Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.
Lời phi lộ
Tiếng chày đập áo là một thứ rất đặc biệt trong xã-hội-yêu-tinh-thơ-Đường. Nó thê lương nhẩt, cảm động nhất, dai dẳng nhất trong nhiều thiên kỷ ở Trung quốc. Ẩn trong tiếng chày là nỗi nhớ chồng đi thú lâu năm ở quan ải Hồ - Hán xa xăm (chồng đi đánh trận thì có thể được về sau khi trận giặc kết thúc nhưng chồng đồn trú ở quan ải thì tới già mới được về). Những thi hào danh tiếng thời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn… đều có thơ thuộc đề tài này.
Nguyên tác Dịch âm
聞夜砧 Văn Dạ Châm
誰家思婦秋搗帛 Thuỳ gia tư phụ thu đảo bạch,月苦風淒砧杵悲 Nguyệt khổ phong thê châm thử bi.
八月九月正長夜 Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ,
千聲萬聲無了時 Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì.
應到天明頭盡白 Ưng đáo thiên minh đầu tân bạch,
一聲添得一莖絲 Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty.
Chú giải:
Đảo: đập (giặt).
Bạch: lụa trắng.Châm: bàn đá để đập (giặt) áo.
Bi: buồn.
Chính: chính đáng, chánh, ngay giữa, ngay thẳng.
Thử:chử: xử: cái chày gỗ.
Liễu: xong, hết, rồi.
Dịch thơ
Nghe Chày Đêm
Đêm thu mong chồng ai đập lụa?
Gió thảm trăng sầu chày đập hoài
Tháng tám tháng chín đêm dài lắm
Ngàn âm vạn âm chày chẳng nguôi
Tới sáng e rằng đầu toàn trắng
Mỗi âm thêm một sợi tơ phai
Lời bàn
Bài thơ thất ngôn lục cú không theo Đường luật. Câu 3 có 4 vần trắc liên tiếp ở đầu câu, rất bất thường trong thơ thất ngôn. Toàn bài có 6 câu (không phải bát cú hay tứ tuyệt): cũng rất bất thường trong loại thơ này.
Nói về ý thơ thì bài này trên mức tuyệt vời. Dùng tiếng chày đập lụa của người thiếu phụ mong chồng trong đêm thu để gõ vào tim của nhân gian. Lại dùng những sợi lụa trắng để tượng hình rằng nỗi buồn gây ra bởi mỗi tiếng chày sẽ làm bạc hết đầu trong một đêm.
Con Cò
***
Nghe Tiếng Chày Đêm.
Nhớ chồng ai giặt lụa đêm thâu,
Trăng lạnh chày thu gió thổi sầu.
Tháng tám đêm dài thêm tháng chín,
Muôn nghìn tiếng đập có ngừng đâu.
E rằng sáng tóc toàn mầu trắng,
Từng sợi thành tơ đến bạc đầu.
Mỹ Ngọc.
Aug. 15/2026.
***
Nghe Tiếng Chày Khuya
1-
Nhà ai nhớ chồng thu đập lụa
Trăng sầu gió thảm đá-chầy khơi
Tháng tám, tháng chín đêm dài lắm
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng hề ngơi
Có lẽ sớm mai đầu bạc trắng
Mỗi tiếng tóc thêm một tơ trời!
2-
Thu nhớ chồng, nhà ai đập vải
Trăng gió sầu, đá bãi chầy bồi
Đêm thu dài lắm người ơi
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng ngơi lúc nào
Bình minh tóc sẽ trắng phau
Chầy thêm một tiếng, tơ sầu một thêm!
