Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

Tàn Thâu



Bài Xướng: Tàn Thâu

Ai đành biền biệt nẻo sương thu
Gieo rắc lời oan kết oán thù
Kẻ ở hoài tăm trong mộng hão
Người đi khuất bóng giữa mây mù
Đêm nay trăng dõi soi lầu nhớ
Gió sớm ai đang lịm khúc sầu
Xào xạc lá rơi mơ bạn đến
Canh trường vằng vặc bóng trăng thâu

Kim Oanh
***
Các Bài Họa:

Thu Cảm

Thầm lặng đêm sâu hưởng tiết thu
Quán tâm tĩnh trí lãng tư thù.
Lưu hình kẻ ở,...hình thâm viễn,
Nhớ bóng người đi,...bóng tuyệt mù!
Lầu các lẻ loi trăng gác mái,
Khuê phòng đơn chiếc dạ đeo sầu!
Tình ai đăm đắm trào nhung nhớ
Lênh láng thềm xanh ánh nguyệt thâu.

Hạ 2017
Nguyễn Huy Khôi
***
Trăng Thu

Muôn trùng vằng vặc ánh trăng thu
Sáng tỏa yêu thương hóa giải thù
Lối nhỏ ngời êm cùng hẻo lánh
Đường thênh ngát lộng tận xa mù
Dế ngân trầm bổng xua lời oán
Cuốc vọng du dương hết điệu sầu
Bọn trẻ đồng dao rồng rắn lượn
Yên bình bàng bạc suốt canh thâu

Lý Đức Quỳnh
***
Đêm Thâu

Lãng đãng mây chiều gợi tiết thu
An nhiên tự tại có đâu thù?
Trông chờ ảo vọng còn thăm thẳm
Mơ ước tương lai vẫn mịt mù
Rũ bụi đường xa ngừng giận dỗi
Theo cơn gió nhẹ rải ưu sầu
Lênh đênh sóng nước thuyền êm ả...
Biển mặn rì rào hỏi mấy thâu?

Như Thu
***
Nỡ Nào ?...

Dẫu tình phai nhạt tựa tàn thu
Cũng chớ gieo chi mối hận thù
Nhớ sáng xuân nồng trong nắng mới
Và đêm đông giá giữa sương mù
Êm đềm tay nắm chuyền hơi ấm
Âu yếm vai nghiêng lắng nhạc sầu
Kỷ niệm một đời sao chối bỏ
Đành lòng dằn dỗi suốt canh thâu!

Sông Thu***
Lại Vào Thu


Trăng mờ lẻ bóng lặng đêm thâu
Gió gửi dạ hương giải bớt sầu.
Nhìn phía xa xăm tìm khoảnh hiếm
Chôn điều sâu kín dưới sương mù.
Đã quên đã nhớ không êm phận
Còn ghét còn yêu chẳng hóa thù.
Mỗi thoáng một rung nao đáy dạ
Năm nào dường cũng có mùa thu

Trần Như Tùng***
Thu Chờ


Tháng Mười Hà Nội đã sang thu
Phố Cổ trời mây cảnh đặc thù
Đợi mãi anh về chung bước dạo
Chỉ hoài gió tạc giữa sương mù
Hàng cây rúng rẩy than thân phận
Một bóng im thinh thở tiếng sầu
Hạt sấu chia đôi tình một thuở
Mình em tỉnh thức với đêm thâu

Hải Rừng
24/7/2017
***
Buồn Thu


Lão già buồn bã ngắm chiều thu
Nhớ bạn tri âm, chén tạc thù
Tuổi hạc tả tơi như lá úa
Cuộc đời u ám tựa sương mù
Vi vu gió Ngữ, lời ca thảm
Thánh thót mưa Ngâu, khúc nhạc sầu
Chức Nữ Ngưu Lang, chưa hội ngộ
Vẫn còn vời vợi nỗi buồn thu.

Thanh Trương***
Bóng Thu Về


Mây tím lưng chừng gợi bóng Thu
Hạ buông màn cửa khép lòng thù
Dang tay góp hái loài hoa dại
Nhón gót thả trôi đám khói mù
Gởi lại cơn mê hờn nắng úa
Trao đi giấc mộng dỗi đêm sầu
Vàng rơi lại gợi mùa nhung nhớ
Có phải đang chờ bóng Nguyệt thâu

Minh Thuý
Tháng 7_2017
***
Tình Yêu Và Thù Hận
(Nđt)

Quạnh quẽ ai ngồi cửa gió thu

Tình đang đẹp bỗng hóa ra thù
Khung trời kỷ niệm làn mây úa
Ngõ mộng ngày xưa biển khói mù
Có những đêm nằm trăn trở mộng
Bao lần tối ngủ thẫn thờ ru
Lòng đau quặn thắt nào ai tỏ
Mãi đắm chìm trong cảnh ngục tù
LCT
24/07/2017
***
Bên Mành Lẻ Bóng


Từ bấy đến giờ biết mấy thu
Tự mình chén tạc lại ly thù
Trần thân lều chiếc mưa ào ạt
Mỏng gối chăn đơn bão mịt mù
Trăn trở tàn canh còn gánh tủi
Băn khoăn khắc lậu vẫn đeo sầu
Tiếng gà gọi mãi trời không sáng
Nhạt nhẽo bên mành ánh nguyệt thâu.

