Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Thu Vọng - Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh - Ca Sĩ: Quang Minh


 Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh 
Ca Sĩ: Quang Minh

Tuần Thánh Nhiệm Màu

 

Và rồi mùa dịch cũng đi qua
Để con biết tình Ngài bao la
Giữa những mong manh trong đời sống
Vẫn có bàn tay Chúa chở che

Chiến tranh còn lẩn khuất đâu đây
Chết chóc tang thương đếm từng ngày
Chúa có nghe chăng lời khấn nguyện
Kìa hoang tàn, đổ nát, đọa đày?

“Lạy Cha xin thứ tha cho chúng
Vì họ chẳng biết việc họ làm”
Lời Ngài trong cô đơn chất ngất
Chan chứa bao dung kẻ lỗi lầm

Con đã hiểu rồi, lạy Chúa ôi
Là Thánh Giá cao siêu tuyệt vời
Khổ đau nhục hình làm hy tế
Đớn đau thiêng liêng cứu tội đời

Là hôm xưa trên đồi Can-Vê
Đồi Sọ mây tím giăng lối về
Mão gai nhọn, lưỡi đòng đâm thấu
Xót xa, lời sỉ nhục, ê chề ...

Chén đắng một mình Ngài uống cạn
Đừng theo ý Con, vâng ý Cha
Đóng đinh vì nhân trần lên án
Thập tự bơ vơ chiều Goltha

Con đã hiểu rồi, lạy Chúa thương
Xin chỉ cho con những con đường
Chúa đã đi qua, dù gian khó
Con bước theo Ngài không vấn vương

Tạ ơn Chén Đắng Ngài đã mang
Tạ ơn Thập Tự vì trần gian
Tuần Thánh Nhiệm Màu, con xao xuyến
Cảm nghiệm cuộc Thương Khó vinh quang!

Edmonton, Tuần Thánh 2022
Kim Loan
#Holyweek
#TuầnThánh
#CrucifixionofJesus

Tuổi Mười Sáu (Kim Oanh) - Age Sixteen(Hương Cau Cao Tân)

  

(Vi Vân - Bright)
Tuổi Mười Sáu

(Tặng con gái Vi Vân Sinh nhật 16 tuổi)

Nụ cười em đẹp rạng ngời
Vầng trăng mười sáu làm người ngẩn ngơ
Lòng em lắm mộng nhiều mơ
Tóc em bay nhẹ như tơ mây trời
Lá vàng từng chiếc lả lơi
Nắng xuyên kẽ lá gọi mời mùa Xuân
Rèm mi khép nhẹ bâng khuâng
Thẹn thùng đôi má lâng lâng ửng hồng
Đôi mày uốn nét cong cong
Em như chim sáo bay trong vườn nhà
Hồn nhiên em cất tiếng ca
Tháng giêng, mười sáu, trăng sa thật đầy
Cho em ôm trọn vòng tay
Cho em giữ mãi thơ ngây mộng đầu.

Kim Oanh 
Australia 2005
***
Age Sixteen

(Dedicated to my daughter Vi Vân on her 16th birthday)

Your smile is very dazzling bright and shining
You are the sixteenth full moon that make people astounded in looking
Your heart is full of dreams and expectations
Your hair is slightly flowing like silk cord flying in heaven
One by one the brown leaves fall lovingly in the wind
While sunrays are lacing with leaf gaps as if inviting the spring
You close your eyelids lightly to hide the dazed feeling
Of shyness that makes your cheeks rosier lightly as blood is rising
You have eyebrows that are arching beautifully
And you are like a starling that in home yard are you flying freely
You sing happily with a naturally innocent spirit
On the sixteenth day of January when the moon is close and fully well-lit
Let you have your embrace be full of things and be getting fuller
And let you keep your first dream of naivety forever.

Translated from Vietnamese into English by Hương Cau Cao Tân
on 14 March, 2022, in British Columbia, Canada

Ảo Ảnh


Đường qua thôi hắt hiu vàng võ nhớ
Nụ thơ hồng còn nở mấy bờ hoa
Ta tìm ta trong ký ức nhạt nhoà
Chân vẫn bước theo nhịp đời dâu bể

Đêm ưu tư ngỡ như lòng trăng xế
Hỏi thời gian sao nỡ vội vàng về
Mùa Thu nào gió lộng tiếng ai chia
Ôm nỗi nhớ trong lời ca câu hát

Em vẻ đẹp giữa hương đời bát ngát
Chút tình xa gắn bó nụ cười vui
Nỗi ở đi những giây phút ngậm ngùi
Đời hy vọng hay thơ nào hi vọng

Mốt mai đây bước chân chiều nghiêng bóng
Hồn thơ xưa ghi đậm mấy trang buồn
Thương sầu nào lưu luyến giấc mơ son
Em vẫn mãi tình ân vàng dấu cỏ.

Lỡ ngụp lặn trong bể đời khốn khó
Sóng trăm năm bèo bọt nẻo mong chờ
Bến bờ nào sương trắng phủ trời thơ
Thì tất cả cũng chỉ là ảo ảnh.

Hoa Văn

Có Anh về



Có anh về đời không còn buồn tẻ
Em chẳng còn sống lặng lẽ như xưa
Phòng không chiếc bóng, nhà vắng nghe mưa
Cô đơn quạnh quẽ không người đưa đón

Có anh rồi sẽ giúp em chăm bón
Mảnh vườn hồng như chào đón xuân về
Tình đến muộn màng đẹp chữ phu thê
Chung mái lá thấm tình quê son sắt

Có anh rồi em không còn thắc mắc
Bạn có đôi mình héo hắt từng ngày
Buổi cơm chiều cùng đối ẩm vui thay
" Đời bỗng dưng vui " tiếng ai đang hát

Có anh đến dù mưa rơi nặng hạt
Chỉ làm đời thêm tươi mát mà thôi
Nhà rộn vui tiếng khúc khích trong nôi
Ấm lửa tình xua tan rồi băng giá

Trúc Lan KTP

Quy Sơn Tác 歸山作 - Cố Huống


Thơ Đường 6 Chữ
 
Thường thì nhắc tới Đường Thi, người ta chỉ nghĩ đến thơ 5 chữ và 7 chữ: Ngũ ngôn Cổ Phong, Ngũ ngôn Tứ tuyệt, Ngũ ngôn Bát cú, Thất ngôn Cổ phong, Thất ngôn Tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú, mà ít ai biết đến Lục ngôn thi, tức là Thơ 6 chữ. Kỳ nầy, xin trình làng một bài thơ Đường 6 chữ của thi sĩ Cố Huống, người đã có bài thơ nổi tiếng khi vịnh Giai thoại Điển tích LÁ THẮM của chàng thư sinh Vu Hựu và Cung nhân Hàn Thị như sau:

Hoa lạc thâm cung oanh diệc bi,                花落深宫鶯亦悲
Thượng Dương cung nữ đoạn trường thì. 上陽宫女斷腸時 
Quân ân bất bế đông lưu thủy,                    君恩不閉東流水
Diệp thượng đề thi ký dữ thùy?                 枼上題詩寄與誰?

Tạm diễn nôm như sau:

Hoa rụng cung sâu oanh cũng sầu,
Thượng Dương cung nữ quặn lòng đau.
Ơn Vua chẳng bế dòng lưu thủy,
Trên lá đề thơ gởi đến đâu?