Lộc Bắc
Aug26
***
Tiếng chày trong đêm
Đêm thu nện lụa nhớ chồng xa
Gió rét trăng sầu chày thiết tha
Tháng tám đêm dài nàng thức trắng
Tiếng chày ngàn vạn nối đưa qua
Tinh sương tóc đã thay màu bạc
Mỗi tiếng chày sa một sợi nhoà
Thanh Vân
***
Sau khi đọc bài thơ, thấy quen quen, Bát Sách cứ tưởng là mình đã góp ý rồi, nhưng anh Tâm và Lộc Bắc nói chưa nên phải tin thôi, bèn tra chữ khó và dịch.
Đúng như anh Giám nói, chữ 砧 CHÂM viết với bộ thạch là phiến đá, để quần áo, vải lụa lên đó mà đập.
- Đảo là giặt.
- Bạch là lụa trắng.
- Chử 杵, bộ mộc, là cái chầy để giã gạo hay đập áo.
- Hành là thân cây cỏ, cán hay cọng, như cọng tóc. Nguyễn Tôn Nhan có dẫn câu thơ của Đỗ Phủ : sổ hành bạch phát na phao đắc (mấy sợi tóc trắng sao quăng được). Nhất hành ti là một sợi tơ.
Bài thơ này 7 chữ, có 6 câu, Bát Sách mới thấy, hình như là thất ngôn biến thể. Cái tựa của bài thơ, nếu theo giải thích ở trên, là nghe tiếng chầy đêm thì sai, vì châm không phải là chầy. Vì vậy Bát Sách dịch là:
Nghe Giặt Lụa Đêm
Nhớ chồng, ai giặt lụa đêm thu,
Trăng khổ, đá chầy thoảng gió ru,
Tháng tám, tháng chín, đêm dài lắm,
Ngàn âm, vạn tiếng vẫn liên tu,
Chừng tới bình minh đầu bạc hết,
Mỗi âm, một sợi tóc thành tơ.
Bát Sách.
(Ngày 18/08/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:
聞夜砧-白居易 Văn Dạ Châm - Bạch Cư Dị]
***
Nghe Tiếng Chày Đêm.
Nhớ chồng ai giặt lụa đêm thâu,
Trăng lạnh chày thu gió thổi sầu.
Tháng tám đêm dài thêm tháng chín,
Muôn nghìn tiếng đập có ngừng đâu.
E rằng sáng tóc toàn mầu trắng,
Từng sợi thành tơ đến bạc đầu.
Mỹ Ngọc.
Aug. 15/2026.
***
Nghe Tiếng Chày Khuya
1-
Nhà ai nhớ chồng thu đập lụa
Trăng sầu gió thảm đá-chầy khơi
Tháng tám, tháng chín đêm dài lắm
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng hề ngơi
Có lẽ sớm mai đầu bạc trắng
Mỗi tiếng tóc thêm một tơ trời!
2-
Thu nhớ chồng, nhà ai đập vải
Trăng gió sầu, đá bãi chầy bồi
Đêm thu dài lắm người ơi
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng ngơi lúc nào
Bình minh tóc sẽ trắng phau
Chầy thêm một tiếng, tơ sầu một thêm!
Lộc Bắc
Aug26
***
Tiếng chày trong đêm
Đêm thu nện lụa nhớ chồng xa
Gió rét trăng sầu chày thiết tha
Tháng tám đêm dài nàng thức trắng
Tiếng chày ngàn vạn nối đưa qua
Tinh sương tóc đã thay màu bạc
Mỗi tiếng chày sa một sợi nhoà
Thanh Vân
***
Sau khi đọc bài thơ, thấy quen quen, Bát Sách cứ tưởng là mình đã góp ý rồi, nhưng anh Tâm và Lộc Bắc nói chưa nên phải tin thôi, bèn tra chữ khó và dịch.
Đúng như anh Giám nói, chữ 砧 CHÂM viết với bộ thạch là phiến đá, để quần áo, vải lụa lên đó mà đập.
- Đảo là giặt.
- Bạch là lụa trắng.
- Chử 杵, bộ mộc, là cái chầy để giã gạo hay đập áo.