Phan Tự Trí
***
Tưởng Thu

Sang Đông lại tưởng vẫn còn Thu
Bốn tiết tương giao mỗi đặc thù
Ngắm tuyết đầu non đầy mây phủ
Xem hoa cuối bãi chớm sương mù
Bao la biển rộng lòng đau xót
Hùng vĩ non cao dạ đắng sầu
Chợt khiến thương về quê mộng cũ
Tâm tư lạnh buốt suốt đêm thâu 

Bảo Trâm

C​hữa Phỏng Cấp Thời


Khi huấn luyện nhân viên cứu ​hỏa, người ta dạy cho họ phương pháp này khi xảy ra trường hợp bị
​ ​phỏng, dù mức độ có nặng đến đâu. Để sơ cứu, người ta để chỗ bị phỏng dưới vòi nước lạnh ít nhất
​ 20 phút cho đến khi sức nóng giảm và những lớp da ​không còn bị cháy, rồi bôi lòng trắng trứng lên.

Có một người bị phỏng nước sôi gần hết ​bàn tay. Mặc dầu rất đau rát, họ để tay dưới vòi nước lạnh ít nhất 20 ​phút, sau đó đập hai quả trứng lấy lòng trắng ra đánh lên một chút ​rồi ngâm tay vào đó.

Tay họ bị phỏng nặng đến nỗi khi để lòng trắng trứng lên thì da khô lại và lòng trắng làm thành ​một lớp màng. Khi biết rằng lòng trắng trứng là chất cô-la-gen ​(collagen) tự nhiên, họ tiếp tục bôi hết lớp này đến lớp khác trên tay, ​ít nhất là trong khoảng một tiếng đồng hồ. Đến chiều thì họ khôngcòn cảm thất đau rát nữa và ngày hôm sau thì chỗ phỏng chỉ còn bị đỏ ​chút ít. Họ vẫn nghĩ chỗ phỏng này thể nào cũng để lại thẹo khủng khiếp lắm, ​nhưng 10 ngày sau, họ vô cùng ngạc nhiên khi thấy tay mình không còn vết ​phỏng nào, màu da cũng đã trở lại bình thường!

Chỗ ​phỏng đã hoàn toàn được tái tạo nhờ vào chất cô-la-gen có trong lòng ​trắng trứng, thật ra đó chính là nhau (placenta) chứa rất nhiều vi-ta-min.

​Trần Ngọc sưu tầm

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

1 Tháng Bẩy : Quốc Khánh Canada.

Ngày Thứ bẩy 1 tháng 7 2017, Canada sẽ kỷ niệm ngày Quốc Khánh của quốc gia này. Ngày này, người nói tiếng Anh gọi là Canada day, trong khi người nói tiếng Pháp gọi nó là Jour de la confederation, kỷ niệm ngày 1 tháng 7 năm 1867 khi Canada trở thành một quốc gia độc lập với sự gia nhập của các tiểu bang Nova Scotia và New Brunswick vào Canada. Kể từ 1967, ngày 1 tháng 7 mỗi năm trở thành quốc lễ. Trong những năm mà ngày 1 tháng 7 rơi vào ngày Chúa Nhựt, thì ngày lễ sẽ được cử hành vào ngày Thứ hai.

Canada là một quốc gia nằm trong Bắc Mỹ, sát cạnh nước Hoa Kỳ. Canada gồm 10 tiểu bang và 3 vùng lãnh thổ (3 Territoires). Diên tích đất đai Canada là 10 triệu cây số vuông, là quốc gia rộng thứ nhì trên Thế Giới, chỉ sau nước Nga. Thống kê năm 2016 cho biết dân số Canada là 36 triệu người, đứng hàng thứ 37. Toàn thể Canada có 31.700 hồ, là một trong những nơi có trữ lương nước nhiều nhất trên Thế Giới. Hai sinh ngữ chánh là Tiếng Pháp và Tiếng Anh, đơn vị tiền tệ là đồng đô la Canada. 

