Thứ Ba, 13 tháng 12, 2022

Chuyện Thơ Cũ Và Thơ Mới


Khoảng thế kỷ 19 trở về trước, ở nước ta có hai dòng thơ, thứ nhất là của Ta đó là dạng thơ truyền khẩu Ca Dao, thứ hai là của Tàu gồm dạng thơ Cổ Phong, thơ Đường Luật ...

Vào thập niên 30 của thế kỷ 20, nhà thơ Phan Khôi nổ phát súng mở đầu cho dòng Thơ Mới với bài Tình Già. Thế là một làn sóng mới với nhiều nhà thơ, như Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Huy Thông, Nguyễn Vỹ...
Từ đó trở đi, hai trường phái Cũ và Mới đã đối chọi nhau kịch liệt trên các diễn đàn thi ca, cũng như trên mặt báo chí.

Vũ Đình Liên qua bài Ông Đồ, ngụ ý Thơ Cũ đã hết thời. Tản Đà với bài Tống Biệt cho rằng Thơ Mới cũng chỉ là Thơ Cũ mang tên khác mà thôi.
Sau khi chiếm ưu thế, các nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới đã mạnh dạn tuyên bố Thơ Mới đã làm nên một cuộc cách mạng văn chương và Thơ Cũ đã cáo chung.

Ai đúng ai sai? Hãy cùng tìm hiểu thực tế qua những bài thơ của 2 trường phái.

Để dễ dàng nhận xét, chúng ta thử tìm hiểu về hình thức của Thơ Cũ và Thơ Mới, có tương quan gì với nhau chăng.

1/ Số Câu và Số Chữ Trong Bài Thơ

Ở Thơ Mới, số chữ cũng như số câu không giới hạn. Còn Thơ Cũ, ngoại trừ thơ Đường Luật ra, các thể loại Thơ Cũ khác, có số chữ số câu không bắt buộc theo quy định khắc khe nào, kể cả Thơ Lục Bát.

Thí dụ:

Sơn Bình Kẻ Gốm không xa
Cách một cái quán với ba quãng đồng
Bên dưới có sông
Bên trên có chợ
Ta lấy mình làm vợ nên chăng
Tre già để gốc cho măng.

                            (Ca Dao)

2/ Cách gieo Vần

a- Gieo Vần Cách Câu

- Thơ Mới:

Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ta
Khối sầu như tóc bạc
Cứ cắt lại dài ra
.
                 (Hớt Tóc -Phan Khôi)

- Thơ Cũ:

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du
Ðộc sảng nhiên nhi thế .

            (Đăng U Châu Đài Ca - Trần Tử Ngang)

b- Gieo Vần 3 Câu

- Thơ Mới:


Mơ rồi! Mơ rồi! Ta mơ rồi!
Xạc xào chỉ có lá vàng rơi
Quanh mình bóng tối mênh mang cả
Thấp thoáng đôi hồi lửa đóm soi
                    (Trích Mơ Trăng Chế Lan Viên)

- Thơ Cũ:

Bố mẹ sinh ra vốn áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Chép miệng năm ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời.

                         (Con Cóc - Lê Thánh Tôn)

c- Gieo Vần Kề

-Thơ Mới:
...
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô. 

 (Tiếng Thu - Lưu Trọng Lư)

- Thơ Cũ:

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè đánh bạc
Đầu hôm xao xác
Bạc tốt như tiên
Đêm khuya không tiền
...

                           (Ca Dao)

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân há mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Tuý bất thành hoan thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt.
...

                           (Tỳ Bà Hành - Bạch Cư Dị)

d- Gieo Vần Giữa Câu:

- Thơ Mới:

Ta tìm ai đã bao năm đăng đẳng
Mà bao năm vẫn vắng bóng say sưa

...
               (Tìm Lý Tưởng - Huy Thông)

-Thơ Cũ:
                          Rượu Phù Li chuốc để hai hàng
           Phụ mẫu anh uống trước phụ mẫu nàng uống sau.

                                                                 Ca Dao

Thơ Mới phóng khoáng, được gọi là Mới, nhưng có rất nhiều bài sử dụng thơ 5 hoặc 7 chữ, giống như những bài thơ Tứ Tuyệt Đường Luật ghép lại nhau:

    Thí dụ:
Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh
Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần.
Đàn buồn đàn lặng ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng trời trong đêm thuỷ tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

                (trích Nguyệt Cầm của Xuân Diệu)

Qua một vài thí dụ trên, chúng ta nhận thấy Thơ Mới chưa hẳn là mới, dường như chỉ là ngoài mới trong cũ.

Theo Học giả Nhà giáo Lê Văn Hòe, thơ của thi sĩ Tây phương thường sử dụng hàng tá câu chữ, chỉ để nói lên một đôi ý mà thôi. Trái ngược hoàn toàn với thi sĩ Tàu và Ta, dùng lời ít vẫn nói lên nhiều ý.

Thí dụ bài thơ L'isolement của thi hào Lamartine, phải sử dụng tất cả 52 câu thơ gồm mấy trăm chữ, chỉ để nói Vũ trụ vắng ngắt vì tâm trạng vắng người yêu. Trong khi Thi hào Nguyễn Du chỉ dùng 6 chữ đủ nói lên cả không gian, thời gian và quang cảnh:
                     Lặng khuya ngất tạnh mù khơi
hay chỉ với 14 chữ đã tả được toàn bộ cảnh quan như một bức tranh sơn thủy:
                        Long lanh đáy nước in trời
            Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng


Đôi lúc, khi đọc một bài Thơ Mới, chúng ta phải đọc liền một mạch. Nếu đọc riêng từng câu, câu thơ sẽ không có nghĩa (ngoại trừ những bài thơ làm theo lối Thơ Cũ). Trong khi Thơ Cũ mỗi câu đã tròn nghĩa ý. Đây là sự khiếm khuyết và khác biệt của Thơ Mới với Thơ Cũ.

- Thí dụ Thơ Mới:

...
Ta muốn nâng
Tấm khăn hồng lau mắt lệ cho ai.
Vì ta sợ má đào kia phai,
Cũng như ta đã ca
Khuyên ngày vui trở lại
Cùng với ánh quanh minh còn mãi.
Cho người vui cảnh quên già.

           (trích Tiếng Trúc Tuyệt vời của Thế Lữ)
...
Em đã vô tình đâm phải mũi
Kim vào tay trái rật mình đau
...

       (trích trong tập thơ Tình Em của Nguyễn Nhuệ Thủy)...

- Thí dụ Thơ Cũ
...
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.

            (trích Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan)
...
Khăng khít thớt em nương thớt chị
Vững vàng hòn cháu đỡ hòn ông....