- Hành là thân cây cỏ, cán hay cọng, như cọng tóc. Nguyễn Tôn Nhan có dẫn câu thơ của Đỗ Phủ : sổ hành bạch phát na phao đắc (mấy sợi tóc trắng sao quăng được). Nhất hành ti là một sợi tơ.
Bài thơ này 7 chữ, có 6 câu, Bát Sách mới thấy, hình như là thất ngôn biến thể. Cái tựa của bài thơ, nếu theo giải thích ở trên, là nghe tiếng chầy đêm thì sai, vì châm không phải là chầy. Vì vậy Bát Sách dịch là:
Nghe Giặt Lụa Đêm
Nhớ chồng, ai giặt lụa đêm thu,
Trăng khổ, đá chầy thoảng gió ru,
Tháng tám, tháng chín, đêm dài lắm,
Ngàn âm, vạn tiếng vẫn liên tu,
Chừng tới bình minh đầu bạc hết,
Mỗi âm, một sợi tóc thành tơ.
Bát Sách.
(Ngày 18/08/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:
聞夜砧-白居易 Văn Dạ Châm - Bạch Cư Dị]
誰家思婦秋搗帛 Thùy gia tư phụ thu đảo bạch
月苦風淒砧杵悲 Nguyệt khổ phong thê châm xử bi
八月九月正長夜 Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ
千聲萬聲無了時 Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì
應到天明頭盡白 Ưng đáo thiên minh đầu tận bạch
一聲添得一莖絲 Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty
Bài thơ thất ngôn cổ phong có đăng trong các sách:
Bạch Hương San Thi Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白香山诗集-唐-白居易
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏长庆集-唐-白居易
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
Giải nghĩa chữ khó:
Thùy gia: ở đâu, nhà ai
Châm: thớt cắt thực phẩm, phiến đá giặt áo quần, nhiều tự điển Hán Việt dịch là chày đá để đập áo quần/vải vóc.
Tư phụ: Người vợ nhớ chồng, ở đây chỉ người chinh phụ có chồng đi lính, trấn thủ nơi biên ải xa xôi.
Thu đảo bạch: Thu là mùa thu; Đảo là đập, giã; Bạch là lụa trắng. Thu đảo bạch là đập lụa, đập vải vào mùa thu để chuẩn bị may áo rét gửi ra tiền tuyến.
Nguyệt khổ phong thê: Ánh mặt trăng bộc lộ sự đau khổ, gió lạnh buốt thê lương. Đây là phương pháp tả cảnh ngụ tình, gán cảm xúc đau thương của con người vào thiên nhiên.
Châm xử: Cái phiến đá và cái chày gỗ. Tiếng "châm xử" là tiếng chày nện vào phiến đá. Thời xưa, phụ nữ giặt vải hoặc đập vải để may áo rét cho chồng đi lính xa thường dùng một khúc gỗ (Xử - chày) đập lên phiến đá (Châm).
Trường dạ: Đêm dài. Tháng 8, tháng 9 âm lịch là lúc trời chuyển sang thu đông, đêm mỗi lúc một dài hơn.
Vô liễu thì: Không có lúc nào dứt, không bao giờ nguôi, kéo dài vô tận.
Đầu tận bạch: Đầu tóc bạc trắng hết.
Nhất hành ty: Một sợi tơ bạc, ở đây ám chỉ một sợi tóc bạc.
Dịch nghĩa:
Văn Dạ Châm Nghe Tiếng Chày Giặt Ban Đêm
Thùy gia tư phụ thu đảo bạch
Nhà ai có người vợ nhớ chồng đang giặt lụa trong đêm thu,
Nguyệt khổ phong thê châm xử bi
Trăng não nề, gió lạnh lùng, tiếng chày sầu thảm.
Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ
Tháng tám tháng chín đúng lúc đêm dài,
Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì
Ngàn vạn tiếng chày nối nhau không lúc nào ngừng.