Bây giờ thì xin cùng thưởng thức và cùng kính mời tất cả Quý thầy cô, các bạn đồng môn, các em học sinh, chúng ta cùng tìm hiểu và dịch bài thơ đặc biệt này nhé!

歸山作                Quy Sơn Tác

心事數莖白髮, Tâm sự sổ kinh bạch phát
生涯一片青山。 Sanh nhai nhất phiến thanh sơn
空林有雪相待, Không lâm hữu tuyết tương đãi
古道無人獨還。 Cổ đạo vô nhân độc hoàn
桃紅復含宿雨,     Đào hồng phục hàm túc vũ
柳綠更帶朝煙.     Liễu lục cánh đái triêu yên
花落家童未掃,     Hoa lạc gia đồng vị tảo
鳥啼山客猶眠 .    Điểu đề sơn khách do miên.

顧 况                     Cố Huống

Sáng Tác Khi Về Núi Ở Ẩn

Tâm sự tịch liêu của tuổi già, chỉ còn biết tỉ tê cùng vài sợi tóc bạc lưa thưa mà thôi. Sinh nhai ư?. Ừ, thì cứ sống nhờ vào cỏ hoa cây trái của một dãy núi xanh xanh kia. Trong cảnh núi rừng vắng lặng nầy, ta chỉ còn bầu bạn với tuyết trắng mà thôi. Mỗi ngày trên con đường xưa lối cũ nầy, ta chỉ đi về với một thân một bóng. Mỗi chiều chiều ngắm hoa hồng còn long lanh với những hạt mưa xuân, và mỗi buổi sáng hàng liễu xanh chập chờn ẩn hiện trong làn hơi sương sớm. Hoa rụng đầy thềm đầy đất, gia đồng còn chưa kịp quét đi. Tiếng chim líu lo của buổi ban mai cũng không đánh thức được người khách núi nhàn nhã còn đang mơ màng giấc điệp.

Diễn nôm:

Tâm sự: Lơ thơ tóc bạc,
Núi xanh một dãi: Sinh nhai!
Rừng vắng bạn bầu cùng tuyết
Đường xưa vắng vẻ không ai ,
Hoa đào hồng vì mưa tối
Sương sớm đưa cành liễu bay
Hoa rụng gia đồng chưa quét,
Chim ca khách núi còn say!

Lục bát:

Lơ thơ tóc trắng não nùng,
Sinh nhai một dãy chập chùng núi xanh.
Bạn cùng tuyết trắng phủ quanh,
Đường xưa vắng vẻ độc hành một thân,
Đào hồng lóng lánh mưa xuân,
Liễu xanh thấp thoáng bâng khuâng sáng trời.
Gia đồng chưa quét hoa rơi,
Giấc nồng khách núi mặc lời chim ca!

Đỗ Chiêu Đức diễn nôm.
***
Dịch Bài Thơ: Quy Sơn Tác 

Làm Khi Về Sống Dưới Chân Núi

Tâm sự, vài sợi tóc bạc,
Sinh nhai, một dải non xanh.
Rừng vắng, có tuyết làm bạn,
Đường về, không ai cùng anh.

Đào hồng, tránh mưa cụp cánh,
Liễu xanh, vờn khói vươn dây.
Hoa rơi, trẻ nhà chưa quét,
Chim hót, non khách còn say.

Danh Hữu

Ghi chú,
Đây là bài thơ gồm 2 đoạn và vì câu đầu tác giả xử dụng vần trắc cho nên những câu kế tiếp phải là là những cặp đối.

Cần Một Bờ Vai

 

Mẹ tôi đã ra một câu đố: "Con yêu, phần nào là quan trọng nhất trên cơ thể hả con ?"
Ngày nhỏ, tôi đã nói với mẹ rằng âm thanh là quan trọng đối với con người nên tai là bộ phận quan trọng nhất. Mẹ lắc đầu: "không phải đâu con. Có rất nhiều người trên thế giới này không nghe được đâu, con yêu ạ. Con tiếp tục suy nghĩ về câu đố đó đi nhé, sau này mẹ sẽ hỏi lại con."

Vài năm sau, tôi đã nói với mẹ rằng hình ảnh là quan trọng nhất, vì thế đôi mắt là bộ phận mà mẹ muốn đố tôi. Mẹ lại nhìn tôi âu yếm nói: "Con đã học được nhiều điều rồi đấy, nhưng câu trả lời của con chưa đúng bởi vi vẫn còn nhiều người trên thế gian này chẳng nhìn thấy gì."
Đã bao lần tôi muốn mẹ nói ra câu trả lời, và vì thế tôi toàn đoán lung tung. Mẹ chỉ trả lời tôi: "Không đúng. Nhưng con đang tiến bộ rất nhanh, con yêu của mẹ." Rồi đến một lúc, bà nội yêu quý của tôi qua đời. Mọi người đều khóc vì thương nhớ bà. Một mình tôi đã vừa đạp xe vừa khóc trên suốt chặng đường 26 km từ thị xã về quê trong đêm mưa rào ngày 4/5 âm lịch của năm đó. Tôi đạp thật nhanh về bệnh viện huyện để mong được gặp bà lần cuối.
Nhưng tôi đến nơi thì đã muộn mất rồi. Tôi đã thấy bố tôi gục đầu vào vai mẹ tôi và khóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố khóc như tôi.
Lúc liệm bà xong, mẹ đến cạnh tôi thì thầm: "Con đã tìm ra câu trả lời chưa?"
Tôi như bị sốc khi thấy mẹ đem chuyện đó ra hỏi tôi lúc này. Tôi chỉ nghĩ đó là một trò chơi giữa hai mẹ con thôi.
Nhìn vẻ sững sờ trên khuôn mặt tôi, mẹ liền bảo tôi: “Con trai ạ, phần quan trọng nhất trên cơ thể con chính là cái vai."
Tôi hỏi lại: "Có phải vì nó đỡ cái đầu con không hả mẹ?" Mẹ lắc đầu: "Không phải thế, bởi vì đó là nơi người thân của con có thể dựa vào khi họ khóc.
Mỗi người đều cần có một cái vai để nương tựa trong cuộc sống. Mẹ chỉ mong con có nhiều bạn bè và nhận được nhiều tình thương để mỗi khi con khóc lại có một cái vai cho con có thể ngả đầu vào."Từ lúc đó, tôi hiểu rằng phần quan trọng nhất của con người không phải là "phần ích kỷ", mà là phần biết cảm thông với nỗi đau của người khác.