           (trích Chơi Hòn Chồng của Quách Tấn)

Qua vài thí dụ trên, chúng ta nhận thấy Thơ Mới lời nhiều ý ít . Thơ Cũ thì ngược lại. lời ít ý nhiều. Có lẽ chính vì điều này mà giới hâm mộ Thơ Mới cho rằng Thơ Cũ quá khó hiểu. Còn giới Thơ Cũ thì nói Thơ mới thiếu sâu sắc.

Tóm lại, khi các Nhà Thơ Mới tuyên bố Thơ Cũ đã đi vào dĩ vãng, thế hệ xưa không còn, giờ chỉ có Thơ Mới và thế hệ mới mà thôi, với sự khẳng định của Vũ Đình Liên:

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?


Chuyện các Nhà Thơ Mới chê bai Thơ Cũ, đồng thời tuyên bố chiến thắng trên các diễn đàn lúc bấy giờ, có quá cường điệu chăng? Trong khi chúng ta vẫn thấy đâu đó bóng dáng của Thơ Cũ ẩn bên trong Thơ Mới.
Thời gian đã giải đáp cho chúng ta. Không thơ nào chiến thắng hay chiến bại cả.
Ngày nay người làm thơ không còn quan trọng hóa chuyện Thơ Mới hay Thơ Cũ. Các Nhà Thơ sáng tác tùy theo hứng thú, tùy theo sở thích mà thôi.

Huỳnh Hữu Đức

Theo:
- Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến của Nguyễn Tấn Long & Nguyễn Hữu Trọng
- Việt Nam Văn Học của Dương Quảng Hàm
- Thi Thoại của Văn Hạc

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2022

Nét Môi Xưa - Sáng Tác Nguyễn Thanh Cảnh - Ca Sĩ Hà Thanh


Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh 
Ca Sĩ: Hà Thanh

Tôi Trở Về Đây

 

Tôi trở về đây, thăm phố xưa
Một thời mơ mộng kể sao vừa
Có con trăng nhỏ trên cành lá
Soi sáng con đường, gió thổi đưa

Tôi trở về đây, bước vẩn vơ
Lượm từng con chữ những ngày thơ
Trải dài theo ngõ thân thương cũ
Để gởi về EM một chút mơ

Tôi trở về đây, nhặt nụ cười
Ngày xưa EM dấu khắp nơi nơi
Nâng niu đếm lại từng si dại
Dõi bước chân quen tựa đón mời

Tôi trở về đây, kẻ tội đồ
Nợ EM ngày tháng lạnh môi khô
Hương Xuân chớm lạnh lòng hoài vọng
Kỷ niệm tuổi hồng luôn điểm tô

Hoàng Dũng

Một Chiều Mưa



(Ảnh : Tác giả)

Anh không thể không nói lời cảm ơn em
Vì anh luôn nhớ kẻ trồng cây khi ăn trái
Anh không thể không nói lời cảm ơn em
Vì chính em đã giúp anh hiểu thế nào là sự sống
Em đến thăm anh một chiều mưa

Không quên hôn xuống nỗi cô đơn anh một thời lận đận
Nếu còn nước mắt chắc anh đã khóc
Nhưng than ôi, nước mắt đã không còn

Khi em về trời vẫn còn mưa
Hay trời khóc giùm anh, cảm ơn em, nụ hôn dịu ngọt
Nụ hôn em hay lượng trời ban xuống
Mà trong anh cuộc phục sinh rất đỗi ngoan cường

Em đi rồi, anh ngồi lại một mình
Ngồi lại. Một mình, anh thấy đời lạ hoắc
Em đi rồi, anh ngồi lại một mình
Ngồi lại. Một mình, anh thấy đời đổi khác

Anh không thể không nói lời cảm ơn em
Người tình muộn cuối đời anh phải sống
Anh phải nói lời cảm ơn em
Người tình dấu yêu cuối đời anh phải chết.

Lê Mai Lĩnh
 

Đông Về Tuyết Lạnh Bay Qua

 

Đông về tuyết lạnh bay qua
Sương Lam song cửa nhìn ra bên ngoài
Lòng trần cõi mộng thiên thai
Tuyết rơi .. rơi mãi cuộc đời hư không..!!??
Tĩnh tâm an tọa trong lòng
Thinh không Tuyết trắng còn trong suong mờ
Đời Người mấy cõi ai đưa
Thiền nhàn là một giấc mơ tuyệt vời …
Làm sao tranh đoạt cơ trời
Làm sao thoát khỏi cuộc đời khổ đau
Lám sao bỏ mộng sang giàu
Cho tâm Tỉnh thức biết đâu là bờ
Cho lòng thanh thản như mơ..?!!
Bên ngoài song cửa bốn mùa qua mau..??!


Khỉ già Dalat

Tình Đến Tình Đi

 

Thuở mới yêu sao quá dại khờ
Ngỡ là vĩnh cửu đẹp như thơ
Sẽ trăm năm kết tơ se tóc
Rồi một đời xây mộng dệt mơ
Bỗng tự dưng lòng dần tẻ nhạt
Và vô cớ dạ lại ơ hờ
Chia tay không một lời từ biệt
Tình đến tình đi thật bất ngờ


Nhất Hùng

Hãy Cho Ta Về Thăm



Ta muốn về thăm sương buổi mới
Lóng lánh trên sườn núi Sapa
Thăm giòng sông uốn trên biên giới
Lịch sử từ đâu bỗng khóc òa

Ta muốn thăm ngọn sóng Hồng Hà
Những chiếc cọc rêu thế kỷ xưa
Cửa đền Hưng Đạo giờ xa lạ
Người đi vội vã dưới cơn mưa.

Ta muốn đi thăm Hà Nội cổ
Tìm ai áo lụa, dáng kiêu sa
Hồ sen trúc bạch buồn vạn thuở
Phố cũ, bàn chân rất thật thà.

Về Huế, ta thăm lăng tẩm cũ
Những tấm bia hằn sâu vết dao
Nhìn qua Thiên Mụ hàng me rủ
Tưởng như ngựa hí rộn năm nào.

Ta muốn hỏi thăm Cửu Long giang
Có còn cô lái bán chôm chôm?
Xứ dừa hát Bộ còn sang sảng?
Áo bà ba nhuộm ráng chiều hôm

Ta muốn về thăm em Saigon
Ngõ hẹp, tiếng rao nhức tim đêm
Thăm chợ bán buôn hàng quà mọn
Đền đài, miếu, chợ, rất thân quen

Ta muốn về thăm quê yêu dấu
Nghe sáo diều bay tuốt ngọn tre
Võng đưa, tay Mẹ, thời thơ ấu
Trời hỡi! Quê ơi! Chỉ muốn về….

