Thứ Năm, 30 tháng 3, 2023

Phấn Thông

 

Năm nay thu qua nhẹ như chiếc lá khô. Sáng sớm, Quân ra khỏi nhà, thấy lớp sương băng trên đầu ngọn cỏ rầu rầu, chàng đưa tay vuốt tóc. Đêm vừa qua chàng ngủ không yên giấc, thức dậy mới biết là nhiệt độ trong nhà xuống đột ngột; đông đã lén về sau một cuối tuần rực rỡ nắng thu trong vắt. Chàng rùng mình, trở vào.

– Anh quên cái gì vậy?
– Lạnh quá. Trở lại thay áo khoác.
– Đừng quên chìa khóa nhà. Không, chiều anh về sớm, lại đứng ngoài.

Cái đó khỏi lo, Quân có thói quen mỗi lần thay áo khoác, móc mọi vật trong túi áo mùa trước nhét vào túi áo mùa sau, không bỏ gì cả, cho gọn, sợ có những vật lúc này vô nghĩa, vất đi rồi mới hối hận. Thọc tay vào túi áo dạ, Quân chạm phải một vật sót lại từ mùa đông trước. Một vật không tên. Ông già đã nói cho chàng nghe bằng tiếng Na-uy, nhưng khi Quân nói lại, không ai hiểu. Tạm gọi là đồ 'căn bu-gi xe hơi'. Nó là của ông già hàng xóm cho Quân mượn. Năm ngoái nó cứ kêu lách cách trong túi khi chàng đi, cô bạn đồng nghiệp chọc là bò đeo lục lạc, vì vậy chàng không cho nó sang áo mùa xuân, mà cứ để trong túi áo mùa đông, chờ chiều đi làm về sẽ trả cho ông già. Ai ngờ quên luôn tới năm nay.

Thu mình trong cái ghế quen thuộc trên xe buýt, Quân thọc tay vào túi áo khoác, mân mê những mẩu thép lạnh ngắt và miên man nghĩ tới ông già ...
Giữa những người đồng hành dường như gặp mỗi ngày nhưng không bao giờ làm quen, Quân thấy ông già hàng xóm là một người quí. Khi vợ chồng chàng mới dọn tới khu này, ông còn đi làm. Dường như luôn luôn chàng bắt cùng chuyến xe buýt với ông. Ông là người đầu tiên gạ chuyện với Quân. Và cũng là người cuối cùng. Vì cho tới nay, sau 10 năm đi xe buýt, không ai gạ chuyện với chàng nữa. Ông già đã về hưu cách đây năm năm. Ông dễ làm quen, có lẽ nhờ cái tính tò mò. Bên này vườn, Quân làm gì ông cũng lách hàng rào sang coi.

Ví dụ cái hôm Quân cắt cỏ trong khi vợ phơi nắng. Không hiểu năm đó nhờ giỏi dự đoán thời tiết hay do khéo bày các bích chương với Cindy thỗn thện, mà các tiệm bikini trúng mối to. Phong trào áo tắm hai mảnh, thực ra, ra đời từ lúc vợ Quân còn tắm sông với lũ nhóc con trai, nay trở về 'lên ngôi' lại, thế mà nó lên cao đến nỗi vợ Quân cũng bày đặt đến một bộ. 'Cứ tưởng mặc bikini vô rồi thân hình biến thành Cindy!' Quân nói kháy, nhưng vợ vẫn mặc đồ mới, ra vườn. Nàng đang phơi nắng thì ông hàng xóm hiện ra sừng sững từ lúc nào, vai vác cái liềm. 'Cindy' nhà ta giật mình, hoảng hốt lấy cả tấm nệm trải dưới đất khoác lên người như cái áo giáp, trông rất kém ... văn minh. Quân trông buồn cười, chọc thêm bằng tiếng mẹ đẻ:
– Ổng chỉ vác liềm, có kèm búa đâu mà hoảng vậy?
– Người ta đang ăn mặc kỳ cục chứ bộ. Chứ cái búa liềm của anh sức mấy đánh lại bộ bikini.
– Đã biết là kỳ thì đừng mặc. Đã muốn khoe thì đừng sợ người ta thấy.
– Tắm nắng chứ khoe cái gì.
– Vậy sao em cứ làm như bị xâm phạm tiết hạnh ấy? Đầm nó phơi nguyên con còn ... chưa thấy gì.

Nàng xí một tiếng rồi ngúng nguẩy vào nhà, tấm nệm xòe ra như cánh con gà mái chăn con. Ông già không hiểu sự tình, kiên nhẫn chờ nghe xong những tiếng lạ, mới lên tiếng:
– Mày để cỏ lên cao quá, cắt bằng cái máy đẩy không ăn thua. Phải cắt bằng cái này.
– ...
– Ngày xưa tao làm thế này...

Thế là Quân học được kỹ thuật cắt cỏ ... tiền chiến. Nhưng vợ không hoan nghênh Quân cầm cái liềm dài mà huơ lên huơ xuống, trông như tử thần.

Nàng cũng không hoan nghênh sự tự nhiên, đường đột của ông già. Sau bữa đó, nàng ương hai cành cây để trám vào cái lỗ hàng rào. Nhưng mỗi lần nàng dăm được nhánh nào, là lại xảy ra một việc hấp dẫn khiến ông già chui sang, xéo gót giầy 'xâm lược' lên nhánh cây vừa bén rễ. Thành ra cửa 'ải Nam Quan' cứ bỏ ngỏ từ nhiều năm nay. Mà dường như việc gì bên Quân cũng được ông già hưu trí coi là hấp dẫn. Phương chi hôm Quân cho đốn một cây thông to trong vườn. Ông ta chui ngay sang, gật gù khen:
– Mày đốn cây này là phải lắm. Án nắng. Tao như mày tao đốn luôn cây ở góc kia. Để, có ngày chạm dây điện, cháy nhà.
Quân nhìn đống cành cây và những khoanh gỗ nằm ngổn ngang trong vườn, thở hắt ra:
– Dọn một cây đã đủ ứ hơi rồi. Chắc tôi không có can đảm đốn cây kia đâu, ông ạ.

Cũng may, ông thợ đốn cây đã cưa cây thông thành từng khúc ngắn, Quân chỉ việc bửa để chụm lò sưởi, ít nhất ba mùa đông khỏi mua củi. Nhưng Quân, từ ngày 'đổi đời' đã thử nhiều nghề, mà chưa thử nghề bửa củi. Quân bị 'kẹt búa' ngay từ nhát khai trương. Trong lúc bổ lưỡi rìu xuống, đầu óc Quân tự nhiên nhớ lại chuyện ngày xưa trong đơn vị có anh lính bổ củi phạng trúng ống quyển, tay Quân chồn lại, và lưỡi rìu do dự ghim cứng vào khúc cây, không nhúc nhích. Tiến thoái lưỡng nan.
– Đưa đây tao coi!

Ông già đã hiện ra đứng bên cạnh như ông Bụt. Trên 70 tuổi mà ông còn tráng kiện, và rất hãnh diện về sức khỏe của mình. 'Ngày xưa tao làm thế này'. Ông đứng tấn, nắm lấy cán rìu bằng hai tay, nhấc cả khúc cây lên trời, vòng qua đầu, đảo chiều ở trên không – cho rìu đi trước, gỗ đi sau– nện xuống cây thớt bằng gỗ bạch dương cứng như gỗ lim. Khúc gỗ thông, bị giộng bằng chính sức nặng của nó trên lưỡi rìu nằm ngược, bèn tét ra làm đôi. Đúng là thế lấy sức đả sức, đọc chưởng thấy hoài. Quân trố mắt thán phục.
– Hay quá!
Ông già coi lời khen là đương nhiên, hãnh diện:
– Thấm gì! Một chút tiểu xảo thôi. Tao bổ củi từ năm 15 tuổi. Thời đó ở nhà quê toàn sưởi củi, làm gì có điện.

Như thường lệ, ông bắt đầu kể về Na-uy thời hậu chiến. Lúc đó người ta nghèo hơn, nhưng lương thiện hơn, chăm chỉ hơn, ít hoang phí hơn, không vô tình như bọn trẻ ngày nay. Vừa kể, ông vừa chẻ khúc củi nhỏ thêm, giọng nói cố giữ cho khỏi hổn hển. Ông chẻ một cách liều lĩnh, nhìn mà ớn xương sống, cứ phập phồng cho bàn tay của ông. Không hiểu ông nghi ngờ khả năng lãnh hội của Quân, hay muốn gia tăng 'công quả', mà ông chẻ một lèo hai khoanh cây bự mới chấm dứt phần biểu diễn, và giao rìu cho Quân thực tập. Ông moi trong túi quần ra một cái khăn, hỉ mũi. Cái khăn bèo nhèo ươn ướt này cũng là thí dụ của tinh thần hậu chiến – bây giờ người ta dùng khăn giấy rồi vất đi, thật phí của.

Quân cầm rìu, bắt chước làm theo ông. Quả nhiên, khúc cây bị tách đôi ngay dễ dàng. Học được 'khoa học kỹ thuật mới', Quân khoái chí, phang một lèo hai khúc cây - ngang thành tích của ông – thì bắt đầu thấm mệt.
– Mày có uống sữa không?
Tại sao lại nhằm đúng vào con người 'hay suy tư, nhiều mặc cảm' như Quân mà hỏi câu như vậy? Nhưng chàng vẫn làm như bình tĩnh:
– Không. Gì vậy?
– Uống sữa mới có sức.
Thấy ông rút cái khăn bèo nhèo ra hỉ mũi, Quân trả đũa:
– Ông bị cảm thời tiết?
Hỏi vậy thôi, Quân biết ông rất hãnh diện hai chuyện: 'ngày xưa tao làm như thế này' và 'từ nhỏ tới lớn tao chưa bao giờ bệnh'. Quả nhiên ông trả lời:
– Từ nhỏ tới lớn tao chưa bao giờ bệnh.
– Còn tôi, lớn không uống sữa nữa.
Ông vạch rào trở về, ngoái lại, lẩm bẩm:
– Tao không hiểu lý do gì làm cho mày còn luyến tiếc cây thông kia.

Quân cười trừ, kệ ông già lẩm cẩm, tiếp tục với đống củi. Quân mất ba tuần lễ mới thanh toán xong. Hoa trong vườn đã tàn và kết trái tự bao giờ. Năm nay cây mận đậu trái chi chít, Quân đang mải trẩy bớt, thì ông hàng xóm ló đầu qua hàng rào:
– Mày làm trò gì đây?
– Trẩy bớt trái.
– Chắc mày thấy đêm qua gió to, sợ gẫy cành?
– Sợ, nhưng không phải sợ gió, mà sợ nhiều trái quá nặng cành. Năm ngoái, quên, năm kia được mùa mận, cây này bị gẫy hai nhánh đẹp nhất.
Ông già cũng có một cây mận, già và sâu sia, thua xa cây mận tơ mới chiết của Quân. Ghét nhất là nó cứ luồn qua nhà Quân mà đẻ cây con, làm xấu thảm cỏ. Quân hất đầu lên cây mận của ông:
– Cây mận của ông có nhiều trái không?
– Cũng khá. Nhưng ra trái nào bị sâu hết. Không biết thứ sâu quỉ sâu quái gì. Ngày xưa trái nó ngon lắm.