Hãn Nguyễn Sưu tầm


Thứ Hai, 11 tháng 4, 2022

Tân Cổ Chuyện Đêm Mưa - Tác Giả : Tân nhạc Hoài Linh Vọng Cổ: Không Rõ Soạn Giả - Kim Trúc Trình Bày


Tân nhạc Hoài Linh
Vọng Cổ: Không Rõ Soạn Giả
Trình Bày: Kim Trúc 

Tư Hương - Nhớ Nhà



Ngẫu Hứng:

Tư Hương


Thế sự mang mang kỷ độ trần 
Nhất sinh lưu lạc thác phù vân 
Sơn hà cố quốc thành yên lãng 
Tuế nguyệt tha hương diệc tự lân 
Hoàng diệp đa thời phi diểu diểu 
Tàn hoa kỷ độ lạc phân phân 
Cử bôi bát muộn vong trần sự 
Khách địa tư hương nhập mộng tần 

NHT (HoàngHoa)
***
Tự Dịch:

Nhớ Nhà


Thế sự mịt mờ cơn gió bụi 
Gửi đời phiêu giạt với phù vân 
Non sông nước cũ thành mây sóng 
Năm tháng quê người xót lấy thân 
Lắm lúc lá vàng bay thấp thoáng 
Vài khi hoa úa rụng xoay vần 
Quên đời nâng chén xua phiền muộn 
Đất khách tư hương mộng lắm lần 

NHT(HoàngHoa)


Nhớ Nhau

 

Đồng đội bây giờ vẫn nhớ nhau
Dấu mòn vết tích lún rất sâu
Bao nhiêu, còn lại bao nhiêu nhỉ!
Mình cứ tìm nhau, vẫn nguyện cầu

Đồng đội bây giờ đang gọi nhau
Bốn lăm năm nước chảy qua cầu
Bèo trôi lưu lạc về muôn ngả
Tiếng thét kinh hồn cuộc bể dâu

Đồng đội bây giờ đã gặp nhau
Thời gian thắm thoắt đã qua mau
Dù nay tóc đã màu sương tuyết
Khói sung sa trường nổ tới đâu !!!

Phan Khâm

Rượt Trăng (Hàn Mặc Tử) - Chasing The Moon (Thomas D. Le)

 

Rượt Trăng

Ha ha! Ta ñuổi theo trăng
Ta ñuổi theo trăng
Trăng bay lả tả trên cành vàng
Tới ñây là nơi tôi ñược gặp nàng
Rủ rê, rủ rê hai ñứa tôi vào rừng hoang
Tôi lượm lá trắng làm chiếu trải
Chúng tôi kê ñầu trên khối sao băng
Chúng tôi soi chuyện bằng hơi thở
Dần dần hao cỏ biến ra thơ
Chúng tôi lại là người của ước mơ
Không xác thịt chỉ là linh hồn ñang mộng
Chao ôi! Chúng tôi rú lên vì kinh ñộng
Vì trăng ghen, trăng ngã, trăng rụng xuống mình hai tôi.
Hoảng lên nhưng lại cả cười
Tôi toan níu áo nàng thời theo trăng
Hô hô! Ta ñuổi theo trăng! Ta ñuổi theo trăng!
Trăng! Trăng! Trăng! Trăng!
Thả nàng ra, thôi thả nàng ra
Hãy buông nàng xuống cho ta ẵm bồng
Đố trăng trăng chạy ñàng trời
Tôi rú một tiếng trăng rơi tức thì ....

Hàn Mặc Tử
***
Bài Dịch:

Chasing The Moon

I am chasing the moon, ha ha!
I am chasing the moon.
The moon flies in scattered bits of gold.
It's here that I met her.
Together we ran off to the wild forest.
I picked the moon leaves for bedding.
We rested our heads on the masses of shooting stars;
We lighted our talks with our breaths.
Gradually the grass changed to verse.
We are people with a dream
Not of the flesh but of the soul dreaming.
Gosh! We howled when alarmed
Because the jealous moon tumbled on our bodies.
Though frightened I burst out laughing.
I tried to grab her dress, but she followed the moon.
Ho ho! I am going after the moon! I'm going after
the moon!
Moon! Moon! Moon! Moon!
Let her go. Let her go.
Let her down so I can hold her.
I dare you moon to run and hide.
Just a roar from me and you'll fall immediately.

Translated by Thomas D. Le

13 April 2008


Chung Một Chiến Hào



Đây cuộc tình duyên rất ngọt ngào
Ukraine từ buổi dấy binh đao
Ngại gì tử địa phơi xương trắng
Sá kể chinh y nhuộm máu đào
Khơi dậy hồn quê tha thiết quá!
Cử hành hôn lễ tuyệt vời sao!
Cưới xong, mình lại ra tiền tuyến
Đôi lứa chung nhau một chiến hào!

Nguyễn Kinh Bắc
Cape Cod April 9 , 2022

Vẫn Vui


Bài Thơ Xướng:

Vẫn Vui


Đừng nghĩ rằng đây quá bảy mươi
Già khô già khú ắt sinh lười
Tay chưn cứng cáp như thời trẻ
Đầu óc tinh tường đậm sắc tươi
Đàm đạo văn từ vui bạn hữu
Giao thoa thi phú kết tình người
Làm sao có thể sinh buồn chán
Cuộc sống còn luôn rộn tiếng cười.

Quên Đi
***
Các Bài Thơ Họa:

Sao Lại Thờ Ơ?


Nhiều kẻ nghĩ rằng bảy, tám mươi
Đời còn chi nữa… hoá trây lười
Thể thao. Thể dục không màng tập
Chuyện tếu, điều vui chẳng nhếch cười
Tựa gốc cây tàn khô nhưa mát
Như tàu lá úa mất màu tươi
Quỹ thời gian sống còn bao chốc
Sao lại thờ ơ với cõi người?

Phương Hà
***
Chúc Vui


Cho dù tuổi tác có mười mươi
Cũng vẫn lo toan, chẳng dám lười
Ngày nắng, đêm mưa, thời tiết tốt
Đầu xuân, cuối hạ, sắc hương tươi
Thơ vui nhàn tản, nhờ tâm đạo
Tình đẹp thanh cao, bởi tính người
Thân thiết tri âm mừng khánh thọ
Hoa tiên chúc tụng nở môi cười ...

Hawthorne 29 - 3 - 2022

Cao Mỵ Nhân
***
Vẫn Vui

Vẫn Vui như dạo khoảng đôi mươi
Thơ Thẩn cùng nhau kháo tính lười
Chớ sánh hôm qua khi quá trẻ
Đừng so hiện tại lúc còn tươi
Chưn tay cứng cáp-nâng đây rượu
Mắt mũi tường tinh nhận đó người
Cùng nhóm Vườn Thơ đâu lạ chứ,
Quay quần chúng bạn hả hê cười.

Thái Huy 
3/29/22
***
Thơ Thẩn Chung Vui Dù Già

Đã sinh ra số kiếp con người
Dù có già nua bảy tám mươi
Giao tiếp khởi đầu ,chìa tay bắt
Xã giao kế tiếp ,nhếch môi cười
Lòng luôn biểu hiện tình còn thắm
Dạ vẫn phát huy nghĩa mãi tươi
Thơ thẩn chung vui cùng bạn hữu
Dọn mình học hỏi chớ chây lười.

songquang 
20220329
***
Tự Tại

Tìm về cái thuở tuổi đôi mươi
Làm dáng rong chơi lại biếng lười
Sức sống dạt dào so lộc biếc
Dung nhan rạng rỡ đọ hoa tươi
Trau dồi đạo đức rèn nhân cách
Thi thố tài năng lượng sức người
Tuổi hạc bây chừ dù ấm lạnh
An nhiên vui sống rạng môi cười

Kim Phượng

***
Vẫn Vui

Đã vui dù tám chín mười mươi...
Lòng đã muốn vui quyết chẳng lười!
Thể dục dưỡng sinh thân cường tráng,
Làm thơ xướng họa dáng xinh tươi.
Trách nhân trách kỷ thương bao kẻ...
Thứ kỷ thứ nhân thỏa vạn người!
Tùy ngộ nhi an là hạnh phúc,
Thị phi thành bại mặc ai cười!!!