Chu Tất Tiến


Người Vợ Thuỷ Chung

 

Nói về sự thuỷ chung trong hôn nhân, bài này xin chú trọng về chủ đề "Người vợ thuỷ chung", như nhà thơ Thái Tú Hạp đề nghị tôi viết. Xét về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng nhìn từ những góc nhìn luân lý xã hội và pháp lý thì vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững là điều được khuyến khích, đề cao. Trong văn hoá Việt, chung thuỷ là vẫn một lòng trước sau như một, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi. Như vậy, khái niệm chung thuỷ là khái niệm rộng. Trong tương quan vợ chồng thì chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những quan niệm về sự chung thuỷ của vợ chồng cũng có sự khác nhau cơ bản. Trong thời kỳ nguyên thuỷ của xã hội loài người khi con người vừa thoát thai từ loài vật. Dần dần con người tiến bộ, Ý niệm về tương quan hôn nhân và gia đình được đặt thành luật lệ.

Suy ngẫm chuyện đời thì duyên nợ và định mệnh đều có trong hôn nhân. Bởi vì người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên tương diện bất tương phùng”. Chính vì vậy nên mọi sự đến và đi trong cuộc đời đều là duyên phận, chúng ta không cần phải cưỡng lại đâu. Tình yêu quả thật kỳ diệu. Sống ở đời này, dù chúng ta ý thức được rằng, khi yêu là đầy khổ đau. Nhưng hầu hết người ta lại muốn yêu một lần cho biết nó ra sao chứ. Yêu là duyên, vượt duyên đến nợ, an nhiên với định mệnh ấy thôi. Phật dạy: "Là duyên, có xa cách mấy cũng gặp lại, là nợ, có trốn tránh cũng chẳng thể thoát ra" . Cũng nói theo đạo Phật, vợ chồng là do duyên số, có nghiệp, có nợ với nhau, chứ không phải khi không mà lấy nhau được. Phần lớn là do duyên số quyết định. Tuy nhiên, nếu chỉ đổ thừa cho duyên số thì không thực tế . Chúng ta phải chọn lựa, mà trong sự chọn lựa của chúng ta có nghiệp, có nhân quả chi phối bên trong.

Trong tác phẩm Phận Đàn Bà, nhà văn Nguyễn Quang cho rằng: "Hai chữ định mệnh thường được dùng để khỏi phải tìm hiểu những gì xảy ra như đã được an bài mà con người không sao giải thích được, cho nên phải chấp nhận đó là định mệnh! Tất cả những gì xảy ra, có lớp lang trong cuộc đời của mỗi cá nhân của chúng ta, là những chuyện vui buồn, bất hạnh đều có thể xảy ra, không thiên vị bất cứ một ai, vì nó là định mệnh! Trong định mệnh có cả duyên số, không đơn thuần như người ta thường nghĩ". Thật sự theo khoa tử vi số mệnh, hôn nhân là định mệnh đấy. Bởi vì 2 người có "duyên số", hay "hợp số" mới có thể lấy nhau được. Hợp số chính là cùng có Số tương đồng nhau về cung Phu thê, tương đồng về vận hạn, 2 người có cùng năm kết hôn, cùng năm có con, cùng những biến cố giống nhau trong hôn nhân, những sự kiện người chồng có thể xem trên Số người vợ và ngược lại. Vợ chồng có phương vị kết hôn trên Tứ Trụ hợp nhau. Hôn nhân và số mệnh luôn tiềm tàng trong đời sống chúng ta, thật như vậy.


Vợ chồng thủy chung, sống với nhau tình nghĩa, chia chung trọn vẹn trách nhiệm Tình yêu hôn nhân là yếu tố quan trọng bậc nhất trong sự hình thành và phát triển bền vững của gia đình. Đây là vấn đề cốt lõi nhu cầu tình cảm tinh thần của đời sống vợ chồng nó chi phối mọi thành viên trong gia đình và tác động trực tiếp tới việc chăm sóc người già, nuôi dạy con nhỏ. Nghĩa vợ chồng gắn bó với lòng nhân ái, nhân hậu tự nhiên của con người khiến đôi vợ chồng gắn bó với nhau suốt đời, dù khi tình yêu bồng bột của tuổi trẻ không còn, nghĩa vợ chồng giúp họ vượt qua những mâu thuẫn, bi kịch rất khó tránh khỏi trong cuộc sống nhiều năm của một gia đình. Hạnh phúc gia đình phụ thuộc vào mối quan hệ tình cảm giữa đôi vợ chồng, cùng với sự đòi hỏi của họ về tự do cá nhân, về hạnh phúc cá nhân và sự riêng tư trong đó tình yêu là tình nghĩa là yếu tố cơ bản nhất.

Tôi nhớ trong "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ, Vũ Nương là người vợ thủy chung, người mẹ hiền và nàng dâu hiếu thảo. Câu truyện cảm động ở thế kỷ thứ 15.

Những ngày xa xưa trong xã hội khép kín phong kiến đã khắc nghiệt đưa đẩy bao số phận, bao con người, bao gia đình vào hoàn cảnh éo le, đau thương, bi đát. Nội dung sách Nguyễn Dữ đã viết về họ, đặc biệt là người phụ nữ với tấm lòng son sắt hết ,mực yêu thương và sự cảm thông tận tuỵ, hy sinh cho gia đình.

Đọc "Chuyện người con gái Nam Xương" ta thấy tác giả tả chân hình ảnh thân phận bị chà đạp của người phụ nữ thời phong kiến. Vũ Nương chính là nhân vật chính của câu chuyện, nàng nổi bật với những nét phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam đảm đang, tháo vát, chung thủy và khát khao hạnh phúc gia đình. Nhưng cái xã hội nam quyền khắt khe đã đẩy cuộc đời nàng đến cảnh trái ngang, oan khiên u uất, đầy bất hạnh. Nàng là người vợ thủy chung, người mẹ hiền và nàng dâu hiếu thảo. Thật vậy, khi Trương Sinh đi lính chỉ để lại Vũ Nương bụng mang dạ chửa với người mẹ già, Vũ Nương đã luôn chăm sóc mẹ chồng chu đáo khiến bà cũng phải cảm động. Khi mẹ chồng chết, Vũ Nương cũng lo ma chay cho bà cũng như lo cho chính chính cha mẹ mình vậy. Không những là một người con hiếu thảo, Vũ Nương còn là một người mẹ hết mực yêu thương con. Vì không muốn bé Đản nghĩ mình không có cha mà Vũ Nương đã nghĩ cách chỉ trỏ bóng mình trên vách tường và nói đó là cha của bé Đản. Ta thấy Vũ Nương là một người mẹ yêu thương con vô hạn. Và nổi bật trong văn bản ta thấy Vũ Nương là một người vợ hết mực yêu thương chồng. Khi Trương sinh đi lính, nàng chẳng mong chàng áo gấm trở về mà chỉ muốn chồng được bình yên nơi chiến trường. Nàng lo lắng cho Trương Sinh ở nơi biên ải chịu khó khăn vất vả không có người nương tựa. Khi bị Trương Sinh nghi oan nàng có nhân tình cũng chỉ hết mực giải thích để níu kéo giữ hạnh phúc gia đình. Đến khi chết đi rồi, Vũ Nương cũng chẳng một lời trách móc, oán than Trương Sinh mà còn muốn về gặp chàng lần cuối. Qua tác phẩm này, Nguyễn Dữ đã vẽ ra trước mắt chúng ta là một người phụ nữ tài đức vẹn toàn.

