà bán chè có tướng trông phúc hậu. Bà chỉ bán vào buổi chiều. Chè đậu đen bà nấu, hạt rất dẻo, hương vị ngọt đậm đà. Thú vị nhất là “ngồi chồm hỗm” ăn chè nóng dưới cơn mưa lất phất của Sài gòn, vì không có ghế cho khách.

Một con đường chạy ngang chợ Đa Kao là đường Trương Hán Siêu. Bên trong có đền thờ nhà cách mạng Tây Hồ Phan Chu Trinh và quán bánh cuốn tráng hơi mang tên Tây Hồ. Bà chủ bánh cuốn tên là bà Cà. Bà khởi nghiệp năm 1960, bằng một cái quán xập xệ, một ít bàn ghế thấp lè tè và mấy tấm bạt cũ để che nắng mưa. Bà mất vào năm 2005. Nay, các con bà phát triển thành ba nơi bán bánh cuốn cùng mang tên Tây Hồ: hai tiệm trên đường Đinh Tiên Hoàng và Huỳnh Khương Ninh và một trên đường Đinh Bộ Lĩnh - Bình Thạnh. Phía trong chợ Đa Kao, nằm bên dãy chợ cá bên tay phải còn có Đình Hoà Mỹ, số 7 THS. 

Đối diện chợ Đa Kao là Tín Nghĩa Ngân Hàng. Khi chiều đến, ngân hàng đóng cửa thì xuất hiện một gánh cháo lòng, mà bà chủ rất khó tánh. Bà luôn luôn ưu tiên bán trước cho nam gìới, còn nữ gìới thì bà thường bắt phải đợi. Nếu thắc mắc, khiếu nại thì bà im lặng, không trả lời. Có nghĩa là bà không muốn bán. Các nữ thực khách đành phải đi nơi khác mà trong bụng rất ấm ức vì bị bà đối xử phân biệt...

Đường Nguyễn Huy Tự rất ngắn, khoảng chừng ba mươi thước. Chấm dứt khi đụng đường Nguyễn Văn Giai. Chạy thẳng là đường Phạm Đăng Hưng (nay là Mai Thị Lựu.) Đi hết đường quẹo trái là Đài Phát Thanh Sàigòn. Thêm vài bước sẽ gặp đuờng Nguyễn Bỉnh Khiêm.Trên đường PĐH có Viện Nhu Đạo Quang Trung của Thượng Toạ Thích Tâm Giác. Nguyên Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo. Đối diện với Viện Nhu Đạo Quang Trung là một ngôi chùa lâu đời của người Hoa, mang tên Phước Hải Tự hay còn gọi là Chùa Ngọc Hoàng, số 73 PĐH. Đặc biệt, trong chùa có nhiều cây cổ thụ lâu đời, một cái hồ lớn thả rất nhiều rùa, có những con sống đã vài chục năm trở lên. Mỗi khi các bó rau được thả xuống hồ cho chúng ăn thì cả hồ náo động, nước bắn lên tung toé, vì các chú rùa giành ăn tạo nên.

Đường Nguyễn Huy Tự, quẹo trái là đường Bùi Hữu Nghĩa. Có một cây cầu sắt cũ. Đi về phía chợ Bà Chiểu (Gia Định.) Nếu quẹo phải sẽ găp đường Nguyễn Văn Giai. Đi hết đường Nguyễn Văn Giai sẽ gặp đường Đinh Tiên Hoàng. Nhìn sang phía bên kia đường là đường Huỳnh Khương Ninh. Bên trái là rạp hát Asam, nay đã xây thành chung cư và tiệm thuốc tây Lịch Cường. Pharmacy mang tên của Dược Sĩ Tống Lịch Cường. Đầu đường Huỳnh Khương Ninh, có xe bánh mì Bảy Quan với bánh mì thịt, dăm bông và ba tê rất độc đáo. Hiện nay đầu đường HKN là hai tiệm bánh cuốn mang tên Tây Hồ do con gái bà Cà chiếm ngự. Trên con đường này có trường trung học Huỳnh Khương Ninh. Đi hết đường Huỳnh Khương Ninh sẽ gặp đường Phan Liêm. Đường chạy dọc theo bên hông Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi. 

Trên đường Đinh Tiên Hoàng giữa khoảng đường Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản có đường Tự Đức (nay là Nguyễn Văn Thủ), trường tiểu học Đa Kao, mì Cây Nhãn, thêm hai nhà hàng Pháp nổi tiếng là Chez Albert và La Cigale. Ngoài ra, cũng phải kể thêm hai quán cà phê đã đi vào gia phà Cà Phê Saigon trước năm 1975. Quán thứ nhất là cà phê Hân mà tất cả mọi thứ đếu làm bằng Inox từ phin, muỗng, tách đựng đường, đựng sữa. Quán thứ hai là cà phê Duyên Anh. Quán mang tên nhà văn Duyên Anh, nhưng hoàn toàn không dính dáng đến nhà văn này. Cô bé ngồi tính tiền tên Q. có nụ cười xinh xinh, đôi mắt tròn, đen láy và tóc dài thắt bím rất dễ thương. Cô làm cho bao nhiêu đấng anh hùng mê mệt. Cô cũng còn là đề tài cho các chàng thi sĩ tài tử đến vừa thưởng thức cà phê, vừa làm thơ sầu mộng. Nhưng chẳng anh nào lọt được vào đôi mắt nai tơ của nàng! Bây giờ Cà phê Hân và Duyên Anh là hai nhà hàng bán thức ăn hải sản.

Khu Đa Kao có thể kể thêm những con đường tên không thay đổi: 
- Đường Nguyễn Bĩnh Khiêm có Nha Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, hai trường Trung Học Công Lập Trưng Vương, Võ Trường Toàn, hồ bơi Nguyễn Bĩnh Khiêm, Đình Tân An, các Sở và Nha An Ninh Quân Đội. 
- Đưòng Phan Kế Bính có quán cà phê Văn Nghệ Cây Tre, Hội Văn Hoá Bình Dân do ông Huỳnh Văn Lang Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái làm Chủ Tịch. 
- Đường Mạc Đĩnh Chi với Bi Da và nhà hàng Trường Cang, Hội Việt Mỹ và Ty Cảnh sát Quận Nhất. 
- Các đường Trần Cao Vân, Phan Tôn, Phan Ngữ, Trần Doãn Khanh, Cây Điệp, Nguyễn Thành Ý, Hoà Mỹ.

Gần ngã tư Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Phi Khanh và Hiền Vương vẫn còn cây Đa cổ thụ rất to đứng sừng sững, năm sáu người ôm không xuể. Bên kia đường là tiệm chuyên làm con dấu, bảng tên, thêu cờ, bán các huy hiệu và tài liệu Hướng Đạo Việt Nam tên Phúc, số 180 ĐTH. Ông Phúc được thân nhân bảo lãnh đi Mỹ. Qua ở được một thời gian, ông cảm thấy không hợp, nên quay về VN lại, để ngày ngày tiếp tục công việc từ trước gắn liền với cuộc đời ông.

Phải kể thêm một con đường tương đối đẹp và thơ mộng là đường Phùng Khắc Khoan với tư gia Đại Sứ Hoa Kỳ. Hai bên đường trồng toàn những cây me. Khi có gió nhẹ và nắng vàng. Những chiếc lá me rơi rơi, trông dễ thương và thơ mộng vô cùng!

Cuối cùng trở về khu Tân Định. Xin chỉ ghi ra những con đường không bị đổi tên: - Nguyễn Văn Mai nối hai đầu đường Hai Bà Trưng và đường Huỳnh Tinh Của có trường tiểu học con trai Tân Định, nhà thuốc Đỗ Phong Thuần và xóm Hầm Sỏi danh tiếng về du đảng trong vùng. 
-Đường Đinh Công Tráng, với món bánh xèo vang danh, trường (Tân Thịnh, Les Lauries,Văn Minh) và tiệm chụp hình Duy Hy, số 76 ĐCT, chuyên chụp hình cho học sinh các trường tiểu học công lập để làm kỷ yếu mỗi năm. 