Về phương diện dân cư, thì người Amérindiens , ta gọi là dân Da Đỏ, là những người đầu tiên chiếm ngư nơi này, cách đây 15.000 năm, khi nước biển còn thấp, và còn có đường bộ nối liền Eurasie (Âu Á) và Mỹ Châu (Amérique). Chúng ta hiểu tại sao các thổ dân châu Mỹ đều có nét Á Châu. Những người Vikings từ thế kỷ thứ XI là những người đầu tiên thám hiểm vùng đất này. Người Âu Châu, trong đó có ông Jacques Cartier đến sau, vào cuối thế kỷ thứ XV. Năm 1583, thành lập Terre-Neuve, sau đó mới đến các vùng Nouvelle-Ecosse, Acadie, đều do người Anh và người Pháp, từ Âu Châu vượt Đại Tây Dương sang, trong khi đó các người Tây Ban Nha, Nga, lại là những người khai phá phần còn lại của Canada. Thế Kỷ thứ XIII có nhiều cuộc chiên tranh, trong đó phải kể đến chiến tranh đòi Độc Lập của Hoa Kỳ (1775-1783) Vương Quốc Anh mất dần chủ quyền trên vùng đất mới. Canada trở thành một quốc gia độc lập nhưng gồm nhiều tiểu bang như tình trạng hiện nay.

Năm 2015, thống kê cho biết người Canada là một trong 10 Quốc Gia có lợi tức đầu người cao nhất thế giới. Người Canadien có học thức đứng đầu nếu kể về học vị Đại Học (51% có ít nhất một văn bằng Hậu-Trung Học-diplôme post-secondaire- trong số những người từ 25 đến 64 tuổi).
Với thời gian, Canada trở thành một quốc gia đa chủng, đa văn hóa, trong đó có cả những người Việt Nam , có mặt từ những năm sau 1975. 

Sau đây là những đặc điểm của cuộc sống hiện tại tại Canada mà người viết, sau gần 40 năm có mặt, ghi nhận lại những sự kiện sau này:
1) Về ưu điểm, phải kể đến:
Chính Trị:
một nền Dân Chủ thực sự không thể chối cãi. Nhiều chính phủ đa qua tay hai đảng quan trọng nhất Canada là Đảng Tự Do và Đảng Bảo Thủ. Tuy nhiên sự trao đổi quyền lãnh đạo bao giờ cũng lễ độ và lịch sự. Thủ Tướng hiện tại, ông Justin Trudeau là một người trẻ, rất bình dân, mặt mũi lúc nào cũng tươi cười, sẵn sang hòa mình vào đám đông, chụp hình bằng điện thoại cầm tay với bất cứ người thường dân nào. Ông hiện là một trong các lãnh tụ trẻ, được ngưỡng mộ nhất trên thế giới
Sức Khỏe : Người dân Canadien nào cũng được hưởng một bảo dảm về sức khẻo ngang nhau. Giầu hay nghèo khi có bệnh, vào nhà thương thì ai cũng như ai. Không có chuyện anh giầu thì được mổ trước, tôi nghèo thì được mổ sau. Tất cả phải theo một thứ tự công bằng. Cách đây chừng ít năm, một bà vợ của một ông Thủ Tướng tiểu bang Québec chỉ vì bệnh năng, đòi khám ưu tiên, mà báo chí làm ầm lên, làm chính quyền phải giải thích, tuy bệnh của bà khẩn cấp hơn những người khác trong phòng đợi. Bảo hiểm về sức khỏe do chính quyền lo, người dân dù không đi làm vẫn được bảo hiểm 100% như bất cứ ai.

Về Môi Sinh: 
Chính phủ Canada nói chung, và Tiểu Bang Québec , nơi tôi ở, nói riêng, rất chú trọng về môi trường, khí hậu. Không bao giờ có chuyện hy sinh sức khỏe của dân chúng để có các hầm mỏ đem lại đô la hay việc làm để làm đẹp thành tích cho người cầm quyền. Thủ tướng tiểu bang Québec mới đây ra quyết định gọi con sông St-Laurent, một con sông có tầm quan trọng với Québec ngang con sông Cửu Long đối với Việt Nam, là một lieu historique, với mục đích bảo vệ con song này và những nơi nó chẩy qua tránh được những khai thác bừa bãi, gây ô nhiễm. Người ta nghĩ đến các thế hệ sắp tới hơn là nghĩ tới thế hệ hiện tại. Québec đặt kế hoạch giảm sự xử dụng dầu hỏa 40% từ nay đến năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, công ty Điện Hydro Québec sẽ xây một công trường Mặt Trời ( Parc Solaire ) 100 Megawatt. Theo Hydro Quebec, việc này là một điều cần thiết không thể không làm. Công Trường này sẽ hoạt động vào năm 2020, và cần đến một diện tích lên đến 2.5 cây số vuông ( Bên Pháp, có công trường Weinbourg rộng đến 36.000 m2) .

