Thứ Hai, 22 tháng 10, 2018

Cứ Ngỡ...

Sánh vai lặng ngắm dòng trôi
Bên bờ xanh biếc chung đôi soi mình



Ngỡ đời êm nhẹ khúc tình
Nào ngờ nửa cánh lặng thinh bước thầm



 Vội chi hởi bạn trăm năm
Trùng khơi vạn nẽo biết tầm nơi đâu



Biển xanh đau đáu dáng sầu
Nghe trong vô tận nỗi đau dâng tràn


Nhẹ nhàng từng bước nhẹ nhàng
Để tâm lắng đọng khẽ khàng nhớ nhung...

Thơ & Hình Ảnh: Kim Oanh
Noosa Beach15/10/2018

Đề Đại Dữu Bắc Dịch 題大庾嶺北驛 - Tống Chi Vấn (636 - 712)

Mới đây, nhận được thơ của một cựu nữ sinh Đoàn Thị Điểm Cần Thơ hỏi thăm "năm nay thầy có đi trốn lạnh ở đâu không", tôi ngồi dịch lại bài "Nhạn trốn lạnh" này gửi đi để thay lời cám ơn và để mọi người cùng đọc cho vui thôi ̣ Cầu chúc an lành ̣ PKT 10/21/2018



題大庾嶺北驛    Đề Đại Dữu Bắc Dịch

陽月南飛雁,    Dương nguyệt nam phi nhạn,
傳聞至此回。    Truyền văn chí thử hồi.
我行殊未已,    Ngã hành thù vị dĩ,
何日複歸來。    Hà nhật phục qui lai?
江靜潮初落,    Giang tịnh triều sơ lạc,
林昏瘴不開,    Lâm hôn chướng bất khai.
明朝望鄉處,    Minh triêu vọng hương xứ,
應見隴頭梅。    Ưng kiến lũng đầu mai!

宋之問               Tống Chi Vấn (636 - 712)

Diễn nghĩa:

Tháng 10, trốn lạnh, nhạn bay về Nam
Nghe nói bay đến đâu đó không hiểu sao lại bay ngược trở về
Còn người sao cứ phải đi mãi nhỉ
Ngày nào mới trở về nhà được đây
Sông êm thủy triều vừa rút xuống
Lâm hôn chướng khí chưa tan
Sáng ra, trời xuân, vời trông cố quận 
Thương người xa xứ, cả một rừng mai vàng đã nở hoa! 
(Viết Ở Quán Dịch Trên Rặng Núi Bắc Đại Dữu)

Phụ Chú: Chuyện kể vào tháng 10, nhạn ở phương Bắc, rủ nhau từng đàn bay về Nam, để trốn lạnh. Ngang qua rặng núi mênh mông, thấy hoa mai nở ngút ngàn , ngỡ mùa xuân ấm đã về, nên đã bay ngược trở lại.

Hà Nhật Phục Quy Lai
PKT - Mây Tần

Tháng mười nhạn trốn lạnh,
Đâu đó không bay xa.
Còn khách đời phiêu bạt,
Ngày nao trở lại nhà?
Sông êm triều mới rút, 
Rừng ám chướng chưa nhòa.
Sáng sớm bên trời lạ, 
Thương ai mai nở hoa.

Phạm Khắc Trí
***
Đè Nơi Trạm Bắc Đại Dữu

Tháng mười phương nam chim bay mãi
Nghe đâu đến đó lại về ngay.
Sao ta lê bước chân hoài,
Ngày nao không biết được quay về làng?
Sông phẳng lặng triều đang rút xuống,
Rừng âm u chướng khí chưa tan.
Sớm trông quê cũ bàng hoàng
Tưởng chừng lắp ló đầu làng rừng mai!

Mailoc phỏng dịch

Cali 2013
***
Đề Thơ Tại Trạm Bắc Núi Đại Dữu

Trốn lạnh, xuôi nam, nhạn sải bay
Giữa đường đổi ý lại về đây
Thân ta năm tháng đi biền biệt
Tâm trí bao lần nhớ quắt quay
Triều thấp, dòng sông buồn phẳng lặng
Rừng xa , sương khói tỏa nhòa phai
Sáng ra, vọng ngóng về quê cũ
Bát ngát một vùng mai mãn khai.

Phương Hà phỏng dịch
***
題大庾嶺北驛 Đề Đại Dữu Bắc Dịch

陽月南飛雁, Dương nguyệt nam phi nhạn,
傳聞至此回。 Truyền văn chí thử hồi.
我行殊未已, Ngã hành thù vị dĩ,
何日複歸來。 Hà nhật phục qui lai ?
江靜潮初落, Giang tịnh triều sơ lạc,
林昏瘴不開, Lâm hôn chướng bất khai.
明朝望鄉處, Minh triêu vọng hương xứ,
應見隴頭梅。 Ưng kiến lũng đầu mai!

宋之問            Tống Chi Vấn

TỐNG CHI VẤN ( 656-712 ), tự là Diên Thanh, còn có tên là Thiếu Liên. Người đất Phần Châu ( thuộc huyện Phần Dương , tỉnh Sơn Tây hiện nay ). Còn có thuyết cho rằng, ông là người Hoằng Nông Hoắc Châu ( thuộc Linh Bảo, tỉnh Hà Nam hiện nay ). Ông là thi nhân nổi tiếng đời Đường.

Tống Chi Vấn là cậu của Lưu Hi Di, cả hai cậu cháu đều rất giỏi thơ và cùng đậu Tiến Sĩ năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường ( 675 ). Hai cậu cháu có một giai thoại về thơ rất thương tâm, sẽ kể hầu quí vị ở bài thơ sau.....

Tông Chi Vấn vì có dính líu đến vụ án Thái Bình Công Chúa, nên bị biếm làm Trường Sử Việt Châu. Khi Đường Tuấn Tôn lên ngôi, ông lại bị đày đến Khâm Châu ( thuộc Khâm huyện tỉnh Quảng Đông ngày nay ). Chính trên đường đi đày này, khi trọ ở bắc dịch quán ở biên giới Giang Tây và Quảng Đông , ông đã làm bài thơ thương cảm nầy 