Ưng đáo thiên minh đầu tận bạch
Có lẽ đến sáng sớm thì đầu tóc người phụ nữ ấy đã bạc hết,
Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty
Vì cứ mỗi tiếng chày nện xuống thì thêm một sợi tóc bạc (thành tơ trắng).
Hoàn cảnh sáng tác:
Nước Trung Hoa ngày xưa từ thời Hán đến Đường, chiến tranh biên giới triền miên. Cứ đến mùa thu thời nhà nào, đàn bà cũng giặt vải lụa để may áo lạnh hoặc giặt quần áo lạnh để kịp gởi cho chồng con ngoài chiến trường kịp mùa đông. Vì thế trong thơ văn, người ta hay nói về tiếng chày đập giặt áo báo hiệu mùa thu. Tiếng chày đêm thu vốn là điển cố trong văn học Trung Hoa: âm thanh buồn, gợi nhớ quê nhà, gợi cảnh phòng khuê cô quạnh, nỗi sầu ly biệt. Bạch Cư Dị sáng tác bài này khi đang tuổi trung niên, trong giai đoạn ưu thời mẫn thế, một người có tấm lòng với đất nước và xã hội, nhìn thấy những rối ren, khổ đau của thời đại mà sinh lòng trăn trở. Thơ của ông thường dùng cảnh vật đời thường để gợi nỗi thương cảm đối với dân chúng, đặc biệt là tầng lớp phụ nữ lao động.
Tiếng chày trong thi ca:
Trong thi ca Trung Hoa (đặc biệt là thời Đường), tiếng chày đêm thu (dạ châm) thường gắn liền với những cuộc chiến tranh mở mang bờ cõi của vương triều ra vùng biên viễn xa xôi (Tây Vực, Nhạn Môn Quan, sông Hoàng Hà).
Đại diện cho cả một hậu phương đang hướng về tiền tuyến. Ví dụ trong bài Thu Hứng Kỳ 1 của Đỗ Phủ:
Hàn y xứ xứ thôi đao xích 寒夜處處催刀尺
Nơi nơi kéo thước giục giã may áo ấm,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm 白帝城高急暮砧
Vào chiều tối tiếng chày dồn dập trên thành Bạch Đế.
Thi ca Việt Nam cũng bị ảnh hưởng không ít với tiếng chày ước lệ của phương Bắc. Bài Thu Dạ Kỳ 2 秋夜 của Nguyễn Du có 2 câu thơ:
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ 早寒已覺無衣苦
Mới bắt đầu lạnh mà đã thấy khổ vì thiếu áo,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm 何處空閨催暮砧
Nơi đâu tiếng chày đập vải của người phòng không rộn bóng chiều.
Tuy nhiên tiếng chày giặt lụa không có chút bản sắc nào trong văn hóa Việt Nam. Một tiếng chày khác mới là đặc thù biệt lập của văn hóa và thi ca Việt Nam. Tiếng chày này đã kéo thi ca Việt Nam ra khỏi những khuôn mẫu ước lệ của phương Bắc để bén rễ sâu sắc vào lòng đất và đời sống tâm hồn thực tế của người Việt. Tiếng chày này đưa người đọc về thẳng với làng quê Việt Nam. Đó là không gian của đống rơm, giếng nước, sân đình, của những đêm trăng rằm thôn dã. Tiếng chày này là nhịp sống, là mồ hôi và là hơi thở của người nông dân Việt Nam. Nó vừa là không gian giao duyên, tình tứ của đôi lứa (trong ca dao).