Gương vợ chồng thủy chung khác là người vợ Ukraine trải qua 20 năm ở Việt Nam chăm nuôi chồng đột quỵ, khi chồng về nước được một năm thì bị chứng tai biến mạch máu não, bị liệt toàn thân, Svetlana bán hết nhà cửa ở Kiev và bay sang Việt Nam, một mình xoay xở đủ cách chăm sóc chồng và nuôi con tại Hà Nội.

Cuộc sống vất vả tại miền đất xa lạ chăm sóc chồng với bao những thử thách cuộc đời, muôn trùng khó khăn không buông tha người phụ nữ Ukraine. Hai mươi năm trôi qua, ông Thắng đã có hàng chục lần nhập viện, vài lần thập tử nhất sinh và 4 lần bị đột quỵ, hai lần liệt toàn thân nhưng sau tập luyện lại đi đứng được. Vào tháng 2 năm 2021, ông bị suy tim, tụ máu não, chuẩn bị phẫu thuật lại bị tai biến ngay tại viện. Dịch Covid-19 bùng phát tại Hà Nội cuối tháng 4, người nhà không được vào phòng bệnh chăm sóc. Nằm liệt nhiều ngày, ông bị viêm loét lưng, tiếp tục phải chuyển viện để chữa vết thương trước khi ca mổ chính diễn ra. Người phụ nữ Ukraine luôn luôn hy vọng sẽ có ngày chồng khỏe mạnh lại, hai người cùng quay lại thăm thành phố Kiev là nơi nhiều năm trước họ đã gặp và yêu nhau.

Gương phụ nữ thủy chung qua chuyện tình Hàn Mặc Tử cùng Mai Đình:

Mai Đình là một hiện tượng lạ trong văn học và ở ngoài đời. Bà là người đi trước thời đại nhiều bước, là người nhất định không vâng theo khuôn phép ngàn xưa dành cho phụ nữ, đã bỏ nhà ra đi vì không muốn về nhà người chồng do cha mẹ chọn, ta sống vì tình yêu đích thực, khuôn mẫu của Françoise Sagan và Jean-Paul Sartre, con cái đặt đâu cha mẹ huề tiền.

Theo bài net của ông Tư Cao Lãnh, cũng may là bà có vốn liếng học hành và giỏi nữ công gia chánh nên bà có thể thân tự lập thân, không như những phụ nữ cùng thời phải đeo ba cái gông tòng phụ, tòng phu, tòng tử, mấy cái gông do một ông Nho gia vốn cổ xuý trọng nam khinh nữ sống từ hơn 26 thế kỷ trước bày ra, tròng lên cổ người đàn bà bắt buộc phải phục tòng đàn ông. Đức Phật, người sinh ra đồng thời, thì ngược lại, làm một cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu, không những giải phóng cho phụ nữ mà còn phá tan xiềng xích giai cấp xã hội của Ấn Độ thời bấy giờ. Với thuyết nhân quả luân hồi thì cho rằng mọi người sinh ra phải được bình đẳng là rất hợp lý. Con người ta sinh ra khác giới tính, giàu nghèo sang hèn khác nhau là vì nhân quả nhiều đời, trùng trùng duyên khởi duyên sinh. Vậy mà cái ông Nho gia giáo điều bị bác Trump cho dẹp tiệm, cổ hũ kia độc đoán cho rằng đàn bà sinh ra là để phục vụ đàn ông: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử!” nhưng mà nhà thơ Mai Đình của chúng ta đã tháo gỡ được gông cùm xiềng xích nô lệ này. Bà đã thoát ly được ba chữ tòng để tự làm chủ đời mình.

Ông anh Vương Trùng Dương biết bà nhà tôi gốc Bông Kiều, vốn gần nhà cụ Tra Lương Dung, tức Kim Dung Kiếm Hiệp. Vương Trùng Dương viết bài "Thủy Chung trong tác phẩm Kim Dung" như sau:
Đông, Tây, kim, cổ trong văn chương qua bao nhiêu tác phẩm đã đề cập và lưu lại những mối tình thủy chung của nhân loại. Ở đây, tôi đề cập khái quát đến tác phẩm hư cấu trong kiếm hiệp, điển hình với nhà văn Kim Dung với những mối tình ngang trái nhưng thủy chung với nhau khi trải qua bao nhiêu nghịch cảnh.

Những mối tình đó bước vào tình sử võ lâm, như Quách Tĩnh với Hoàng Dung, Dương Quá với Tiểu Long Nữ, Kiều Phong với A Châu, Trương Thiếu Sơn với Hân Tố Tố, Trương Vô Kỵ với Ân Tố Tố, Lệnh Hồ Xung với Nhậm Doanh Doanh, Trương Vô Kỵ với Triệu Minh (Triệu Mẫn)...

Trong tác phẩm Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Hiệp Lữ, hai nhân vật Quách Tĩnh và Hoàng Dung được xem như hai nhân vật chính giữa chính phái và tà giáo. Họ đã vượt qua bao nhiêu ngang trái để sống trọn vẹn với cuộc tình.

Trong Thần Điêu Hiệp Lữ, Dương Quá và sư phụ Tiểu Long Nữ trong Cổ Mộ. Dương Quá gọi Quách Tĩnh và Hoàng Dung là bá phụ và bá mẫu. Vượt qua lễ nghi, Dương Quá và Tiểu Long Nữ yêu nhau, thế nhưng trong lúc hiểu lầm, Tiểu Long Nữ rời Cổ Mộ phiêu bạt, Dương Quá đi tìm suốt 16 năm… Dương Quá đi đến đâu cũng có những cô nương yêu kiều theo đuổi nhưng chàng vẫn một mực chung tình với Tiểu Long Nữ. Đã cùng với Tiểu Long Nữ tạo nên một trong những mối tình đẹp nhất của thế giới võ hiệp.

Trong quyển Thiên Long Bát Bộ thì mối tình của Kiều Phong (gốc Khiết Đan) với A Châu (người Hán) tuy kết cuộc rất bi thảm nhưng nói lên lòng thủy chung của Kiều Phong với A Châu trong khi đó có nhiều bóng hồng trong chốn cao thủ võ lâm quyết tâm theo đuổi chàng.

Trong Ỷ Thiên Đồ Long ký (Cô Gái Đồ Long) Trương Thiếu Sơn của phái Võ Đang, trên bước đường giang hồ hành hiệp gặp Ân Tố Tố, con gái của giáo chủ Thiên Ưng Giáo… Với bao nhiêu tai họa ập đến nên Trương Thiếu Sơn phải nhận cái chết và Ân Tố Tố cùng quyên sinh theo chồng để được sống trọn kiếp với nhau ở bên kia thế giới.