Nhìn lên có thấy trái nào nào đâu. Hai người đứng nói chuyện vu vơ. Quân dòm sang, thấy cô cháu ngoại của ông, không 'hong lụa' mà đang phơi da thịt, phần trên người chẳng có mảnh lụa là nào, phần dưới một sợi dây nhỏ bằng cái cà-vạt, gặp chỗ gập ghềnh là lẳn đâu mất. Quân hạ giọng để khỏi làm giật mình 'con bướm trắng' của Nguyễn Bính:
– Đốn quách đi cho rồi.
Ông hững hờ nhìn lên cây mận già:
– Tao trồng hồi con May Britt mới sanh.
Quân vô tình nhìn sang May Britt đang chổng mông lên trời. Cô vừa đổi thế nằm, như người ta trở lúa. Lớn đễu như vậy rồi đấy. Ổng lại quay sang cây thông góc vườn của Quân:
– Đêm vừa rồi gió to, tao chỉ sợ đổ cây thông, đứt hết dây điện.


Quân không hiểu tại sao ông già kỵ cây thông như vậy. Nó lại là cây thông cuối cùng trong vườn của Quân. Quân muốn giữ lại, để vào mùa đông, từ cửa sổ Quân nhìn tuyết phủ đầy mà lá vẫn xanh, để Quân còn nhớ cụ Nguyễn Công Trứ 'Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo'. Cây thông này chẳng biết reo như thông Đà Lạt, nhưng cũng biết ... đứng. Quân lại nhìn sang vườn nhà ông, cô gái vẫn nằm toàn thân dưới nắng, không bị khuất bóng gì cả, hà cớ gì ông cứ đòi xử trảm cây thông Nguyễn Công Trứ? Giá mà cây thông ngăn trở việc tắm nắng của cô gái trắng hồng kia, họa may Quân còn xét lại. Chiều cái ý thích viễn vông của một ông già gần đất xa trời, có gì hấp dẫn đâu.
– Ông đốn cây mận trước đi.
Ông nhìn lên cây mận, rồi cây thông, không có vẻ gì buồn giận:
– Chờ sang năm xem sao.

Trả lời rồi ông vạch rào trở về giắt con Rex vô rừng. Con chó già này là đồng lõa trong việc làm ra cái lỗ hổng hàng rào. Nó thích bới đất chơi ở đó.

Xe buýt rẽ vào con đường mà Quân thường thắc mắc sao người ta ở đây được, xe cộ ồn ào, tạt nước bùn vào tận vườn. Chỉ những cây táo là đẹp, mùa xuân hoa trắng pha hồng, mùa này đỏ rực trái. Ôn lại chuyện cây mận với cây thông, Quân còn nhớ cái dấu hỏi trong đầu chàng hôm đó - mơ hồ nhưng đã thành hình – rằng nếu May Britt, cháu ông già, sang yêu cầu đốn cây thông, chàng có từ chối không? Chàng hơi bực bội vì cái dấu hỏi vô duyên, tà ý như vậy mà dám thành hình và bây giờ vẫn chưa biến mất. Dấu hỏi đến tự nhiên có lẽ vì bên đó chỉ có ba sinh vật – ông già Rolf, cô May Britt và con Rex. Con Rex không biết nói.

Mấy tháng sau cái vụ mặc cả về cây mận sâu sia với cây thông, con Rex chết. Ông già long trọng báo tin buồn cho Quân khi hai người cùng xếp hàng ngoài bưu điện. Quân chia buồn, ông ngậm ngùi:
– Đó là người bạn cuối cùng của tao.

Hai chữ 'cuối cùng' nghe bứt rứt, xốn xang. Chàng sợ nghe hai chữ đó từ bao giờ không biết. Ông chìa cho Quân coi tấm bưu thiếp chụp hình một con chó giống labrador trắng (con Rex màu đen), nói:
– Tao báo tin cho người bạn tao ở Luân-đôn.

Quân nhớ ông thường kể về người này. Ông ta sang Na-uy phục vụ trong quân đội Anh, sau đó ông Rolf sang Anh học về cơ khí. Vậy ngoài con Rex, ở bờ biển bên kia ông già còn một người bạn nữa, nhưng rất ít gặp. Vợ ông chết bao giờ, Quân không hỏi. Người con gái đi lập nghiệp xa, chỉ có cô cháu thỉnh thoảng về chơi ít bữa. Thấy người ta thường nuôi lại cùng một giống chó để thay thế cho một con chó cưng mới chết, Quân đề nghị:
– Hay ông nuôi con labrador khác.
– Không gì thay thế Rex được.
Vào quầy mua tem gởi bưu thiếp xong, trước khi ra, ông già quay lại phân trần:
– Tao già rồi. Nuôi con khác, tao chết trước, nó khổ.

Xe buýt tới Helsfyr, nơi ông già hồi đó thường giật chuông (Quân thích hôm nào ông quên, chàng kéo chuông hộ), chào Quân, rồi đội mũ, bước xuống. Cho tới hôm ông về hưu Quân mới sực nhớ trên chặng đường này ông là người bạn đồng hành duy nhất của mình trong bao năm nay. Hôm nay, có chiếc xe nằm đường, vì đường trơn hay vì trời trở lạnh đột ngột? Hay không kịp chỉnh lửa? Quân lấy bộ đồ chỉnh bu-gi ra ngắm nghía. Vật này hình như ông mua hồi ông học bên Anh. Ông rành xe cộ lắm. Mỗi lần Quân mang xe ra sân trước lau rửa hay kỳ cạch sửa chữa, ông thường ra coi, việc gì ông cũng kiếm chuyện bàn vào được. Ông chê các ga-ra tân thời căn lửa bằng máy, thường già quá. Ông cho Quân mượn một bộ đồ chỉnh bu-gi, để căn lửa, mùa hè mùa đông theo ý mình. Đó chỉ là một xâu bảy tám lưỡi thép dầy mỏng khác nhau, để đo khoảng cách chấu lửa. Dụng cụ rất thô sơ, nhưng ông đã giữ trên 40 năm rồi, quí Quân lắm ông mới cho mượn. Quân có biết tí máy móc nào đâu, chàng chỉ nhận món đồ cho có lệ. Bỏ vào túi rồi quên đi. Nó 40 tuổi, gần bằng tuổi chàng. Quân, như đa số đàn ông, thích mua những dụng cụ lỉnh kỉnh, dù chẳng biết để làm gì, và khi có việc dùng thì ... đi thuê thợ. Có lần Quân mang xâu thép ra tiệm bán đồ xe hơi hỏi mua cho mình một bộ, mấy người bán hàng trẻ tuổi xúm vào coi 'hàng mẫu' mà không biết là cái gì, cười hô hố, mặc dầu người Na-uy có giáo dục rất cao, không bao giờ cười chê kẻ dị hình dị tướng.

Xe vào thành phố, ngưng tại trạm chót. Quân nhét vội xâu thép vô danh tội nghiệp vào túi quần. Tới sở, cô đồng nghiệp lại chọc 'con bò với lục lạc', như năm ngoái, cũng nơi hành lang yên lặng trước cửa thư viện.

Buổi chiều đi làm về chàng sang thẳng nhà ông để trả cái 'lục lạc'. May Britt thò đầu ra từ cửa sổ lầu:
– Truyện gì?
– Tôi sang để trả ông Rolf cái này.
Nàng xuống mở cửa:
– Cái gì vậy?
Quân không biết gọi nó là cái gì, nên trả lời:
– Cái này.
Britt May ngắm nghía vật trên bàn tay Quân, lắc đầu:
– Tôi không biết nó là cái giống gì.
– Để sửa xe hơi.
– À. Vậy ông ngoại tôi cho anh đấy.

Quân cám ơn, trở về nhà, mang theo một vật không tên, không còn ai dùng. Chỉ còn là một liên hệ. Ông già. Thời tiền chiến. Luân-đôn. Sài Gòn. Con Rex.

Từ lễ Giáng sinh, tuyết phủ dầy trên nóc nhà câm nín, ủ dột. Hàng rào giữa hai nhà bị tuyết đè gục xuống. Cả cái 'ải Nam Quan' cũng bị tuyết bít luôn. Những cửa sổ thu nhỏ lại vì băng nhũ từ máng xối buông xuống và tuyết bao quanh, lạnh lùng, cách ngăn. Quân ngồi trong phòng đọc sách dưới hầm (chàng cho là vào mùa đông dưới hầm ấm hơn). Qua cái cửa sổ tò vò ngập tuyết phân nửa, chàng nhìn sang bên ông già. Cái chuồng chó bên chái nhà bị ngập tuyết. Ông đã đăng báo cho, có người ta tới coi, nhưng chê không lấy. Phòng khách ông già trên lầu không bật đèn. Tối. Lạnh.
Chàng quyết định sang xuân sẽ cho đốn cây thông để làm vui lòng ông già.

Sau lễ Phục sinh, tuyết băng trên đường và trên mái nhà tan hết. Có nhà đã mở cửa sổ đón gió xuân. Hàng rào cây ngẩng đầu dậy, trổ lá non. Một cụm hoa xuyên tuyết nở trắng ngần ở chân hàng rào trước 'ải Nam Quan'. Quân ngạc nhiên, thắc mắc không biết ai trồng cụm hoa – vợ chàng hay ông già? Lòng rộn ràng vui sướng, Quân sang để báo cho ông biết 'tin xuân' – đốn cây thông. Chàng bấm chuông cửa trước, không ai trả lời. Chàng vòng ra đàng sau xem ông có ngồi ngoài hiên hóng nắng mới không. Ông cũng không có ở đây. Trên hiên có vài vũng nước do tuyết tan chưa khô, một lớp váng màu vàng như kim nhũ phủ trên mặt. Chàng để ý khắp hiên phủ lớp kim nhũ. Chàng vừa bước lên, tinh nghịch in một dấu giầy trên lớp bụi vàng, thì cửa sau mở. May Britt ngạc nhiên:
– Ủa! Có phải anh vừa bấm chuông không?
– Phải.

Quân dùng mũi giầy di di những bụi vàng, cố ý chờ ông già ra. Chàng muốn đích thân báo 'tin xuân' với ông. Chàng hỏi để câu giờ:
– Bụi gì lạ thế này?
– Phấn thông.
– Cây thông nhà tôi?
– Phải. Nhưng anh sang không phải để coi phấn thông chứ? Có việc gì vậy?
Quân đành nói ra ý định:
– Tôi chỉ sang nói rằng tôi muốn đốn cây thông kia. Bên cô có thấy gì trở ngại không?
– Cây trong vườn nhà anh, anh làm gì thì làm chứ. Tuy nhiên cám ơn đã hỏi.
– Thực ra tôi đốn là vì ông ngoại của cô.
– Nếu vì ông ngoại tôi thì bây giờ không cần đốn nữa.
– Sao vậy?
– Ông mất rồi.
– Bao giờ?
– Trước Giáng sinh. Bệnh tim.
Nàng trả lời một cách bình thản, tự nhiên, đến nỗi nhất thời chàng cảm thấy một lời chia buồn có thể lạc điệu. Giữa May Britt và ông già là liên hệ máu mủ. Giữa ông và người bên Anh với con Rex, là liên hệ bạn bè. Còn Quân? Không biết. Dường như sự liên hệ mới vừa được thiết lập cùng với tin ông già mất. Giữa ông già đã thuộc về quá khứ, và chàng đứng đây trong hiện tại, chỉ còn cây thông – lý do chàng sang đây. Chàng ngơ ngác buông hai chữ:
– ... mất rồi ...