Trên đây là một vài ưu điểm của Xã Hội Canada. Tuy nhiên đã nói đến ưu điểm, không thể không nói tới khuyết điểm. Các khuyết điểm ghi nhận được là những điều sau đây : 
- Tham Nhũng : Những tháng gần đây, báo chí phanh phui những vụ lạm quyền, tham nhũng của các cấp chính quyền Đô Thị, Tiểu Bang hay Liên Bang. Một bà cựu Toàn Quyền (đại diện Nữ Hoàng) đã bị tù vì khai man tiền công quỹ , nhiều viên chức lem nhem với các nhà thầu ra tòa và bị kết án.
- Về Thuế Má : Người dân Canada đóng thuế nhiều hơn những người láng giềng Hoa Kỳ nếu tính theo tỷ lệ. Mức thuế có thể lên đến 50% nếu lợi tức cao. Tuy nhiên, nếu không đóng thuế nhiều như vậy, lấy đâu tiền để các chính phủ lo cho việc công ích ??

Kết Luận: 
Ngày 1 tháng bẩy sắp tới là ngày Quốc Lễ của Canada.Trong ngày này, ngoài những hội hè, ca hát, diển hành vui chơi, rất nhiều người Canadien sẽ còn có việc khác phải làm. Đó là dọn nhà. Không dọn nhà không phải là người Canadien. Trước khi có nhà riêng và định cư , nhiều người trẻ canadien thường mướn nhà và tháng 7 chính là tháng mà họ dọn nhà, đến chỗ mới để thay đổi không khí. Trungbình một người dọn nhà đến 5, 7 lần trong cuộc đời.

Tôi có thông hành Canada gần 40 năm nay. Thông hành Canada rất được trọng đối với thế giới, đi du lịch dễ dàng. Tuy nhiên tôi chỉ là một Canadien giấy, hay canadien gốc Nam Định, Việt Nam. Tôi là Canadien thích ăn mắm, thích sầu riêng, nhưng cũng ăn ké ngày Canada Day như các canadien chánh gốc khác, vui chơi trong mùa hè. 

Tại Montréal, không có little Sài Gòn, người Việt không túm tụm nhau như bên Mỹ
Canada day đến trước ngày lễ Độc Lập của Hoa Kỳ vài ngày. Ngày 4 tháng 7, bên đó Người Mỹ cũng sẽ ăn mừng Quốc Khánh của mình. Sẽ rất vui tại Little Sài Gòn.Xin gửi những người bạn Mỹ lời chúc mừng ngày 4th July, nhưng viết tiếng Việt, không hiểu người Mỹ đọc được không.

Trần Mộng Lâm.
(Nguyễn Thúc Soạn chuyển bài)

Thơ Tranh: Hoài Hương


Thơ: Minh Thúy 
Thơ Tranh:Kim Oanh

Phượng Tím



Phượng Tím

Phượng tím từng chùm trong nắng mai
Mỏng manh, hiền dịu lẫn trang đài
Như nàng trinh nữ duyên e ấp
Tựa gái thuyền quyên nét cảm hoài
Đồng Khánh tan trường...tà phất phới
Gia Long vào hội ..vạt bay bay (*)
Sắc hoa: màu áo, ngôi trường cũ
Nỗi nhớ bao mùa chẳng nhạt phai..

(*) Màu tím là màu áo dài đồng phục của nữ sinh
Đồng Khánh ( Huế ) và Gia Long ( Saigon )

Phương Hà
***

Nhớ Màu Hoa Tím

Đẩy xe bé dạo nắng ban mai
Phượng tím đầy bông rợp tượng đài
Nhớ lại mùa Hè miền đất lạnh
Thương về Đà Lạt xứ hoa hoài
Quê người thiếu nữ đầm xinh xắn 
Đất khách quý bà vạt áo bay
Picnic: liên trường cô giáo cũ
Hàn huyên tâm sự vẫn không phai...

Mai Xuân Thanh
***
Phượng Tím Vào Hè

Nắng sớm đầu ngày buổi sớm mai
vào hè,phượng tím nở hoa đài
Lung linh cánh mỏng xinh màu áo
Lộng lẫy từng chùm đẹp gió lay
Lưu bút Gia Long thương mực tím
Trang thơ Đồng Khánh mến nhau hoài
Phượng buồn sắc tím khơi niềm nhớ
Trường củ tình xưa khó úa phai

Song Quang
vào hè 2017
***
Màu Lưu Luyến


Ánh vàng rực rỡ buổi ban mai
Hoa của học sinh lộ sắc đài
Thắm đỏ phượng khoe màu kỷ niệm
Tiếng than ve gợi mối u hoài
Thầy cô thuở trước còn đâu bóng
Trường lớp năm nào tựa khói bay
Nhắc nhở mà chi thêm luyến tiếc
Một thời tươi đẹp khó mờ phai.

Quên Đi
***
Một Loài Hoa Tím


Như hoa say nắng buổi ban mai
Xuân trĩu nhành khoe cánh nhụy đài
Ngõ sớm trời trong hồn sóng sánh
Mùa sang phượng tím sắc u hoài
Dáng huyền yểu điệu hài vang động
Tà vạt dịu dàng gió lượn bay
Hoa tím tôi yêu thời khát vọng
Mộng đầu ngày ấy chẳng phôi phai

Kim Phượng
***
Hương Thời Gian


Ép màu phượng tím trỉu sương mai
Khóc thuở hoa son héo cả đài
Ngõ vắng tả tơi đời lịm chết
Lối xưa im ỉm dạ sầu hoài
Ngày lên thức giấc tình xa cách
Đêm xuống ngủ vùi nghĩa vụt bay
Đầy ấp hương yêu ân ái cũ
Theo dòng năm tháng chẳng hề phai…

Kim Oanh

Em Gái Răng Khểnh



Anh ngắm hình em đeo kính râm
Tương tư nét đẹp đứng bên thềm
Khéo ai chọn áo ca rô nhỉ
Rạng rỡ niềm vui mái tóc mềm

Tuổi ngọc vừa sang trăng tròn lẻ
Thơ ngây trong trắng chẳng buồn lo
Xinh thay em gái mang răng khểnh
Làm chết tình anh tuổi học trò

Dương Hồng Thủy

“Đi Chợ Tính Tiền” Một Quan Là 600 Đồng


“Đi Chợ Tính Tiền”là một bài ca dao lục bát.

Bài đã được in làm Bài HọcThuộc Lòng cho học sinh lớp “sơ đẳng” (tức lớp 3) trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư năm 1948. Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về, phải trình bày minh bạch rõ ràng việc chi tiêu với chồng. 
Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa,đồng thời nêu bật tính đảm đang, khéo vén của người phụ nữ xưa….sau đó yêu cầu học sinh học thuộc. Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ, có lẽ vì thời thế đã khác (khoảng năm 1958, chưa được vào trường công lập, người viết học với Ông giáo… ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn, không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?) đồng tiền cũng đã đổi thay, hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được. 

Đã hơn năm mươi năm, bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng… một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn, nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thửa ấy. Bèn tìm giấy giải thử. 
Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn.”Một quan tiền tốt mang đi”. Một quan là bao nhiêu? Quan là đồng tiền cổ, những người muôn năm cũ giờ không còn, biết hỏi ai đây? Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng: 

Một quan là sáu trăm đồng. 
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi. (Thơ của Nguyễn Bính). 

Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia, đảo xuôi ngược, lên xuống…mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền! 
Lại phải đi tìm trong lịch sử. Trong một ngàn năm Bắc thuộc, dân Việt không có đồng tiền riêng. Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 2 sứ quân, lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng, niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo. Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt. Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo . 
Đơn vị để tính tiền xưa gồm có: quan, tiền, đồng. Mỗi quan có giá trị là 10 tiền, mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại. Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:

1/ Năm 1225, vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền. Một quan bằng 10 tiền. Một tiền bằng 70 đồng.

2/ Năm 1428 vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên. Một quan bằng 10 tiền. Một tiền bằng 50 đồng.

3/ Năm 1439, vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng. 

Như vậy 1 quan = 10 tiền = 600 đồng. 
Từ đó các triều đại về sau,mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này, cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945. Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu. 
Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm. Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp, mặt sau ghi chữ Hán, có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo, Minh Mệnh Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo. 
Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo, hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp. 
Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được. Ghi lại như sau, bên phải là các phép tính đã giải.


Đi Chợ Tính Tiền

Một quan tiền tốt mang đi,                      600 
Nàng mua những gì chàng tính chẳng ra.
Thoạt tiên mua ba tiền gà,                       3×60 = 180
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.        60+30+3 = 93 
Trở lại mua sáu đ                                               = 6 
Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng. 1,5×60)+10 = 100
Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ,sáu đồng chè tươi.          60+30+6 = 96
Ba mươi đồng rượu chàng ơi,                           = 30
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng. 30+20 = 50
Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn,kẻo chàng hồ nghi.      2×7 = 14
Hăm mốt (21) đồng bột nấu chè,                      = 21
Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan.        = 10 

CỘNG      
                                                        = 600 
Trong sách QVGKT, bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa, ghi nguyên văn như sau: 

“GIẢI NGHĨA: Tiền tốt = tiền tiêu được. 
Vàng = đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi. 
Hồ nghi = ngờ vực,không biết rõ”.

Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm, dễ hiểu, dễ nhớ. Đi chợ tất phải đem theo tiền, tiền phải có giá trị trong mua bán… là chuyện đương nhiên. Nhưng sao gọi là tiền tốt ? Một bài ca dao được lưu truyền, được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi, không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp. 
Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm. Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm. Chiêu Hổ gởi tiền đến, đếm hoài vẫn chỉ thấy có 3 quan. Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền: 

Sao nói rằng năm chỉ có ba.
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.
Nhớ hái cho xin nắm lá đa. 

Chiêu Hổ họa lại: 

Rằng gián thì năm, quý có ba.
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.
Cho cả cành đa lẫn củ đa. 

Trong bài họa của Chiêu Hổ có chữ gián và quý. Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã “có công tất …chồng không phụ”, kết quả đã tìm được:
Khoảng thế kỷ 18, dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành. Đó là tiền quý và tiền gián, tỷ lệ như sau: 1 quan quý = 600 đồng. 1 quan gián chỉ bằng 360 đồng. 

Khi hỏi mượn tiền, Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan, không nói là quan gì. Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống, nhưng vẫn đủ 5 quan: 
Quan quý : 3×600 = 1800 đồng
1800:360 = 5 quan gián Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào? Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng. 
- Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan, 300 phương gạo, 70 quan tiền Xuân Phục, tức tiền áo quần.
- Quan Chánh ngũ phẩm, hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục.
- Lính, thơ lại, phục dịch …lương mỗi tháng 1quan tiền, 1 phương gạo.

Đồng quan ngày xưa nó to thế. Chẳng trách người ta bỏ …quan ra để mua phẩm hàm, chức tước…để được làm quan! Chẳng trách người phụ nữ “thời xưa” (tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân, gác tạm những ẩn ức, dồn nén để một ngày chồng vinh qui về làng… cùng nhau trãi trọn trong một đêm trăng !

Qua những số liệu vừa tìm được, ta có thể thấy rõ bài ca dao “Đi chợ tính tiền” xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng. Bởi từ lúc này mới có “Một quan tiền TỐT” mang đi. Tiền tốt chính là tiền quý, phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn. Cũng thấy được, người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính. Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn, kỵ giỗ chi đây! 
Thật thú vị, để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao, đã phải đi loanh quanh, lòng vòng. Gặp những bài thơ hay, giai thoại đẹp, biết thêm vài điều về lịch sử… Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ? Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm, những thư viện phải đi đến… đã thấy chồn chân chẳng muốn trèo! 

Phan Văn Cho
PVC (Pleiku 22-8-2011)
Mailoc sưu tầm

Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2017

Thơ Tranh: Pleiku Vào Hè



Thơ: Lê Kim Hiệp
Thơ Tranh: Kim Oanh


Ba Tháng Hè



Tháng Bảy hè sang tuổi sách hồng
Phượng rơi lã chã phượng trong lòng
Ba tháng buồn ơi ba tháng hè
Sân trường vắng vẻ lớp trống không.

Buổi học cuối năm buổi chia tay
Mặc thầy căn dặn lắm điều hay
Mặc trò nôn nao giờ lưu luyến
Xa cách từ đây như áng mây.

Phương trời chim bay về tứ xứ
Cá lặn sông nào tuổi vô tư
Ba tháng thoảng qua lại tựu trường
Tay bắt mặt mừng vui hớn hở.

Sân trường tôi chợt thấy bỡ ngỡ
Em bây giờ đã thành thiếu nữ
Tôi tự dưng cũng thành người lớn
Một mình buồn sao thấy bơ vơ.

Em tự nhiên môi phớt mảu son
Tóc demi theo kiểu garcon
Chung đám bạn có bọn con trai
Một mình buồn sao thấy hờn ghen.

Tôi một mình hờn giận bơ vơ
Em biết rồi sao cứ làm ngơ
Tuổi học trò tôi mất từ đó
Cớ sao nhớ mãi sân trường cũ.

Hải Rừng
3/2007
Nhớ trung học Chu Văn An.

Yêu Thầm - Tình Đơn Phương



Bài Xướng;
Yêu Thầm

Dần khuất chim chiều vỗ cánh bay
Đêm đơn thăm thẳm tiếp đêm dài
Mộng lòng vừa chớm trong mơ ước
Định mệnh chôn vùi những đắm say
Giọt lệ âm thầm còn luyến nhớ
Thời gian vun vút chẳng ngừng quay
Gửi về ai đó tình vô vọng
Buồn chất trong tim mối cảm hoài

Kim Phượng
***
Bài Họa:
Tình Đơn Phương

Gió thoảng khói chiều nhẹ tỏa bay
Canh khuya thức trắng biết đêm dài
Lòng nầy nỗi nhớ, tràn mộng ước
Duyên kiếp không chừa kẻ đắm say
Đơn độc tình ta che nỗi nhớ
Thiết tha vắng lặng trí cuồng quay
Ai kia có thấu, chờ đồng vọng
Tình chứa đầy tâm, sẽ nhớ hoài

Nguyễn Cao Khải

Nỗi Nhớ Rất Quen


Nhớ em như buổi sáng này
Ly cà phê khuấy hây hây má hồng
Bầu trời xanh mát sáng trong
Dìu con gió nhẹ qua lòng trổ mơ

Nhớ em như nhớ tuổi khờ
Cái ngày thắc thỏm ngu ngơ theo người
Chỉ mong một cái liếc thôi
Về nhà thả nhớ ngược xuôi mơ màng

Nhớ em như nhớ nồng nàn
Mùi hương bồ kết tóc ngoan nghiêng về
Ngày xưa tóc xõa đam mê
Giờ bay bối rối lời thề xa xôi
Nhớ em như nhớ nụ cười
Trổ bình minh nắng tinh khôi ngọt ngào
Lời em : chim hót xôn xao
Đem tình xuân đến ngả vào lòng êm

Nhớ em như nhớ thói quen
Cà phê buổi sáng ly kem buổi chiều
Mỗi ngày ngồi gõ email
Không, thì khó chịu, lòng treo muộn phiền
Có khi nỗi nhớ ngọt tim
Có khi giông bão qua miền hồ nghi
Em quên hay nhớ... thôi thì
Đường xưa vẫn đợi em về hẹn nhau

Trầm Vân


Hình Ảnh "Ao Thu, Ngõ Trúc" Qua Dòng Thơ Thu Của Thi Sĩ Nguyễn Khuyến

Năm tháng trôi qua, nơi ra đời 3 bài thơ Thu bất hủ vẫn giữ được vẻ đẹp hương đồng cỏ nội của vùng đồng quê chiêm trũng. 


Trải qua nhiều năm, ngôi nhà của Tam Nguyên Yên Đổ - Nguyễn Khuyến (đỗ Tam Nguyên năm 1864 – 1865) một trong những cây đại thụ của văn học dân tộc, vẫn giữ được nét đặc trưng của vùng đồng quê chiêm trũng. Nhà của cụ Nguyễn Khuyến ở làng Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục,  

Cổng vào nhà cụ Nguyễn Khuyến rêu phong, cổ kính, ở trên có ghi ba chữ nho “Môn Tử Môn”. Ông Nguyễn Thanh Tùng, hậu duệ đời thứ 5 của nhà thơ Nguyễn Khuyến giải thích: “Môn Tử Môn” có nghĩa là cửa ra vào của học trò, đây là một lời răn dạy nghiêm khắc về đạo làm trò của cụ.
 

"Mặc dù cụ Nguyễn Khuyến là quan to nhưng cổng lại nhỏ hẹp, nhô hẳn ra ngoài hơi hình chữ V, ý của cụ là nhắc đất này chỉ dành cho con trưởng", ông Tùng thuyết minh.
 

Qua cửa “Môn Tử Môn” là một không gian rất giản dị. Nhà từ đường xây theo phong cách truyền thống, phá cách. “Ngôi nhà có 7 gian, ngoài là đại tế, trong là hậu cung. Chỉ những người được sắc phong thần thì mới được xây như thế này. Hai cây nhãn trước cửa và một cây bên hiên nhà do cụ Nguyễn Khuyến vào cung sinh nhật vua và xin 3 hột nhãn về nhà trồng, ý nghĩa là bảng nhãn đỗ đầu ba khoa”, ông Tùng cho biết.

 
Ngôi nhà được làm lại năm 2013, toàn bộ gỗ lim của ngôi nhà được mua từ bên Lào, bên trong treo những hình ảnh, cảnh trường thi, lễ xướng danh khóa thi 1871 và hình ảnh cụ Nguyễn Khuyến lúc đỗ Tam Nguyên.
 

Giữa nhà tế lễ và hậu cung là một khoảng sân nhỏ hình chữ Nhị, theo ông Tùng giải thích, cách xây hình chữ Nhị như thế này chỉ những người nào có sắc phong thần mới được xây, dân thường không được xây. Nhà hậu cung thấp hơn nhà tế lễ là hàm ý mọi sự tinh hoa của trời đất đổ về thấp, vun đắp cho linh hồn các cụ được tươi tốt. Các chữ viết trên cột đều do cụ Tam Nguyên viết.
 

Ban thờ cụ Tam Nguyên. Theo ông Tùng, ngôi nhà này nguyên bản được cụ thân sinh của cụ Tam Nguyên dựng lên cách đây trên dưới 200 năm.


Bức tượng tạc Tam Nguyên Yên Đổ chống gậy trúc, khoan thai nhìn trời xanh của nhà điêu khắc Dương Đình Khoa tặng.


Bên trong từ đường là những nghiên bút, sắc phong, câu đối gợi lên những lấp lánh khoa bảng một thời. Đó là tấm biển “Ân tứ vinh quy”, “Nhị giáp tiến sĩ” do vua Tự Đức ban cho Tam Nguyên Yên Đổ. 


"Câu đối trên thân cây dừa của của tiến sĩ tổng đốc Ninh Thái ngày xưa, nay là tỉnh Thái Bình. Biết cụ Tam Nguyên rất dân dã và rất mến quê hương nên tổng đốc đã tặng cụ câu đối bằng thân cây dừa khi cụ đỗ đầu ba khoa", ông Tùng cho hay. 


Cuốn thư của cụ Dương Khuê tặng cụ Tam Nguyên khi cụ đỗ đầu ba khoa.


Khi cụ Nguyễn Khuyến đỗ đầu ba khoa, nhà vua ban tặng cho cụ bà (vợ Tam Nguyên) chiếc mũ.