Cũng trong tác phẩm nầy, Trương Vô Kỵ, con của Trương Thiếu Sơn vì nhận Tạ Tốn làm nghĩa phụ và tận tình bảo vệ thân phận nên bị cả hai bên chính tà quyết tâm truy đuổi. Trương Vô Kỵ có số đào hoa với những bóng hồng như Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu, Ân Ly sắc tài nổi tiếng quyết dành lấy trái tim, trong khi đó Triệu Mẫn (Triệu Minh) quận chúa của Mông Cổ bất chấp mọi hiểm nguy, mọi đối thủ lợi hại để cuối cùng cho chàng sống bên nhau “kẻ lông mày” cho nàng.

Trong tác phẩm của Kim Dung có rất nhiều mối tình ngang trái xảy ra giữa hắc bạch, giữa trung nguyên và sắc tộc khác trong chốn võ lâm nhưng tình yêu đã vượt qua mối thù truyền kiếp, hận thù hai mặt… chấp nhận sự hy sinh để chấp nhận cuộc tình.

Mỗi mùa xuân về khi đọc thơ yêu của ông anh Thái Tú Hạp tặng bà chị Ái Cầm, tôi thích quá xin "dựa hơi" bài tình thơ sau đây. Bởi vì hai vợ chồng chúng tôi đã có "Nhân Duyên Nghiệp Dĩ", và hai chúng tôi cũng có "Luân Hồi Có Nhau", y chang như hai thi sĩ Thái Tú Hạp và Ái Cầm,...

Luân Hồi Có Nhau
Tác giả: Thái Tú Hạp

ta về tịch mặc ngàn hoa
lá cao vút đẫm mây qua đỉnh trời
nhân gian dành trọn cuộc chơi
ta cùng em hát bên đồi xuân xưa
nhất quán rồi- mộng mai sau
tâm vô lượng mở - có nhau luân hồi
cảm ơn thơ, cảm ơn đời
trăm năm nhật nguyệt, đầy vơi nghĩa tình
(Hạt Bụi Nào Bay Qua)


Để kết thúc bài Người Vợ Thuỷ Chung, tôi xin gởi bà nhà Tăng Lệ Hoa, 唐樂和, Người Tình Trăm Năm của tôi.

Trẫm Vẫn Yêu Em...

Trẫm yêu em bằng tim tuổi hạc
Nặng nợ ân tình kiếp ba sinh
Mến chốn ta bà trẫm mãi yêu
Chung bước đường dài trẫm cùng em

Trẫm gọi tên em bằng sếp nhỏ
Soi bóng dặm trường có ai hơn?
Đếm bước thời gian dù chết rũ
Những nỗi u sầu ta với ta

Căng-xe Xì-trốc là chuyện nhỏ
Kiếp người hữu hạn sá chi đâu
Ôi sống lâu chi cho chật đất
Sống anh hùng cho đất phì nhiêu

Hỏi trăng cô liêu sầu vạn cổ
Mỏi mòn cánh hạc bay vẫn bay
Gõ con chữ nghĩa đêm khuya khoắt
Nhãn tròng mờ nhạt trẫm yêu em

Trẫm vẫn yêu em yêu muôn thuở
Tuổi tóc xanh sang màu lấp lánh
Cho mãi thời gian hồn lịm giấc

Trẫm vẫn yêu em trẫm yêu em!

Trần Việt Hải Los Angeles
Nov. 9th, 2021.

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2022

Hoài Thu - Thơ Nguyễn Thanh Triều - Thùy Msm Dương - Trình Bày Kim Phượng Canada & Kim Trúc


Thơ: Nguyễn Thanh Triều
Lời Cổ Nhạc: Thùy Msm Dương
Trình Bày: Kim Phượng Canada&Kim Trúc

Hoa Chim Thiên Đường


(Ảnh: Kim Oanh)

(Sao Khuê tặng Kim Oanh)

Như chim xoãi cánh bay
Về nơi xứ an hoà
Hoa Thiên Đường nở rộ
Trong góc vườn nhà ta
Nhìn hoa xoãi cánh ra
Con nhớ má nhớ ba
Vĩnh Long, quê xưa đó
Niềm vui nay chân hoà….


Sao Khuê
  


Thiết Tha

 

Tôi đi dưới ánh mặt trời
Hướng thơ ấm áp hướng đời thiết tha
Tôi còn bằng hữu bao la
Tình gần cũng trọn tình xa cũng đầy

Bước chân chiều gió mưa bay
Tôi ôm giọt nắng tháng ngày phù du
Trời cho mình nghiệp làm thơ
Tôi yêu tôi thuở tôi vừa lớn khôn

Vẫn gìn giữ trái tim son
Trăm năm chữ nghĩa vuông tròn trăm năm
Tuổi thơ rét mướt chỗ nằm
Nắng mưa gió bão nghe trần thế đau

Tôi đi quên chuyện bể dâu
Bước chân gần hết chiếc cầu nhân gian
Bao phen gió núi mưa ngàn
Buồn vui cũng đủ hân hoan cũng vừa

Tôi yêu người những vần thơ
Mềm như nhung lụa từng tờ giấy ngoan
Tấm lòng tôi một cung đàn
Gãy lên từng tiếng oà tan lối về

Tôi lòng tám hướng nhiêu khê
Giang san là những thơ đề gió bay
Tôi yêu người lối đi này
Xa xôi vẫn tháng năm đầy thiết tha.

07/31/2022
Hoa Văn

Thơ Ca Dã Tật

 

(Mến tặng các ACE VB)

Cái bệnh Đầu Đông nó quấy ta
Vô duyên vô cớ chẳng buông tha
Thời gian bóng ngựa qua song cửa
Tóc bạc pha sương đếm tuổi già
Ấy thế hồn thơ lai láng lắm
Dễ gì bồ chữ cạn đâu nha
Thu Đông Xuân Hạ nguồn thi hứng
Hạ bút tung vần đẩy tật ra

Dương Việt-Chỉnh

Hóa Thân - Mối Tình Đầu

 

Xướng:
Hóa Thân

Bỗng thấy mình dần hóa tuổi thơ
Mưa phai, nắng phũ đến từng giờ
Sách xưa biếng đọc, môi nhai chữ
Máy tính chăm nhìn, dạ đắm mơ
Bạn cũ lâu rồi không gặp gỡ
Thơ văn lần lữa bỏ ơ hờ
Ngoan đồng giữ trụ thành em bé
Phúc lớn may còn nương lão thơ...

Phúc lớn may còn nương lão thơ
Giờ đôi tri kỷ hết còn mơ
Môi hồng lão bá nay khô héo
Mắt lánh phụ nhân cũng đục mờ
Đôi lứa ngày nao rời cõi thế ,
Ta, mình ai trước dứt đường tơ?
Trăm năm bến hẹn dòng sông cũ
Gót nhẹ bâng khuâng dạ ngẩn ngơ!