CHÚ THÍCH:
ĐẠI DỮU LÃNH 大庚嶺 : là một ngọn núi trong Ngũ Đại Lãnh, đây là ranh giới giữa Bắc Nam nằm giữa tỉnh Giang Tây và Quảng Đông. Ngày xưa theo truyền thuyết : Khi nhạn phương Bắc bay về Nam để tránh lạnh, khi bay đến Nam lãnh nầy thì không bay nữa. có thể vì là giao giới giữa Bắc Nam nên khí hậu đã khá ấm áp rồi. Vì khí hậu ôn hòa ấm áp, tháng mười đã thấy nở đầy cả bạch mai và hồng mai, nên còn có tên là MAI LÃNH 梅嶺.
BẮC DỊCH 北驛 : DỊCH là Dịch Quán, nhà trọ cho những công sai, quan viên đi lại nghỉ ngơi. BẮC DICH: là Dịch quán cuối cùng của đất Bắc được xây dưng giữa ranh giới Bắc Nam.
DƯƠNG NGUYỆT 陽月: là tên gọi riêng của tháng Mười theo cách gọi của dân gian là : Chánh Đoan, Nhị Hoa, Tam Đồng, Tứ Mai, Ngũ Bồ, Lục Lệ, Thất Qua, Bát Quế, Cửu Cúc, Thập DƯƠNG, Thập Nhất Hà, Thập Nhị Lạp 「正端、二花、三桐、四梅、五蒲、六荔、七瓜、八桂、九菊、十陽、十一葭、十二臘」( Tháng Giêng gọi là tháng ĐOAN, tháng hai gọi là tháng HOA, tháng ba gọi là tháng ĐỒNG... ) Hiện nay rất ít người biết gọi theo cách nầy, kể cả Hoa Kiều ở khắp nơi trên thế giới.
TRUYỀN VĂN 傳聞 : Theo Truyền thuyết nghe thấy được . Ở đây có nghĩa là " Nghe nói rằng..."
THÙ 殊 : là Đặc Thù, là đặc biệt, là ngoại lệ.
HÔN 昏 : là Hôn ám, là Âm U. CHƯỚNG 瘴 : là Chướng Khí : Khí độc trong rừng thẳm, nơi ít người lui tới. BẤT KHAI là Không Mở Ra, Không tan ra. Nên câu 6 " Lâm hôn chướng bất khai " có nghĩa : " Rừng già âm U, ngập tràn cả chướng khí chưa tan đi được ! "
LŨNG ĐẦU 隴頭 : là Gò đất cao, ở đây chỉ những ngọn núi ở xa xa. Chữ LŨNG 隴 : khi là Danh từ riêng mới có nghĩa là tên riêng của tỉnh CAM TÚC, một tỉnh ở cực tây TQ, thuộc lãnh thổ của Lưu Bị thời Tam Quốc. Đây là nơi giáp giới giữa 2 dân tộc Hán Hồ mà tôi đã đề cập trong bài LƯƠNG CHÂU TỪ của VƯƠNG HÀN.

DỊCH NGHĨA:
CẢM ĐỀ NƠI DỊCH QUÁN PHÍA BẮC CỦA ĐẠI DỮU LÃNH
Trời tháng mười miền Bắc bắt đầu se lạnh, nên chim nhạn kết đoàn bay về phương Nam. Nghe nói rằng nhạn chỉ bay đến nơi nầy rồi dừng lại ( Vì nơi đây khí hậu đã ấm áp lắm rồi !). Còn hành trình của ta thì ngoại lệ, một kẻ đi đày, nên không thể dừng lại đây được. Và không biết ngày nào mới được trở về quê cũ đây. Hôm nay dừng chân nơi quán dịch giáp giới nầy , nhìn dòng sông phẳng lặng trong lúc thủy triều đang xuống và cánh rừng mờ mịt chướng khí của buổi chiều không tan đi được ! Sáng ngày mai khi đứng trên ngọn núi nầy mà trông ngóng về quê nhà, thì chắc cũng chỉ thấy được rừng mai nở rộ phủ kín cả núi đồi mà thôi ! ( chớ đâu có thấy được quê hương đâu ! Cũng như người Việt lưu vong ở MỸ, đứng bên bờ biển Cali mà nhìn, thì chỉ thấy được biển xanh mây trắng, tuy có đẹp, nhưng làm sao thấy được đất nước Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương xa lơ xa lắc !!! ).

Toàn bài toát lên một nỗi sầu cô độc da diết của kẻ đi đày. Chim nhạn còn có chỗ dừng chân và bay trở lại, còn mình thì không biết bao giờ mới trở lại được đây ? Cảnh trí phương nam với sông ngòi phẳng lặng đìu hiu, rừng sát thâm u chướng khí, chỉ có khí hậu là ấm áp nên ngàn mai nở rộ, rực rở cả núi đồi, nhưng cũng không làm cho tác giả cảm thấy cảnh trí tươi đẹp. Mai nở rộ chỉ làm che khuất tầm mắt của tác giả trông ngóng về quê hương mà thôi ! Toàn bài thơ không có dùng một chữ SẦU nào cả, nhưng lòng SẦU TƯ của tác giả thì man mác từ câu đầu đến câu cuối!
DIỄN NÔM:

Tháng mười xuôi nam chim nhạn,
Đến đây dừng cánh đợi về.
Riêng ta thân đày lưu lạc,
Ngày nào mới được hồi quê ?!
Sông lặng buồn trông nước xuống,
Rừng sâu lam chướng ủ ê.
Sáng ngày quê xa trông ngóng,
Núi đồi mai nở tái tê!

Lục bát:

Xuôi nam chim nhạn tháng mười,
Đến đây dừng cánh xuân tươi lại về.
Riêng ta lòng luống ủ ê,
Quê hương biết thuở nào về lại đây ?!
Sông buồn lặng lẽ nước mây,
Rừng sâu lam chướng phủ đầy lối qua.
Sáng ngày trông ngóng quê xa,
Quê xa chẳng thấy, mai hoa nở đầy !!!

Đỗ Chiêu Đức

Quán Chiều - Có Còn



Quán Chiều

Chiều nay quán vắng lạ lùng
Tiếng ve bớt rộn bậc cung bẽ bàng
Gió thu sớm nhẹ mơn man
Lá vàng chưa rụng mưa đan kín trời

Bao lần thu đến rồi qua
Bao lần mình lại nhớ ra đã buồn
Mặc cho vận rủi không buông
Mặc cho chớp biển mưa nguồn sá chi!

Nguyễn Cao Khải
2018
***
Cảm Tác:

Có Còn


Lời than ai oán não nùng
Cành cao nức nở ve chung nỗi buồn
Thu chưa vàng lá vội tuông
Tình kia con nước xuôi nguồn mãi xa
Quán chiều vắng ngắt người qua
Ngóng trông tin nhạn vào ra mỏi mòn
Tiếc thời...nhòa nhạt màu son
Hồn xưa hương cũ có còn thiết tha

Kim Phượng  

Nửa Mảnh Trăng Khuya



Bài Xướng: 
Nửa Mảnh Trăng Khuya

Tri kỷ hồng nhan chẳng dễ tìm
Lồng thưa khó giữ một loài chim
Hương rừng hoa trắng đang ngào ngạt
Tiếng hót oanh vàng bỗng lặng im
Khó hiểu vì ai cầu gãy nhịp
Khôn nguôi chỉ tội kẻ mò kim
Chiều buông thấm thía buồn chim vịt
Nửa mảnh trăng khuya đáy nước chìm!

Cao Linh Tử

20/10/2018
***
Các Bài Họa:
Niềm Tin Lịm Tắt

Ta, nửa hồn đơn mãi kiếm tìm
Nửa phần còn lại biệt tăm chim
Nhìn trời, chỉ thấy vầng trăng úa
Ngó đất, buồn trông vạt cỏ im
Khắc khoải vào ra ngày lại tháng
Thẫn thờ xếp mở kéo cùng kim
Cô đơn vò võ trong mong đợi
Tắt lịm niềm tin ngỡ lún chìm

Phương Hà
***

Họa Vận:
An Phận Thủ Thường


Hồng nhan tri kỷ biết đâu tìm ?
Biền biệt phương trời cá nước chim !...
Tuổi trẻ mơ hoa ôm mộng đẹp,
Trưởng thành kiếm sống kiếp nghèo im.
Đẩy đưa duyên phận đành an phận,
Ẩn nhẫn thành kim ấy vạn kim.
Chấp nhận hiện tình là hạnh phúc,
Thủ thường an phận sợ chi chìm !...

Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân- Sáng Tác Song Ngọc - Tiếng Hát Trang Mỹ Dung


Sáng Tác: Song Ngọc
Tiếng Hát: Trang Mỹ Dung
Thực Hiện: Đặng Hùng

Ta Làm Thơ Cho Vui Vẻ Tháng Ngày


Ta chưa gặp mà đã thành tri kỷ
Chưa bao giờ nói chuyện* đã tình si
Qua thơ văn ta liên lạc đều chi
Tình trên ảo mong manh miều mỹ


Đâu phải thật nên sợ gì anh nhỉ?
Chút mộng mơ cho đời sống nên thơ
Chút lãng mạn cho trái tim trẻ mãi
Ta làm thơ cho vui vẻ tháng ngày

Thú tiêu khiển nhẹ nhàng, tao nhã
Thơ yêu đương quên thực tế phủ phàng
Thích làm thơ khi tuổi đã muộn màng
Nên thích lắm, em yêu thơ…yêu lắm!

Nhắm mắt lại, mường tưởng chiều trên biển
Em thẩn thơ quên đi hết muộn phiền
Sóng rù rì, tóc lộng gió tung bay
Mây trắng xóa… đời mầu hồng đẹp quá!

Người yêu dấu, anh là người tưởng tượng
Anh trong thơ không có thật ngoài đời
Anh an ủi, dịu dàng trong tư tưởng
Anh là người lý tưởng, rất bao dung

Là người ảo nên thương em nhiều lắm!
Không bao giờ anh nỡ phụ em đâu
Chẳng bao giờ anh làm tim em đau
Luôn ở đó, bên cạnh em mãi mãi…

Như Nguyệt
19 tháng 10, 2018
*nói chuyện qua phone

Mãi Vì Nhau



Xướng: Mãi Vì Nhau

Sao mà chảy mãi biết từ đâu
Chỉ có giờ đây trắng một màu
Khoảnh khắc ân tình về vạn kiếp
Trường miên trân cảm tới thiên thâu
Chưa trao lược biếc nào tơ rối
Chẳng giữ tóc xanh luống bạc đầu
Mòn hết da rồi thương vẫn chải
Muôn đời đá nước mãi vì nhau.

Phan Tự Trí
***
Các Bài Họa:
Mãi có Nhau

Thấu tận nhân tâm,...có lạ đâu
Ngàn năm mây trắng vẫn nguyên mầu?!
Sâu đằm nghĩa cũ lưu muôn thuở
Nặng trĩu niềm riêng thức vạn thâu!
Thâm đặng gió trăng xanh tận trí
Quản chi sương gió bạc trên đầu?!
Tấm thương rộng mở lòng khoan ái
Sau trước thủy chung mãi có nhau!

Nguyễn Huy Khôi 

4-7-2018
***

Thác Đổ Ngàn Năm

Bắt nguồn ở mãi tận đâu đâu
Chảy xuống nơi đây trắng xóa màu
Róc rách băng rừng trên núi thẳm
Ầm ầm đổ vực suổt đêm thâu
Đã dồn dập sóng như triều dữ
Lại tóe tung mưa tựa bão đầu
Cứ thế thi gan cùng tuế nguyệt
Say nồng đá nước mãi bên nhau.

Sông Thu 
04/07/2018
***
Lời Đá

Dẫu là bão lũ,...đổ từ đâu
Thạch trụ trầm kiên giữ vẹn mầu!
Đèo dốc lô xô muôn dặm nẻo
Lạch nguồn thầm thĩ suốt canh thâu!...
Nước dù ào ạt lao mòn thác
Đá vẫn thung dung thế ngẫng đầu!?
Thấu lẽ càn khôn truyền cổ sử
Một lòng Đá - Nước khó rời nhau?!

Nguyễn Huy Khôi
 5-7-2018
***
Mãi Bên Nhau

Thời gian bóng ngựa …lạ gì đâu
Đọng giọt trăm năm trắng trọn màu
Giữ nẽo ân tình còn một thuở
Gìn nơi tâm sự bấy canh thâu
Mây trôi lẳng lặng ru lòng hạc
Sương rụng lâm râm nhuộm mái đầu
Thỏa dạ trời mây trăng cố lý
Canh gà vàng đá mãi bên nhau.

Hương Thềm Mây
GM.Nguyễn Đình Diệm 

05.7.2018
***Ngàn Năm Thác Đổ 

Thác dội miên man, cớ tự đâu ?
Mưa ngàn, lũ cuốn khởi ban đầu
Lách luồn rừng núi năm canh tận
Len lỏi nương đồi sáu khắc thâu
Đá, nước muôn đời ưa sát cánh 
Mây, trời vạn nẻo thích bên nhau
Suối rơi thạch phiến tung làn trắng
Mòn mỏi tháng năm chẳng đổi màu.

Thanh Hoà.
***
Mãi Cho Nhau

Bức hình tuyệt quá, cảnh nơi đâu.
Chảy rót vào mô tạo đỏ mầu.
Con tạo khéo bày cùng khéo gợi
Người chơi tài kiếm lại tài thâu.
Thủy buông dòng biếc tia chùm đáy
Thạch đỡ mom xanh bọt phủ đầu.
Lưu lại mai sau tình nước đá
Cầu trời gió lặng, mãi cho nhau .

Trần Như Tùng
***

Thương Hoài

Người còn đi mãi biết về đâu?
Thuở ấy tóc xanh chửa bạc màu
Lòng chẳng phôi pha hình dáng cũ
Đêm nằm khắc khoải suốt canh thâu
Côn trùng rên rĩ tràn sân vắng
Tiếng dế râm ran gợi phút đầu
Một mối tình si buồn thắt thẻo
Ngàn đời cũng vẫn mến thương nhau!

Thiên Hậu
***
Vẫn Nhớ Nhau


Bóng khuất lưng trời biệt tích đâu
Đường xa , bụi gió áo phai màu
Người còn giấc muộn sâu trăn trở
Kẻ mãi đêm dài thức trắng thâu
Cuối Hạ âm thầm tô ánh nắng
Tàn Thu lủi thủi điểm sương đầu
Non cao, vực thẳm hoài mong đợi
Nước chảy sông mòn vẫn nhớ nhau

Minh Thuý
Tháng 7_2018
***
Vẫn Còn Nhau


Yêu chi cho lắm, bởi vì đâu
Xanh mãi tình ta, chẳng bạc màu
Cho dẫu cách xa nhiều tháng suốt
Vẫn luôn chờ đợi lắm canh thâu
Thương làn tóc rối công viên cũ
Nhớ giọt lệ vui buổi thuở đầu
Ấy thế, làm sao mà xóa được
Núi mòn, sông cạn, vẫn còn nhau 

 Thanh Trương

Chiếc Xe Ô Tô Đồ Chơi


Tôi chắc chắn rằng chẳng có một ai đến cái tuổi chớm về chiều như tôi, khi nhìn lại quá khứ đời mình mà không mang ít nhiều cảm giác ăn năn vì những lỗi lầm nào đó mà mình đã phạm phải trong cuộc sống. Những lỗi lầm có thể do tính xấu bẩm sinh của mình gây ra, chẳng hạn như tính ích kỷ, tính keo kiệt, tính đố kỵ với bạn bè, người thân... Nhưng cũng có thể do thiếu kinh nghiệm sống hay chỉ vì dốt nát, ngu đần nên gặp phải, hoặc vì chủ quan, tự tin qúa lố để rồi mất đi sự thông cảm, sự hiểu biết hợp lý mà dẫn đến lầm lạc..v..v.. Tóm lại nói đến chữ THỎA MÃN TOÀN VẸN về con người mình trong cuộc đời chỉ là điều không có thật, nếu không muốn nói là u mê chưa tỉnh, hay không có can đảm nhìn rõ về mình mà thôi.

Tôi cũng thế, không một tí ngoại trừ. Nhìn lại khỏang thời gian trải dài đằng đẵng hơn 60 năm tuổi đời. Nhớ lại biết bao nhiêu sự việc không mấy tốt đẹp, với những thất bại ê chề xẩy ra trong đời, ít hay nhiều do chính mình gây ra. Tôi chẳng muốn dấu giếm hay ngượng ngùng khi nhìn nhận mình đã có quá nhiều khiếm khuyết, ngày nay quay nhìn lại với những ăn năn, tự trách. Đúng như vậy, kể làm sao cho hết những khiếm khuyết, lỗi lầm mà tôi đã gây ra cho chính bản thân và cho những người thân thương, ruột thịt của mình. Từ lúc ấu thơ sống dưới sự cưu mang, chăm sóc (dù thiếu thốn,nghèo khổ) của cha mẹ khi là đứa bé hàng ngày lang thang ờ thành phố Hà nội xa xưa đến lúc lớn khôn bước vào đời đi làm việc. Rồi nhờ tí may mắn kèm theo những cố gắng học hỏi về chuyên môn với những hối thúc bởi tham vọng mà có giai đọan được bước vào vị trí nhàn nhã có tí chút hơn người.... 

Đôi lần tôi đã quên đi những thất bại, những lầm lạc mà tưởng rằng mình giỏi, mình khôn ngoan! Nhưng đến một lúc nào đó, trong một không gian tĩnh lặng, tâm tư thoáng đãng chợt đưa mắt nhìn rất thật vào cái gương soi rõ con người mình. Tôi không còn tí chút nào cao ngạo nữa , thay vào đó với bao nhiêu cảm giác ăn năn vì những lỗi lầm trong đời . Tôi tự nghĩ nếu thực sự khôn ngoan hơn, suy tính kỹ lưỡng hơn và nhất là dám nhận khuyết điểm, can đảm sửa sai, phục thiện…Có lẽ tôi đã đạt được kết qủa tốt hơn và không bị dày vò ân hận với những thất bại như ngày nay. 

Ngay với 3 đứa con của tôi, chúng đã sinh ra, lớn lên, được giáo dục trong tình thương yêu đậm đà cùng với bao ước mơ của tôi dành cho chúng. Tôi cũng có quá nhiều khuyết điểm, sai lầm trong vai trò người cha đối với con. Tôi đã quá nghiêm nghị, quá khắt khe đôi khi mang tính cố chấp, độc tài với các con. Tôi đã ôm tính tự ái quá cao với vị trí của người bố để không dám xin lỗi hay tìm cách sửa sai trước mặt các con. Tôi không dám hay thật ra cố tìm cách quên đi những bản chất tự nhiên của trẻ thơ . Cái bản chất mà chính ngày xưa, lúc tôi còn ở tuổi như chúng, tôi cũng thế, nếu không muốn nói là còn đáng trách hơn. Tôi đã rầy la, ngăn cản không cho chúng được thể hiện những cái mà ở tuổi chúng phải như thế. Tôi không hiểu được rằng, nếu chúng không như thế, chúng đúng y hệt như cha mẹ chúng chỉ dẫn tức là chúng bất bình thường. Tôi muốn chúng chơi đùa, ăn học có lúc, đúng với thời khóa biểu chỉ vì tôi không hiểu một điều đơn giản, đó là thời gian của trẻ thơ không bao giờ được đếm bằng chiếc kim đồng hồ và dẫn dắt bởi ý kiến lạ kỳ của ông cha, bà mẹ. Thời gian của trẻ thơ được tính toán bằng sự hồn nhiên phóng túng liên hệ đến bầu năng lượng mà sức khỏe của chúng xác định . Một đứa bé chỉ biết cắm đầu vào sách vở không biết gì đến xã hội chung quanh, không biết chơi đùa, nghịch phá như bạn cùng lứa tuổi tức là chúng khác thường hay đang đi vào một loại bệnh tật nào đó. Hãy lo lắng hơn là vui mừng với đứa con như vậy! 

Tôi đã uốn nắn, tìm cách hướng dẫn ba đứa con theo những kinh nghiệm , khôn ngoan của tôi. Tôi muốn chúng hiểu rõ những cay đắng thất bại, những khổ cực mồ hôi nhầy nhụa của đời tôi. Một cuộc đời sinh ra lớn lên trong thiếu thốn và luôn luôn bị đe doạ bới những bấp bênh của chiến tranh, loạn lạc và đầy rẫy bất công ... Tất cả những cái thua thiệt đó đã tôi luyện cho tôi thành một con người sắc xảo, khôn lanh ( có lẽ cả sự gian trá nữa ?!) . Tôi nghĩ rằng đó là kinh nghiệm sống, là cấu chất của thành công. Nhưng tôi đã lầm, cái lầm lẫn quá lớn lao và đầy tệ hại . Tôi đã không biết một điều rất đơn giản, quá hiển nhiên, đó là những đứa con tôi chưa bao giờ biết ý niệm của thiếu ăn, khốn khổ vì chiến tranh thì tại sao bắt chúng phải nhịn bữa cơm khi bụng đang đói? Chúng phải nghi ngờ , nói xấu sau lưng hay phùng má trợn mắt lên chống đối người khác khi họ không đồng quan điểm hay chính kiến với chúng ? ! 

Thật là vô lý! Cái vô lý ngớ ngẩn và rất khó hiểu khi chúng thấy tôi nghĩ đó là khôn ngoan và muốn truyền đạt cho chúng. Tôi dậy dỗ chúng dè xẻn tiền bạc để phòng ngừa lúc túng thiếu, nhưng tôi quên một điều là xã hội chúng đang sống, đang cưu mang chúng khác hoàn toàn với xã hội nghèo khổ, chiến tranh và đầy bấp bênh của tôi ngày xưa. Chúng cần gì nén lòng không dám bỏ tiền ra mua một món đồ vật mà chúng ham thích khi trong túi đang có tiền hay phải ngại ngần không dám đến ngân hàng để mua trả góp khi chúng có khả năng hoàn trả ?!


Tóm lại đến ngày nay khi các con tôi đã lớn khôn, tôi đã có đầy đủ thời gian và hoàn cảnh để nhìn về mình, nhìn khá rõ! Tôi đã im lặng chịu đựng những ăn năn vì những lỗi lầm của mình. Viết ra đây một lầm lỗi rất bé nhỏ cái lầm lỗi mà nhiều người cho rằng nó không quan trọng, chẳng đáng để tâm. Nhưng với tôi lại là một biểu tượng của hàng trăm lỗi lầm khác liên hệ đến cái tính xấu, độc tài, cứng nhắc, tự ái qúa đáng của tôi, đã làm tôi xấu hổ với chính mình và cả với vợ con nữa . 

Khi 3 đứa con tôi còn bé, gia đình chúng tôi thường cùng đi với nhau, ngay cả việc đi siêu thị mua đồ ăn hàng ngày. Đặc biệt vào những ngay nghỉ lễ hay cuối tuần tôi luôn luôn lái xe cùng gia đình tìm chốn vui chơi hay thăm viếng bạn bè . Ngay cả những khi vì công việc phải đi công tác xa, trong Thụy Sĩ hay ngoại quốc. Tôi cũng không bao giờ bỏ qua dịp may, xếp đặt lấy thêm vài ngày nghỉ thường niên để cả gia đình cùng đi, coi như một cuộc du lịch thư dãn vui chơi cùng vợ và con tôi. 

Một lần, vào dịp nghỉ hè, chúng tôi dùng xe ô tô tham dự một lễ hội ở thành phố Bern, thủ đô của Thụy Sĩ. Trong những lần đi xa như vậy, vợ tôi luôn luôn ngồi phía trước để giúp đỡ tôi trong việc mở bản đồ chỉ dẫn đường đi và cũng để giúp tôi những việc lặt vặt cá nhân khi lái xe. Các con tôi ngồi hàng ghế phiá sau. Lần đó, khi xe vừa vào thành phố, hai đứa con lớn của tôi bắt đầu gây gỗ, đánh nhau vì tranh dành đồ chơi. Vợ tôi quay lại giàn hoà rất nhiều lần nhưng cũng chẳng xong, tôi la hét, dọa dẫm đều vô ích. Lái xe trong một thành phố chưa quen thuộc đường đi, lại vào dịp lễ hội đông xe, đông người đã làm cho vợ chồng tôi nhiều khi luống cuống . Trong khi đó ở hàng ghế sau lũ con thì khóc lóc, đánh nhau muốn phá tung lên, càng làm tôi gần như điên lên vì tức giận. 

Tôi vừa lái xe, vừa dùng đủ lời đe dọa, mong chúng sợ mà yên lặng.Vợ tôi cũng chẳng khá hơn, quay hẳn người lại để tìm cách phân xử. Nhưng cuộc tranh dành vẫn không chấm dứt. Lo sợ tai nạn và lầm lẫn hướng đi, tôi có ý định tìm chỗ dừng xe để giải quyết. Nhưng ở một thành phố đang lễ hội, đường xá lại hẹp, bảng chỉ dẫn đường bị thay đổi để tránh nạn kẹt xe… Hoàn toàn không dễ dàng cho việc dừng xe mà không làm ngăn cản giao thông. Cuối cùng quá bực bội, tôi hét lên với lũ con: 
- Chúng mày mà không chấm dứt, ba sẽ dừng xe lại, liệng hết đồ chơi đi đó! 
Nhưng cũng chẳng đến đâu, tiếng khóc, tiếng cãi nhau của lũ trẻ chẳng ít đi mà có phần nhiều hơn. Tôi gần như giận run lên ! Ngay lúc đó, gặp một ngã rẽ bên phải, tôi quẹo xe vào con đường bên cạnh, ít xe hơn, cùng lúc tôi hét lên: 
- Ba kiếm chỗ dừng xe, chúng mày sẽ biết ba sẽ làm gì, ba không muốn đùa! 
Chạy được một khỏang ngắn, thấy một khỏang đất trống, nơi để những chiếc thùng rất to mầu xanh để thu gom đồ vật tái chế ( thủy tinh, kim loại … ). Chẳng ngần ngại tôi giảm tốc độ, quay đầu nhìn lại lũ con, với lời nói rất rõ ràng: 
- Chúng mày sẽ thấy ba sẽ làm đúng như lời nói. 

Lũ con tôi, lúc này đã nhận thấy câu nói của tôi không còn là câu đe dọa xuông nữa. Chúng im lặng hoàn toàn, ngồi đúng chỗ trên xe. Đứa đưa mắt sợ hãi nhìn tôi như van lơn, đứa nhìn vợ tôi mong cứu giúp. Thành thật lúc quay lại nhìn các con, thấy chúng đã biết sợ, im lặng, nhất là thấy đôi mắt như van lơn tha thứ của chúng … Sự tức giận của tôi đã có phần nào giảm bớt. Nhưng tự ái, muốn xác nhận quyền hành làm cha ! Muốn chứng tỏ lời nói của mình không đùa dỡn, đâu ra đó … Tất cả những cái cứng mạnh muốn tỏ lộ vai vế một ông bố “nói là làm“, một ông bố nghiêm nghị đã xóa nhòa nhãn giới, suy nghĩ đúng sai của tôi để mất đi sự cảm thông với trẻ thơ. Dù lúc đó lòng thương yêu con tràn đầy trong tim tôi khi nhìn những cặp mắt ăn năn, đầy sợ hãi của lũ con! 

Tôi vẫn lạnh lùng điều chỉnh cho chiếc xe dừng lại đúng chỗ, ngay bên cạnh chiếc thùng thu gom đồ tái chế. Vợ tôi hình như nhìn thấy sự quyết liệt của tôi, nhưng không cầm lòng được khi nhìn thấy sự im lặng sợ hãi , khẩn cầu giúp đỡ của các con. Đưa mắt nhìn tôi, vợ tôi dấu dịu: 
- Thôi bỏ qua cho chúng đi, chúng đã biết tội rồi! 

Nhưng vẫn khuôn mặt vô cảm, ánh mắt cau có đầy tức giận, im lặng không nói tiếng nào, tôi xuống xe, bước đến mở cánh cửa sau, đưa bàn tay vào trong xe, với giọng quyết liệt: 
- Đưa những đồ chơi mà chúng mày tranh dành, đánh nhau ra đây! 

Ba đứa con tôi đưa ánh mắt lo sợ, van xin, im lặng nhìn về hướng tôi. Vợ tôi cũng lập lại lời xin tôi tha lỗi cho chúng, nhưng tôi hoàn toàn không động lòng, tôi nói nhát gừng từng chữ : 
- Đưa ngay! Nếu không muốn tất cả đồ chơi sẽ được bỏ vào thùng rác! 

Lúc đó thằng con trai và đứa em gái lớn tranh nhau phân trần với tôi về chiếc xe ô tô đồ chơi là nguyên nhân mà chúng tranh dành. Tôi chẳng cần nghe phải trái của hai đứa con, với tất cả quyết liệt, không khoan nhượng tôi nhắc lại : 
- Đưa đây ! 

Vợ tôi không cầm lòng được khi nhìn thấy lũ con sợ hãi và tiếc rẻ món đồ chơi, nhìn tôi như năn nỉ : 
- Thôi, anh tha cho chúng nó đi. 
Quay về hướng các con vợ tôi nói : 
- Các con xin lỗi bố đi .

Chẳng cần vợ tôi nói lần thứ hai, cả ba đứa con cùng cất lời xin lỗi. Lúc đó tôi hoàn toàn không còn giận tức nữa, nhưng vẫn muốn chứng tỏ mình không đe dọa xuông, muốn chứng tỏ oai quyền của ông bố quyết liệt. Đúng là tự ái rởm, thiếu bao dung, không cảm thông, quên đi cái tôi của chính mình ngày xưa, thời còn ở tuổi như chúng, chắc chắn mình còn tệ hại, hư đốn hơn chúng rất nhiều (!)… Tôi vẫn đưa bàn tay về hướng thằng con, với lời nói rất sắt đá: 
- Ba nói lại một lần nữa, đưa đây cho ba liệng đi ! 

Đến lúc này thì thằng con đã thực sự rơi vào thất vọng trước sự quyết liệt của bố. Đôi mắt nó mờ dại, tay run run cầm lấy chiếc xe ô tô đồ chơi đưa chậm chạp về hướng tôi. Tôi vẫn không động lòng dù đã nhìn rõ ánh mắt tiếc rẻ, đầy ăn năn vì lỗi lầm dại khờ của thằng con. Tôi cũng chẳng thu nhỏ bàn tay của mình đang ngửa trước mặt nó. Trong khi thằng con vừa đưa chiếc xe ra vừa run run (tôi chắc chắn con tôi run run không phải vì sợ hãi mà nó run vì tiếc rẻ chiếc xe ô tô cũ kỹ, nhỏ bé chỉ bằng trái chuối cau) 

Nhưng hình ảnh cuối cùng của sự việc có lẽ đã làm tôi xúc động nhất, đau khổ nhất và đến nay đã mấy chục năm qua tôi vẫn không quên được ánh mắt buồn đau, tiếc rẻ của thằng con, đã khắc sâu vào trí nhớ của tôi, đã làm tôi ân hận mãi mãi. Đó là lúc thằng con tôi run run đưa chiếc xe vào tay tôi, tôi chưa kịp nắm lấy chiếc xe đồ chơi. Con tôi rút tay lại, nó đưa chiếc xe lên ngang tầm mắt, nước mắt chẩy dài dưới gò má. Thằng con đờ đẫn ngắm nghía chiếc xe đồ chơi cũ kỹ ra vẻ rất đau xót. Cuối cùng nó đưa chiếc xe sát vào miệng, hôn đắm đuối chiếc xe trước khi nhìn ngơ ngẩn như si dại rồi đặt nhẹ chiếc xe vào bàn tay tôi vẫn lạnh lẽo xoè ngửa trước mặt đứa con ! 

Tôi chứng kiến tất cả! Từ bàn tay run run đưa ra! Từ ánh mắt ngây dại buồn đau, dàn dụa nước mắt đến cả lúc con tôi đắm đuối hôn từ gĩa chiếc xe đồ chơi trước khi đưa chiếc xe vào bàn tay tôi. Nắm được chiếc xe đồ chơi của con, không một tí lưỡng lự, thương con.Tôi quay người ra khỏi cửa sau chiếc xe. Dù lúc đó lòng tôi cũng đau và thương con như muối xát nhưng chỉ vì cái tự ái qúa lớn của một ông bố đã làm tôi quên đi tất cả. Tôi cầm lấy món đồ chơi còn hơi hám nụ hôn và nước mắt xót đau của đứa con, đi đến chiếc thùng thu gom rác kim loại, tàn nhẫn tôi bỏ chiếc xe đồ chơi của con tôi vào đó!


Đến nay bất cứ khi nào khắt khe với con, hình ảnh đau buồn và đầy ân hận đó luôn luôn hiện ra trong trí nhớ tôi, mang đến cho tôi những cảm giác của một ông bố lỗi lầm. Tôi đã ngoan cố, tôi đã thiếu cảm thông với thế hệ con của tôi. Tôi đã hèn nhát, không trung thực để không dám chấp nhận một điều rất rõ ràng và chính xác. Đó là chắc chắn các con tôi, chúng ngoan ngoãn, biết sống ngay ngắn đầy tính nhân bản hơn tôi ngày xưa rất nhiều. Chẳng có gì phải suy nghĩ cao siêu để nghi ngờ điều này cả. Chúng sinh ra, lớn lên trong một xã hội thanh bình, có nền giáo dục tốt đẹp như Thụy Sĩ. Chúng không phải ngụp lặn trong một xã hội chiến tranh và đầy rẫy tật ách như tôi đã không may bị vướng vào thì làm sao chúng nó xấu xa hơn tôi được?!. 

Nếu có điều gì đó ngày xưa của tôi khả dĩ tốt hơn chúng(dù chỉ là cái tốt epsilon!),thì đó cũng chỉ là một hệ qủa đương nhiên vì cuộc sống ngày xưa, nghèo đói tôi đã không có điều kiện để hư đốn mà thôi. Bản chất và mầm giáo dục từ cái xã hội chiến tranh, phong kiến, đầy rẫy gian xảo trong tôi có lẽ chẳng có gì để tự hào hơn chúng nó cả. 

Lưu An 





Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

Thơ Tranh: Người Đã Xa Rồi Lạnh Chốn Xưa


Thơ: Trầm Vân
Thơ Tranh: Kim Quang

Sầu Em Gởi Mùa Thu Lạnh



Em trở về giữa mùa thu lạnh
Gió se buồn man mác cô liêu
Mây lang thang sầu loang tiếc nuối 
Đến bên người nhức nhối từng chiều.

Lác đác sợi mưa , lời thu điếu
Hồn bâng khuâng chăn chiếu chơ vơ
Cây trút lá buông mình trăn trở
Người thương ơi héo hắt đợi chờ!

Vòng tay đơn khát khao hình bóng 
Hè rồi thu mây xám chập chùng 
Vẫn chiếc bóng đêm trường u tối
Gió vờn mưa trăn trối mộng đời.

Sầu em gởi vào mùa thu lạnh 
Gom thật đầy hơi ấm tình quân
Hong giá buốt môi hôn bờ ảo
Trận gió nào cuốn lá thu phong.

Tan tác bay trong chiều trơ trống
Nỗi thương sầu lồng lộng gió mưa 
Nỗi nhớ nhung xôn xao xác lá 
Mười thương em, gởi gió giao mùa.

Ngọc Quyên

Buổi Nắng Tà - Ánh Tà Dương -Mỗi Chiều Tà


Bài Xướng:

Buổi Nắng Tà 


Nhạn trắng bay về cuối nẻo xa
Hình như em đã bỏ rơi ta
Vàng thu cánh lá bay đầy phố
Trắng khói làn mây lượn trước nhà
Một chút sầu vương mi mắt khép
Nhiều lần khổ luỵ lệ buồn sa
Không yêu thì chớ vui hò hẹn
Mà khổ tâm thêm lúc nắng tà ...

Cao Mỵ Nhân ( HNPD ) 
***
Bài Họa:

Ánh Tà Dương

Chạnh buồn nhạn trắng đã bay xa
Thầm nghĩ cố nhân lại bỏ ta
Quán trọ chăn đơn sao vắng bạn
Đêm thu gối chiếc quạnh hiu nhà
Em đi bốn hướng rơi châu khóc
Anh ở một mình nhỏ lệ sa
Hò hẹn tình chung nay gảy gánh
Lỡ làng tủi phận ánh dương tà

Mai Xuân Thanh
Ngày 27/09/2018
***
Mỗi Chiều Tà

Mỏi mòn tin nhạn cuối trời xa
Đơn độc nơi này chiếc bóng ta
Mong ngóng người về từ vạn nẻo
Chỉ nghe lá rụng trước hiên nhà
Trái tim lầm lỡ thiên thu hận
Khóe mắt vương sầu giọt lệ sa
Từ đấy hoa lòng thôi rộn rã
Niềm riêng canh cánh mỗi chiều tà.

Kim Phượng

Linh Sơn Tạp Hứng 靈山雜興 - Chu Văn An



靈山雜興                Linh Sơn Tạp Hứng

萬疊青山簇畫屏, Vạn điệp thanh sơn thốc họa bình,
斜陽淡抹半溪明。 Tà dương đạm mạt bán khê minh
翠蘿徑裏無人到, Thúy la kính lý vô nhân đáo,
山鵲啼煙時一聲。 Sơn thước đề yên thời nhất thinh.
朱文安                     Chu Văn An

Dịch nghĩa

Muốn lớp núi xanh tụ lại như bức bình phong vẽ,
Bóng chiều nhạt dọi tới sáng nửa lòng khe.
Trong lối cỏ biếc, không người đến,
Thỉnh thoảng một tiếng chim thước kêu trong khói mù.

Dịch Thơ

Vịnh Cảnh Núi Chí Linh

(1)
Núi chập chùng tựa tranh xanh ngát
Nửa khe sâu nắng nhạt chiều tà.
Lối mòn vắng lặng người qua,
Kêu sương tiếng thước vọng xa từng hồi.

(2)
Trùng trùng núi biếc đẹp như tranh,
Nhàn nhạt nửa lòng suối nắng hanh.
Cỏ biếc đường quanh người vắng ngắt,
Từng hồi thước quát xé trời thanh.

Mailoc

***
Các Bài Dịch Khác:

* Chú Thích:
- Linh Sơn 靈山: Tức núi Chí Linh, là một ngọn núi thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa, cao và hiểm yếu bậc nhất ở thượng du sông Chu (nay thuộc xã Giao An, giữa Lang Chánh và Thường Xuân).
- Điệp 疊: là Chất chồng lên nhau, nên Vạn Điệp là Chất chồng cả muôn cả vạn lên với n
- Thốc 簇 : là Lượng từ, chỉ(một) Cuộn, Bó, Bức, Tấm...
- Đạm Mạt 淡抹 : là Thoa một lớp mỏng, trong bài thơ chỉ Ánh nắng chiều chiếu nhàn nhạt.
- Thúy La 翠蘿 : là những dây leo màu xanh biếc.
- Sơn Thước 山鵲 : là những con qụa núi.

* Nghĩa bài thơ:

Chợt Hứng ở núi Chí Linh

Cả muôn cả vạn ngọn núi xanh chồng chất lên nhau, trông như một bức bình phong tranh vẽ. Ánh nắng chiều nhàn nhạt chiếu làm cho dòng khe tranh tối tranh sáng. Trên con đường cỏ phủ đầy dây leo xanh biếc vì không người đi tới, thỉnh thoảng một vài tiếng qụa núi kêu vang trong sương khói mơ hồ.
Quả là một bức tranh núi non hùng vĩ thâm u, nơi đã từng là căn cứ địa của nghĩa quân Bình Định Vương Lê Lợi trong công cuộc kháng chiến chống quân Minh.

* Diễn Nôm:

Núi non trùng điệp tựa như tranh,
Nắng chiếu chập chờn khe nước xanh.
Cỏ biếc dây leo đường núi vắng,
Đâu đây tiếng qụa khói mờ quanh.

Lục bát

Điệp trùng núi biếc tựa tranh,
Nắng chiều mờ tỏ khe xanh chập chờn.
Dây leo đường núi trống trơn,
Một vài tiếng qụa khói sương mơ hồ.


Đỗ Chiêu Đức
***
Linh Sơn Tạp Hứng

1/Núi non trùng điêp vẽ nên tranh
Sâu lắng tà dương nửa suối xanh
Cỏ biếc lối đi người chẳng đến
Khói mù một tiếng quạ kêu nhanh


2/Linh Sơn Tạp Hứng

Trùng điệp núi xanh như bức vẽ
Nắng chiều rơi lặng nửa lòng khe
Lối đi cỏ biếc vắng hoe
Khói mù tiếng quạ cũng nghe vọng về

Mai Xuân Thanh
Ngày 13/08/2018
***
Vịnh cảnh núi Chí Linh

Núi xanh trùng điệp như tranh họa sỉ
Nửa lòng khe mây hé buổi chiều tà
Lối cỏ mòn chẳng thấy bóng người qua
Tiếng chim thước vọng xa mù sương khói

songquang
***
Ngẫu Hứng Ở Núi Chí Linh

Núi xanh trùng điệp tựa bình phong
Ánh nắng chiều phai, nước sẫm dòng
Cỏ phủ tràn lan đường vắng lặng
Quạ kêu đứt quãng khuấy mù không.

Phương Hà


Trăn Trở về Bệnh - Lỗi trong Đường Luật Thi


Sau khi đăng bài viết "Điệp Tự Trong Đường Luật Thi", có người Bạn chuyển đến vài thắc mắc về Bệnh và Lỗi trong Đường Luật Thi. Nhận thấy đây cũng là một vấn đề được giới trẻ, cũng như những người yêu thích thơ Đường Luật thường quan tâm, nên mình nêu ra đây để hy vọng có thêm những ý kiến chính xác hơn từ những Vị am tường về Đường Luật Thi.

(Bài đưa lên đây có chỉnh sửa thêm một số chữ trong Giải Đáp cho rõ ý hơn) 

Hỏi :

- Lỗi Điệp tự có trong "Các lỗi, bệnh trong thơ Đường Luật".
Vậy "Các lỗi, bệnh trong thơ Đường Luật" bắt nguồn từ đâu?

Đáp 1:

Theo cách nghĩ của các thi nhân từ xưa, Thi Bệnh là những khuyết điểm khi xướng lên sẽ làm bài thơ mất hay. 
Người đầu tiên đề xướng là Thẩm Ước ( 441-513 ) sống vào thời Nam Bắc Triều (420-589), trước đời Nhà Tuỳ bên Tàu. Ông đã đề xướng thuyết Tứ Thanh Bát Bệnh áp dụng cho các thể thơ Cổ Thể (những thể thơ có trước Thơ Đường Luật). 

Tứ Thanh Bát Bệnh có nghĩa là những lỗi về âm thanh, khi đọc hay ngâm nga bài thơ nghe không hay hoặc chói tai. Mỗi Thanh có hai Bệnh :
1. Bình Đầu - Thượng Vỹ
2. Phong Yêu - Hạc Tất
3. Chánh Nữu - Bàng Nữu
4. Đại Vận - Tiểu Vận
Như vậy Điệp Tự không hề có trong thuyết Tứ Thanh Bát Bệnh.

Hỏi 2:

- Vì sao không cho phép có điệp tự trong cặp câu Thực và Luận?
Ví dụ (Tên người hỏi) viết điệp tự "tớ" trong cặp luận như thế này: 
...Hẻo bạc, tớ phang cho mạt tiếng
Nhiều tiền, tớ bốc để lừng danh...
thì sao là không được?

Đáp 2:

Trong Đường Luật Thi, không hề cấm Điệp Tự, nên vẫn có thể Điệp Tự ở Thực và Luận. Nhưng từng cặp của Thực hoặc Luận không nên Điệp Tự với nhau, vì như thế dễ sinh ra trùng điệu và trùng ý.

Như 2 câu thí dụ trên:
"tớ phang" câu trên và "tớ bốc" câu dưới ; các chữ "Bạc & Tiếng" của câu trên trùng ý (Điệp Ý) với "Tiền và Danh" ở câu dưới. 

Những Từ Ghép: bạc tiền, dang dỡ, danh tiếng..nếu xé ra, thường vướng phải Trùng Ý. Những bài thơ sử dụng phép Chỉnh Đối thường hay bị những lỗi này 
(Có nhiều bài thơ thường phạm phải lỗi Điệp Ý và Điệp Điệu, hai lỗi này cụ Phan Kế Bính khuyên ta nên tránh vì làm giảm giá trị bài thơ).

Ghi chú: 
Làm Thơ đường Luật, bắt buộc phải tránh phạm Luật. Còn Lỗi Bệnh gì đó, nếu phạm cũng có thể chấp nhận được. Chính vì thế, chúng ta thấy thơ của Tiền nhân đều có phạm những điều mà các người làm thơ ngày nay gọi là lỗi, bệnh.

Hỏi Tiếp:

Còn vấn đề thứ nhất, thuyết "Tứ Thanh-Bát bệnh" là dành cho cổ thi rồi người ta áp dụng luôn cho Đường Luật là vậy!
Còn đối với Đường Luật, tới bây giờ, ... biết có tới 8 bệnh và 12 lỗi, trong đó có lỗi “Điệp Tự”; có thể xem tại đây:
Vậy “8 bệnh và 12 lỗi” này có nguồn gốc từ đâu? Nhận định của các tiền bối, chuyên gia Đường Luật về 20 bệnh lỗi này như thế nào? Kẻ hậu sinh nên tuân theo hay không tuân theo? 

Trong câu hỏi này, xin được tách làm 2 để giải đáp:

Hỏi 1:

- Còn vấn đề thứ nhất, thuyết "Tứ Thanh-Bát bệnh" là dành cho cổ thi rồi người ta áp dụng luôn cho Đường Luật là vậy! 

Đáp Bổ Sung:

Sau khi Thẩm Ước đề xướng thuyết Tứ Thanh Bát Bệnh, Thi sĩ hưởng ứng rất sôi nổi. Các Thi Nhân thời Hậu Tùy và Sơ Đường dựa vào thuyết Tứ Thanh Bát Bệnh này bổ sung và chỉnh sửa Luật Bằng Trắc; Luật Niêm... trong Thơ Cổ Thể, đồng thời áp dụng thêm thể Biền Ngẫu mà hình thành dần Thể Thơ Đường Luật, các thế hệ thi nhân xưa đã hoàn chỉnh Đường Luật Thi đến mức áp dụng vào thi cử thời trước, và ngày nay chúng ta sử dụng để tiêu khiển.

Hỏi 2

Còn đối với Đường Luật, tới bây giờ,... (tên người hỏi) biết có tới 8 bệnh và 12 lỗi, trong đó có lỗi “Điệp Tự”; ...
Vậy “8 bệnh và 12 lỗi” này có nguồn gốc từ đâu? Nhận định của các tiền bối, chuyên gia Đường Luật về 20 bệnh lỗi này như thế nào? Kẻ hậu sinh nên tuân theo hay không tuân theo? 

Đáp:

a - Nhiều Lỗi phát sinh do chúng ta áp dụng "Nhất Tam Ngũ Bất Luận..." mà không theo đúng chính luật của Luật Thanh ( Luật Bằng Trắc)

b - Không chỉ riêng Trang vuontho.net nêu trên, mà hầu hết các Trang Mạng ngày nay, khi viết về Luật Thơ Đường đều đề cập đến Bệnh và Lỗi. Tuy nhiên, số lượng không thống nhất. Có trang nói đến cả hơn 30 Bệnh và Lỗi trong thơ Đường Luật. Nhưng tất cả đều không hề chứng minh những điều mình nêu lên.
Các Trang đã "phẫu thuật" thật tỉ mỉ Thuyết Tứ Thanh Bát Bệnh, cùng Luật Thanh, Luật Vần và Luật Niêm trong 5 Luật được qui định trong Đường luật mà hình thành thêm quá nhiều Bệnh Lỗi như đã thấy. Nhưng họ quên rằng Đường Luật Thi đã dựa vào Tứ Thanh Bát Bệnh để hình thành.

Trước năm 1975, Không hề nghe thấy đề cập đến vấn đề này, kể cả trong các Thư Tịch về Đường Luật trước năm 1960 cũng thế. 
Mấy chục Bệnh Lỗi này chỉ là những ý kiến cá nhân, nhà thơ, các trang mạng trên Internet của thời đại ngày nay, có lẽ muốn chứng minh rằng con cháu ngày nay giỏi hơn Tiền nhân?
Chúng ta hãy xem thơ Đường Luật của các vị Tiền Nhân, nếu áp dụng Bệnh Lỗi của ngày nay, thì các vị ấy đừng nói chi trở thành Ông Cống, Ông Nghè, mà ngay cả Ông Tú cũng đi đong.
Thật ngạc nhiên và tức cười, khi có nhiều người dựa vào những điều vô căn cứ, không có tài liệu chứng minh, mà đi bắt lỗi những bài thơ Đường Luật của người khác. Cũng tựa như những người chỉ biết duy nhất một phép Chỉnh Đối rồi đi bắt lỗi những phép Đối khác.

Tóm lại, những Bệnh và Lỗi nào phạm vào Luật của Đường Luật thì bắt buộc phải tránh. Còn những điều khác thì tùy, ai muốn theo Bệnh Lỗi thì theo.

Huỳnh Hữu Đức


Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

Reminiscence - Instrumental Music Nguyễn Đức Tri Tâm



Hoà Âm và Đàn: Nguyễn Đức Tri Tâm

Mưa Nắng Bên Đời




(Đề thơ tặng anh Yên Sơn)

Đời Phi Công mộng với Hằng Nga
Lướt gió xuyên mây níu nguyệt tà
Mơ dãy Ngân Hà say ước nguyện
Cây tình đua nở tỏa hương hoa

Lửa Hạ bừng lên nghiệt ngã thời
Đại Bàng tung cánh vượt trùng khơi
Xứ người hoài vọng về quê cũ
“Mưa Nắng Bên Đời” thảm lệ rơi (*)

(*)Tuyển Tập Mưa Nắng Bên Đời của Yên Sơn

Kim Oanh
Úc Châu 10/2018