Các câu ca dao:
Sáng trăng giã gạo ngoài trời / Cám bay phảng phất nhớ người đàng xa
Tới đây chẳng lẽ ngồi không / Cầm chày giã gạo cho đông tiếng hò
Tới đây cối gạo đã đầy / Trước là giã gạo, sau gầy lương duyên
Đến đây chắc các bạn đã biết tôi nói đến tiếng chày gì rồi. Và là người Việt Nam, ai cũng nhớ bài hát Gạo Trắng Trăng Thanh của Hoàng Thi Thơ:
“Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang…”
Gạo Trắng Trăng Thanh | ca sỹ Trung Hậu | Music Video
Dịch thơ:
Thể thất ngôn:
Tiếng Chày Giặt Lụa Ban Đêm
Nhà nhà giặt lụa suốt đêm thâu,
Gió lạnh trăng lu chày thảm sầu.
Đêm dài đằng đẳng tháng tám chín,
Trăm ngàn vạn tiếng có ngưng đâu!
Đến sáng rồi đây tóc bạc hết,
Mỗi tiếng mỗi thêm trắng trên đầu.
Hearing the Washing Bat at Night by Bai Ju Yi
From whose house does the lonely wife beat silk in the autumn night?
The moon looks bitter, the wind pierces cold, and the sound of the pestle is full of grief.
In the eighth and ninth months, the nights grow endlessly long,
Thousands, tens of thousands of thumping sounds echo without pause.
By the time dawn breaks, her hair must have turned completely white,
For every single strike of the pestle adds yet another strand of silver hair.
Poetic Translation:
Whose yearning wife is pounding silk this autumn night?
Under a bitter moon and bleak wind, the anvil cries in plight.
Through August and September, the nights stretch long and cold,
Ten thousand thumping sounds echo, unceasing and untold.
By the time the morning breaks, her hair must be entirely white,
For every single strike adds another silver strand to her sight.
Commentary:
Symphony of Sorrow: In classical East Asian poetry, the sound of beating clothes on a stone slab in autumn is a haunting metaphor for a soldier's wife. She prepares warm garments for her husband stationed at the freezing northern frontiers. The poem captures a poignant moment where nature and human emotion intertwine perfectly. By personifying the moon as "bitter" (khổ) and the wind as "bleak" (thê), Bai Juyi sets a mournful stage. The traditional act of ”pounding silk” (đảo bạch) was an autumn chore for wives preparing winter clothes for their conscripted husbands at the frontiers. Here, the auditory imagery of the pestle hitting the anvil becomes the very voice of the woman's aching heart.
Weight of Time and Solitude: In lines 3 and 4, the transition into the deep autumn months of August and September and the infinite repetition of the beating sound (thousands, tens of thousands of times) skillfully stretches the passage and perception of time. The autumn nights are physically long, but they are emotionally eternal for the lady. The continuous, unceasing thumping sound represents her endless anxiety—wondering if her husband is safe, shivering in the cold, or dead on the battlefield. Bai Ju Yi masterfully transforms an auditory experience into a visual, psychological tragedy.
Hyperbole of Aging: The climax of the poem, lying in the final couplet, is a masterpiece of Tang Dynasty poetic exaggeration. Bai Juyi links the physical action to its psychological toll: "Each strike adds another strand of silver hair." This cause-and-effect relationship between a sound and the physical manifestation of grief creates a striking visual of a woman aging an entire lifetime in a single night. Through this, the poem subtly yet powerfully delivers a humanitarian, anti-war message, highlighting the domestic collateral damage of imperial expansion.