Chung Văn

7/12/2022
***
Họa:

Mối Tình Đầu


Mối tình ngày ấy thật nên thơ
Khắc đậm trong tim đến tận giờ
Kỷ niệm đong đầy trong nỗi nhớ
Ảnh hình tràn ngập giữa niềm mơ
Ánh nhìn đắm đuối khôn quay tránh
Giọng nói trầm êm khó hững hờ
Choáng ngợp tâm hồn trong hạnh phúc
Rộn ràng hoa bướm ngập vườn thơ.

Rộn ràng hoa bướm ngập vườn thơ
Chìm đắm đôi lòng giữa mộng mơ
Ghế đá công viên chiều gió lộng
Quán tranh bến nước tối trăng mờ
Từng giây từng phút tim hòa nhịp
Mỗi chữ mỗi lời dạ kết tơ
Dù đã bao năm, khi nhớ lại
Tâm hồn chai sạn lại ngu ngơ...

Sông Thu

( 08/12/2022 )

Khách Trung Tác 客中作 - Lý Bạch


Hiếu khách là một trong những đức tính mà các thi hào Thời Đường thường ca ngợi. Rượu là món không thể thiếu trong việc thực hiện lòng hiếu khách, kế đến mới tới thịt, cá, sơn hào hải vị. Lý Bạch còn gài cả sầu tha hương vào lòng hiếu khách. Sầu tha hương lồng trong rượu Lan Lăng Uất Kim là linh hồn của con yêu tinh Khách Trung Tác dưới đây.

Nguyên tác Dịch âm

客中作 Khách Trung Tác

蘭陵美酒鬱金香 Lan Lăng mỹ tửu Uất Kim hương,
玉碗盛來琥珀光 Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang.
但使主人能醉客 Đãn sử chủ nhân năng tuý khách,
不知何處是他鄉 Bất tri hà xứ thị tha hương.

Lan Lăng: Tên đất ở phía đông huyện Dịch, tỉnh Sơn Đông, nơi nổi tiếng có rượu ngon.

Dịch nghĩa

Rượu ngon đất Lan Lăng thơm mùi hoa uất kim,
Đựng trong chén ngọc sáng màu hổ phách.
Nếu như chủ nhân biết làm cho khách say,
Thì còn biết nơi nào là tha hương.

Dịch thơ

Thơ Làm Nơi Đất Khách

Uất Kim rượu qúy đất Lan Lăng
Chén ngọc khoe màu hổ phách sang
Nếu thấy chủ nhân ham chuốc rượu
Khách không còn biết tới tha hương!

Lời bàn 

Bài thơ ngẫu hứng ca ngợi lòng hiếu khách của khổ chủ không quen biết. Tha hương mà được chủ nhân lạ mặt ân cần chuốc rượu cho say thì khách tha hương không còn cảm thấy mình tha hương nữa. Tuyệt cú mèo!

Con Cò
***
Các Bài Dịch Khác:

Làm Tại Quê Người.

Lan Lang rượu quý uất kim mời,
Chén ngọc nâu vàng óng ánh tươi.
Chủ khách ân cần say túy lúy,
Còn đâu nhớ tới cảnh quê người.

Mỹ Ngọc
Dec. 4/2022.
***
Thơ Làm Nơi Đất Khách

1- Đường luật:

Lan Lăng rượu quý nghệ thơm hương
Chén ngọc đong đầy rực ánh quang
Nếu chủ có tài mời khách sỉn
Chẳng nơi nào thể gọi tha hương!

2- Lục bát:

Lan lăng rượu quý nghệ hương
Hào quang chén ngọc mến thương rót đầy
Chủ nhân chiều khách đến say
Tha hương cũng nhận nơi này làm quê!

Lộc Bắc
***
Bài này thì có lẽ ai thích thơ Đường đều biết, nhưng BS lúc nào cũng thắc mắc, vì Uất Kim Hương là tên Việt Nam của hoa Tulipe, không có mùi thơm, nhờ anh Giám mò giùm mới hiểu, uất kim hương trong bài là mùi thơm của cây uất kim, tức là cây gừng. Thì ra Tàu uống rượu gừng.
Bài thơ ngắn, dễ hiểu: Lý là bợm rượu, lúc nào cũng nhậu, nên tới xứ nào, nếu được chủ nhân cho say khướt thì quên rằng mình đang tha hương..

Lan Lăng rượu quý ngát mùi hương,
Đựng trong chén ngọc tỏa hào quang,
Ví thử chủ nhân mời say khướt,
Xứ nào mà chẳng phải quê hương…

Bát Sách.
(Ngày 03 tháng 12 năm 2022)

***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

客中作-李白 Khách Trung Tác - Lý Bạch

蘭陵美酒鬱金香 Lan Lăng mỹ tửu uất kim hương
玉碗盛來琥珀光 Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang
但使主人能醉客 Đãn sử chủ nhân năng túy khách
不知何處是他鄉 Bất tri hà xử thị tha hương

Tùy mộc bản, có 3 cách viết chữ uyển/oản = chung, chén nhỏ 椀(Đường) 盌(Tống) 碗(Thanh).
Bài tứ tuyệt được khắc đăng trong các sách :

Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白
Lý Thái Bạch Tập Chú - Đường - Lý Bạch 李太白集注-唐-李白
Cổ Kim Thi San - Minh - Lý Phàn Long 古今詩刪-明-李攀龍
Văn Uyển Anh Hoa - Tống - Lý Phưởng 文苑英華-宋-李昉
Ngự Định Toàn Đường Thi Lục - Thanh - Từ Trác 御定全唐詩錄-清-徐倬
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi Chú:

Khách Trung Tác: còn có tựa là Khách Trung Hành
Lan Lăng: thị trấn nay thuộc huyện Thương Sơn, thành phố Lâm Nghi, tỉnh Sơn Đông
Mỹ tửu: rượu quý của Lan Lăng được cất với hương uất kim, vị ngọt
Uất kim: theo 鬱金 - 維基百科,自由的百科全書 (wikipedia.org) là một loại Nghệ (tên khoa học Curcuma aromatica) thuộc chi Curcuma trong họ gừng .
Hổ phách: nhựa tùng thông hóa đá, màu nâu vàng hoặc nâu đỏ trong suốt óng ánh, thường dùng làm nữ trang. Ở đây mô tả rượu màu đẹp như hổ phách.

Dịch Nghĩa:

Khách Trung Tác Làm Nơi Đất Khách

Lan Lăng mỹ tửu uất kim hương Lan Lăng sản xuất rượu thơm ngon cất từ hoa uất kim
Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang Trong chén ngọc, rượu ửng màu hổ phách vàng nâu lóng lánh *
Đãn sử chủ nhân năng túy khách Chỉ cần chủ nhà nhiệt tình đải rượu làm khách say
Bất tri hà xử thị tha hương Thì khách xa nhà, dù ở nơi nào, cũng không còn cảm thấy là xa quê hương.
*Đã có rượu quý, thơm ngon, lóng lánh màu hổ phách trong chén ngọc

Dịch Thơ:

Tha Hương

Lan Lăng rượu quý ngát hương hoa,
Chén ngọc long lanh hổ phách ngà.
Mời khách chân tình say túy lúy
Tha hương không nhớ cảnh xa nhà.

Written While Travelling by Li Bai

The good wine of Langling has a sweet smell it is brewed with a herb called Yujin.
In a jade bowl, this wine gives out a brilliant amber lustre.
If the host offers his guest this good wine and he got drunk,
Then the guest will feel at home wherever he is in a foreign land.

Notes:

Langling: a region now in Linyi City, Shandong Province
Yujin: tulip flower, special wine distilled fom tulip flower
Amber: petrified coniferous resin, translucent yellowish brown, used in jewelry.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

蘭陵-Lan Lăng. Lan Lăng là tên của nhiều huyện thời cổ, một huyện thời Đông Tấn ở Sơn Đông, một huyện thời Nam Tống ở Giang Tô, và một huyện thời Lương, Nam Triều ở An Huy. Bài thơ nói tâm sự của một người tha hương và có lẽ bị đi đày về vùng Tiêu Tương nên Lan Lăng này có lẽ ở Giang Tô.

鬱金香=uất kim hương. Tìm tên thảo mộc tiếng Hán hay Hán-Việt đôi khi gặp rắc rối vì cùng một cây có thể có nhiều tên khác nhau khi dùng làm dược thảo. Theo Phạm Hoàng Hộ thì uất kim là:

nghệ; tên cây là 薑黃=khương hoàng, gừng vàng trong tiếng Việt. Tên khoa học là Curcuma domestica hay C. longa. C.aromatica là nghệ hoang hay nghệ trắng. Theo nhận xét của tôi, rắc rối về tên thảo mộc và dược thảo này có thể xuất nguồn gốc từ khuynh hướng giữ bí mật nghề nghiệp và thầy lang đặt tên thuốc khác với tên cây cỏ để người ngoài, kể cả bệnh nhân lẫn đồng nghiệp khó mà học lén. Các trang Wikipedia tiếng Việt, Hán và Anh không nói đến chuyện dùng gừng để ủ rượu cho dù các loại rượu ngâm nghệ có bán trên thị trường.

Điều rắc rối thứ nhì về cái tên này là 鬱金香 cũng là tên của loài hoa tulip (Tulipa gesneriana)!
琥珀 =hổ phách không phải là gỗ mà là nhựa cây (樹脂=thụ chi) hóa thạch. Trang zn.Wikipedia bảo hổ phách đến từ nhựa của loài thông nhưng điều này không hẳn đúng và nên nói là nhựa của các loài cây hằng xanh kể cả sồi, khuynh diệp.

Đã có lần tôi nêu ý kiến rằng tâm hồn của một bài Đường thi đôi khi nằm ngay trong tựa đề và nếu không để ý đến nó, người đọc không thể hiểu được ý của bài thơ.

Theo tôi chữ 客=khách ở đây không phải là khách của câu 'đất khách, quê người' mà là khách đang dự một buổi tiệc rượu trong một dinh quan. Các từ Lan Lăng, uất kim hương, ngọc uyển, hổ phách làm người đọc liên tưởng đến những dạ tiệc ở chốn triều đình nhưng hai chữ 但使=đãn sử đầu câu ba cho ta thấy rằng Lý Bạch không nghĩ là chủ nhân thật sự, hay có khả năng, hiếu khách. Và vì thế khách ở giữa buổi tiệc không thể vui say để quên chuyện nhớ nhà quên đi thân phận lưu vong.

Bài thơ này không phải chỉ nói đến nỗi buồn tha hương mà còn cho ta biết cảm tưởng của thi nhân họ Lý về giới quan quyền và triều đình thời đó, những người mở dạ tiệc không phải vì hiếu khách mà chỉ để khoe tư thế cao sang của họ.

Huỳnh Kim Giám

Nam Kỳ Dễ Thương


Tôi và Hùng học chung lớp với nhau suốt thời cấp ba, nhà hai đứa cùng xóm cách nhau nửa cây số. Nhà Hùng mặt tiền phố chợ, má Hùng bán một xe chè đậu xanh đậu đỏ bánh lọt rất đông khách. Hùng có vẻ thích tôi lắm, ngược lại tôi cũng mến mộ Hùng là học sinh giỏi trong lớp, thỉnh thoảng Hùng đến nhà tôi chơi và mấy lần Hùng mời tôi:
– Bữa nào Bông đi chợ ghé quán chè nhà mình, chính tay mình sẽ làm cho Bông một ly chè đặc biệt bảo đảm ngon tuyệt vời.

Tôi đến và Hùng làm cho tôi ly chè đặc biệt ngon tuyệt vời đúng như Hùng nói, nhiều nước dừa, nhiều đậu xanh bánh lọt cái gì cũng nhiều và Hùng nhất định không tính tiền dù tôi đòi trả.
Mẹ tôi tinh ý lắm, một hôm mẹ ráo đầu răn đe tôi trước:
– Thằng Hùng là người Nam phải không? Nó và con hình như đang có cảm tình với nhau? Chỉ là tình bạn thôi nhé, yêu là mẹ cấm đấy.
Tôi ngạc nhiên và đùa đùa hỏi mẹ:
– Nhưng tại sao mẹ lại cấm con yêu Hùng vì Hùng là người miền Nam? Nếu Hùng là người miền Bắc, miền Trung con có được yêu không?
Mẹ bực mình gạt đi:
– Không yêu Bắc Trung Nam gì sất.
Tôi càng trêu mẹ:
– Vậy là con ế chồng muôn thuở luôn cho mẹ vừa lòng.

Mẹ nghiêm nét mặt chứ không đùa:
– Ý mẹ là con lo học hành đi, chuyện lấy chồng còn lâu nhưng mẹ dặn dò trước phòng xa, kẻo yêu rồi gỡ không ra, chớ lấy người Nam, sướng ít khổ nhiều đấy. Bản tính người Nam tiêu xài thì nhiều mà làm việc thì ít sớm muộn gì cũng… tan nhà nát cửa.
Tôi cãi:
– Con thấy mẹ bạn Hùng chăm chỉ, bác làm việc nhiều lắm, một mình làm các món chè và vất vả đứng bán cả ngày, hàng chè đông khách, ai mà lấy Hùng… ăn chè sướng luôn đó mẹ.
Mẹ lườm nguýt tôi và ra mệnh lệnh:
– Đừng vì thích ăn chè mà con thích cả nhà nó nhá.
Bố đang ngồi đọc báo gần đó cũng bắt chước tôi trêu đùa mẹ:
– Sao bà ghét người miền Nam thế hử? Hay là ngày xưa bà thất tình chàng Nam kỳ nào nên hận Nam kỳ cả đời?
Mẹ chứng minh:
– Chẳng nhìn đâu xa, vợ chồng bác Lộc người Nam sờ sờ cạnh nhà mình đây, có tí vàng hai vợ chồng đeo hết trên người, toàn là hốt hụi non để sớm có tiền mua sắm rồi è cổ đóng hụi chết cả năm chứ giàu có gì. Người miền Nam thùng rỗng kêu to là thế. Dân miền Bắc như mình tuy bề ngoài ăn cơm rau cà nhưng bên trong là đu đủ đặc ruột, tiền của bao nhiêu đố ai biết được.