Tâm trạng Quân lúc này giống như khi cách đây mấy năm chàng đọc lén lá thư Má vợ. Lá thư cuối cùng. Có lẽ vì đoạn này mà vợ chàng giấu không cho chàng đọc:
'Má đã yếu nhiều, chẳng biết ngày nào về với ông bà. Buồn chẳng được nhìn các con lần cuối. Trước khi chết má muốn hỏi thằng Quân có giận má gì không mà sao cái hôm chúng con ra đi, Quân không quay lại nhìn má? Má đứng hoài trước cổng chờ con quay lại, mà con cứ lũi thũi đi thẳng. Con có ngờ đó là lần cuối không?'.

Quân nhớ đêm hôm đó vợ nằm chiêm bao, lúc la, lúc khóc rấm rức, chàng phải lay nàng dậy. Nàng kể vừa mơ thấy một cỗ quan tài đặt đầu ngõ vào ngôi nhà tuổi thơ. Nàng linh cảm điều chẳng lành. Hai ngày sau có điện tín từ Việt Nam báo tin Má mất. Hai tuần sau nữa có thư nhà, Quân biết nhưng không được đọc. Vợ giấu Quân lá thư, vì sợ chồng coi như một lời trách móc. Lén coi xong Quân lại thấy đó chỉ là một dấu thương yêu – trước khi chết, mẹ vợ còn sợ con rể buồn. Nhưng còn cái gì sâu xa hơn nữa, Quân cảm thấy Má giáo huấn một điều quan trọng trên đời – đừng vô tình. Do vô tình, Quân không thể ngờ được một bà mẹ vợ cũng cần một cái nhìn âu yếm từ đứa con rể. Cái nhu cầu nhỏ bé không tên đó, không bao giờ được đáp ứng, sau khi Má chết, đã trở thành một hối thúc kỳ lạ trong Quân, như tiếng lục lạc. Má như vẫn nhắc Quân phải quay đầu nhìn người ở lại. Trong những 'người ở lại', người ở lại trong thời gian -những người hết thời, dù già hay trẻ– mau bị quên lãng nhất. Họ ngồi âm u ở một xó nào đó, không màu sắc, không thanh âm, không gợi cảm, thừa thãi, nhạt nhẽo. Cho đến ngày nào đó họ xuất hiện lần cuối cùng trên mẩu tin báo tử. Phần nhiều cả lần cuối cùng này cũng không có. Má ơi! Con chỉ cầu cho thời gian xoay ngược để con ngoảnh lại nhìn Má lần cuối.

– Anh thân với ông ngoại tôi đến thế sao?
Câu hỏi của May Britt đánh thức Quân. Chàng hơi thẹn vì một giọt nước mắt vừa ứa ra. Chắc May Britt không hiểu tại sao một anh hàng xóm có thể khóc khi nghe tin ông ngoại cô chết. Cô còn trẻ quá để hiểu nguồn mạch giọt nước mắt của Quân, trong đó chỉ một phần mặn là từ ông ngoại cô, phần mặn nhất là do mẹ vợ chàng, và nỗi ân hận chua xót. Chua xót vì một lần nữa chàng quên lời hứa với vong linh bà – phải đối xử với mọi người như đó là lần cuối được gặp. Đặc biệt là những người ở lại; lần cuối đó dễ xảy ra. Những lúc chẳng ngờ. Quân ngước mặt để cầm lại giọt nước mắt khác muốn trào ra, thẫn thờ nhìn lên sợi dây điện mà ông già lấy cớ khi nói về cây thông. Có đôi quạ khoang vừa đậu xuống, đong đưa.
– Vâng. Vì thế tôi muốn đốn cây thông để khỏi vướng dây điện – như ý ông ngoại cô.
– Ông ngoại muốn đốn, không phải vì dây điện, mà vì ông ngoại bị dị ứng phấn thông.

Tâm Thanh


Thứ Tư, 29 tháng 3, 2023

Đào Mãn Khai


Xuân đến rồi, Đào đang mãn khai
Báo tin vui giã biệt đông dài
Chim chuyền lay động chùm sương sớm
Hoa nở đón chào ánh nắng mai
Lá nhú chồi tươi màu lục biếc
Bông xòe nhụy rạng sắc hồng phai
Kìa bao mỹ nữ từ muôn hướng
Đọ dáng so hương nhẹ gót hài


Hình Ảnh & Thơ: Nhất Hùng


Sao?

 

Sao chẳng thốt những lời âu yếm
Sao môi hồng còn mãi mím hơi
Sao không nói những câu ân nghĩa
Để rồi mai hối hận với người?

Bạn về bến Sông Ngân tinh tú
Nhớ nhau nhìn xuống Thế chơi vơi
Hạt bụi này còn say rong ruổi
Đóng trọn vai kiếp sống một đời

Khi màn hạ hồn trở về cõi
Việc gì mà than vãn lệ rơi
Chỉ nên tiếc sao không xả hết
Cho lúc đi lòng được thảnh thơi


Locphuc

Đâu Áng Mây Tần

 

Bài Xướng:

Đâu Áng Mây Tần 

Cử đầu vọng minh nguyệt
Ký tình thiên lý quang
Ngước nhìn vầng trăng cao vời vợi
Gửi tình theo ánh trăng vàng xa xôi
(Thơ Cổ)

Người xưa trong cuộc đời luân lạc
Vẫn có một nơi để nhớ về
Tôi nay thân cỏ bồng trôi dạt
Đâu áng mây Tần gửi nỗi quê

Ngày tháng qua đi không trở lại
Tóc xanh giờ đã bạc phong trần
Còn chăng một tấm lòng thơ dại
Ngu ngơ cười khóc chuyện phù vân

Đất khách lần khân đà trọn kiếp
Thì thôi chữ nghiã chút niềm vui
Đêm đêm lần giở trang thơ cổ
Trăng nước Tầm Dương những ngậm ngùi

Vò võ chiếc thân nơi xứ lạ
Vẫn còn đôi lúc nhớ về nhà
Làm người khách lạ trên quê cũ
Nước mắt còn không cho xót xa

Chốn xưa nay đã đâu còn nữa
Không biết người xưa lạc chốn nào
Có phải lá xưa vàng lối cũ
Hồ xưa liễu rủ gió lao xao

Thôi nhé từ đây đành phận vậy
Chốn nào chẳng phải là tha hương
Đêm về thả hồn theo trăng sáng
Mượn chút tơ trời dệt mộng vương

Phạm Khắc Trí
***
Các Bài Họa Vận:

Kiếp Tha Hương

Xa quê, sống cảnh đời lưu lạc
Có nước mà không thể trở về
Vất vưởng như thân bèo sóng dạt
Trong lòng đau đáu nỗi thương quê.

Ra đi, vẫn nghĩ ngày quay lại
Khi khoảng trời quê hết bụi trần
Êm ấm người già và trẻ dại
Trở về, lòng chẳng phải phân vân.

Lưu lạc xứ người gần hết kiếp
Cảnh xa, người lạ có gì vui?
Đêm nhìn vầng nguyệt qua song cửa
Rưng lệ thương quê, dạ rối ngùi.

Tựa chiếc thuyền con nơi biển lạ
Bốn bên bát ngát chẳng đâu nhà
Vời trông tám hướng không bờ bến
Sóng nước trùng trùng đến tận xa.

Xa rồi, tất cả còn đâu nữa
Đất nước an vui một thuở nào
Tất cả chỉ còn trong dĩ vãng
Mà lòng vẫn nhớ đến xôn xao.

Số phận an bài đành chịu vậy
Cuộc đời trôi dạt kiếp tha hương
Xin nhờ bóng nguyệt về nơi ấy
Nhắn gởi rằng ta mãi vấn vương.

Phương Hà
(25/03/2023)
***
Thơ Thẩn Với Trở Về

Trần gian có phải là đi lạc?
Biết chốn quê đâu để trở về! 
Chẳng có nơi nào không sóng dạt
Cội nguồn gió cát ắt là quê 

Mãi nghĩ ngày kia ngồi nhớ lại
Cuộc đời cảnh đẹp của dương trần 
Sẽ không có chỗ làm ngây dại
Lỡ bước chân vào…thấy cẩu vân 

Đường đời đã sống gần tròn kiếp
Cũng hưởng nhiều buồn, lắm nỗi vui
Đi nốt khoảng trời xanh rộng mở
Cớ chi bận trí phải bùi ngùi

Cảnh nào cũng thế …chi là lạ!
Nhìn mãi nơi đâu cũng mái nhà
Trời đất, trăng sao và biển cả
Thứ gì cũng vượt khỏi tay xa

Thời gian trôi chảy còn bao nữa?
Mà nghĩ khi đi rẽ hướng nào
Cát bụi sẽ trở về cát bụi 
Bận lòng cho lắm dạ xôn xao

Chấp nhận phận người là thế vậy!
Đừng đòi đừng nói kiếp ly hương 
Nơi đâu cũng bến bờ mơ mộng
Một cõi đi về…khỏi vấn vương 

songquang 
20230325
***
Nửa Đời Nhìn Lại…!

Bốn tám năm dài ta chạy lạc 
Quê hương khắc khoải sẽ quay về 
Hờn duyên sống gởi xa nguyên quán 
Tủi phận tạm dung cách bản quê

Năm qua tháng tới chưa về lại 
Tóc trắng như bông nhuốm bụi trần 
Một tấm lòng son già lận đận 
Tuổi già ngơ ngác ngắm phong vân 

Hải ngoại bâng khuâng già luống tuổi 
Thôi đành cáo lão chẳng gì vui 
Buồn tình đọc lại bài thơ cũ
Cũng để giải khuây, những ngọt bùi…!

Vò võ cô đơn nơi đất khách 
Lòng luôn chạnh nghĩ đến quê nhà 
Có khi làm khách về thăm lại 
Khóe mắt lưng tròng rớt lệ xa 

Chốn cũ nay đà thay đổi lạ 
Người xưa lỡ bước lạc phương nào
Lá vàng phủ lấp con đường cũ
Liễu rũ đầm sen sóng nước xao 

Đành đoạn thời gian đâu cũng vậy 
Đất lành chim đậu sống ly hương 
Đêm hôm nhớ tưởng, trời sao sáng 
Xứ sở xa rồi cứ vấn vương…!

Mai Xuân Thanh 
March 25, 2023
 ***
Bài Cảm Tác:

Vài Phút Tâm Tư Cùng Bác Trí

Xa quê đâu hẳn là luân lạc,
Đâu hẳn là không thể trở về.
Đất nước một khi êm sóng dạt
Quay thuyền, ta lại hướng về quê.

Ta đi, đã hẹn ngày quay lại,
Rủ áo phong sương, rủ bụi trần.
Ta vẫn nhớ cái thời trẻ dại,
Ngập ngừng, khi cất bước phong vân.

Đất khách, dễ gì nương trọn kiếp,
Dẫu quê người, có lắm trò vui.
Văn minh thế giới ta mong tiếp,
Chẳng cớ chi than: Phải ngậm ngùi!

Đất lạ, đến rồi là hết lạ,
Ở đâu quen đấy, đấy là nhà.
Trần gian, ta ước đi thăm cả
Tứ hải giai huynh … Há nại xa.

Nếu ta còn sức, còn đi nữa …
Cất bước, ta đâu ngại chốn nào.
Có đánh đổi cuộc chơi xấp ngửa …
Một khi về, lắm kẻ xôn xao!

Suy nghĩ mỗi người, mỗi khác vậy,
Với tôi, đâu cũng là quê hương!
Sống lâu quen đây, là quê đấy …
Suy nghĩ chi, rồi lại vấn vương.