-Ngay góc Hai Bà Trưng và Đinh Công Tráng là tiệm thuốc Kính Tiên, số 274 HBT. Nếu quẹo phải có Luyến Photo và lò dạy nhạc của ba nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Được ghép lại là Lê Minh Bằng. Nhạc sĩ Lê Dinh hiện ở Canada, nhạc sĩ Anh Bằng đang ở Hoa Kỳ, còn nhạc sĩ Minh Kỳ đã mất tại Suối Máu - Biên Hoà vào Tháng Tám, năm 1975. Nếu quẹo trái thì gặp tiệm giầy Trinh Shoes, hai tiệm bán hòm Vạn Thọ và Tobia, hẻm Bưu Điện đi ra được đường Hiền Vương. Quẹo bên phải gặp trường dạy lái xe hơi Mayer của ông nghị Còi Ô Tô Giáp Văn Thập, nhà của nữ nghệ sĩ Mỹ Trinh số 110. Cô Mỹ Trinh chưa bao giờ mở quán ăn hay là diễn viên hài khi còn ở VN, và cơm tấm Hiền Vương số 114 HV. Quẹo trái gặp trường Mẫu Giáo Michelet và đường Lý Trần Quán. 

Gần đó có tiệm chuyên làm cửa sắt, máng xối… của gia đình hai anh em cua rơ Trần Gia Thu và Trần Gia Châu danh tiếng một thời trong làng đua xe đạp VNCH. Đối diện bên kia đường là cà phê Thu Hương cũng có tiếng tăm ở Sàigòn trong lịch sử cà phê Sài gòn, mà ông chủ không muốn ai đổ nước sôi vào phin cà phê, ngoài ông ra, nhà thờ Tân Định số 289 HBT và trường Thiên Phước số 295 HBT. Bên trong nhà thờ Tân Định có một cổng sắt thường đóng, chỉ để hở đủ cho một người len qua. Khi nào có lễ lớn thì cửa mới mở lớn ra. Đi qua cổng này sẽ gặp trường La San Đức Minh, cũng như đường Hiền Vương, đường Pasteur và đường Huỳnh Tịnh Của. 

Đầu đường Hai Bà Trưng và Hiền Vương là Tín Nghĩa Ngân Hàng và nhà may Paris Mode. Đối diện là quán Bar Châu Thới. Trên đoạn đường Hiền Vương này có ngỏ hẻm Trần Tấn Phát đi ra được đường Duy Tân, Phan Thanh Giản và Hai Bà Trưng, hai cây xăng và rửa xe. Phía tay phải có tiêm giò chả Phú Hương và hai tiệm phở gà nổi tiếng là Hiền Vương, Chí Thành. Nhiều thực khách là các giới chức trong chính quyền Sàigòn thường đến đây thưởng thức. Hai chủ tiệm phở đều là người cùng quê ở miền bắc.

Ngoài ra, cũng xin kể thêm đường Pasteur. Con đường đi ra được Huỳnh Tịnh Của, Hai Bà Trưng, Hiền Vương. Nơi đây có nhiều tiệm phở, quán cà phê Hồng của hai chị em, nhà may áo dài Thiết Lập và Viện Pasteur, chiềm một chu vi rất rộng, có bốn con đường bao quanh, với những cây cổ thụ to đến nỗi năm, sáu người ôm vẫn không xuễ. 

Ngay ngã ba Nguyễn Đinh Chiểu (nay là Trần Quốc Thảo) và Pasteur, có một cái mả đá rất lớn được xây bằng đá ong đã bị giải toả. Nằm cuối bên kia đường là một trong những trường dạy Anh Văn đầu tiên của Sàigòn tên Khải Minh. Quẹo trái ra đường Công Lý, có hảng xe đò tên Cosara của ông Phạm Hoè. Quẹo phải ra chợ Tân Định và Y Viện Tân Định. đi ngang nhà ông Thượng là ông bâu ban kích động nhạc mà các nhạc sĩ đều là các con ông, xóm đạo Pasteur, tiệm hớt tóc Hoàng Lâm và nhà ông chủ Sơn Mài Thành Lễ. 

Đầu đường Huỳnh Tịnh Của có cây Phượng Vỹ rất to mà bố,năm người ôm không thề hết. Cây cho hoa Phượng màu đỏ nở rực vào mùa hè. Dưới tàn cây Phượng,
những người thợ hớt tóc dùng các ấm bạt để che mứa, nắng và dụng cụ hành nghề của họ gồm một cái ghế, một tấm kính, một miếng da giống dây nịt đề mài dao cạo và vài tờ nhật báo phát hành trong ngày d ành cho kh ách chờ đợi đọc . Bà con nói cây Phượng không lồ này có lẽ đã hơn trăm tuổi?

Kế tiếp là Sàigòn Ấn Quán, tiệm Phở Hoà Bình, nhà may Hồng Duyệt. Giữa tiệm phở và nhà may là môt con hẻm nhỏ số 29, có nhà của Hoạ Sĩ Đinh Cường ở đầu ngỏ, đi tiếp thì đến tiệm thuốc Bắc tên Đại Cồ Việt. Gia đình rất đông con. Trong số đó có một cô tên Mẫn, sinh viên Đại Học Văn Khoa. Cô có nước da trắng, dáng cao, nét hơi lai. Một thời cô Mẫn nổi tiếng về xem bói bài, được nhiều người nễ phục. Khách đến xem rất đông, phải lấy số thứ tự để chờ đến phiên mình được xem bói. Nhìn đồi diện là trường Nữ Tiểu Học Đồ Chiểu.

Để kết thúc bài viết. Xin viết ra một điều kỳ diệu, huyền bí không làm sao giải thích được:

“Tân Định và Đa Kao có lẽ là vùng đất an lành nhất của Sàigòn, Chợ Lớn và Gia đình.” Chắc là được Ơn Trên, Trời Đất, Ông Bà khuất mặt che chở và phù hộ. Vì thế bà con nơi đây lúc nào cũng sống trong thanh bình và an lạc. Mọi sinh hoạt gần như hai mươi bốn giờ, dù trong lúc chiến tranh, thiên tai, loạn lạc hay bất cứ biến cố quan trọng gì xảy ra cũng không ảnh hưởng đến địa danh này! 

Đặc biệt, Tân Định và Đa Kao có nhiều đình, chùa, miếu, đền được xây cất trên đó đã từ lâu. Có cái đã tồn tại hơn một thế kỷ. Nay, thì diện tích các nơi thờ phượng, cúng bái đó đang dần dần bị thu nhỏ diện tích lại hoặc biến mất hẳn. Người ta cố tình đem dùng vào các mục đích thuơng mại, cho thuê mặt bằng, hay xây cất nhà cửa bất hợp pháp trên đó. Có vài nơi chỉ treo bảng gọi tên là đình, chùa. Nhưng thực chất bên trong thì hoàn toàn trống trơn, không có vẻ gì gọi là chỗ thờ phượng. Việc đụng chạm và xúc phạm đến những nơi thiêng liêng, tôn nghiêm đã bao đời nay có thể sẽ ảnh hưỏng phần nào đến vùng đất Địa Linh, Nhân Kiệt và an bình này trong tương lai?

Xin phép được dừng ở đây. Hy vọng các bạn đã tìm lại được một chút hương xưa của ngày tháng cũ! Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Nhưng

“Kỷ niệm ấy hôm nay xa rồi! 
Thời gian cuốn như dòng nước trôi 
Còn đâu những giây phút bên nhau 
Nhìn trăng lên trong những đêm thâu 
Gửi tâm tư cho mây cùng gió.”
(Kỷ Niệm Xa Rồi - Nhạc Sĩ Nguyễn Hữu Thiết)

Một lần nữa Tân Định & Đa Kao mãi mãi trong tiềm thức của chúng ta.