Đỗ Chiêu Đức
03-29-2022
Ông Bà thường dạy:
- Trách nhân chi tâm trách kỷ 責人之心責己 : Lấy cái lòng trách người để trách mình.
- Thứ kỷ chi tâm thứ nhân 恕己之心恕人: Lấy cái lòng tha thứ mình để tha thứ cho người khác.
- Tùy ngộ nhi an 隨遇而安: Tùy theo cảnh ngộ của mình mà sống an phận, không bon chen đòi hỏi yêu cầu gì cả!

Số 19 Kỳ Đồng

 

Năm 1972, Thắng rủ tôi tới 19 Kỳ Đồng, quận 3, nằm đối diện hơi xéo về phía trái nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Lúc bấy giờ nơi này đang được sử dụng làm Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại. Đây là một tòa biệt thự cổ của Pháp, bước vào là một khoảng sân khá rộng, rồi bước tới phòng khách có thể sinh hoạt chung năm bảy chục người, trong nữa là ba phòng dùng làm văn phòng, phòng họp và phòng văn thư. Chỗ này là nơi gặp gỡ và sinh hoạt cho sinh viên đang đi du học nước ngoài khi về nước có chỗ tìm đến nhau, làm quen, kết bạn và tham dự các sinh hoạt cùng sinh viên trong nước. Điều hành chung là anh Đỗ Ngọc Yến, Anh Yến là Huynh trưởng của phong trào Du Ca nên đây là nơi các Huynh trưởng nhạc sĩ của Du Ca thường ghé chơi như các anh Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Trần Văn Bùi và các trưởng trẻ của Du Ca như Đặng Mục Tử, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Công Bằng...

Trong số các sinh viên làm việc thường xuyên tại văn phòng, tôi quen với Đinh Quang Anh Thái, đang là Tổng Thư Ký của văn phòng, và Lương Văn Tự, Nguyễn Ngọc Linh, Đinh Việt Hùng, Nguyễn Văn Thanh. Ở địa điểm này, mỗi cuối tuần có những buổi sinh hoạt trình diễn âm nhạc truyền thống, và một đơn vị Du Ca hoạt động thường xuyên là Ca Đoàn Trung Ương của Phong trào Du Ca.

Hôm đó, Nguyễn Quyết Thắng đưa tôi tới để xem Thắng trình diễn một số ca khúc trong chương trình cuối tuần. Trước phần trình diễn của Thắng là một màn độc tấu đàn tranh. Người nữ thướt tha trong áo dài gấm vàng, đội khăn hoàng hậu. Cô ta ngồi xuống, cây đàn để trên đùi và ngón tay thoăn thoắt lướt trên 16 sợi dây đàn, tỏa mênh mông suốt khán phòng một làn hương dân ca dìu dặt. Tôi nghe và thấy lòng dào dạt thương yêu. Đôi mắt cô ta tròn xoe, lúc nhìn xuống đàn, lúc ngước lên nhìn bao quát, tôi nhìn được một cái gì đó mơ màng như mắt nai, và dịu dàng như người em gái nhỏ. Hết phần trình diễn này là tới phần Thắng hát. Tôi ngơ ngác nhìn theo cô bước vào hậu trường. Không cần ai giới thiệu tôi bước theo cô và làm quen.

- Lúc nãy tôi vào trễ nên không nghe được người ta giới thiệu cô tên gì. Nên bây giờ xin hỏi cô tên gì?
- Tuần sau, anh tới sớm hơn sẽ nghe được người ta giới thiệu tên người trình diễn mà.
- Ồ… Nguyễn Văn Thanh, người điều khiển chương trình, là bạn tôi, tôi có thể hỏi anh ta.
- Thế sao anh không hỏi anh ta mà hỏi tôi?
- Trời ạ, tôi tưởng hỏi cô thì nhanh hơn chứ.
- Anh lầm rồi đó.
Nói xong cô mỉm cười có vẻ hài lòng và quay mình bước vào phòng.
Tôi đành thở dài quay lại hội trường ngồi nghe Thắng hát và chờ cuối chương trình sẽ hỏi lại. Nguyễn Văn Thanh mà sau này trở thành một đạo diễn kịch nghệ với tên Phương Cửu cho biết cô ta tên Ngọc Trai, sinh viên Khoa Học, thành viên ca đoàn Trung Ương. Khi chương trình chấm dứt, tôi không về ngay mà chờ cô ta ra là bước tới hỏi chuyện:
- Ngọc Trai về một mình mà tay cầm đàn có vướng không? Hay tôi đưa Ngọc Trai về nhe?
Cô ta khựng lại, nhìn tôi, bây giờ thì cô ta đeo cặp kính trắng to. Cặp mắt không còn mơ màng nữa, mà sắc như dao lướt qua tôi. Nhưng cô lại cười tươi tắn:
- Được chứ. Anh đến đây bằng gì?
- Bạn tôi chở.
- Vậy anh định đưa tôi về bằng gì?
- Ơ.., tôi… tôi…
May quá, Thắng chạy tới cứu bồ, Thắng nói tôi chở Nữu cầm đàn cho Ngọc Trai và chạy theo Ngọc Trai về nhà như vậy an toàn hơn.
Ngọc Trai trả lời:
- Tôi nghĩ rằng tôi đi một mình an toàn hơn.
Cô ta ngừng một chút rồi nói:
“Nhưng nếu hai anh chạy theo bảo vệ thì cũng vui mà...”

Cô ta quay lại nhìn tôi, vẫn cặp mắt mơ màng đó nhìn từ trên xuống dưới rồi trả lời nghiêm chỉnh:

Từ lúc quen Ngọc Trai, tôi tới chơi với Văn Phòng Liên Lạc nhiều hơn, từ đó kết thân với Nguyễn Ngọc Linh và Đinh Việt Hùng. Cả hai đều là Du Ca, và là nhân viên thường trực tại văn phòng. Đinh Việt Hùng hát hay, vừa đoạt giải Khôi Nguyên Tiếng Hát Sinh Viên, còn Nguyễn Ngọc Linh thì phụ trách về Kỹ Thuật, là toán trưởng một toán Du Ca.
Đầu tiên là hẹn Ngọc Trai ở văn phòng liên lạc. Thuở ấy, phương tiện liên lạc với nhau chỉ là viết thư, không có phone, không có fax, cho nên gặp lần này là hẹn lần sau, hoặc tới sớm nhìn lên bảng nhắn tin coi có mẩu nhắn tin nào gắn lên đó.

Văn phòng 19 Kỳ Đồng là nơi gặp gỡ của sinh viên các trường Đại Học trong và ngoài nước. Tôi là một người đặc biệt, cũng là sinh viên, nhưng là sinh viên Sĩ quan Thủ Đức. Mỗi chiều thứ sáu, đi phép về là đi thẳng tới văn phòng, vẫn mặc trên người quân phục đi phép. Thường thì sau giờ sinh hoạt chung, khoảng hơn 8 giờ tối, Ngọc Trai và tôi đi về trên chiếc xe Yamaha nữ màu xanh nước biển của Ngọc Trai. Một lần, vừa tới nơi, tôi thấy Ngọc Trai vẫn còn ngồi trên xe ở sân trước. Cô ngoắt tôi chỉ ra ngoài. Đi theo ra ngoài, ngồi phía sau cho Ngọc Trai chở, tôi vẫn nghĩ là sẽ chạy lăng quăng đâu đó như mọi lần, rồi ghé quán cà phê Phấn Thông Vàng trên đường Nguyễn Thông nghe nhạc tình hoặc ghé hội quán Cây Tre ở Đinh Tiên Hoàng nghe nhạc thân phận, nhưng khi chạy ra tới Ngã Sáu, Ngọc Trai quay lại hỏi tôi nhà ở đâu.

- Nhà... nhà ai?
- Nhà bạn chứ ai.
- Để làm gì?
- Về thay đồ dân sự đi.


Tôi chỉ đường cho cô chạy về cầu chữ Y, vào nhà thay vội bộ quần áo dân sự rồi lại leo lên xe cho cô chở đi, chẳng hỏi là đi đâu. Ngọc Trai chạy về phía quận 6, rẽ vào khu cư xá Phú Lâm B, và ghé vào một căn nhà lớn như một cái biệt thự. Bên trong có khoảng mười mấy thanh niên nam nữ ngồi quanh nhau, mọi người chào hỏi vui vẻ và bày biện ra bánh kẹo trái cây nói rằng hôm nay là sinh nhật ai đó. Lát sau có một người tới nữa, lớn tuổi hơn chúng tôi, người này mọi người gọi là anh Huỳnh.

Anh Huỳnh thấp người, khuôn mặt vuông vức nhưng xanh lét như người bệnh sốt rét. Ngọc Trai nói với tôi anh Huỳnh trước học ở Khoa Học, ra trường lâu rồi, tới đây chơi như một người anh. Khi vòng tròn ăn uống tạm vơi, anh Huỳnh có nói gì đó về trách nhiệm thanh niên, về dân tộc, sau đó hướng dẫn mọi người cùng vỗ tay hát chung một số bài ca sinh hoạt thanh niên. Trong đó có bài tôi biết, có bài tôi không biết. Anh Huỳnh liếc qua tôi và lục trong túi xách mang theo một xấp giấy đưa cho tôi, giọng thân mật, nhắc tôi nhìn vào giấy này và hát theo mọi người.

Tôi gật đầu, lật phớt phớt vài trang xấp giấy quay ronéo đó, đọc và giật mình khi thấy thoáng qua là những lời ca mang nặng tính đấu tranh và hận thù. Tôi chợt hiểu lý do Ngọc Trai muốn tôi thay quần áo dân sự trước khi đến đây. Tôi ngồi im suốt buổi, cho tới khuya mới về.
Ngọc Trai chở tôi về nhà cô ta. Nhà nằm trong đường hẻm đối diện trường Quốc Gia Hành Chánh ở đường Trần Quốc Toản. Căn nhà rộng bề ngang và khá sâu, bên ngoài là phòng khách, rồi tới một phòng lớn có cầu thang lên lầu, phía sau là xưởng ép đế giày bằng mủ cao su. Tôi gặp mẹ của Ngọc Trai. Cụ bảo khuya quá đi đường không tiện, cháu cứ ngủ lại trong xưởng với mấy anh công nhân cũng được. Tối đó, tôi lấy cái ghế bố ngủ lại ở cái phòng có cầu thang lên lầu. Gia đình Ngọc Trai ở trên lầu, cửa khóa lại.

Tôi học ở Thủ Đức xong, ra trường về đơn vị ở tiểu khu Định Tường. Đôi mắt cận thị nặng không phù hợp cho những đêm di chuyển giữa bùn lầy sình nhão, nên tôi xin đi khám mắt và sau đó được giải ngũ vào cuối năm 1974. Những ngày còn quanh quẩn ở Saigon, Ngọc Trai thường đưa tôi đi gặp nhiều nhóm bạn khác lạ. Dù dị ứng với chính trị, nhưng tôi cũng mường tượng ra một cái gì không bình thường ở những nhóm sinh hoạt này.

Tôi thường từ chối đến với các sinh hoạt thanh niên theo từng nhóm, viện lý do không phù hợp để đưa Ngọc Trai rong chơi trong thành phố. Trên chiếc xe hai bánh màu xanh nước biển, tôi chạy dọc bến sông, từ bến Bạch Đằng, qua bến Hàm Tử, qua bến Lê Quang Liêm vào tuốt gần Bình Chánh, rồi ngược ra, chạy theo xa lộ Đại Hàn, chạy ven phía nam thành phố, qua đến Bình Dương, vòng xuống Gò Vấp để về lại Hàng Xanh… Có khi chúng tôi dừng lại ven đường, ghé vào một quán cóc gọi ly cà phê đen đá, thong thả nhìn đời sống kham khổ nhưng yên bình của người dân, có khi trời còn nắng, chúng tôi chạy vào rừng cao su ven xa lộ, ngồi nghỉ ngơi dưới tàng lá rậm, rì rào cơn gió mùa hè và nghe Ngọc Trai khao khát một đời sống bình yên khi đất nước hòa bình…

Ngọc Trai nằm thoải mái xoải chân trên nền lá vàng, hát mê say: Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng, nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương (Tự Nguyện - nhạc Trương Quốc Khánh).
Còn tôi, tôi hát cho Ngọc Trai nghe Bài Hương Ca Vô Tận của Trầm Tử Thiêng: Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương. Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường. Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu, cuộc phân ly may lắm thì qua mau. Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ…


Những lúc không đi đâu, tôi cùng Ngọc Trai thường đứng ở lầu một biệt thự 19 Kỳ Đồng. Khung cửa sổ lớn nhìn ra khoảng sân rộng bên dưới, ngoài đường tiếng xe chạy vọng vào xa xa, chiều về chầm chậm, tiếng chuông nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế thánh thót báo lễ chiều và thả hồn mình vào những khao khát hòa bình dù chưa biết cuộc tương tàn sẽ chấm dứt bằng cách nào. Hiệp định Paris đã ký kết cả ba năm rồi mà có ngày nào trên đất nước không có tiếng súng đâu.

Buổi sáng ngày 30/4/1975, tôi đứng trên đường Nguyễn Biểu, nhìn dòng người táo tác, mặt mày thất sắc, ôm đồ đạc chạy từ quận 8 qua, rồi lát sau, một toán bộ đội súng cầm tay đi tới. Cái cảm giác bàng hoàng, buồn vui lẫn lộn. Vậy là hòa bình rồi hả? Vậy là chấm dứt chiến tranh rồi hả? Cái chết không còn là sự đe dọa nữa nhưng rồi cuộc sống sẽ như thế nào đây…

Bất ngờ nhìn thấy chiếc xe Yamaha chạy vào hẻm, tôi vội về nhà, và sửng sốt nhìn Ngọc Trai.
Là Ngọc Trai đó sao? Vẫn trên chiếc xe gắn máy quen thuộc, nhưng hôm nay Ngọc Trai mặc đồ xanh của bộ đội miền bắc, sau lưng đeo một khẩu súng dài, chiếc mũ tai bèo cột chặt dưới cằm thật xa lạ trong mắt tôi.
Cô ta ngoắc tay, kêu tôi ngồi lên xe. Đi đâu? – Đi, làm việc. – Làm việc gì? Tôi biết gì mà làm? – Lên xe đi, lát nữa rồi biết.

Ngọc Trai chạy về phía Chợ Lớn, chạy qua Nguyễn Tri Phương, bùng binh An Dương Vương, rồi ghé vào Đại Học Xá Minh Mạng. Ngoài cổng Đại Học Xá có người gác cửa, họ quen thuộc với Ngọc Trai nên mở cổng cho cô chạy vào. Bên trong, không có một sinh viên nào mà thấp thoáng từng toán bộ đội ngồi đứng xa xa… Ngọc Trai đưa tôi vào một dãy nhà đang có đông người lố nhố, có thường phục, có áo bộ đội, có nón cối, có dép râu, có mũ tai bèo. Chợt một người quay ra nhìn tôi cười, khuôn mặt xanh xám, hai tay lỏng khỏng trong cái áo bộ đội quá khổ. Người này nói ông rất vui khi gặp lại tôi… Tôi khựng lại và nhớ ra… anh Huỳnh. Ngọc Trai nhanh chóng giới thiệu, Huỳnh là họ thôi, anh Tư đây nguyên là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đó. Tôi bật lên, à…

Mấy ngày sau đó, tôi hiểu ra. Cái mặt ngoài là mồ côi cha của Ngọc Trai chỉ là cái vỏ bọc. Cô ta là con gái của một cán bộ nằm vùng. Căn nhà mà tôi đã từng tới, đã từng ngủ lại là một cơ sở bí mật tàng trữ vũ khí. Công việc sản xuất đế giày cao su cũng là mặt nổi để họ vận chuyển vũ khí vào thành phố gói kín trong những bành cao su to đùng chuyển từ Tây Ninh về. Tôi còn biết thêm cái ghế bố mà tôi đã từng nằm được kê trên nắp hầm bí mật chứa vũ khí bên dưới. Sau này, người ta giữ lại căn nhà Ngọc Trai ở như một di tích, vì đó là nơi duy nhất ở Saigon cất giấu vũ khí đạn dược mà không bị phát hiện.

Ngọc Trai tạo điều kiện để tôi tới nhà và gặp người Cha bí mật của mình. Thân phụ của cô người cao lớn, nói tiếng Bắc vùng Nam Định, câu chuyện không dài nhưng cởi mở. Ông nói:
“Tôi nghe bà nhà nói về chuyện cậu với con Ngọc Trai nhà tôi. Tôi biết cậu là Sĩ quan, muốn tính chuyện lâu dài, cần phải ổn định cuộc sống. Muốn ổn định thì cậu cần phải học tập. Tôi có thể giúp cậu bằng cách đưa cậu ra phường trình diện và đi học tập ngay. Học xong sớm rồi về mà xây dựng lại cuộc sống gia đình.

Tôi hoãn binh bằng cách nói rằng sẽ bàn lại với gia đình. Nhưng thực sự trong tinh thần hoang mang bất định lúc đó, tôi có cảm giác mọi chuyện không đơn giản như lời nói, và xã hội đang vận hành bằng những bước đi phức tạp và khá buồn. Tôi về, và bắt đầu tránh né những lần đi chung với Ngọc Trai. Rõ ràng vẫn là cô gái ấy, vẫn là những săn sóc chăm lo cho nhau, nhưng giờ đây một cái gì đó không tả ra được làm con người mình dường như không là mình nữa.

Lúc thân phụ Ngọc Trai (về sau tôi biết bí danh là Ba Mủ) đề nghị tôi đi học tập thì chưa có lệnh tập trung sĩ quan công chức miền Nam đi học tập, nghĩa là lúc đó chẳng ai biết học tập cải tạo là gì, ra sao... Và sau này, khi hồi tưởng lại, tôi cũng tin chắc rằng ngay cả người nằm vùng như bác Ba Mủ cũng không biết thế nào là tập trung cải tạo.
Ngọc Trai ghé nhà nhiều lần không gặp, để lại thư nhắn tôi lên số 4 Duy Tân buổi sáng để gặp bạn bè.

Khi tôi lên, gặp lại Bằng, Hùng, Linh, Linh đầu bạc, Hùng hí và Ngọc Trai. Ngọc Trai đề nghị chúng tôi lập lại một nhóm giống như Du Ca, lấy tên là Thanh Ca Tác Động. Nhóm này khi sinh hoạt tại số 4 Duy Tân đã tập trung lên đến hàng trăm thanh niên sinh viên tới chơi chung. Nhóm được đưa vào hội trường chính để nghe hát và dạy hát bài ca mới, rồi đưa đi các trường Đại Học dạy lại cho sinh viên… Dường như chỉ khoảng vài tháng, một buổi sáng, đang tập họp thành vòng tròn, một cán bộ thành đoàn xuống phổ biến một thông báo, thông báo rằng giải tán tổ chức Thanh Ca Tác Động, và cấm các thành viên của nhóm tự ý tụ tập sinh hoạt bất cứ nơi đâu.
Chúng tôi chia tay nhau, ai về nhà nấy.
Không gặp lại Ngọc Trai.

Tháng 9 năm 1975, đợt đổi tiền đầu tiên ở miền Nam là một cú đấm trực diện vào kinh tế xã hội miền Nam. Thiếu thốn, kham khổ từ trước, nay nặng nề hơn thành đói kém, thê lương. Mọi gia đình đều cố gắng thu vén, bán được cái gì thì bán bớt bổ sung vào miếng ăn. Những gia đình họ hàng mà tôi quen biết, gia đình nào cũng có nỗi đau xót riêng, tựu trung là mất mát, chia ly, thiếu hụt và cái chung nhất là hoang mang không biết sẽ ra sao. Mấy anh chị trong gia đình tôi thì hai người anh đi học tập cải tạo chưa biết bao giờ về, một gia đình người chị đi nước ngoài, một gia đình người chị ở lại đi dạy học và thường xuyên lên lớp với cái bụng trống không. Tôi không tìm được việc làm, kể cả công việc nặng nhọc như lao động.

Giữa lúc đó, Ngọc Trai tìm đến. Cô ta hỏi thăm về người anh kế tôi, đang học tập cải tạo ở Đà Lạt. Mẹ tôi thở dài, không có tin tức gì, về con dâu và bốn đứa cháu nội. Ngọc Trai hỏi Bác có muốn con đưa N. lên Đà Lạt thăm anh Diễm và gia đình không? Tôi lắc đầu liền, không đi đâu, xe cộ khó khăn và tiền bạc không có. Nhưng mẹ tôi thì nghĩ đến con trai, con dâu và các cháu nên bị lung lạc. Để làm mẹ yên lòng, tôi theo Ngọc Trai lên Đà Lạt tìm thăm anh Diễm.

Khi xe chạy ra khỏi thành phố, chúng tôi ngồi bên nhau trong im lặng. Tôi đưa mắt nhìn mông lung những hàng cây xa tít tắp, những mảnh vườn, mái nhà hiu quạnh bên đường. Tôi thoáng có ý nghĩ tìm một miếng đất làm vườn làm rẫy sống qua ngày… Khi xe gần đến Bảo Lộc để chuẩn bị dừng cho khách ghé ăn trưa, Ngọc Trai dúi vào tay tôi tờ giấy 50 đồng, nói cầm lấy để chi phí lặt vặt cho chuyến đi. Ăn trưa xong, tôi rút tiền ra trả nhưng nhân viên tiệm ăn từ chối. Tờ giấy 50 đồng quá lớn khi ăn hai đĩa cơm chưa tới 3 đồng. Tờ 50 đó tôi giữ lại cho tới khi về lại Saigon trả lại cho Ngọc Trai.


Những ngày ở Đà Lạt, Ngọc Trai trở về như cô gái ngày xưa, đằm thắm, dịu dàng, sắc sảo và rất thông minh. Chúng tôi vào tận trại cải tạo ở Trại Mát thăm anh Diễm, rồi sau đó đi thăm chợ Đà Lạt, thác Prenn, Cam Ly, tản bộ trên sân Cù, đi bộ dọc theo hồ Xuân Hương. Cả hai không đề cập hay nhắc tới chuyện tôi đến gặp bác Ba Mủ, hay chuyện tình cảm giữa hai người. Tôi biết chắc đó không phải là tình yêu, chúng tôi chưa bao giờ nói với nhau những lời tình tứ riêng tư. Có lần, Ngọc Trai nói dường như tôi đã thay đổi nhiều lắm, cái sôi nổi, hào hứng ngày xưa có vẻ như đã chìm vào đâu đó.

- Không phải vậy. Ngày xưa khi tôi nói là tôi tin rằng những điều mình nói là đúng, nên đủ tự tin để giãi bày ra và hăng say bảo vệ nó.
- Còn bây giờ?
- Bây giờ? Bây giờ tôi nghi ngờ cả sự có mặt của tôi trên mặt đất này, không chừng cũng là điều không thực.
- Bạn không cảm thấy vui khi mình đi bên nhau sao?
- Ngọc Trai vẫn là một người nữ nhiều cá tính và thú vị. Bên cạnh Ngọc Trai là bên cạnh những đợt cuồng phong, cạnh những làn sóng lớn, những chuyển dịch bất ngờ… và đôi khi từ đó vẫn nảy sinh những ước mơ nóng bỏng nhưng...
- Nhưng sao?
- Nhưng đời sống vẫn phải có sự bình ổn về tinh thần. Sự bình an và thư thái nhẹ nhàng...
- Bạn thấy bất an khi mình ở bên nhau?
- Không nói thế được, sự bất an trong tôi bấy lâu nay là thường trực, dù có Ngọc Trai bên cạnh hay không.

Chúng tôi cùng im lặng và giữ gìn tránh tranh luận cho tới lúc về lại Saigon. Tôi buồn. Và buồn hơn khi tôi biết tôi làm Ngọc Trai buồn. Ngọc Trai dành cho tôi rất nhiều sự quan tâm, và có thể nói là chiều chuộng, ngoại trừ những lúc tranh luận, còn không thì Ngọc Trai chiều chuộng tôi như chiều chuộng một đứa em. Bên cạnh Ngọc Trai tôi thấy mình nhỏ bé và thiếu tự tin. Tôi quý Ngọc Trai nhiều lắm, nhưng cái tình cảm đó có vẻ như tình bạn, một tình bạn không bình đẳng mà tôi thuộc về phía yếu kém.

Khi xe về đến bến ở đường Nguyễn Tri Phương, chúng tôi đi bộ về nhà Ngọc Trai, sau đó cô ta lấy xe chở tôi đi. Chúng tôi chạy loanh quanh và ghé ngang qua 19 Kỳ Đồng. Ngôi biệt thự bây giờ bỏ hoang, không người cư trú. Cây hoa sứ lớn giữa sân trong bóng đêm như tỏa ra một vòm tối ám, âm u, nhìn lên trên lầu, cái cửa sổ rộng mở toang, nhìn vào bên trong một khoảng nhờ nhờ trắng, hoang tịch. Ngọc Trai hỏi tôi có muốn ghé vào thăm một chút không. Tôi lắc đầu. Ngọc Trai đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ gấp tư và bảo lát về nhà hãy đọc, rồi rồ ga chạy.

Khi Ngọc Trai chở tôi về nhà ở cầu chữ Y, trời đã tối, chuyến đi bốn ngày làm cơ thể tôi nhão ra như mất sức, những suy nghĩ dằn vặt làm tôi chóng mặt và có cảm giác như đang sốt. Tôi lăn ra ngủ. Sáng hôm sau, thức dậy, chợt nhớ tới tờ giấy Ngọc Trai đưa hôm qua, tôi ngồi dậy lục tìm và mở ra. Trong đó chỉ một dòng chữ ngắn:
“Philippe ơi, đọc nhật ký của Isabelle nhé.”

Philippe là nhân vật nam, còn Isabelle là nhân vật nữ trong tác phẩm Climats (Mặc Đỗ dịch với tựa là Tâm Cảnh) của André Maurois. Cuốn sách Ngọc Trai tặng tôi hồi hai đứa mới quen nhau, tôi tìm trong nhà, không còn cuốn đó, nhưng vì là sách được dạy trong chương trình giáo khoa lớp Đệ Nhị, nên tôi nhớ đại khái là khi Philippe chết vì bệnh phổi, vợ ông, Isabelle, viết trong nhật ký hồi tưởng, câu kết thúc nhật ký và cũng là kết thúc tác phẩm là: “Em tin rằng nếu em giữ được anh, em sẽ biết cách đem vui sướng đến cho anh, nhưng định mệnh và lý trí chúng ta thường lỗi điệu”.

Kính mời độc giả nghe đọc truyên:
https://youtu.be/-FDQRYNf7zk

Virginia, tháng 5/2018
Nguyễn Minh Nữu

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022


Hôm nay, ngồi đọc sách dưới một vòm cây râm mát trong vườn, tự nhiên tôi muốn viết về lá.
Hình như lá hiện diện ở bất cứ nơi nào có sự sống. Ngày xưa ông Noe tránh nạn đại hồng thủy trên tàu; sau khi tàu đã trôi lênh đênh nhiều đêm ngày, ông muốn kiểm chứng xem mặt đất đã khô cạn và có sự sống chưa, liền thả chim bồ câu ra nhiều lần, cho đến khi bồ câu bay về, mỏ ngậm cành lá ô-liu, ông biết rằng mình đã có thể sinh sống trên mặt đất.

Lữ hành đi trong sa mạc, khi nào thấy có cây cối và cành lá xanh tươi, họ biết rằng nơi ấy có nước, có sự sống. Màu xanh của lá chính là niềm ước mơ, khát vọng của người đi trong sa mạc. Khát vọng ấy quá lớn lao, đến độ nhiều khi đã trở thành ảo ảnh, khiến họ nhìn đâu đâu trên dải cát vàng mênh mông cũng thấy cây, thấy lá.
Nói đến cây và lá trong sa mạc, tôi nhớ đến những cây xương rồng, những bụi gai mọc lên và sống rất lâu năm trên những vùng đất cằn cỗi và nóng bỏng. Cây cần nước, vậy mà tại những nơi ấy, nước rất hiếm hoi. Để cây có thể sống, lá cây thu lại nhỏ li ti hoặc biến dạng thành gai, hầu cho diện tích thoát hơi nước hẹp tới mức tối đa, giúp cho cây giữ được nước trong thân. Nghĩ đến cây và lá, tôi lại nghĩ đến người. Trước lợi ích chung của cộng đồng, tập thể, có mấy ai trong chúng ta dám thu nhỏ mình lại, dám lui đi, dám tự tan biến?

Thông thường nhất, khi còn ở trên cây, lá làm nên một khoảng râm mát, che cho con người khỏi cái nắng cháy da. Chuyện có vẻ bình thường, nhưng nếu suy nghĩ về hình ảnh ấy, tôi thấy rõ ràng rằng dù tôi có yếu đuối về thể lực, có hạn hẹp về kiến thức, có nghèo nàn về tài chánh, thì chính cuộc sống của tôi cũng đã góp phần giúp ích nhân loại, nếu tôi có thiện chí và dám hy sinh. Muốn che nắng cho con người, chính lá phải đưa thân ra chịu nắng thiêu đốt. Muốn bảo bọc ai, hy sinh cho ai, tôi cũng phải giống như lá, tình nguyện chịu huỷ hoại, chịu thiêu đốt. Bằng không, lòng mong ước hay lời nói của tôi không đem đến một kết quả cụ thể nào.

Ngay cả khi đã rụng xuống, đã chết, lá vẫn còn giúp ích cho con người. Người ta gom những lá khô ấy lại, đốt lên, làm thành ngọn lửa sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá buốt. Con người, có mấy ai chịu thiêu đốt để trở thành ánh lửa sưởi ấm cho nhau?
Có những cô thiếu nữ mơ mộng, không đốt lá vàng, nhưng ép những chiếc lá ấy trong sách. Ngắm những chiếc lá khô ép mỏng, người ta có thể bùi ngùi nghĩ lại cả một chuỗi dài kỷ niệm. Lá, khi ấy, trở thành một người bạn thầm lặng, nhắc nhở cho ta những thăng trầm của cuộc sống, những biến đổi của thời gian.

Một vườn um tùm hoa lá là hình ảnh tươi đẹp nhất của cuộc sống chung và bình đẳng. Từ những chiếc lá to như lá chuối, lá cau, lá dừa, lá đu đủ; những chiếc lá hạng trung như lá đa, lá đề, lá bàng… cho đến những chiếc lá nhỏ xíu xiu như lá me, lá trinh nữ… tất cả đều vui tươi dưới ánh mặt trời và đều vươn lên đầy sức sống. Từ những thứ lá tuốt trên cao như lá thông, lá tre, cho đến những thứ lá là đà sát đất như bụi rau, bờ cỏ… tất cả đều tự do phát triển và nảy nở. Không thứ lá nào phủ nhận thứ lá nào, không thứ lá nào xem thường thứ lá nào. Người ta dù có cách biệt nhau về thể chất, tài năng, tiền của… nhưng có lẽ sự cách biệt ấy không quá đáng như tàu lá dừa và cái lá me. Vậy mà người ta vẫn cứ lên mặt với nhau, khinh thường và phủ nhận nhau. Bao giờ người ta biết sống chung và sống bình đẳng như lá, người ta sẽ tạo ra một xã hội xanh mát, vui tươi như một vườn đủ mọi loại lá hoa.

Lá là biểu tượng của niềm hy vọng và hoà bình. Màu xanh của lá có thể nói là màu vui tươi nhất, đầy sức sống nhất, màu gợi cho ta về một tương lai đấy hứa hẹn. Cành lá uốn cong trong dấu hiệu của Liên Hiệp Quốc nói lên khát vọng hoà bình của con người. Nếu tôi sống làm sao, mà khi nhìn vào tôi, người khác thấy một sự bình yên, một niềm an lạc; thấy yêu đời, vui tươi và hy vọng… khi ấy tôi trở nên giống lá, trở nên biểu tượng của hy vọng và hoà bình.

Lá cũng là hình ảnh trọn vẹn nhất của kiếp người. Người ta lọt lòng mẹ với thân phận hài nhi, dần dần lớn lên, phát triển, trưởng thành; trải qua nhiều biến thiên dời đổi của cuộc đời, rồi già, rồi bệnh và chết. Chiếc lá cũng thế: bắt đầu nhú ra từ cành cây, xanh non, nhỏ xíu, rồi phát triển, lớn lên dần, đậm màu dần. Trải qua mưa nắng và tiết mùa, lá đã nhiều lần thay đổi hình dạng và sắc độ. Kịp đến khi mùa Thu tới, lá úa vàng, lắt lay theo ngọn gió… để rồi giữa Thu hoặc sang Đông, lá lặng lẽ rời cành. Cũng có khi vì một lý do bất thường nào đó, lá vàng còn ở trên cây mà lá xanh đã mau rơi rụng. Chính vì thế mà khi ngả mũ chào một đám tang đi qua, “thiên hạ bên đường nhìn xe tang tự hỏi: lá mùa Xuân hay lá úa mùa Thu?” Có lẽ đời lá diễn tả trọn vẹn đời người, nên không biết bao văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ đã lấy lá làm đề tài diễn tả tình người. Riêng tôi, nhìn lá, tôi cảm nhận được thân phận mỏng manh của kiếp người và của chính mình. “Đời sống con người chóng qua như cỏ như hoa mọc giữa cánh đồng; một cơn gió thoảng cũng đủ làm nó biến đi, và nơi nó mọc không còn vết tích.” Cảm nhận và ý thức như vậy, tôi quý trọng đời sống của tôi, và cố gắng sống thế nào để những ngày hiện hữu trên mặt đất trở nên hữu ích cho tôi và cho người khác.

Dành cho anh chị em Công giáo:

 

Chúa nhật này là Chúa nhật Lễ Lá. Cành lá trong ngày Chúa nhật Lễ Lá mang nhiều ý nghĩa. Nó nói lên vinh quang của Thiên Chúa mà cũng nói lên tính hay thay đổi và bội bạc của con người.
Lá mang nhiều ý nghĩa. Lá gửi đi nhiều thông điệp. Nhưng trong lúc này, câu khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là: “Lá rụng về cội.” Lá do chính sức sống từ gốc cây chuyển lên thân cây, cành cây mà tạo nên, lá phát xuất từ gốc cây. Một ngày kia, lá già lá rụng, cũng lại rơi xuống gốc cây nơi từ đó lá phát sinh. Câu này có ý nói dù sao đi nữa, thì cuối cùng người ta cũng trở về với nguồn gốc của mình. Người ta nghĩ đó là một định luật và là một lẽ đương nhiên.
Nhưng tôi nghĩ, chưa chắc “lá rụng về cội” đã là một lẽ đương nhiên. Nhìn vào hình ảnh thực tế, bao nhiêu chiếc lá rụng nằm dưới gốc cây, bao nhiêu chiếc lá bay tản lạc đi nơi khác? E rằng số lá rụng “cuốn theo chiều gió” nhiều hơn những “lá rụng về cội” rất nhiều. Như thế, “lá rụng về cội” không hẳn là một lẽ đương nhiên.

May mắn, tôi ý thức được tôi do Thiên Chúa tạo dựng, Thiên Chúa là cội nguồn của tôi. Nhưng ý thức được như vậy là một chuyện, sống làm sao để khi xuôi tay nhắm mắt, tôi về được “cội nguồn” Thiên Chúa lại là một chuyện khác. Muốn trở lại cội nguồn, tôi phải giữ cho thân tâm an định, để không bị “cuốn theo chiều gió.” Mà cuộc đời này, biết bao nhiêu là những cơn bão loạn. Luôn luôn phải nghĩ về cội nguồn, luôn luôn phải có mối dây liên lạc thân tình với Thiên Chúa, tôi mới có thể giống như “lá rụng về cội” được. Để được như “lá rụng về cội,” tôi phải có được sự khao khát của một Augustinô: “Hồn con khắc khoải trông đợi Chúa, và chỉ nghỉ an khi gặp được Ngài.”

Quyên Di
(Trích "Nhìn Xuống Cuộc Đời," 1995)