Danh Hữu
Cuối tuần, 25.3.2023

Phá Kính 破鏡 - Lý Thương Ẩn (Vãn Đường)

 
Nguyên tác Dịch âm

破鏡            Phá Kính

玉匣清光不復持 Ngọc hạp thanh quang bất phục trì,
菱花散亂月輪虧 Lăng hoa tán loạn nguyệt luân khuy.
秦臺一照山雞後 Tần đài nhất chiếu sơn kê hậu,
便是孤鶯罷舞時 Tiện thị cô oanh bãi vũ thì.

Chú giải:

玉匣清光 Ngọc hạp thanh quang: Gương sáng để trong hộp ngọc. Đây là kỷ vật của vợ Lý Thương Ẩn.

菱花散亂月輪虧 Lăng hoa tán loạn nguyệt luân khuy: Bài “Kính phú” của Dữu Tín có câu: “Lâm thuỷ tắc trì trung nguyệt xuất, chiếu nhật tắc bích thượng lăng sinh” (đến bên nước thì trăng hiện ra trong ao hồ, mặt trời chiếu thi hoa lăng như mọc ra trên vách).

山雞 Sơn kê: Sách “Dị uyển” chép: “Gà rừng thích ngắm bộ lộng của nó, thường soi vào bóng nước mà nhảy múa. Thời Ngụy Vũ, ở phương nam dâng lên vua một con, công tử Thương Thư sai người đặt một tấm gương trước nó, gà thấy bóng mình mà nhảy múa không ngừng, rồi chết vì kiệt sức”.

孤鶯 Cô oanh: Chim oanh lẻ bạn. Bài “Oanh điểu thi tự” của Phạm Thái đời Nam Tống chép: Xưa vua nước Kế Tân giăng lưới trong núi bắt được chim oanh. Nhà vua thích lắm, nhưng muốn nó hót nó cũng không hót. Ba năm rồi mà chim vẫn không hót, người vợ của vua nói rằng: “Thiếp nghe loài chim này chỉ hót khi thấy bạn cùng loại, sao ngài không đem gương để trước nó thử xem sao?”. Vua làm theo lời. Chim oanh thấy hình nó, quả nhiên kêu rất thảm thiết, tiếng nghe ai oán vọng lên cả trời, rồi chết.

Dịch thơ

Đập Vỡ Gương

Hộp ngọc gương trong giữ nữa chi?
Hoa lăng tán loạn bóng trăng suy
Đài gương chiếu ảnh gà rừng múa
Đúng lúc oanh côi hót sầu bi

Lời bàn của Con Cò và Quản Mỹ Lan
Lại thêm một bài thơ thể tỷ nữa chứng minh tài dùng điển thiên biến vạn hóa của LTÂ.

Câu 1:
Vào thẳng đề tài: đập vỡ hộp ngọc và gương cho xong, giữ nữa càng thêm sầu não (vì vợ đã chết rồi).
Ba câu sau dùng thêm 3 điển tích nữa để giải thích lý do phải đập vỡ gương:
Câu 2:
Gương còn đó chỉ để soi hoa lăng tán loạn, trăng khuyết lu mờ cho nên muốn đập gương đi. Lý Thương Ẩn muốn diễn tả một ý bi quan, ngược với ý thơ lạc quan trong điển của Dữu Tín (ý của Dữu Tín: đứng ở bên nước thì thấy trăng sáng hiện lên, khi mặt trời chiếu thì thấy hoa lăng đẹp mọc trên tường).
Câu 3:
Con gà rừng có lông óng mượt khi soi gương sẽ tưởng đó là bạn tình rồi múa cho tới chết (dùng điển của Thương Thư ngụ ý: mình có biệt tài về thơ và sẽ làm thơ nhớ vợ cho tới chết).
Câu 4:
Con chim oanh cô đơn khi soi gương sẽ ngỡ mình đang có đôi và hót tới chết. (dùng điển của Phạm Thái ngụ ý mình góa vợ, khi soi gương sẽ tưởng vợ còn sống và vịnh thơ cho tới chết).

Đây là bài khóc vợ bằng điển tích sâu sắc nhất và thảm thương nhất của họ Lý.

Con Cò
***
Đập Gương
 
Hộp ngọc giữ chi với kính trong
Hoa lăng tán loạn nhạt quầng trăng
Gà rừng sau lúc đài Tần ngắm
Là lúc oanh cô nhảy múa xong!

Lộc Bắc

Fev23
***
Đập Kính


Hộp ngọc gương trong phá bỏ ngay,
Hình hoa rối loạn bóng trăng gày.
Đài Tần chiếu dạng gà rừng thích,
Lúc phượng côi buồn bỏ múa may.


Mỹ Ngọc
 
Mar.11/2023.
***
Kính Này ĐậpThôi!


Hiền thê Vương Thị còn đâu?
Gương soi, hộp ngọc dâng sầu hồn ta.
Cớ chi ôm mãi thiết tha?
Vật xưa hoài niệm - lệ sa vắn dài...
Lăng hoa đảo loạn bi ai,
Khuyết tàn bóng nguyệt - thở dài nửa đêm.
Đài Tần gương mắc bậc thềm,
Sơn kê soi bóng - bước êm nhảy cùng.
Kiếp Oanh cô lẻ vào cung,
Dứt xong điệu vũ - não nùng thương đau.

Khánh-Hưng
***
Góp ý:


Như thường lệ, ÔC lại đưa ra một bài thơ với giấc mộng Liêu Trai.

Mọi người đều biết, Lý Thương Ẩn không mấy may mắn trên hoạn lộ: vì được sự nâng đỡ của Lệnh Hồ Sở, Lý đỗ Tiến Sĩ. Lúc đó, trong triều có 2 phe, Ngưu Tăng Nhụ và Lý Đức Dụ. Lệnh Hồ Sở và con là Lệnh Hồ Đào theo phe Ngưu. Vương Mậu Nguyên, vì mến tài Lý nên gọi tới làm thư ký, và gả con gái là Vương Yến Mỹ.

Điều trớ trêu là Vương theo phe Lý Đức Dụ, nên khi Mậu Nguyên chết, Lý Thương Ẩn bơ vơ, bị đì, vì Lệnh Hồ Đào coi ông là người phản bội, vô ơn bạc nghĩa. Trái lại, hôn nhân của Lý rất thành công, tình vợ chồng thật mặn nồng, tha thiết, và khi vợ chết, ông không tục huyền, lâu lâu lại thăm ngôi nhà kỷ niệm, và làm nhiều bài thơ khóc vợ như bài Đoan Cư, và Phá Kính kỳ này. (theo truyền thuyết thì Lý có tình luyến ái với đạo sĩ Tống Hoa Dương, và hai chị em Lữ Phi Loan và Phi Phượng. Hai cô họ Lữ này bị bắt làm cũng nữ nên Lý mới thất tình mà làm mấy bài Vô Đề rất hay và khó hiểu vì không giám nói rõ. Nhưng chắc lúc đó Lý chưa lập gia đình).

Bài Phá Kính này cũng không dễ hiểu, nếu không có ÔC và anh Tâm giải nghĩa những chữ khó.

- Câu thứ nhất thì đã rõ nghĩa.

- Câu thứ 2, ÔC và anh Tâm đều nhắc tới tích Dữu Tín, nhưng BS thấy không cần, vì câu thơ đã rõ nghĩa.. Anh Tâm giải nghĩa lăng hoa tán loạn là đập cổ kinh ra theo cách dịch của cụ Trần Danh Án thì còn rõ nghĩa hơn nữa.

- Câu thứ 3 thì hơi khó hiểu. ÔC giải nghĩa về Sơn Kê, thì hiểu được, nhưng tại sao lại có 2 chữ Tần Đài? Anh Tâm giải thích bằng điển Lộng Ngọc thì có lẽ không đúng. Lộng Ngọc là CON GÁI của Tần Mục Công, thích thổi tiêu, kết duyên với Tiêu Sử vốn là tiên. Sau, chàng thổi tiêu thì có rồng và phượng xuống đón hai người lên trời.Kiều có câu: “ phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng,” là tích này. Vợ Tần Mục Công là Mục Doanh, chị của thái tử Thân Sinh nước Tấn, không chết sớm, từng dọa tự tử để ép Mục Công tha em cùng cha khác mẹ là Di Ngô. Anh Giám có ý kiến gì không?

# Câu chót, ÔC giải nghĩa cô oanh bằng tích Phạm Thái đời Nam Tống thì chắc không đúng, vì Lý trước Phạm bao nhiêu thế kỷ như anh Tâm nói, giống như Nguyễn Du lấy điển tích từ Nguyên Sa

Đập Kính

Hộp ngọc gương trong hãy bỏ ngay,
Hoa lăng tán loạn, ánh trăng gầy,
Đài Tần một thủa soi gà núi,
Đúng lúc oanh côi nghỉ múa may.


Bát Sách.
(Ngày 12 tháng 03 năm 2023.)
***

Bài tứ tuyệt được khắc bản trong sách:

Lý Nghĩa Sơn Thi Tập Chú - Đường - Lý Thương Ẩn 李義山詩集注-唐-李商隱
Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁

Ghi Chú:

Phá kính: đập vỡ gương, kính vỡ là điềm xui, một ẩn dụ cho sự chia ly của đôi lứa
Ngọc hạp: hộp trang sức bằng ngọc bích
Thanh quang: ánh sáng trong vút, dung nhan

Ngọc hạp thanh quang: gương sáng để trong hộp ngọc, cả hai là kỷ vật của Vương thị, ẩn dụ người vợ thưong yêu của Lý Thương Ẩn

Lăng hoa: các hoa văn sau lưng kính. Lăng hoa còn được xài để chỉ cái kính như:

Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh
Tùng phong khâm thử hộ dư hương

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi


Hai câu bài thơ nôm trong bài “Khóc Thị Bằng” của vua Tự Đức (theo Dương Quảng Hàm) hay của Nguyễn Gia Thiều, đã được Trần Danh Án dịch ra chữ Hán vào thế kỷ 18.

Nguyệt luân: ẩn dụ giống như một vật thể tròn của trăng tròn
Tiện thị: ngay cả khi, chỉ vì vậy

Cô loan 孤鸞: phượng lẻ bạn. Sau khi khảo sát thêm nhiều tài liệu, tôi đến kết luận cô loan không phải là một điển tích mà chỉ là một ẩn dụ chỉ người mất người phối ngẫu hoặc không có người phối ngẫu.

Thơ LTA khó hiểu vi có nhiều ẩn dụ và điển tích. Trong 28 chữ của bài thơ, ông đã xử dụng 5 ẩn dụ như đã kể trên và 2 điển tích: Tần Đài và Sơn Kê.

Tần đài: điển cố chỉ một trong ba chỗ sau đây:
Đài Phượng Hoàng, chỗ ở của Tiêu Sử và Lộng Ngọc; khuê phòng của vợ chồng.

Theo Liệt Tiên Truyện, Tiêu Sử là người thời Tần Mục Công, thổi sáo hay, có thể làm cho chim công, hạc trắng bay tới sân nhà. Mục Công có người con gái tên Lộng Ngọc thích tiếng sáo của Tiêu Sử, do đó Mục Công gả con gái làm vợ Tiêu Sử. Mỗi ngày Tiêu Sử dạy Lộng Ngọc thổi sáo theo tiếng kêu của chim phượng, được vài năm thì tiếng sáo của Lộng Ngọc nghe giống như tiếng phượng kêu; loài phượng hoàng nghe tiếng sáo của Lộng Ngọc thì bay tới đậu ở mái nhà của vợ chồng Lộng Ngọc. Từ việc này Tần Mục Công cho xây Đài Phượng Hoàng, hai vợ chồng ở trên đó, mấy năm không bước xuống. Một ngày kia hai vợ chồng đều cởi phượng hoàng bay đi mất.

Chỗ ở của vợ chồng, mà bây giờ vợ đã qua đời, chồng giống như chim loan cô độc, thân tuy chưa chết nhưng tinh thần đã đi mất, diễn tả nỗi đau khổ, lòng bi thương của người còn sống sau khi vợ chết, cô đơn cũng như đã chết theo vợ.

Sơn kê: một loài chim hình dạng giống như trĩ, con đực lông màu đỏ vàng, có đốm đen, đuôi dài; con cái có màu đen, hơi đỏ, đuôi ngắn. Sách Dị Uyển chép: Sơn kê ái kì mao vũ, ánh thủy tắc vũ 山雞愛其毛羽,映水則舞 Gà rừng thích ngắm bộ lông của nó, thường soi vào bóng nước mà nhảy múa. Thời Ngụy Vũ 魏武 (395 TCN - 370 TCN), phương nam dâng lên vua một con phượng, công tử Thương Thư sai người đặt một tấm gương trước nó, phượng thấy bóng mình mà nhảy múa không ngừng, rồi chết vì kiệt sức. Hình ảnh được xử dụng chỉ người buồn rầu tự hủy hoại thân thể.

Ngoài 5 ẩn dụ và 2 điển tích nói trên, Thi Viện còn cho một điển tích cô oanh đọc rất hấp dẫn, nhưng sai thực tế vì câu chuyện được kể vào thời Nam Tống (1127-1279) cả trăm năm sau LTA.

Dịch nghĩa:
Phá Kính Đập Vỡ Kính


Ngọc hạp thanh quang bất phục trì
Chiếc gương hộp ngọc còn giữ làm chi nữa,
Lăng hoa tán loạn nguyệt luân khuy
Hoa văn tán loạn, bóng trăng đả khuyết.
Tần đài nhất chiếu sơn kê hậu
Từ sau khi gà rừng soi bóng ở đài Tần,
Tiện thị cô loan bãi vũ thì
Thì là lúc chim loan cô đơn thôi múa.

Dịch Thơ:

Đập Gương


Gương trong hộp ngọc giữ làm chi?
Toán loạn hoa văn trăng đã suy.
Soi bóng đài Tần gà thích dáng,
Cô đơn phượng dứt điệu sầu bi.


Breaking the Mirror by Li Shang Yin

The mirror in the jade box carries sad memory (of my wife)
The moon is declining and the reflections on the mirror are dancing
Since the wild bird looks in the mirror behind the Qin tower (where Qin Mu Gong immortalizes his wife)
It’s time for lonely phoenix to stop dancing when seeing itself in the mirror.

The Broken Miror by Li Shang Yin
English interpretation by Mark Obama Ndesandjo


The dazzle from the mirror box is now in the past
Broken, a bronze lily frame. a moon’s wheel is lost
After the Mountain Rooster basked in your glow [7]
The phoenix had to dance alone, it shows.

[7] A rooster who danced himself to death on seeing himself on a mirror, also implies sadness at the loss of an ideal.

Điển Tích Cô Oanh

Cô Oanh 孤鸞: Chim oanh lẻ bạn. Theo Oanh Điểu Thi Tự 鸞鳥詩序 của Phạm Thái đời Nam Tống chép: Xưa vua nước Kế Tân giăng lưới trong núi bắt được chim oanh. Nhà vua thích lắm, nhưng muốn nó hót nó cũng không hót. Ba năm rồi mà chim vẫn không hót, người vợ của vua nói rằng: “Thiếp nghe loài chim này chỉ hót khi thấy bạn cùng loại, sao ngài không đem gương để trước nó thử xem sao?”. Vua làm theo lời. Chim oanh thấy hình nó, quả nhiên kêu rất thảm thiết, tiếng nghe ai oán vọng lên cả trời, rồi chết.

Điển tích này cũng tương tợ như điển tích Sơn kê.
Tại sao có điển tích cô oanh trong bài Phá Kính của Lý Thương Ẩn đời Đường hơn 100 năm trước câu chuyện của Phạm Thái đời Nam Tống? LTA có tài tiên tri chăng? Không phải thế đâu. Sự sai nhầm là kết quả của 5 yếu tố khác nhau: cả hai điển tích cô loan/cô oanh đều được chép lại trong trang Thi Viện và vài trang web chữ Hán

loan và oanh đều là chim, không biết con nào là con nào
chữ Hán loan, oanh đều có chim: loan鸞 oanh鶯
đọc và chép sai chữ từ mộc bản
không kiểm tra lại nên loan 鸞 thành oanh 鶯.

Sách Lý Nghĩa Sơn Thi Tập Chú của Lý Thương Ẩn 李義山詩集注-唐-李商隱 có đăng bài thơ như bên dưới:

 
Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Trước hết tôi xin dịch đoạn Hán văn anh nêu ở đây:
Tần Đài. Vận dụng 3 điển cố.

1. [秦台]. Chỉ đài Phụng Hoàng, chỗ ở của Tiêu Sử, Lộng Ngọc, ở đây chỉ khuê phòng của vợ.
2. "Liệt Tiên Truyện": Tiêu Sử là người thời Tần Mục Công, thổi sáo hay, (tiếng sáo) có thể làm cho chim công, hạc trắng bay tới sân nhà. Mục Công có người con gái tên Lộng Ngọc thích tiếng sáo của Tiêu Sử, do đó Mục Công gả con gái làm vợ Tiêu Sử. Mỗi ngày Tiêu Sử dạy Lộng Ngọc thổi sáo theo tiếng kêu của chim phụng, được vài năm thì tiếng sáo (Lộng Ngọc thổi) nghe giống như tiếng phụng kêu; loài phụng hoàng (nghe) tiếng sáo (của Lộng Ngọc) thì bay tới đậu ở (mái) nhà của vợ chồng Lộng Ngọc. (Từ việc này Tần) Mục Công cho xây Đài Phụng Hoàng, hai vợ chồng ở trên đó, mấy năm không bước xuống. Một ngày kia hai vợ chồng đều theo phụng hoàng bay đi mất.

3. Theo nội dung câu chuyện thì có thể thấy tiếng "Tần Đài" chỉ chỗ ở của vợ chồng, mà bây giờ vợ đã qua đời, bản thân rồi giống như con chim loan cô độc, thân tuy chưa chết nhưng tinh thần rồi theo vợ mà đi mất, diễn tả lòng đau khổ, bi thương của tác giả sau khi vợ chết!

Như câu cuối nói "lòng đau khổ, bi thương của tác giả" thì thấy ngay đoạn này được viết dựa theo một bài văn hay bài thơ nào của một ông nhà văn hay một thi sĩ nào đó, trong đó ông này dùng tiếng "Tần Đài", và đoạn văn anh dẫn ở đây là sự giải thích của một người nào đó về tiếng "Tần Đài" ông nhà văn đó "vận dụng" trong bài văn, bài thơ của ông ta!

Cho nên người giải thích đã dùng tiếng "vận dụng 3 điển cố" ở đầu đoạn văn, và người vận dụng điển cố "Tần Đài" ở đây không ai khác hơn là ông vừa "mất vợ".

Phụ chú:

+ Cuốn "Liệt Tiên Truyện" là một cuốn sách mỏng, phải nói là "rất mỏng" (chỉ có 24 trang rưỡi) của Lưu Hướng (77 - 06 tr. Cn) thời Tây Hán (206 tr. Cn - 08 Cn).

"Truyện" phân 2 Quyển Thượng / Hạ, Quyển Thượng có 40 truyện, truyện Tiêu Sử là truyện thứ 35; Quyển Hạ gồm 26 truyện.

+ Tần Mục Công (? - 621 trước Công nguyên; tại vị: 659 - 621).

+ Tiếng "Tần Đài" nói trên không thấy trong các bộ Từ điển Hán văn tiêu chuẩn của Trung Hoa như Từ Nguyên, Từ Hải...... từ đó thì rõ những giải thích "điển cố" của tiếng "Tần Đài" ở đoạn văn trên chỉ là "giải thích chủ quan" của người viết đoạn văn trên! Trong câu chuyện Tiêu Sử. Lộng Ngọc chúng ta không thấy chỗ nào bi thương hết để mà đưa tâm tình "mất vợ" vào đây!

Minh Di


Switzerland Trip, 16-24//2023

  
(Ảnh của tác giả)

     Cách đây khoảng một tháng, PL đã có một chuyến đi thăm Thụy Sĩ thật tuyệt vời với con trai (16-25/2/2023).  Trong chuyến đi này, PL và con trai có cơ hội ghé thăm Liechtenstein, một quốc gia nhỏ bé nằm giáp ranh với Thụy Sĩ.

       Trước kia khi còn tại ngũ trong quân đội và làm việc ở Landstuhl, Germany (1996-1999), PL cũng đã đi thăm Thụy Sĩ và một lần khác năm 2012 nhưng toàn vào thời điểm mùa hè.  Lần này có chuyến đi thăm Thụy Sĩ ở nhiều nơi thú vị, đẹp, nổi tiếng và nhất là được xem rặng núi Swiss Alps cao vút được bao phủ băng tuyết vào mùa đông nên PL rủ con trai đi cùng (OX không muốn đi vì ngại quá lạnh).
       Trái với sự lo sợ, thời tiết mùa đông ở Thụy Sĩ năm nay không lạnh như mọi năm, chỉ trừ khi đi thăm đỉnh núi Matterhorn (cao 4,478 mét) lạnh từ 8-14 độ F, những thành phố khác nhiệt độ trung bình khoảng 40-50 độ F nên không lạnh lắm.
       Trong một tuần lễ ở Switzerland, PL được xem những địa điểm sau:

       -  Zurich:  Trung tâm thương mại và văn hóa lớn nhất Thụy Sĩ, cũng là một trong những trung tâm tài chính hàng đầu thế giới, dân số khoảng 420,000.  Thành phố có nhiều bảo tàng, công viên và nhà thờ đẹp.  Đã đi thăm Lake Zurich, Grossmunster Cathedral, Đại lộ Bahnhofstrass và Fraumunster Church tại Zurich.

       -  Bern:  thủ đô Thụy Sĩ, đẹp và hiền hòa, nhỏ hơn Zurich và cách Zurich 95 km, nổi tiếng với kiến trúc đẹp và quang cảnh vùng núi đồi nổi bật. .Đã đi thăm Parliament Square, Bear Park, Tháp nhà tù Kafifturm và ăn ở nhà hàng VN khá ngon ở Bern.

       - Thun: là một thị trấn nhỏ năm bên bờ hồ Thun, với các địa điểm nổi tiếng như Lake Thun Và Thun Castle. Thị trấn này cũng là điểm khởi đầu cho các chuyến đi du thuyền trên hồ Thun và là nơi lý tưởng để tận hưởng cảnh quan tuyệt đẹp của vùng núi Alps.  

       -  Lake Thun:  là một trong những hồ lớn nhất Thụy Sĩ với chiều dài 17.5 km và chỗ rộng nhất 3.5 km, nằm giữa các ngọn núi chung quanh và cung cấp cho du khách một quang cảnh đẹp tuyệt vời. Du khách có thể tham gia các hoạt động như du thuyền, chèo thuyền, lướt sóng, bơi lội hoặc đi bộ quanh bờ hồ để thưởng ngoạn cảnh quan chung quanh.

        -  Thun Castle:  là một lâu đài cổ được xây dựng vào thế kỷ 12, nằm trên một đồi nhìn ra hồ Thun. Lâu đài hiện đang được xử dụng để trưng bày các tác phẩm nghệ thuật và đồ cổ.

        -  Interlaken:  một thị trấn nghĩ dưỡng xinh đẹp, được mệnh danh là "cửa ngõ của thiên đường", nằm giữa hồ Thun và hồ Brienz, là một điểm đến phổ biến cho các hoạt động mạo hiểm như leo núi, đi bộ đường dài, trượt tuyết, chèo thuyền và thăm viếng động băng.

        -  Lauterbrunnen:  là một thị trấn nhỏ nằm trong thung lũng Lauterbrunnen, nổi tiếng với những thác nước đẹp và cảnh quan tuyệt mỹ.

        -  Zermatt:  là một thị trấn cổ kính rất thơ mộng và có nhiều cảnh đẹp, nằm ở độ cao 1,600m trên dãy núi Alps, nổi tiếng với ngọn Matterhorn hùng vĩ.  Thị trấn này là địa điểm du lịch phổ biến cho du khách trong mùa đông cũng như mùa hè để trải nghiệm những hoạt động như trượt tuyết, leo núi và thăm quang cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp của vùng núi Alps.  Đặc biệt là thị trấn này không có xe cộ.  Tất cả các phương tiện di chuyển cơ giới đều không được phép xử dụng.  Đa phần người dân chỉ đi bộ, xe đạp, dùng ván trượt, hoặc xe bus điện.  Vì vậy nên không khí ở đây rất trong lành, không bị ô nhiễm.  Ngoài ra, cả thị trấn là những căn nhà gỗ truyền thống, không có một công trình nào được xây dựng bằng xi măng.  Một điểm đặc biệt khác là cả thị trấn chỉ dùng một loại đèn vàng để thắp sáng, tạo nên cảnh đẹp như trong cổ tích khi màn đêm buông xuống.


        -  Matterhorn:  là ngọn núi hùng vĩ nằm ở thị trấn Zermatt, có hình đạng kim tự tháp, cao 4,478m, biểu tượng của Thụy Sĩ.  Du khách có thể trải nghiệm đi bằng dây cáp treo lên đỉnh Matterhorn để chiêm ngưỡng toàn cảnh của vùng núi Alps, với những cảnh quan tuyệt đẹp và hùng vĩ.  Ngoài ra, tại Zermatt còn có Glacier Palace - một "cung điện" băng tuyết dưới lòng đất, với hầm băng và các tác phẩm nghệ thuật bằng băng độc đáo. 

        -  Glacier Express:  là chuyến xe lửa chạy từ Zermatt đến St Moritz, mất 7.5 tiếng, là một trải nghiệm tuyệt vời và độc đáo để khám phá vùng núi Alps của Thụy Sĩ.  Tuyến đường này đi qua 91 hầm và 291 cây cầu trên quãng đường dài khoảng 291 km.  Đồng thời chuyến xe lửa này cũng đi qua những nơi thật đẹp như thung lũng Rhone, dãy núi Oberralp, hồ Thung lũng Endagin... 

        -  St Moritz:  là một thị trấn nghỉ mát sang trọng nằm ở khu vực Engadin với các khách sạn cao cấp, cửa hàng hiệu và sân trượt tuyết.  Thị trấn này nổi tiếng với vị trí tọa lạc trên độ cao 1,856m và khí hậu mát mẻ. thu hút nhiều khách du lịch đến vui chơi và nghỉ ngơi.  St Moritz cũng là nơi có nhiều chương trình thể thao mùa đông quan trọng, chẳng hạn như Giải vô địch thế giới về trượt tuyết, được đông đảo khách du lịch đến tham dự...

        -  Davos:  là một thị trấn nghĩ dưỡng nằm ở vùng Graubunden, gần St Moritz, nổi tiếng với các khách sạn cao cấp, các hoạt động mùa đông phong phú như trượt tuyết, leo núi, trượt patin...  Ngoài ra, Davos còn có Davos Congress, là nơi diễn ra Hội nghị Thượng Đỉnh Thế Giới Davos (Davos World Economic Forum) - một hội nghi quan trọng hàng năm thu hút các nhà lãnh đạo chính trị, doanh nhân và các chuyên gia trên toàn thế giới đến thảo luận về các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội quan trọng.

        -  Klosters:  nằm cạnh Davos trong vùng Graubunden của Thụy Sĩ, nổi tiếng với các khu nghỉ dưỡng cao cấp, đẹp hiền hòa va yên tỉnh.  Thị trấn này cũng nổi tiếng về các hoạt động mùa đông và mùa hè phong phú cùng nhiều cảnh đẹp vùng núi Alps.

        -  Lucerne: là một thành phố tọa lạc ở trung tâm Thụy Sĩ, nằm bên hồ Lucernei, nổi tiếng với nhiều phong cảnh hữu tình và di sản văn hóa đa dạng.  Những thắng cảnh của Lucerne được du khách thăm viếng nhiều là Lake Lucerne, Chapel Bridge, St Peter's Church, Lion Monument, Jesuit Church...

        -  Lake Lucerne:  là một trong những hồ lớn nhất Thụy Sĩ.

        -  Chapel Bridge:  là một trong những cầu gỗ cổ nhất ở Châu Âu và là biểu tượng của thành phố Lucerne.  Cầu này được xây vào thế kỷ 14 và có những bức tranh lịch sử được vẽ trên các bức tường bên trong.

       -  St Peter's Church: là một nhà thờ đẹp với kiến trúc Gothic đặc trưng của Thụy Sĩ.  Nhà thờ này được xây vào thế kỷ 17 và có một chiếc đồng hồ lớn trên đỉnh nóc.

       -  Lion Monument:  là một bức tượng đá không lồ được chạm khắc trên một tảng đá đơn độc, tượng trưng cho sự hy sinh của binh ính Thụy Sĩ trong cuộc tấn công lâu dài trên Tuileries năm 1792.
       -  Jesuit Church:  là một trong những nhà thờ đẹp nhất ở Lucerne với nội thất sang trọng và một bức tượng Chúa Giêsu được làm bằng vàng rực rỡ.

       -  Rhine Falls:  là thác nước lớn nhất Châu Âu, có chiều rộng lên tới 150m và chiều cao khoảng 23m, tạo nên một quang cảnh tuyệt đẹp với thác nước chảy mạnh và bắt nguồn từ dãy Alps
       -  Liechtenstein:  là một quốc gia nhỏ nằm ở Châu Âu, giáp ranh với Thụy Sĩ và Áo, có diện tích chỉ khoảng 160 km2 và dân số khoảng 38,000 người, Tuy nhỏ bé nhưng Liechtenstein là một trong những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, với kinh tế chủ yếu dựa trên các dịch vụ tài chính.  Điểm du lịch nổi tiếng của Liechtenstein là tòa lâu đài Vaduz, là nơi cư ngụ của hoàng gia Liechtenstein.  Du khách có thể thăm viếng tòa lâu đài ở trên cao này và thưởng ngoạn phong cảnh hùng vĩ vùng núi Alps chung quanh.

       Xin mời tất cả cùng đi thăm Thụy Sĩ và Liechtenstein với PL qua hình ảnh:
       Xin chúc sức khỏe và an vui.

Thân kính,

PLang



Góp Nhặt Một Vài Khuất Sử

Lê Quý Đôn (1726-1784)

Là người sa đà với một vài khuất sử đang ẩn khuất đâu đây. Bởi sử nhà cả ngàn năm trước, nào có thể…nhìn thấy sử rõ mồn một hình thù cổ lỗ ra sao?!

Thảng như chuyện người viết sử dưới đây…

Thời Nga Hoàng Nikolai (1547-1721), công tước Velikiy Knyaz là sử gia nghiêm túc. Ông ngồi trên tầng ba của công thự để viết sử. Vì gò sử từ sáng đến giờ nên oải, ông ra đứng trước hàng hiên để thảnh thơi đôi chút. Bất ngờ trên đường có hai người đuổi nhau, một người cầm khẩu súng trường Mosin, hô hoán: “Tao bắn chết mày, thằng Do Thái”. Ông bảo bà quản gia xuống xem sao. Lát sau bà trở lên thuật lại khác hẳn những gì ông nhìn thấy. Ông nghĩ chuyện ngay trước mắt còn sai lạc huống chi sử kiện cả trăm năm trước. Sau đó theo ngoa truyền ông buông bút, không viết sử nữa.

Đang ngày trời tháng Bụt, khi trưa phơi sách khi chiều tưới cây, chả nhẽ lại…quẳng bút. Nhân đọc Phạm Đình Hổ viết Tang thương ngẫu lục chuyện Lê Quý Đôn bị Nguyễn Trãi quở trách:

Lê Quý Đôn xét lại sổ sách đất đai của dân. Nhân thể, cũng muốn rút bớt ân trạch với những khai quốc công thần thuở trước là.Nguyễn Trãi. Thế là Nguyễn Trãi hiện về “mắng” Lê Quý Đôn là kẻ tiểu sinh mới học, sao dám xúc phạm đến bậc khai quốc công thần. Mụ chữ tôi tâm phục khẩu phục Phạm Đình Hổ sống cách đây 270 năm...hoang tưởng thần kỳ đến như thế.

Thế nên nghĩ vụng hay là hãy mài óc viết hư cấu thật, hiện thực giả như Phạm Đình Hổ nhưng lại sợ cụ Lê Quý Đôn…quở trách thì khốn. Ngoài trời có sấm chớp linh đình. Hốt nhiên điện phụt tắt. Tối thui. Đột nhiên có điện trở lại. Tôi muốn nhẩy dựng lên vi có một đại nhân mặc áo quan cách, quấn khăn, để râu chòm, quan…hiện ra ngay trước mặt và từ tốn:

- Bản chức là Doãn Hậu Lê Quý Đôn đây.
Tôi ớ ra gì mà tôi…hoang tưởng quá sức vậy nên lập cập:
- Quan…Quan Toản tu quốc sử…
- Quan cách gì, các hạ rõ vẽ chuyện.

Cụ gần gũi với “các hạ” tôi thế đấy, bởi bản quán cụ cùng đất đồng chua nước mặn với tiện sinh tôi ở Thái Bình. “Gần chùa gọi Bụt bằng anh”, chả lẽ lại hỏi chuyện cụ bị cụ Nguyễn Trãi quở trách. Lại nữa, sau khi đỗ đại khoa, cụ là Toản tu quốc sử, được bổ làm Tổng tài Quốc sử quán. Sử sách của cụ gồm Đại Việt thông sử, Quốc triều tục biên, v…v….

Mặc dù thân quen qua…địa lý, nhưng với sử ký, mụ sử tôi nắm bắt được từ sử gia Velikiy Knyaz không nhìn thấy sử kiện cả “trăm năm trước”: Trong khi cụ Lê Quý Đôn viết sử biên niên, cụ sinh vào thời hậu Lê, Lê Lợi sống vào thời tiền Lê, sử kiện ắt có nhiều khuất tất. Huống chi Nguyễn Huệ mặc dù nằm tuốt luốt mấy trăm sau nên tôi đồ là sử liệu cũng có những khuất lấp. Nhưng cụ là sử quan, với văn kiến súc tích, sở kiến cao minh để tôi kiến văn sở thị thì hay biết mấy. Bèn thưa với cụ rằng mụ sử tôi đọc ở đâu đó chính cụ ngự sử văn đàn thế này…

Theo Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử: Quân Minh biết Chí Linh là chỗ Lê Lợi lui tới, đem binh vây đánh. Vương hỏi các tướng rằng: Có ai làm được như người Kỷ A Tín chịu chết thay cho Hán Cao Tổ không? Bấy giờ có Lê Lai xin mặc thay áo ngự bào, ra trận đánh nhau với giặc. Quân Minh tưởng thật, xúm lại bắt sống Lê Lai dẫn về thành Đông Quan giết chết.

Nghe thủng rồi, không trả lời ngay, cụ móc trong bị vải nhang nhác như túi Tây ba lô ra hai hòn đá cọc cạch, một bó bùi nhùi rơm, và cái…không phải cái điếu bát, điếu cày mà là cái điếu ống (xưa các quan ta đi vi hành, vì ngồi võng nên dùng cái điếu ống này). Cụ làm một hơi thuốc lào cho nhân sinh quý thích chí rồi thong thả thông điếu, thông sử…

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú kể: “Lúc mới khởi binh, bị tướng Minh vây ngặt, vua hỏi các tướng, bàn xem có ai đổi áo đánh lừa giặc, như Kỷ Tín ngày xưa. Ông xin đi, mặc áo bào, đem quân xông vào hàng trận, đánh đến đuối sức, bị bắt “

Theo bỉ phu, điều ngạc nhiên các sử quan về sau đều chép truyện Lê Lai liều mình cứu chúa, trong khi sử quan đời Lê không ghi truyện này. Sự thực ra sao? Quân Minh có giết Lê Lai không? Theo bỉ phu chắc chỉ có Nguyễn Trãi biết. Vì…

Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi được chính Lê Lợi đề tựa, kể rằng:

Bấy giờ thế giặc đang lớn mạnh, vua nói: Ai có thể mặc áo bào thay ta đem quân đi đánh thành Tây Đô? Các tướng đều không dám nhận, chỉ có Lê Lai. Nguyễn Trãi cho biết Lê Lai bị quân Minh bắt sống và bị tra tấn dã man.

(Nguyễn Trãi 1380 – 1442)

Hoàn cảnh của Nguyễn Trãi không cho phép ông viết sự thật lúc Lê Lợi còn sống. Bỉ phu cho là vậy, tôn ý các hạ thấy sao? Vì...Đại Việt sử ký toàn thư chép :Giết Tư mã Lê Lai, tịch thu gia sản, vì Lai cậy có công đánh giặc, nói ra những lời ngạo mạn nên bị giết. Ngô Sĩ Liên, sử thần nhà Lê, chép lại cho hậu thế một sự kiện lịch sử. Không hiểu sao sử quan đời sau lại quên chi tiết này của ông nhận xét về Lê Lợi: Vua dấy nghĩa binh đánh giặc Minh, 10 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, mở khoa thi, lập phủ huyện. Có thể gọi là có mưu lớn sáng nghiệp. Song đa nghi hay giết quần thần tôi trung, đó là chỗ kém.

Vì cụ cứ “ bỉ phu” với “các hạ” khiến mụ sử tôi càng bí sử thêm vì ẩn sử: Lê Lợi giết Lê Lai nay đã rõ qua sử thần Ngô Sĩ Liên, ông viết sử từ Hùng Vương đến khi Lê Thái Tổ (Lê Lợi) lên ngôi. Nhưng vì không biết Lê Lợi gốc gác ra sao? Mụ sử tôi mạo muội góp nhóp với cụ…

Theo Keith Weller Taylor qua The Birth of Vietnam: “Năm 1925, tạp chí Nam Phong đã in bài viết do một người Mường viết về những thế hệ lãnh đạo được gọi Quan lang là tước hiệu của thủ lĩnh người Mường như Hùng Vương, Lê Lợi“. Và “từ Hùng có nguồn gốc từ một danh hiệu của người thủ lĩnh đến nay vẫn còn tồn tại trong ngôn ngữ của các dân tộc nói tiếng Môn-Khmer, tiếng Mường sống tại các vùng núi ở Đông Nam Á”.

Thêm sử gia thâm căn cố đế Trần Quốc Vượng cho rằng…

”Thời Hùng Vương là một thời kỳ khuyết sử”. Qua sử phẩm Từ Hoa Lư đến Thăng Long ông viết: “Thời đại các vua Hùng không nên xem là một thời đại của vương triều. Tôi đã tìm ra vua Hùng tên tiếng Việt cổ là Pò Khun (Vua = Bua = Pò, Hùng = Khun) tức hệ thủ lĩnh Mường chiếm cứ vùng đỉnh núi châu thổ sông Hồng (Việt Trì)”.

Mụ sử tôi đắng đãi thêm ông cố đạo Tây khác nữa cho óach…

Linh mục Léopold Cadière là sử gia, nhà ngôn ngữ học, trong biên khảo Dialectes du Annam (1902) kết luận hai sắc dân Mường-Việt vốn cùng một chủng tộc nhưng chia làm hai theo cổ thuyết con rồng cháu tiên: Một đằng (Lạc Long) ở đồng bằng, duyên hải. Một đằng (Âu Cơ) ở cao nguyên, miền núi Bắc Việt. Tên Âu Cơ là tên Việt hoá. Tên Mường là Ngu Cơ.

Bởi Tam Quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết lịch sử với những nhân vật huyễn hoặc như Quan Công còn được coi là thánh tổ, của mấy chục nghề như nghề làm đầu bếp, nghề cắt tóc, nghề cầm đồ, nghề đồ tể, nghề bán thịt, nghề thầy tướng, nghề đậu hũ v.v....Thành ra, vào các quán ăn ở đâu chúng ta cũng thấy người Tàu có bàn thờ Quan Công.

Được thể mụ sử tôi trình cụ một tác giả...”giả sử” về Mạnh Hoạch...

Gia Cát Lượng thu phục Mạnh Hoạch, lúc rút quân dừng lại sông Lư, làm lễ tế cho các tử sĩ trong cuộc Nam chinh, trong bài văn tế có câu: ‘’Từ khi giặc xâm lăng cõi Thục - Binh khởi đất Mường’’. “Đất Mường” ở đây cho thấy Man vương (Mường-Mán) là người cầm đầu các tộc người miền núi Bắc Việt. Sông Lư là sông Lô. Lư và Lô là 2 cách phát âm khác nhau của cùng một chữ, chỉ dòng sông chảy vào Hà giang ngày nay. Khổng Minh từ Vân Nam vượt sông Lô, tiến vào bình Mạnh Hoạch ở vùng rừng núi tây bắc nước ta. Trong thần tích Hương Ngải nói rõ khi Lưu Bị lên ngôi Hán Trung vương, khi đó nước Việt ta thuộc về triều Thục Hán của Lưu Bị. Chứ không như sử cũ nước ta thuộc nhà Ngô của Tôn Quyền ở Giang Đông.

Với tiểu thuyết lịch sử, tác giả...”giả sử” trên đổ vấy cho Mạnh Hoạch chính là…Lê Lợi .

Nhẽ này không lạ lẫm lắm, tôi gõ trống qua cửa nhà sấm với cụ mà rằng:
Một là Thiền sư Nguyễn Mạnh Thát luận sử như sau thì có sao đâu: 1. Truyện mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng nở trăm con có nguồn gốc từ nước Phật. 2. Truyền thuyết An Dương Vương không có thật, nó là phiên bản của một câu chuyện có thật ở Ấn Độ.

Hai là bám như cua cắp vào cố sử gia Tạ Chí Đại Trường:
Dựa vào Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Trịnh Khả (không phải Trịnh Khải) vì…“biết tiếng Lào” nên được Lê Lợi sai phái liên lạc với người Lào. Trịnh Khả là công thần triều Lê, ông là người tài ba phò vua dựng nước. Giống Nguyễn Trãi, ông không dám nói ra vua Lê (Lê Lợi) của ông cũng là người thiểu số, có hơn một nửa là gốc Lào như ông (nhóm tộc Mường Thái Lam Sơn ở Lũng Nhai). Trần Cảo của nhóm Lam Sơn thuộc nhóm Thái Lào xa. Lê Ba Lao gốc họ Ðinh (cha của Ðinh Triện bị tử trận) nguyên là đầy tớ thủ lĩnh Lê Lợi.

Nghe thủng rồi làm như tương đắc, tương bần lắm, cụ xắng xả: Hơn 9.000 người Đông Kinh (Thăng Long) hợp tác với người Minh. Nguyễn Trãi cố thuyết phục họ theo Lê Lợi. Nhưng họ nhìn Lê Lợi như một kẻ nhà quê. Lê Lợi là người nhà quê, là người Mường vẫn còn nhiều khuất tất? Bởi bất sĩ hạ vấn, là chả mất sĩ diện gì phải hỏi. Cụ búi bấn như Lưu Bị tam cố thảo lư tìm Khổng Minh, thì Nguyễn Trãi hai lần tìm Lê Lợi:

- Ấy đấy thưa các hạ, theo Tang thương ngũ lục của Phạm Đình Hổ kể rằng Nguyễn Trãi (và Trần Nguyên Hãn) đến tìm Lê Lợi để mưu đồ đại sự. Lần đầu gặp ngày giỗ, Nguyễn Trãi thấy Lê Lợi là hào trưởng miền núi, vừa cắt thịt ăn ngồm ngoàm vừa uống rượu nên thất vọng bỏ về. Lần thứ nhì trở lại, gặp Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm binh thư, ông mới vào ra mắt. Dựa vào Phạm Đình Hổ thì: “Lê Lợi là một tù trưởng người Mường”.

Làm như có gì ngẫm ngợi lung lắm, cụ một ngắn hai dài:

Cứ như An Nam truyện của Vương Thế Trinh, một danh thần nhà Minh chép: “Viên thổ quan Lê Lợi vốn là bề tôi của cố vương Trần Quý Khoát nhà Trần làm phản. Rồi bó thân xin hàng thiên triều năm lần, bảy lượt (như Mạnh Họach với Khổng Minh), mãi sau mới được ban chức Tuần kiếm. Nhưng vẫn ôm lòng phản trắc, nay tiếm xưng là Bình Định Vương…”. Theo bản chức, sử kiện Lê Lợi làm bề tôi nhà Minh trong Minh thực lục cũng có chép, nhưng sử thần Ngô Sĩ Liên muốn giấu việc này nên cố tình lược bỏ đi trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Tiếp đến cụ dật dờ:
- Vì vậy tác giả...”giả sử” về Lê Lợi và Mạnh Họach hãy để tồn nghi. Nhưng tuy nhiên học theo sử thần Ngô Sĩ Liên, các hạ hãy ‘’giấu biến việc này’’ đi, đừng mang vào phiếm sử Góp nhặt một vài khuất sử này. Người đọc mắng cho rỗ mặt đấy, thưa các hạ.

Sau đấy cụ gật đầu tắp lự: Thì sử nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ cũng dựa vào tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc diễn nghĩa vậy. Ấy là Hoàng Lê nhất thống chí.
***
Trộm vía cụ: Nguyễn Huệ sau Lê Lợi khoảng...360 năm ắt cụ chả thông hanh mấy. Là kẻ hậu bối, tôi nắn no với cụ về chuyện ấy. Cụ cười cái bép...

- Chẳng giấu gì các hạ, bỉ phu là người thiên cổ, là người cõi trên ở chốn thiên đàng. Bỉ phu như tiên ông suốt ngày bay tới bay lui. Lắm khi bỉ phu bay tới cả nghìn năm trước, rỗi hơi bay lui lại trăm năm sau mà chữ nghĩa gọi là “lỗ hổng thời gian” ấy mà, thưa các hạ.