Bố cũng chứng minh:
– Bà nói thế không phải, người Việt Nam vùng miền nào cũng có kẻ thế này kẻ thế kia, bà không thể đem vợ chồng bác Lộc ra làm tiêu biểu đại diện cho toàn thể người miền Nam được. Nếu bà muốn tôi cho bà biết nhiều gia đình người Nam căn cơ còn hơn cả miền Bắc nhà mình.
Mẹ biết mình cãi không lại nên ngoe nguẩy đi xuống bếp:
– Tôi chẳng thèm tranh cãi nữa, bố con ông là đa số… hà hiếp tôi.
Bố tôi không tha nói với theo:
– Người ta còn gả con gái cho Chà Và Ấn Độ, cho Ba Tàu, bà kỳ thị ngay với người Việt mình. Nhà mình có 2 đứa con, con Bông và thằng anh nó nữa, bà có giỏi thì sau này se duyên cho chúng nó lấy vợ lấy chồng theo ý bà đi.
Chẳng hiểu sao mẹ tôi có thành kiến không tốt cho người miền Nam, nào là nhẹ dạ, hoang phí, ăn xổi ở thì không biết lo tương lai. Thấy bố con tôi cùng lập trường mẹ tôi càng ra mặt chống đối tôi quen Hùng, mỗi lần Hùng đến nhà chơi là mẹ khó chịu ra mặt và mẹ đã nói thẳng với Hùng:
– Cháu cũng như Bông hai đứa để thì giờ học bài, thi cử đến nơi rồi, đến nhà chơi làm gì mất thì giờ cháu ạ.

Ý mẹ chê Hùng không lo chăm chỉ học hành. Tôi bênh vực Hùng, nói học là học chơi là chơi. Hùng than với tôi mẹ Bông khó tính quá, mẹ Hùng thấy bạn con đến nhà chơi bả cưng như con và múc chè cho ăn xả láng. Mặc cho mẹ tôi ngấm ngầm phản đối, tình cảm Hùng và tôi vẫn thân thiết.
Năm ấy Hùng thi đậu vào đại học Bách khoa, tôi thi rớt. Tôi nói với mẹ:
– Đứa “Nam kỳ ham chơi không biết lo xa” là Hùng thi đậu đại học Bách khoa đó mẹ, còn con gái Bắc kỳ chuẩn nề nếp, ăn học chăm chỉ của mẹ thi rớt. Thấy con gái “lép vế” mẹ tôi từ từ thay đổi lập trường bấy lâu nay:
– Bố con nói đúng nhỉ, người miền Nam cũng khối kẻ chăm chỉ giỏi giang.

Từ đấy mỗi lần Hùng đến nhà chơi mẹ tôi đều vui vẻ tiếp chuyện và quý Hùng ra mặt. Khi Hùng ra trường kỹ sư tôi còn lẹt đẹt làm cô giáo dạy cấp một vỡ lòng cho mấy đứa trẻ con, vừa dậy học vừa phải làm vú em dỗ dành mỗi khi chúng khóc nhè hay đái dầm. Nghề giáo là một trong các nghề phụ nữ bị ế chồng cao nhất. Nếu không có Hùng yêu tôi cưới tôi chắc tôi còn lận đận tìm chồng theo đúng tiêu chuẩn của mẹ, không biết đến bao giờ. Mẹ tôi mừng húm.

Anh tôi đi lính đóng quân miền xa lâu lâu anh mới về phép thăm nhà một lần. Một hôm anh đưa một cô gái người Cần Thơ, miền Nam thuần túy chưa pha trộn màu sắc thị thành như Hùng của tôi về giới thiệu với gia đình và muốn cưới làm vợ. Kinh nghiệm từ tôi, xuýt để mất chàng rể người Nam học giỏi hiền ngoan nên lần này mẹ không hề phản đối mà tuyên bố:
– Nếu hai con đã thương yêu nhau, tìm hiểu nhau kỹ thì nhà mình sẽ gặp nhà gái bàn chuyện hôn nhân.

Chị Ngân về làm dâu nhà tôi, mẹ chồng chỉ dậy chị nấu nướng những món Bắc, chị vẫn trổ tài cho nhà chồng Bắc biết món Nam của chị. Mẹ tôi không còn kỳ thị Nam Bắc nữa, con dâu của mẹ đảm đang tháo vát mẹ thương con dâu Nam kỳ của mẹ như đã thương tôi và mẹ thương con rể Nam kỳ của mẹ như đã thương anh tôi. Đúng là “ghét” của nào trời trao của ấy.

Bữa cơm dù chị Ngân nấu hay mẹ nấu vẫn thường xuyên có món Bắc món Nam thay đổi khẩu vị. Cá nấu canh chua thiếu giá sống ngò om là mẹ ăn mất ngon.

* * *

Cả đại gia đình chúng tôi hiện nay sống ở Mỹ. Thỉnh thoảng nhắc lại chuyện mẹ phân biệt Bắc Nam. Tôi hù dọa mẹ:
– May mà ngày đó con thi rớt đại học mẹ mới nhún nhường không cấm cản con với Hùng, nếu không thì con đã… bỏ nhà đi theo tiếng gọi tình yêu rồi, mà nếu không bỏ đi theo người ta thì con cũng vô chùa tu luôn rồi.
Mẹ tôi cười cười nhận lỗi:
– Ừ, sao ngày ấy mẹ kỵ người Nam, thấy Nam kỳ dễ ghét thế. Bây giờ mẹ thấy con dâu con rể Nam kỳ của mẹ thật là dễ thương. Con nói đúng đấy mẹ thằng Hùng người Nam mà chăm chỉ làm lụng từ một xe bán chè đá đậu trước cửa chợ sau này họ đã xây nhà 3 tầng lầu, mở lớn cửa tiệm vừa bán hủ tíu Mỹ Tho vừa bán chè nổi tiếng nhất chợ xóm mình. Mẹ phục má thằng Hùng lắm.
Tôi thêm vào:
– Con thì phục chồng con lắm, mang tiếng người Nam “ lười biếng ăn chơi” theo thành kiến của mẹ, mà Hùng học hành tới nơi tới chốn không như con gái Bắc kỳ chảnh chọe của mẹ học dở ẹc nè.

Nguyễn Thị Thanh Dương