Trần Đình Phuớc 
San José – California (Viết lại Tháng Mười, năm 2015)
Tựa đề cũ “Tân Định - Đakao Dễ Thương - Những Con Đường Vẫn Như Xưa.” viết năm 2010

Một Tấm Lòng


Vào cuối năm 1988 làng văn nghệ Paris rất vui vì được tin nhà văn An Khê một cây bút lão thành, tính tình hiều hậu, khiêm tốn trong giới cầm bút trước 75 ở Sài Gòn mới từ Việt Nam qua Pháp định cư.

Nhà văn An Khê tên thật là Nguyễn Bính Thinh sinh ngaày 01 tháng 09 năm 1923 tại làng Tân An, tỉnh Sa Đéc, nhưng trưởng thành ở Rạch Giá Kiên Giang. Thời trẻ ông đã tham gia phong trào chống Pháp , năm 1941 bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn rồi bị đày ra Côn Đảo. Tháng 8 năm 1945, ông được chính phủ Trần Trọng Kim trả tự do đưa về đất liền cùng 122 chiến sĩ quốc gia khác. Năm 1952 ông vào quân đội Quốc Gia với cấp bậc thiếu tá và năm 1954 ông bị thương vì đụng trận với Việt Minh ở đèo An Khê thuộc tỉnh Bình Định bị hỏng cánh tay mặt, từ đó ông lấy bút hiệu An Khê và gõ máy một tay để viết tiểu thuyết Dã Sử VN. Nhà văn An Khê là một cây bút đã gia nhập vào làng báo VN từ đầu năm 1950 cho đến ngày 30. 04.1975 ngoài bút hiệu An Khê trước đó ông còn dùng những bút hiệu khác như: Cửu Lang, với những tác phẩm truyện dã sử: Xương Máu Phiên Ngung, Người Anh Hùng Mặt Sắt (Mai Thúc Loan), Đoàn Quân Ma (Trần Quốc Toản), Ngai Vàng Sụp Đổ,...
Bút hiệu Vân Nga viết loại truyện tình cảm: Ánh Sáng Đô Thành, Cây Kiếng Vàng.
Với bút hiệu Nguyễn Bính Long tên một người anh đã qua đời để viết về gián điệp.
Bút hiệu:Trương Thanh Vân viết về trinh thám.

Vào những năm 60 của thế kỷ trước ông là nhà văn viết rất khỏe, chỉ trong một ngày ông viết cho 13 tờ nhật báo Sài gòn, mỗi tờ một truyện tình cảm lâm ly được nối tiếp hết ngày nay tiếp ngày mai.. Điểm đặc biệt là tình tiết trong mỗi câu truyện khác nhau, không nhầm lẫn mối tình của câu truyện này với mối tình của câu truyện khác. Do đó ông được các chủ báo lôi kéo để viết cho báo mình. Truyện của ông đuợc công chúng hâm mộ trong đó có tác phẩm “Người Vợ Hai Lần Cưới”, cuốn tiểu thuyết này đã được các soạn giả cải lương soạn thành những tuồng cải lương “Bơ Vơ,” “Tuyệt Tình Ca”, “Hai Chuyến Xe Hoa” do đoàn Thanh Minh Thanh Nga đã trình diễn vang bóng Sài Gòn năm xưa. Tiểu thuyết của ông đăng trên các nhựt báo ở thủ đô. Năm 1966 ông làm chủ nhiệm nhụt báo Miền Tây là tờ báo đầu tiên của vùng, sau biến cố năm Mậu Thân tờ báo đình bản. Trước năm 1975 ông cộng tác với các tạp chí: Đời Mới, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tiếng Chuông, Buổi sáng, Công Nhân, Dân Tiến, Vận Hội mới, Tin Sớm, Tia Sáng, Quyết Tiến, Thời Báo, Cấp Tiến, Dân Chúng, Dân Nguyện, Tiến…Đã viết khoảng 250 quyển tiểu thuyết, và đã in thành sách ở VN được 22 bộ. Ra hải ngoại vì tuổi tác và sức khỏe kém, nhất là cánh tay bị đau nhức nên ông chỉ viết được ít truyện ngắn cộng tác với một số báo ở hải ngoại như : Làng Văn, Tiểu Thuyết Nguyệt San, Văn Nghệ Tiền Phong, Viên Giác Ái Hữu và Ngày Mai. Năm 1993 Cơ sở Làng Văn (Canada) có giúp ông hoàn thành tác phẩm cuối đời cuốn hồi ký ngắn:Từ Khám Lớn Đến Côn Đảo.

Tác Phẩm:
Sóng Tình (Miền Nam, 1960)
Người Vợ Hai Lần Cưới (1961)
Vợ Kẻ Khác (Miền Nam, 1965)
Bơ Vơ (Tia Sáng, 1960-65)
Tình Tuyệt Vọng (Miền Nam, 1965)
Mối Tình Đầu (Miền Nam, 1965)
Hương Nhàn (Tia Sáng, 1966)
Cô Gái Tà Niên (Miền Nam, 1966)
Người Yêu Của X13 (ký Nguyễn Bính Long, NXB Trí, 1966)
X13 Trong Lưới Nhện (ký Nguyễn Bính Long, NXB Trí, 1966)
Đau Đớn Phận Giàu (1967)
Con Ma Dễ Yêu (Miền Nam,1967)
Bông Lúa Sa Mo (Miền Nam,1968)
Gừng Cay Muối Mặn (Miền Nam, 1969)
Máu Loang Biển Hồ (Miền Nam, 1969)
Tâm Sự Cô Gái Mù (Đại Hưng, 1969)
Người Yêu Lý Tưởng (Miền Nam, 1969)
Vợ Người Tử Tội (Miền Nam, 1969)
Nỗi Sầu Khuê Phụ (Đồng Nai, 1969)
May Rủi Một Chồng (Miền Nam 1969)
Chân Trời Nào Cho Em? (Đồng Nai,1971)
Món Nợ Tình Yêu (Mây Hồng, 1972)
Cưới Chồng (Mây Hồng, 1972)
Từ Khám Lớn... Tới Côn Đảo (Làng Văn, 1993)

Ở Pháp, giới nhà văn gốc miền Nam không nhiều, có thể kể ra như: An Khê, Hồ Trường An, Sĩ Trung, Nguyễn Thùy, Hà Ngọc Bích, Kiệt Tấn, Trần Trung Quân, Tiểu Tử, Võ Đức Trung, Đặng Đình Túy, Nguyễn Đại Thuật, Thanh Phương, Miêng, Huyền Châu, Diễm Thy, Phan Thị Trọng Tuyến, Đặng Mai Lan, Trần Thị Diệu Tâm, Quỳnh Dao, Hà Lan Phương... Thời kỳ tờ Báo Tiến đang bán chạy ở Sài Gòn do Ký giả Đặng Văn Nhâm làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, lúc đó nhà văn An Khê cộng tác viết truyện cháo báo Tiến, và nhà văn Tiểu Tử cộng tác với báo Tiến với vai trò họa sĩ và ký tên thật Võ Hoài Nam. Thuở đó nhà văn Hà Ngọc Bích đang là giáo sư các trường trung học và đại học ở Sài gòn, và hai nhà văn Hồ trường An và Sĩ Trung phục vụ trong quân đội VNCH.