Vồ được cụ bay tới cả…trăm năm mà mụ sử tôi nào nhìn thấy thời Nguyễn Huệ như thế nào?! Quên tiệt cụ là...cụ Lê Quý Đôn, tôi xuôi dòng sử Việt thời cận đại…

Theo một trong 7 tác giả viết Đối thoại với sử học:
“Cuộc hành quân của Quang Trung ra Bắc năm 1789. Ông ấy đi thế nào ra được Hà Nội nhanh như vậy? Từ Huế đi bộ vậy mà ông ấy chỉ đi 20 ngày. Sáu trăm cây số mà đi bộ như thế tức là một ngày đi 30 cây số. Tôi nghĩ rằng các đại quân của Napoléon và những danh tướng lừng lẫy châu Âu đi bộ tối đa, ngày khoảng 15 cây số. Vì vậy tôi cho rằng Quang Trung đi 40 ngày nếu một ngày đi 15 cây số. Tuy nhiên voi đi chậm hơn người, cứ 3 ngày phải cho voi nó nghỉ một ngày vì như người vậy, nó...mệt. Khổ quá, lại thêm chuyện cáng võng nữa...

Tôi đã cáng người nhà lên huyện khám bệnh. Cùng chiều dài con đường lên huyện tôi thấy đi bộ nhanh hơn cáng võng…”

Tôi bày vẽ với cụ chuyện hai người cáng võng một người thế đấy. Cụ ậm ừ dật sử của Ngô văn gia phái viết lịch sử tiểu thuyết theo Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Sách miêu tả những nhà nho ẩn dật như Giáo Hiến, Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, được đưa vào Hoàng Lê nhất thống chí trở thành “bản sao” của Khổng Minh, Bàng Thống, Từ Thứ. Dần dà người viết, người đọc coi là...thật, rồi càng ngày càng trở thành...sự thật của lịch sử.

Cụ quơ cái điếu ống làm một bi thuốc và trích lục đề văn của ai đấy...

Trong trận Ất Dậu, Sầm Nghi Đống không thắt cổ tự tử mà bị tử thương trong trận Ngọc Hồi. Qua lời người có chức vụ Thủ bị tên Lao Hiển bị bắt làm tù binh, khi được trao trả đã khai với quân cơ nhà Thanh: ”Thượng tổng binh, Vương tham tướng (tức Sầm Nghi Đống) bị quân giặc vây, bị chém đứt một cánh tay, ngã ngựa rồi bị giết”.

Chợt nhớ giai thoại ‘’Bà chúa thơ Nôm ghé miếu đề thơ...’’. Bèn hỏi, cụ mà rằng:

- Để lấy lòng Càn Long, Quang Trung Nguyễn Huệ lập miếu Sầm Nghi Đống trên gò Đống Đa. Nhắc đến Nguyễn Huệ gốc họ Hồ thì chẳng quên theo gia phả họ Hồ ở Nghệ An : Đời thứ 11, Hồ Phi Phúc (đổi ra họ Nguyễn) sinh Nguyễn Huệ. Cũng đời thứ 11 Hồ Phi Diễn sinh Hồ Xuân Hương. Vì vậy Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương cùng chung ông tổ 5 đời là Hồ Thế Anh. Bà em họ Hồ ghé miếu của ông anh họ lập lên và làm bài Đề đền Sầm Nghi Đống, câu thơ đầu: Ghé mắt trông lên thấy bảng treo. ‘’Ghé mắt ’’ đây bà ra vẻ khinh thị thấy rõ.

( Quang Trung 1788–1792)

Thở ra khói, cụ diễn sử theo ai đó…

Người dẫn đầu phái bộ ta sang dự lễ bát tuần đại khánh của Càn Long là Quang Trung. Tuy nhiên vì tình hình còn nhiều bất trắc, quân sư Ngô Thì Nhậm của ông tung ra “màn khói” người đi qua Tàu là giả vương cốt để cho những kẻ thù nghịch trong nước e dè những hư thực mà không dám vọng động trong khi Quang Trung đang ở bên Tàu. Vì nếu là giả vương, thì như Phan Huy Ích đã tiên liệu: Trước đó phái đoàn nhà Thanh khi sang Thăng Long phong vương cho Nguyễn Huệ, họ cũng đã biết mặt Nguyễn Huệ Quang Trung.

Sau lễ Bát tuần đại khánh, bức tranh do Càn Long sai vẽ truyền thần tặng Quang Trung có ghi rõ: An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình. Khuất sử cho đến khi ấy, sử ta và những nhà biên khảo ít ai biết tên thật của Nguyễn Văn Huệ là Nguyễn Quang Bình.

Va vào đầu bức tranh truyền thần, nói cho ngay hình dáng cụ vua ta, tôi chỉ được biết qua ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến; “Tóc quăn, mặt mụn đầy, tiếng nói sang sảng như chuông“. Còn chuyện bức vẽ cũng đã từng nghe rồi, tôi khoe nhắng với cụ chuyện bên lề: Thoạt kỳ thủy theo sử ta Càn Long tặng cho cụ vua ta bức tranh truyền thần của chính Càn Long để làm kỷ niệm. Người thời VNCH ngỡ ấy là tranh vẽ vua ta nên in giấy bạc 200 đồng. Ấy là bức tranh vẽ Càn Long cưỡi ngựa được họa sĩ Ý tên Giuseppe Castiglione vẽ năm 1739.

Mới đây người Hà Nội tên Trần Quang Đức tìm được bức truyền thần vẽ cụ vua ta có ghi rõ: An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình là thế. Như cụ dậy vậy.

Đợi tôi huếch xong, cụ gọ gạy tôi có hay chuyện ta đòi đất Tàu chăng? Tôi chưa kịp trả lời: “Dạ biết“. Cụ nói không phải...Quảng Đông Quảng Tây mà là:

Là trong di văn của Ngô Thì Nhậm có tờ biểu của vua Quang Trung gửi lCàn Long yêu cầu nhà Thanh: Trả lại 7 châu thuộc Hưng Hoá. Khi tờ biểu gửi qua cho Phúc Khang An, ông này được Càn Long sai đi chiến trận ở Tây Tạng nên việc đòi đất không tiếp tục nữa.

Cụ rối tinh thêm: Càn Long năm 1769 nhằm vào thời vua Lê Hiển Tông, thổ mục Hoàng Công Toản cai quản đất Hưng Hóa chạy qua Vân Nam đem dâng cho nhà Thanh 7 châu Hưng Hóa: Tung Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu, Khiêm Châu. Châu đây nhỏ như...làng hay ...động (bản làng).

Từ đòi Trả lại 7 châu thuộc Hưng Hoá, cụ bắt qua “Cống người vàng, cống voi”...

Phúc Khang An ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm viết cho ông ta bức thư: “Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra vua nước tôi bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao?. Như thế cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?.Mong đại nhân miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống“.

Cụ một ngắn hai dài trước khi Ngô Thì Nhậm lên ải Nam Quan, Phúc Khang An thông báo nước ta muốn “đấu hàng“ (đấu ‘’dấu sắc’’ nghĩa cầu hòa) phải cống voi và Nguyễn Huệ phải lên Nam Quan tạ tội. Khi xin cầu phong, Phúc Khang An lại đòi Nguyễn Huệ cũng phải đích thân lên Bắc Kinh. Quang Trung không muốn lập lại hành động mất quốc thể nên biện báo sẽ đưa một nhân vật thân thích “tuy đại do thân” (thay mặt như chính mình) đem tờ biểu cầu phong sang Bắc Kinh. (Nguyễn Quang Hiển thay mặt đem biểu tiến kinh)

Theo cụ, vua ta thời trước đích thân sang chầu vua Tàu chỉ xảy ra một lần vào đời Lý khi lên Nam Quan làm lễ thụ phong. Còn cống “một“ hay “hai“ người vàng tùy theo triều đại : Đời Lê cống một tượng người vàng, đời Trần cũng vậy. Việc triều cống hai tượng người bằng vàng ròng bắt đầu vào đời Minh để thế mạng cho Liễu Thăng và Lương Minh.

(Phan Huy Ích_(1751-1822)

Chợt nhớ cụ dậy Hoàng Lê nhất thống chí vẽ chuyện Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích là ‘’âm bản’’ của Khổng Minh, Phụng Sồ. Cứ theo mụ chữ tôi Phan Huy Ích vì Càn Long nể trọng nên được ban mũ áo hàng tam phẩm. Ngoài ra sau lễ Bát tuần đại khánh, Càn Long cho họa sĩ vẽ chân dung ông cùng lúc với vua Quang Trung. Bức truyền thần này được thờ tại nhà từ đường họ Phan ở làng Thuỵ Khuê, Sơn Tây, nhưng bị thất lạc, chỉ còn lưu lại bức hình ở bìa quyển Chinh phụ ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn.

Nghe thủng rồi, cụ kỳ cổ qua thư của giáo sĩ Girard gửi giáo sĩ Boiret, cụ mới hay Quang Trung có…7 vợ. Nghe cụ vua ta có vợ, tôi ngẫm nguội gần nửa đời đánh đông dẹp bắc túi bụi lấy đâu ra thì giờ để lo cho những 7 bà. Ấy cũng là một ẩn khuất của bài phiếm sử này. Chưa kịp rõ mồm hỏi, cụ bỏ hai hòn đá cọc cạch, cái cúi rơm vào túi và hỏi tôi có thêm thắt gì cho có...chiều dầy lịch sử chăng?

Ừ thì mụ sử tôi đành đùm đậu:
Thời Lê Lợi, Nguyễn Huệ có ba ngẫu sự: Một là đều có chuyện “giả vương”…lững thững đi vào chính sử. Lê Lai là giả vương ai cũng biết, nhưng cho đến nay ít ai hay biết người đi Tàu là Quang Trung thật. Hai là Lê Lợi là người Mường, Nguyễn Huệ là người Chàm. Ba là qua tài liệu của các nhà truyền giáo Dòng Tên ở La Mã: Nguyễn Huệ mắt như đèn pha. Với Phạm Đình Hổ: Lê Lợi mắt trắng như con tinh.

Về thân thế cụ vua ta:

Tạ Chí Đại Trường viết: “Trong biểu văn trần tình Nguyễn Huệ khẳng định không liên hệ với nhà Lê mà chỉ có ràng buộc hôn nhân’’ (với công chúa Ngọc Hân). Cũng vậy, khi gặp Càn Long trong lễ bát tuần đại khánh, vua ta nói “hoàng tộc Chiêm Thành” để tách rời với Đàng Ngòai. Vua ta không phủ nhận ông họ Nguyễn, vì vậy Càn Long cho ghi trên bức truyền thần: “An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình“ là thế. Nếu như ông là…người Chàm thì phải có tên Chàm. Nhưng không. Vì người Chàm gọi ông với tên: vua Hồ (Po Hồ). Vua ta không chối bỏ ông là người An Nam rặt vì rõ như đêm giữa ban ngày cụ vua ta nào có…vợ Chàm.
***
Chưa kịp thưa gửi những gì để bài phiếm sử…có trọng lượng. Bỗng thấy cụ bỏ thêm cái điếu ống vào túi Tây ba lô. Biết cụ sắp về với cõi, bèn hỏi vội ở cõi trên có gì vui chăng? Cụ búi bấn lên chơi thì được, ở lâu chán lắm. Vì chỉ có tiên ông, tiên bà bay vù vù suốt ngày, chán hơn nữa, có hai ông Nam Tào, Bắc Đẩu vừa đánh cờ, vừa phiếm luận về…

Thạch trúc thảo lư
Kỷ Hợi 2020
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Nguồn: Nguyên Nguyên, Nguyễn Dư, Bùi Thiết
Phạm Xuân Hy, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Duy Chính.