Hình ảnh cụ Tam Nguyên trong Lễ xướng danh khóa thi 1871 và hình ảnh cụ Nguyễn Khuyến lúc đỗ Tam Nguyên Yên Đổ.
 

Du khách thăm nhà cụ Tam Nguyên sau khi thắp hương ở nhà hậu cung có thể ghé thăm “ngõ trúc quanh co” và “ao thu lạnh lẽo” trong dòng thơ Thu của cụ.


   Vườn rộng rào thưa... nay rất nhiều nhãn và có đường lát gạch cho khách tham quan.

   
Du khách như lạc vào khu vườn cổ tích với nhiều loài hoa, cây lá xanh biếc, có tiếng chim, tiếng ve kêu, có bướm bay đuổi nhau trong kẽ lá.
 

Một góc ao thu, tre trúc đan cành, đâm lá, tạo thành một khoảng xanh rì ngăn với cánh đồng trước mặt. Sớm, trưa, chiều tối tiếng chim hót rộn cả góc vườn.

Thái Nguyễn sưu tầm từ Net

Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2017

Sương Thu


Trăng ngập đầy khoang hồn ngập sầu
Sóng gờn gợn sóng thuyền về đâu
Sương thu lành lạnh đêm sâu lắng
Neo bến thuyền neo hỡi mộng đầu

Kim Phượng
***
Cảm Tác:

Nắng Hạ


Nắng lùa song cửa quét hồn sầu
Bóng ai lồng bóng ngả nơi đâu
Gió hạ nồng say mơ trầm lắng
Ôm trọn vòng ôm dấu tình đầu

ChinhNguyen/H.N.T. 
 Jul.1.2017

Thương Về Đà Lạt




Vui tai, vanh vách kể
Đà Lạt, xứ sương mù
Lai lịch từng chi tiết
Tranh treo, họa phẩm "Cù" (Cù Nguyễn)
Cà Phê Tùng điệu nghệ
Lời nhạc Pháp như ru
Đất lạnh chiều vương vấn
Thời gian lẹ tới thu...
Thoi đưa lẹ, kiết hung
Mùi tục lụy, ung dung
Thương nhớ, đây hoài niệm
Cà phê chỉ Quán Tùng
Tao nhân và mặc khách
Ôn cố tấm lòng trung
Vi vút rừng thông vọng
Thương hoài sống thủy chung

Mai Xuân Thanh
Ngày 21 tháng 06 năm 2017

Quy Gia 歸家 - Đỗ Mục



歸家                   Quy Gia 


稚子牽衣問,   Trĩ tử khiên y vấn,
歸來何太遲。   Quy gia hà thái trì?
共誰爭歲月,   Cộng thuỳ tranh tuế nguyệt,
贏得鬢邊絲。   Doanh đắc mấn như ti?
                           Đỗ Mục
***
Dịch Nghĩa: Về Nhà

Đứa con nhỏ kéo áo hỏi
Tại sao lâu quá mới về nhà
Có phải cùng ai giành giựt tháng năm
Nên giờ tóc đã bạc như tơ.

Bài Thơ:
Về Nhà
1/
Con thơ níu áo cha
Sao chậm trể về nhà
Năm tháng cùng ai thế
Để giờ tóc trắng pha

2/
Trẻ thơ kéo áo hỏi rằng
Sao lâu về thế phải chăng quên nhà
Cùng ai giành tháng năm qua
Khiến cho mái tóc cha đà bạc phơ.

Quên Đi

Chú thích: Trong bài “Khiển Hoài”, tác giả Đỗ Mục đã thú nhận say đắm tửu sắc cả chục năm ở Dương Châu. Nay ông trở về nhà, mượn lời con trẻ để tự trách mình có lỗi với vợ con.
***

Về Lại Nhà

Con thơ trì áo hỏi
Sao đi mãi đến giờ?
Cùng ai ngày tháng ấy
Mà tóc đã bạc phơ!

Lục bát:
Con thơ níu áo hỏi cha
Đi sao lâu quá, bỏ nhà bỏ con!
Cùng ai ngày tháng mõi mòn?
Sương pha tóc trắng chẳng còn như xưa!

Đỗ Chiêu Đức

Hai câu đầu là lời chất vấn, thắc mắc, thơ ngây nhưng lắc léo của con thơ. Nhưng hai câu sau... hình như là lời than van, oán trách, khúc mắc, thở than của bà... nội tướng đã biết bao ngày khoắc khoải, mòn mỏi đợi chàng về!
***
1/Trở Về Nhà

Nắm áo ba con hỏi
Đi lâu quá đã chưa?
Với ai bao năm tháng
Giờ tóc bạc lưa thưa

2/Trở Lại NhàThằng con trì áo ơi cha
Đi đâu quên trở về nhà quá lâu
Cùng ai năm tháng dãi dầu
Giờ sao mái tóc bạc màu trắng phau

Mai Xuân Thanh

Ngày 20 tháng 06 năm 2017