Riêng nhà văn Võ Đức Trung ngày đó là công chức, sang Pháp ông định cư ở thành phố Lille ở cực bắc của nước Pháp. Ông là người chủ trương Thi Tập “Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Hải Ngoại” cùng với: nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh, nhà văn Nguyễn Hữu Nhật, GS Nguyễn Thùy, GS Võ Thu Tịnh và nhà thơ Đỗ Bình. Nhà văn Võ Đức Trung rất qúy trọng nhà văn An Khê xem như thày, dù rằng chưa từng học An Khê viết văn , nhưng ông được nhà văn An Khê khuyến khích sáng tác và khuyên ông hãy giữ chất giọng miệt vườn miền Nam trong văn chương, đó là chất liệu đặc sắc đã làn nổi bật tính chất các nhân vật trong truyuện của những tác phẩm Võ Đức Trung. Do đó ông thực hiện một cuốn sách về An Khê mang tựa đề:“An Khê Nguyễn Bính Thinh Hoài Niệm”mà ông là chủ biên, cùng với sự góp mặt của nhiều người khác.
Trong sinh hoạt văn chương nhà văn An Khê xem nhà văn Bình Nguyên Lộc là ông thầy vì bút hiệu An Khê là do Bình Nguyên Lộc gợi ý lấy từ chứng tích địa danh trong đó có sự mất mát máu xương và lòng dũng cảm hào hùng để đặt cho tác giả và khuyên ông hãy viết loại tiểu thuyết tình cảm vì thể loại đó hợp với văn phong của An Khê hơn là những loại tiểu thuyết võ hiệp lịch sử hay trinh thám gián điệp.

Nhà văn An Khê tính tình hiền hậu, thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nên tâm hồn luôn vị tha, bao dung, hòa ái. Ngay khi viết cuốn “Từ Khám Lớn Tới Côn Đảo” do Làng Văn xuất bản năm 1093, nhà văn An khê chỉ kể lại cảnh khốn khổ nghiệt ngã trong tù và sức chịu đựng của con người trong nhà giam, nhưng vẫn giữ được tấm lòng trung kiên với lý tưởng quốc gia, mà không hề đề cao hoặc đổ lỗi cho ai.

Dể trả lời một bài báo lúc đó đang gây xôn xao dư luận liên quan đến một cuốn hồi ký chính trị của một vị tướng thời đệ nhất Cộng Hòa, đăng trên tạp chí VNTP số 441 và 442. Nhà văn đã viết bài “ Xin Bạn Đồng Nghiệp Thận Trọng Ngòi Bút” ngày 16 tháng 8 năm 1994. Thuở ấy chưa có internet, ông gởi tập bản đánh máy bằng thư cho tôi. Một tháng sau ông từ trần! Không biết ông đã gởi cho báo chưa ?

Là một tín đồ Phật Giáo nhà văn An Khê quan niệm:“Người tu học đạo Phật để đạt đến Chân Thiện Mỹ hầu được giác ngộ giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, được tự tại vô ưu của bậc Toàn Giác, tức là Phật,tức là thấy được cái Phật tánh có sãn, nhưng vì vô minh, bởi lòng tham sân si đã che lấp nên con người mới khổ! ”

Ông tự nhận mình là kẻ đang tu học về Phật Giáo và chỉ mới lãnh hội được sơ đẳng, nhưng đã nhận thức được:

“Người tu học phải lấy từ bi hỷ xả làm đầu, lấy tình thương làm cho xã hội nhân loại thương yêu nhau hơn. Lấy ánh sáng trí tuệ làm cho xã hội, nhân loại bớt sân si lầm lạc mà thấy đâu là cái giá trị thật, đâu là phỉnh phờ giả dối. Lấy bình đẳng tuyệt đối san bằng bất công xã hội, nhân loại và làm cho cảnh giới ta bà này được sáng sủa , an vui hơn…Cứu cánh là vô thường, không, vô tướng, vô tác…”

Từ trước năm1975 ở Sài gòn và sau này ra hải ngoại nhà văn An Khê ngoài viết văn viết báo, ông còn rất hăng say trong sinh hoạt từ thiện có lẽ bắt nguồn từ nỗi mất mát của bản thân. Nếu đôi bàn tay của ông bình thường thì với tài năng và tâm hồn nhân ái đó chắc đã cống hiến cho đời nhiều tác phẩm hơn! Do đó trong sinh hoạt cộng dồng ông đã hướng về tình người hơn. Ông gợi ý cho tôi viết những bài về nạn nhân chiến tranh, những người bị chiến tranh cướp đi một phần thân thể! Lúc bắt đầu phát động phong trào yểm trợ thương phế binh VNCH ở hải ngoại rất khó khăn vì hầu hết những người tị nạn cộng sản vừa đặt chân đến xứ tự do đều e ngại hoặc nghi ngờ những ai liên hệ với những người trong nước! Do đó chúng tôi rất cần những cây viết yểm trợ trên mặt báo chí, nhà văn An Khê biết tôi thân với họa sĩ Hiếu Đệ, nhà báo Đặng Văn Nhâm, nhà báo Phạm Hữu (chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Chiến hữu), nhà báo Mạc Kinh (cựu chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Dân Chúng)… nên bảo tôi hãy nhờ các anh ấy viết bài yểm trợ phế binh. Thuở ấy làng báo chí ở Pháp còn thưa thớt, nhưng ở Mỹ báo chí Việt ngữ đang được mùa, rực rỡ như hoa. Mọi sinh hoạt cộng đồng bừng khí thế, hòa nhịp trong tinh thần tình bằng hữu thân thiện hướng về sự tự do cho quê hương. 

Trước năm 1975 ở Sài Gòn giáo sư Đặng Văn Nhâm là chủ của nghiệp đoàn Báo Chí và là người “thân tín ” của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ từ thời Tướng Ký làm chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương cho đến tháng tư năm 1975, nhưng ra hải ngoại lại là cây bút phê phán Tướng Kỳ gay gắt trong cuốn “Bí Mật Hậu Trường Chính Trị Miền Nam“. Ngày đó GS Đặng Văn Nhâm vừa ra cuốn Đan Việt Đại Từ Điển được đông đảo đồng hương ở ÂuChâu đón nhận, nhưng ngoài việc chăm lo viết sách, ông còn hăng say trong sinh hoạt chính trị đảng phái. GS Nhâm thường xuyên từ Đan Mạch qua Paris sinh hoạt, và đã kết nạp BS Trần Duy Tâm làm thành viên, một người du học Pháp từ thập niên 50, hiện làm giám đốc đài radio Sài Gòn ở Paris phát thanh hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Đài được sự cộng tác của TS Trần Bình Tịnh, du học ở Pháp vào thập niên 50 hiện là chủ tịch Liên Minh Quốc Tế, gồm những trí thức người Đông Âu là những lãnh tụ nghiệp đoàn chống CS thuộc các nước Đông Âu, cùng một số người khác, trong đó có nhạc sĩ Trần Văn Trạch.
Riêng GS Nguyễn Tánh Đệ vừa ra tù và định cư ở Mỹ, ông đã từng là thày dạycho tôi vẽ và có thời từng là bạn tù nằm cạnh nhau. Ngày trước ở Sài Gòn chung đường phố nên đã được ông tặng cho bức tranh phong cảnh bằng sơn mài trước năm 1975 mà gia đình tôi còn giữ ở VN. Họa sĩ Hiếu Đệ sau khi bắt liên lạc với nhà văn An Khê hai người rất hợp nhau vì là bạn cũ, anh Hiệu Đệ là lớp đàn em của An Khê trong giới báo chí Sài Gòn tthời cuối thập niên 50 của thế kỷ trước. Ở Paris còn có họa sĩ Vương Đình Thư người nhiều năm cộng tác làm việc chung với họa sĩ Hiếu Đệ ở xưởng vẽ. Hiện anh Vương Đình Thư có giữ nhiều bộ tranh sơn mài qúy của họa sĩ Hiếu Đệ.

Chúng tôi: LS Phạm Thanh Dân, nhà Báo Nguyễn Cao, và tôi được nhà văn An Khê nhận làm anh em kết nghĩa nên gọi nhà văn An Khê là “Anh Hai”, trong giới nghệ sĩ việc xưng hô với nhau người ngoài nghe hơi nghịch nhĩ nhưng chúng tôi thì quen dù chúng tôi lại là bạn thân của cháu ruột ông là cựu thiếu tá Lực Lượng Đặc Biệt Nguyễn Bính Quang, mỗi lần chúng tôi gặp nhau ngôn ngữ vẫn tự nhiên.
Có thể nói nhà văn An Khê là người khởi xướng đầu tiên Phong Trào yểm Trợ Thương Phế Binh VNCH ở hải ngoại mà chúng tôi là những thành viên rất ít ỏi ban đầu trong đó có GS Lương Thị Nga, anh chị BS Nguyễn Văn Màu du học và định cư ở Pháp từ đầu thập niên 60 là những tấm lòng vàng. Thuở ấy rất ít những bài viết về thương phế binh, những lời kêu gọi tình người rất nhạy cảm dễ bị ngộ nhận, vì sau cuộc chiến có quá nhiều người bị thương tật do chiến tranh. Nhất là việc gởi tiền về quê nhà sợ bị ăn chận vì sự kiểm soát chặt chẽ của giới cầm quyền địa phương! Nhờ sự trong sáng và lòng chân thật đã giúp chúng tôi thêm nghị lực để phục vụ những người cựu chiến hữu còn đang sống vất vưởng trong chế độ hà khắc nơi quê nhà. Ngày ấy tôi phụ trách chủ bút nguyệt san Lính ở Paris, chủ nhiệm là cựu Trung Tướng Trần Văn Trung. Nhà văn An Khê từ Marseille lên Paris thăm tôi và mời tôi cùng ông đi vận động giúp cho anh em phế binh VNCH còn nơi quê nhà. Nhiều lần từ Paris xuống Marseille thấy anh An Khê cặm cụi gõ máy, ngón tay của anh bị chảy máu chúng tôi thấy xót xa! Hiểu lòng chúng tôi anh nói:
“Xá gì chút máu các chú ơi! Anh em phế binh bên nhà còn khổ gấp trăm ngàn lần nữa! Chỉ có chúng ta bị thương tật nên mới thông cảm được những mất mát của anh em.”

Câu châm ngôn “Lá lành đùm lá rách ” bỗng có một ý nghĩa sâu sắc xoáy vào vào hồn tôi nên tôi đã thêm vào:“ Lá rách đùm lá nát” để tự an ủi mình trên con đường làm việc nghĩa. những bài viết của chúng tôi đã động lòng những người đồng hương ở Pháp và Âu Châu nên đã được hưởng ứng lời kêu gọi. Chiến hữu Nguyễn Quang Hạnh là một khuôn mặt tích cực trong giới đấu tranh thuở đó, anh là đàn em thân tín của cựuTrung tướng Nguyễn Chánh Thi, vì thận trọng sợ tôi bị chụp mũ nên anh hết sức ngăn cản. Với tấm lòng thành tôi đã kêu gọi được lương tâm của những người đã có một thời từng ở đơn vị tác chiến hiện đang cư ngụ ở Pháp và cựu thiếu tá Nguyễn Quang Hạnh từ chống đối đã chuyển sang nhận trách nhiệm làm hội trưởng Hội Bạn Của Thương Phế Binh VNCH, và tôi lấy tựa bài thơ của mình đặt tên cho tờ báo là Nạng Gỗ:

"Ngày tháng trôi đi buồn vẫn đọng
Trên dòng chinh chiến đã rêu phong.
Súng gươm lặng lẽ vào quên lãng,
Khấp khểnh đường chiều, chiếc nạng cong!"
(Nạng Gỗ)

Đó là tiếng nói chính thức của hội, từ đó cho đến hôm nay đã gần ba mươi năm. Những người tích cực trong hội là các anh Nguyễn Quang Hạnh, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng,GS Nguyễn Vô Kỷ, GS Nguyễn Ngọc Chân, BS Nguyễn Bá Linh, nhạc sĩ Minh Nhật, ca sĩ Kim Nga.. .vv…đã không quản ngại thời gian, tiền bạc, làm công việc chia sẻ Tình Thương để tổ chức những bữa tiệc tình thương lấy tiền giúp cho những người có một thời là lính đã vì quê hương mà bị thương tật. Tiếng thơm đồn xa, vì là việc nghĩa nên đã được sự hưởng ứng nhiệt tình của các đồng hương đến tham dự chia sẻ và giúp đỡ. Những tấm lòng nhân đã không phân biệt tuổi tác, nam nữ đã cộng tác nhiệt thành như: Nhà văn nữ Hà Lan Phương, nhà thơ nữ Kim Lan, nhà báo Ca Dao, chị Nguyễn Quang Hạnh, anh Jean Tài, những ca sĩ, nghệ sĩ Paris và nhiều nhà hảo tâm ẩn danh…Ttrong đó phải kể BS Phan Minh Hiển và GS Nguyễn Văn Huy những người chưa một lần mặc áo lính, nhưng thương những người đã vì tự do và quê hương mà mất đi phần thân thể. Hai người này đã viết một cuốn sách:“ Những Mảnh Đời Rách Nát” nói về sự khốn cùng của người phế binh VNCH còn lại trong nước, cuốn sách gây động lòng người làm rơi bao nước mắt. Có lần chúng tôi : Nhà văn An Khê, LS Phạm Thanh Dân, GS Lương Thị Nga và tôi đi vận động ở các tỉnh miền Nam nước Pháp, trên đường trở về nhà anh An Khê lúc gần sáng, chị Lương Thị Nga vì lái xe đường xa đưa chúng tôi đi nhiều ngày nên quá mỏi mệt, lúc về xúyt nữa xe rơi xuống đèo! Khi phong trào phế binh ở hải ngoại được mọi người chiếu cố tôi tự ý rút lui, và cũng rời khỏi tờ nguyệt san lui về đọc sách. Thuở đó chỉ có hai nhóm ở hải ngoại tiếp xúc với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ở Thụy Sĩ và được đón tiếp tại hội trường, nhóm thứ nhất là Ủy Ban Quyền Làm Người của ông Võ Văn Ái thường xuyên ra vào Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tranh đấu; nhóm thứ hai là chúng tôi mà GS Lương Thị Nga là phát ngôn viên, vì thông thạo nhiều thứ tiếng nên tiếp xúc nhiều nhất với Cao ủy Liên Hiệp Quốc.

Vào thu năm 1994 nhà văn An Khê từ giã cõi đời tại Marseille, ở Paris chúng tôi đã làm buổi lễ tưởng niệm nhà văn An Khê được hầu hết các anh chị văn nghệ sĩ báo chí đến tham dự. Ít lâu sau GS Lương Thị Nga cũng về miền vĩnh hằng! Trước khi mất nhà văn An Khê gởi cho tôi thư và bài viết về những sự việc cũ của đất nước thời VNCH, đó là cái nhìn về thời cuộc phản ánh tâm thức bắt nguồn từ lòng nhiệt huyết và nghề nghiệp qua lăng kính một nhà cách mạng muốn thay đổi xã hội, một nhà báo luôn đi tìm sự thật, một nhà văn tìm cái đẹp cho đời và một người lính luôn trung thành với tổ quốc. Việt Nam trớc năm 1975 là một đất nước bị chiến tranh và bị phân đôi bởi lằn ranh ý thức hệ và miền Nam đang bị họa cộng sản xâm lăng phải giữ từng tấc đất, và trước sự mất còn đó có cần thiết làm một cuộc cách mạng thay đổi để dân chủ hơn? 

Cả đời viết văn làm báo nên nhà văn An Khê chỉ nghĩ đến cái thiện, cái đẹp và chỉ muốn đi tìm sự thật. Nhưng có những sự thật bị che dấu, những gì xảy ra ở hiện trường nhiều khi được dàn dựng! Những sự thật bình thường thì ông có thể đến quan sát để làm phóng sự, nhưng có những sự thật liên quan đến bí mật quốc gia thì ông sẽ không bao giờ được đến, và sự việc chỉ được hé mở thời gian sau này do ngưởi trong cuộc tiết lộ! Trong lãnh vực văn chương ông khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết võ hiệp, dã sử, loại tiểu thuyết võ hiệp ông có thể tưởng tượng, dàn dựng một mẫu người anh hùng và những chiêu pháp độc đáo nhưng trên đời sẽ không thể tìm thấy! Viết về thể loại dã sử là dựa trên ký ức lịch sử lưu truyền trong dân gian, muốn tăng giá trị phải nghiên cứu thêm về chính sử để chứng minh đòi hỏi ngườiviết phải mất nhiều thời gian, mà thì giờ của ông đã dành cho các báo! Thời gian trôi đi, biết bao sự việc thay đổi nhưng chỉ có tấm lòng yêu nước là cao cả và tuyệt vời. Ông vẫn giữ mãi những hình ảnh người Lính trong trái tim, cho dù dù ông vào quân đội không lâu, nhưng thương tật chiến tranh đã theo ông từ thời tuổi còn trẻ đến khi lìa đời về cõi khác.

Người xưa đã nói: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”, nhà văn An Khê may mắn còn đôi mắt sáng dể nhìn đời dù đôi tay không còn lành lặn nhưng con người ấy có quả tim nhân hậu nồng thắm tình người và không rthù hận. Ngay từ thuở còn viết văn làm báo ở quê nhà dù được nổi tiếng và tiểu thuyết bán chạy nhưng ông không chăm chú làm giàu mà đã dùng ngòi bút của mình và vận động những cây bút khác, tiếng nói của giới báo chí đã mang nhiều quyền lợi cho anh em thương phế binh. Sau năm 1975 dưới chế độ cộng sản những tiếng nói của giới báo chí năm xưa tắt thanh chết trheo mệnh số của nền tự do dân chủ còn non trẻ! Nhà văn An Khê cũng bỏ bút, bị tắc tiếng nhưng tấm lòng của ông vẫn rộng mở, vẫn chia sẻ với bằng hữu chút vật chất mà ông may mắn nhận được do người thân ở nước ngoài gởi về. Ra được xứ người niềm hoaài bảo cuối cùng của ông là tiếp tục được giúp đỡ những người cựu chiến binh Cộng Hòa năm xưa bị tàn phế nơi quê nhà , họ khốn khổ hơn nhiều người khác vì không che dấu được những chứng tích thương tật tàn dư của chiến tranh giữa một xã hội mới. Chiến nạng gỗ còn bị thời gian làm cong, huống chi tấm thân của phế nhân! Là kẻ ở lại quê nhà nên nhà văn An Khê đã thấm thía và thấu cảm cảnh nghèo nên đã hết lòng vì hai chữ “chia sẻ”với những người cùng cảnh ngộ.

Đỗ Bình

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2022

Mộng Ảo - Thơ Tuyết Phan - Nhạc Trần Đại Bản


Thơ: Tuyết Phan 
Nhạc: Trần Đại Bản

Cành Thiên Hương

  

Nhịp đàn tiếng hát Kim Oanh
Vườn thơ Mỹ, Úc oằn cành thiên hương
....
Trường xưa tóc áo Vĩnh Long
Giữ bao kỷ niệm chờ mong ngày về

Phạm Tương Như

***
Vẳng đâu có tiếng gọi Oanh
Mơ về vườn mộng trĩu cành sắc hương
....
Thả hoa theo dòng Cửu Long
Ghé bờ xứ Vĩnh ước mong cùng về

Kim Oanh

Phải Vươn Lên


Bâng khuâng bối rối đến ngu ngơ
Bực bội lòng đây mới thẩn thờ
Bút sẵn giấy đang sao khó động
Vần chưa tứ vắng thật không ngờ
Nào như Thôi đã lưu lầu Hạc
Nên khiến Lý đành dẹp ý thơ
Mà bởi do mình chưa đủ chữ
Cho nên thi phú mới lờ quờ.

Quên Đi 

Buồn Xưa

 

Còn những hình xưa lạnh bóng thầm
Đàn trăng treo mỏi tự trăm năm
Gối chăn xô lệch mùi hương lạc
Đợi bóng phi về tóc rối trâm

Còn những tình phai đọng gót hài
Áo hoàng hoa phủ lạnh đôi vai
Người quên từ độ quân vương trích
Bước hững qua đời tựa khói bay

Còn những bờ đêm lạ nh tiếng huyền
Ghé Tầm Dương nhớ hận muôn niên
Áo xanh Tư Mã vai còn ướt
Suốt dọc Trường giang dậy sóng phiền

Còn thuở uyên bay lạc cõi ngoài
Tóc thề cắt trả nợ duyên ai
Biết thân rẻ rúng loài hoa dại
Thà hiến tình quân chút đắ m say

Còn những người đi chẳ ng hẹn về
Những bồ mỹ tửu lạnh, môi tê
Qua sông Dịch trắng thù chưa trả
Kiếm gảy cờ tan rợn bốn bề

Còn những thề xưa lạnh ước nguyền
Những tì h hư sẩy tựa thai non
Những sông suối tẻ về trăm nẻo
Những ca nh bèo trôi dạt sóng cồn
................................................
Chẳng thấy về đâu người thiên cổ
Tấm lòng liên ái nghĩ mang mang
Bao nhiêu chim mỏi về chung tổ
Còn lại hồn hoang ... hàng nối hàng

Cao Vị Khanh

Di Sản Tượng Đài Sài Gòn Xưa - Tượng Đài An Dưσng Vưσng (Hội Trường Diên Hồng)

Tượng đài An Dưσng Vưσng tᾳi Bến Chưσng Dưσng, Thάnh tổ Phάo binh (chụp nᾰm 1966)

An Dương vương (chữ Hán: 安陽王), tên thật là Thục Phán (蜀泮), là người lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang.

Niên đại trị vì của An Dương Vương được các tài liệu ghi khác nhau. Sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho rằng thời gian ông làm vua Âu Lạc kéo dài 50 năm, từ 257 Trước Công Nguyên đến 208 TCN. Các sử gia hiện đại căn cứ vào Sử ký Tư Mã Thiên là tài liệu gần thời đại nước Âu Lạc nhất, cho rằng An Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại từ khoảng 208 TCN đến 179 TCN, tức là gần 30 năm.


Tượng đài An Dưσng Vưσng phίa trước Hội trường Diên Hồng, sau này là trụ sở Thượng Viện, và nay là Thị trường Chứng Khoάn. Chụp nᾰm 1971
  
Tượng đài An Dưσng Vưσng phίa trước Hội trường Diên Hồng, bến Chưσng Dưσng  
Tượng đài An Dưσng Vưσng, bến Chưσng Dưσng (chụp nᾰm 1967, Ken)
Tượng đài An Dưσng Vưσng (Ngᾶ Sάu, Chợ Lớn)  
 
Tượng đài An Dưσng Vưσng đang được xây dựng vào cuối nᾰm 1966 tᾳi Ngᾶ 6 Minh Mᾳng, Chợ lớn
 
Tượng An Dưσng Vưσng với “nὀ thần” được coi là biểu trưng cho Thάnh tổ Binh chὐng Công binh
Tượng An Dưσng Vưσng nằm giữa Quận 5 và Quận 10  
Tượng đài An Dưσng Vưσng  
Toàn cἀnh Ngᾶ Sάu, Chợ Lớn

 Nguồn: Nguyễn Ngọc Chính
Hình Ảnh: Manhhai Flick's
Nguồn: Nguyễn Ngọc Chính. Ảnh: manhhai’s flickr

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
(Tống Viết Minh Sưu Tầm)


Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
Tượng đài An Dương Vương tại Bến Chương Dương, Thánh tổ binh chủng Pháo binh VNCH Tượng đài An Dương Vương phía trước Hội trường Diên Hồng, sau này là trụ sở Thượng Viện, và nay là Thị trường Chứng Khoán TP. HCM Tượng đài An Dương Vương phía trước Hội trường Diên Hồng, bến Chương Dương Tượng đài An Dương Vương, bến Chương Dương Tượng đài An Dương Vương (Ngã Sáu, Chợ Lớn) Tượng đài An Dương Vương đang được xây dựng vào cuối năm 1966 tại Ngã 6 Minh Mạng, Chợ lớn Tượng An Dương Vương với “nỏ thàn”, biểu trưng cho Thánh tổ Binh chủng Công binh VNCH Tượng An Dương Vương nằm giữa Quận 5 và Quận 10 Toàn cảnh Ngã Sáu, Chợ Lớn

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
Tượng đài An Dương Vương tại Bến Chương Dương, Thánh tổ binh chủng Pháo binh VNCH Tượng đài An Dương Vương phía trước Hội trường Diên Hồng, sau này là trụ sở Thượng Viện, và nay là Thị trường Chứng Khoán TP. HCM Tượng đài An Dương Vương phía trước Hội trường Diên Hồng, bến Chương Dương Tượng đài An Dương Vương, bến Chương Dương Tượng đài An Dương Vương (Ngã Sáu, Chợ Lớn) Tượng đài An Dương Vương đang được xây dựng vào cuối năm 1966 tại Ngã 6 Minh Mạng, Chợ lớn Tượng An Dương Vương với “nỏ thàn”, biểu trưng cho Thánh tổ Binh chủng Công binh VNCH Tượng An Dương Vương nằm giữa Quận 5 và Quận 10 Toàn cảnh Ngã Sáu, Chợ Lớn

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền

Du Sơn Tây Thôn 遊 山 西 村


Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ, 山窮水盡疑無路,
Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn ! 柳暗花明又一村!
Có nghĩa:
Núi đã cùng, nước đã tận, ngỡ là đã cùng đường rồi, không ngờ phía trước lại có ... Liễu xanh om hoa rực rỡ lại đưa ta đến một thôn làng khác nữa !
Câu nầy còn dùng để chỉ : Những việc tưởng đâu đã hết hi vọng rồi, nào ngờ lại mở ra được hướng giải quyết mới còn tốt hơn là cơ hội cũ nữa ! Ta hay đọc thấy câu nầy trong các truyện xưa, nhất là trong các truyện võ hiệp kỳ tình Trung Hoa:

Non cùng nước cạn ngờ vô lối,
Liễu biếc hoa hương lại một thôn!

Thực ra đó là 2 câu Thực trong bài Du Sơn Tây Thôn của Lục Du đời Tống. Hai câu thơ đó nguyên là:

山重水復疑無路, Sơn trùng thuỷ phục nghi vô lộ,
柳暗花明又一村。 Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.

Nhưng trong THIÊN GIA THI 千家詩 đã chép sai " Sơn Trùng Thủy Phục 山重水復 " thành " Sơn Cùng Thủy Tận 山窮水盡 " là câu nói quen miệng của dân gian. Hai cách nói nầy khác nhau rất xa, nếu ta phân tích theo văn chương, còn đối với giới bình dân thì cho là " Ý nghĩa của NÓ cũng tương đương với nhau " mà thôi !

* SƠN TRÙNG THUỶ PHỤC 山 重 水 復 : SƠN TRÙNG là Núi trùng trùng điệp điệp, hết núi nầy đến núi khác, nên ở xa nhìn thì thấy toàn núi là núi. THỦY PHỤC là Hết dòng nước nầy đến dòng nước khác, nên nhìn thấy toàn nước là nước.
Vì NÚI và NƯỚC trùng phục ở trước mặt, cho nên mới NGHI VÔ LỘ 疑 無 路 : là " Ngỡ là đã hết đường đi rồi ". Nên mở ra câu sau rất thú vị không ngờ là :
Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn ! 柳暗花明又一村!
Còn nếu là ...
* SƠN CÙNG THỦY TẬN 山窮水盡 : là Núi đã Cùng đường rồi, Nước cũng đã tận cùng rồi, là ở nơi Cuối Đất Cùng Trời rồi, thì đâu có NGHI VÔ LỘ nữa, mà là CHUNG VÔ LỘ 終無路 là Rốt cuộc đã " Hết Đường Đi Thật rồi !" thì làm sao còn có câu sau là : Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn 柳暗花明又一村 cho được!

Bây giờ thì ta hãy đọc toàn bài thơ của bài Du Sơn Tây Thôn này nhé :

遊 山 西 村                    Du Sơn Tây Thôn

莫 笑 農 家 臘 酒 渾, Mạc tiếu nông gia lạp tửu hồn,
豐 年 留 客 足 雞 豚。 Phong niên lưu khách túc kê đồn
山 重 水 復 疑 無 路, Sơn trùng thuỷ phúc nghi vô lộ
柳 暗 花 明 又 一 村。 Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn
簫 鼓 追 隨 春 社 近, Tiêu cổ truy tuỳ xuân xã cận
衣 冠 簡 樸 古 風 存。 Y quan giản phác cổ phong tồn
從 今 若 許 閑 乘 月, Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt
拄 杖 無 時 夜 叩 門。 Trụ trượng vô thì dạ khấu môn.
陸 游                             Lục Du
***
CHÚ THÍCH:
* LẠP TỬU: Lạp là Tháng Mười Hai Âm Lịch, ta đọc trại thành Thánh CHẠP, nên Lạp Tửu là rượu của tháng Chạp, rượu được ủ để uống vào dịp Tết Âm Lịch.
* PHONG NIÊN 豐 年 : là Năm Được Mùa.
* KÊ ĐỒN: Kê là Gà, Đồn là Heo.
* XUÂN XÃ 春 社 : là Ngày Mậu Nhựt thứ 5 sau tiết Lập Xuân làm ngày XUÂN XÃ để cúng tế Thần Làng, như ta cúng Đình Làng vậy, để cầu cho sang năm lại được trúng mùa. Vì thế mà có thổi tiêu đánh trống ...
* 從 今 若 許 閑 乘 月 Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt : là Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì hay thừa lúc trăng sáng ...
* 拄 杖 無 時 夜 叩 門 Trụ trượng vô thì dạ khấu môn : là Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao !). VÔ THÌ : là Bất cứ lúc nào.

NGHĨA BÀI THƠ:
Dạo Chơi Thôn Xóm Núi Tây
Xin đừng cười chê thứ rượu tế lễ không được trong của nhà nông trong tháng Chạp. Năm nay được mùa, nên giữ khách lại, đủ cả heo gà để đãi khách. Đừng vì núi liền với núi sông liền với sông mà ngỡ rằng đã không còn đường để đi tới, vì thấp thoáng trong bóng râm rặng liễu và khóm hoa tươi đẹp rực rỡ phía trước sẽ lại mở ra một thôn làng mới. Trống tiêu như giục giã vì ngày tế lễ đầu xuân đang gần kề. Áo mũ giản dị nhưng vẫn theo tục lệ cũ còn giữ lại. Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì cứ thừa lúc trăng sáng ... Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao, vì ta luôn luôn sẵn sàng đón tiếp ! )

Đây là cảnh nông dân ăn Tết ở Tây Thôn là một làng miền núi của một năm được mùa, chất phác chân thật mà nhiệt tình của đời sống thôn dã sau một năm cày sâu cuốc bẫm.

DIỄN NÔM:

Dạo  Núi Xóm Tây

Thôn dã chớ cười rượu nhạt phèo,
Cuối năm đãi khách sẵn gà heo.
Núi liền sông nước ngờ vô lối,
Liễu rũ đường hoa đến xóm nghèo.
Tiêu trống rộn ràng Xuân Xã đến,
Áo xiêm giản dị cổ phong theo.
Từ nay nếu rảnh đêm trăng sáng,
Gỏ cửa cùng vui gậy khẳng kheo.

Lục bát:

Chớ cười rượu lễ nhạt phèo,
Được mùa đãi khách gà heo sẵn sàng.
Non liền nước ngỡ hết đàng,
Hoa chào liễu đón thôn làng lại sang.
Trống tiêu xuân xã rộn ràng,
Tục xưa áo mão nghiêm trang chỉnh tề.
Từ nay trăng sáng đi về,
Thăm nhau gỏ cửa chẳng nề đêm thâu.

 

Lục Du 陸 游 (1125─1210), tự là Vụ Quan 務觀, hiệu là Phóng Ông 放翁, là nhà thơ rất nổi tiếng thời Nam Tống. Hoạn lộ thăng trầm, tình duyên trắc trở. Ông chủ trương kháng Kim đến cùng, chống đối lại với phái hòa Kim, vì thế mà bị bãi quan lúc mới có 42 tuổi, nên có nhiều bài thơ mang tâm trạng ưu thời mẫn thế như Đỗ Phủ hay tình cảm phóng túng lãng mạn như Lý Bạch. Ông có bài Từ "Vịnh Mai" rất sâu sắc, tỏ chí khí quật cường. Du Sơn Tây Thôn là một trong những bài thơ hay để đời của ông trong số 9300 bài vừa từ vừa thơ mà ông còn để lại.

Đỗ Chiêu Đức
***
Du Ngoạn Xóm Núi Tây

1/
Rượu nhạt nhà nông xin chớ cười
Heo gà đãi khách bữa cơm vui
Núi sông lớp lớp không đường lối
Rặng liễu hàng hàng có mấy mươi
Thôn dã đường hoa nơi cuối nẻo
Trống xuân xiêm áo chỗ đông người
Tùy theo tục lệ mà quy cũ
Chống gậy đêm trăng gõ cửa chơi

2/
Xóm nghèo rượu nhạt được mùa
Gà heo đãi khách đã mua để dành
Núi non sông nước vây quanh
Cuối đường liễu rũ cây xanh hoa cười
Ngày xuân tiêu trống vui tươi
Đàng hoàng áo mũ mọi người nghiêm trang
Gương Nga sáng tỏa khắp làng
Gậy quen gỏ cửa trăng vàng suốt đêm

Mai Xuân Thanh
Ngày 17/10/2018
***
Chơi Núi Thôn Đoài

1/
Đừng cười rượu chạp của nông gia
Mời khách mùa vui sẵn lợn gà
Núi điệp nước xoay nghi tuyệt lộ
Liễu um hoa nở tiếp thôn xa
Trống tiêu tế lễ xuân thần đất
Quần áo giản đơn kiểu cũ già
Rỗi rảnh từ nay đêm nguyệt rạng
Bất kỳ chống gậy gõ phên nhà

2/
Đừng cười rượu nhạt nông gia
Đuợc mùa mời khách lợn gà tứ tung
Núi sông ngặt, ngỡ đường cùng
Liễu um hoa nở lại trông thấy nhà
Trống kèn lễ đón xuân qua
Áo quần đơn giản ông cha bảo tồn
Từ nay rảnh rỗi trăng tròn
Vô tư chống gậy gõ khuôn cửa, vào!

Lộc Bắc
Oct2018

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

Di Sản Tượng Đài Sài Gòn Xưa - Tượng Đức Thάnh Trần Hưng Đᾳo

Tượng Đức Thάnh Trần Hưng Đᾳo

Quốc gia nào cῦng cό những bức tượng đài với mục đίch tuyên truyền kết hợp với nền vᾰn hόa, nghệ thuật. Di sἀn tượng đài cὐa Sài Gὸn xưa cῦng không phἀi là ngoᾳi lệ.

Cό thể nόi, lịch sử cận đᾳi cὐa Sài Gὸn đᾶ trἀi qua 3 thời kỳ chίnh: thời Phάp thuộc, thời VNCH và thời nay. Phάp đᾶ xây dựng những tượng đài cὐa cάc nhân vật lịch sử người Phάp nổi bật trong giai đoᾳn Sài Gὸn là xứ thuộc địa Cochichine, bao gồm Việt-Miên-Lào tᾳi Đông Dưσng.

Sang đến giai đoᾳn miền Nam trở thành một quốc gia, việc xây dựng những bức tượng kỷ niệm khắp cάc điểm nổi bật ở thὐ đô Sài Gὸn đᾶ được nội cάc cὐa Thὐ tướng Nguyễn Cao Kỳ thực hiện trên một quy mô lớn.

Đa số những bức tượng này giờ đᾶ đi vào kу́ ức cὐa người Sài Gὸn vὶ đᾶ bị dẹp bὀ để thay vào đό là những bức tượng cὐa “thời đᾳi mới”. Đối với những tượng đài cὸn may mắn chưa bị dỡ bὀ, nhiều người tự hὀi không biết sẽ cὸn hiện diện tới khi nào?

Đό là những bức tượng An Dưσng Vưσng (thάnh tổ Phάo binh), được đặt tᾳi công trường Diên Hồng, trước Thượng viện, đường Bến Chưσng Dưσng. Tượng Phὺ Đổng Thiên Vưσng (thάnh tổ Thiết giάp), nằm tᾳi bὺng binh Ngᾶ 6 Sài Gὸn. Tượng Phan Đὶnh Phὺng (thάnh tổ Quân cụ), tọa lᾳc trước bưu điện Chợ Lớn. Tượng Trần Hưng Đᾳo, thάnh tổ Hἀi Quân, tᾳi công trường Mê-Linh… Riêng với bức tượng quen thuộc với người Saigon (vὶ nằm ngay trung tâm Quận 1) là tượng Trần Nguyên Hᾶn (thάnh tổ Truyền tin), tᾳi bὺng binh Quάch Thị Trang, trước cửa chợ Bến Thành thὶ vừa bị di dời cάch đây không lâu.

Bên cᾳnh những danh nhân lịch sử, cάc binh chὐng, cὸn cό tượng đài kỷ niệm như tượng Thὐy quân Lục chiến trước tὸa nhà Quốc hội. Thiên sứ Micae (thάnh tổ binh chὐng Nhἀy Dὺ) gần bệnh viện Sὺng Chίnh, quận 5. Biệt Động Quân cό tượng 3 người lίnh tᾳi ngᾶ sάu Lу́ Thάi Tổ. “Tổ quốc Không gian” cὐa Không quân trước mặt Tὸa Đô Chάnh.

Dὺ cὸn hay mất, những hὶnh ἀnh di sἀn tượng đài cὐa Sài Gὸn Xưa sẽ là một hoài niệm đối với những ai đᾶ mang nặng trong tim những công trὶnh nghệ thuật cὐa vὺng đất đᾶ được mệnh danh là Hὸn Ngọc Viễn Đông.

***
Tượng Trần Hưng Đᾳo chụp nᾰm 1967 (Ron Ryan)

Hὶnh ἀnh trong bài này được chia là 3 phần:

(1) Những bức tượng được xây dựng ở miền Nam trước 75, hiện vẫn cὸn tồn tᾳi hoặc đᾶ bị dẹp bὀ;
(2) Những bức tượng dưới thời Phάp thuộc mà chίnh phὐ VNCH đᾶ dẹp bὀ;
(3) Những tάc phẩm tượng điêu khắc được triển lᾶm ở miền Nam trước 75
 
Trần Hưng Đᾳo là Thάnh tổ Hἀi Quân. Hὶnh chụp nᾰm 1969 (Larsdh)

Tượng Trần Hưng Đᾳo phίa cổng vào Bộ Tư Lệnh Hἀi quân (1970, Dick Hughey)
   
Tượng Trần Hưng Đᾳo (chụp nᾰm 1970, Dick Hughey)

Tượng Trần Hưng Đᾳo nhὶn ra sông Sài Gὸn

Tượng Trần Hưng Đᾳo và Công trường Mê Linh (Photo by Keith McGraw)

Nguồn: Nguyễn Ngọc Chính. Ảnh: manhhai’s flickr

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
Nguồn: Nguyễn Ngọc Chính. Ảnh: manhhai’s flickr

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
Nguồn: Nguyễn Ngọc Chính
Hình Ảnh: Manhhai Flick's
Nguồn: Nguyễn Ngọc Chính. Ảnh: manhhai’s flickr

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
(Tống Viết Minh Sưu Tầm)