Phí Minh Tâm
***
***
Góp ý:
聞夜砧 Văn dạ châm
聞夜砧 Văn dạ châm
Đảo luyện đồ
Văn dạ châm nghĩa là nghe tiếng nện lụa ban đêm. 砧=châm thường được người Việt dịch thành chày đá nhưng dịch như thế vô lý vì tại sao lại dùng một cái chày bằng đá để nện hay đập lụa (搗帛=đảo bạch)? 砧 viết với bộ thạch 石 và không có nghĩa là cái chày mà là hòn đá làm nền để đặt xấp lụa lên trên trong việc đảo bạch. Nếu ta thắc mắc và muốn tìm hiểu các từ kép "đảo bạch" và "dạ châm" trên internet thì thường được AI đưa đến các trang nói rằng phụ nữ Hoa Lục ngày xưa đập lụa ban đêm mùa thu để sửa soạn áo lạnh cho chinh phu; hình như đa số các bài thơ với các từ kép/điển cố đó đều hàm ý vợ nhớ chồng, và giải thích rằng lụa cần phải nện hay đập để loại bỏ các chất dơ và hóa chất hữu cơ sericin tan trong nước. Nhưng nếu chỉ cần loại bỏ các chất dơ và sericin thì chỉ việc ngâm và rũ trong nước cũng đủ, tại sao lại phải nện/đập cho hư lụa? Và tại sao lụa (帛=bạch) lại được dùng để làm quần áo ấm trong khi ta nghĩ tới các khía cạnh mỏng, nhẹ và mát của lụa?
Có thật dạ châm/đảo bạch chỉ hàm các nghĩa đó? Sử liệu cho biết lụa đã được chế biến từ trước thời Chiến quốc và các từ ngữ liên hệ tới lụa đã hiện diện trong các bài ca dao trong Kinh Thi. Nhưng người ni tìm không ra tài liệu cổ nào nói đến việc đập lụa và chỉ có thể đoán rằng chuyện đâp lụa chỉ trở thành quan trọng để thi nhân biết và nói đến từ sau thời Hiếu Văn Đế của Bắc Ngụy (485) khi việc dùng lụa làm thuế - và việc dùng lụa làm của hối lộ tiến chức - được chính thức thành lập. Kỹ nghệ dệt lụa và chuyện người bình dân cũng có thể mặc lụa bắt đầu phát triển từ đó.
Trong trang 捣练图》Đảo Luyện Đồ này, đảo luyện là môt từ kép khác để chỉ việc nện/đâp lụa. Lụa cần phải nện vì có hai thứ lụa: a) lụa thô (sinh y) dùng may quần áo trong mùa nóng vì mỏng và nhẹ; và b) lụa đã luyện (熟衣=thục y) dày hơn để may quần áo mùa lạnh. Theo trang Đảo Luyện Đồ đó, người ta tạo luyện lụa/bạch bằng cách xoa bột (ngũ cốc) trên hai mặt lụa, ngâm nước một thời gian, tiếp tục xoa thật kỹ hai mặt, xếp lụa lại thành nhiều lớp rồi đặt tấm lụa đó lên trên một mặt đá (砧=châm), rồi dùng một cái chày dài (长杵=trường xứ, và ta có thể để ý rằng 杵 (chày) viết với bộ mộc nên chày đá trong các bản dịch tiếng Việt là dịch ... tào lao) để nện lụa. Đây là một công việc nặng nhọc, lâu dài không tiện làm ban ngày nên phụ nữ trong gia đình họp với phụ nữ lối xóm để làm việc đảo luyện này ban đêm trong mùa thu, có lẽ sau khi việc đồng áng, gặt hái đã chấm dứt.
Và cái ý nghĩa rằng việc dạ châm phản ảnh tâm sự nhớ chồng có lẽ chỉ nằm trong óc tưởng tượng của thi nhân. Bạch Cư Dị làm bài thơ 寄 生衣与微, 因题封上 (Ký sinh y dữ Vi Chi, nhân đề phong thượng) để kể chuyện gửi đồ mặc mát (sinh y) cho bạn Vi Chi (Nguyên Chẩn), rồi viết trong bài 感秋咏意 (Cảm Thu Vịnh Ý) hai câu:
炎涼遷次速如飛 viêm lương thiên thứ tốc như phi
又脫生衣著熟衣 hựu thoát sinh y trứ thục y
Với nghĩa đại khái là vì nóng lạnh thay đổi nhanh như bay, nên (ta) thay y phục thô với thứ đã tao luyện.
Huỳnh Kim Giám

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét