Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Chữ Ngũ Trong Văn Hoá Việt

1.Dẫn nhập

Văn hoá Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Tam Giáo: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo. Tinh thần Tam giáo đồng nguyên trở thành một nét bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt trong nhiều thế kỷ. Và trong mỗi loại văn hoá đó thì luôn có chữ Ngũ.

Ví dụ:

- Trong Phật giáo, có khái niệm Ngũ Uẩn, Ngũ Căn, Ngũ Lực
- Trong Nho Giáo, ta có Ngũ Thường với Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín cũng như Ngũ Phúc. Còn Ngũ Kinh có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu 
-Trong Lão giáo, có Ngũ Đại: trời, đất, nước, gió, lửa 
- Trong âm nhạc, có Ngũ Âm như trong câu Kiều:

Cung, thương làu bậc ngũ- âm
Nghề riêng ăn đứt, hồ-cầm một trương

Ngày Tết, thường có mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên .

2. Chữ Ngũ trong Phật giáo

Trong Phật giáo, có nhiều khái niệm liên quan đến chữ Ngũ:

- Ngũ uẩn (ngũ: năm; uẩn: tập hợp, nhóm lại) gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức với chi tiết như sau:
- Sắc uẩn là yếu tố vật chất bao gồm vật lý - sinh lý, có bốn yếu tố vật chất căn bản là Địa (chất rắn), Thủy (chất lỏng), Hỏa (nhiệt độ), Phong (chất khí). Các yếu tố do bốn đại tạo ra thuộc về sinh lý như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; các đối tượng của giác quan như: hình sắc, âm thanh, mùi vị, vật xúc chạm
-Thọ uẩn, nói về tình cảm, cảm giác,
-Tưởng uẩn, nói về các tri giác,
-Hành uẩn tức các hành động và trạng thái của tâm
-Thức uẩn tức các sự biết.

Bốn uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn họp nhau lại thành phần tinh thần, tức là tâm .

 - Ngũ cái (ngũ: năm, cái:che đậy) là 5 loại tình cảm phiền não che mờ tâm trí, còn gọi là 5 triền-cái là tham, giận, buồn ngủ,  dục,  hôn trầm, hối tiếc, nghi ngờ 

- Ngũ căn ( căn: gốc) là 5 yếu tố tâm lý căn bản có khả năng kiểm soát tâm, làm chủ tâm, làm nguồn gốc phát sanh ra tình cảm, hành động. .Đó là tín căn (lòng tin, đức tin), tinh tấn căn (sự nỗ lực), niệm căn (sự nhớ nghĩ ), định căn (tâm tập trung lại) và huệ căn (sự sáng suốt).

- Ngũ lực .Khi mà ngũ căn được làm cho sung mãn thì sẽ biến thành ngũ lực, tức là tạo nên 5 sức mạnh, hỗ trợ hữu hiệu cho hành giả thực hành thiền định và thiền tuệ. Đó là: tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực

- Ngũ chướng (chướng:trở ngại) nhưng trong kinh sách thường chỉ nói đến tam chướng là: phiền não chướng (nhất là tham, sân, si), nghiệp chướng (trở ngại do nghiệp, tức các hành vi lỗi lầm đã qua, cần sám hối) và sở tri chướng (hiểu biết ôm đồm, tà kiến ).

- Ngũ dục là 5 thứ ham muốn như sắc dục (ham về sắc), thanh dục (âm thanh), hương dục (mùi hương), vị dục (thực phẩm), xúc dục (rờ cọ).

- Ngũ giới: đó là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu

- Ngũ đại là thủy đại, địa đại, hoả đại, phong đại, không đại , tức liên hệ đến nước, đất, lửa, gió và hư không.

- Ngũ hương: khi thắp hương lạy Phật, ta nguyện giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Ba phần đầu của pháp thân là giới, định, huệ, hai phần sau  là về sự giải thoát: giải thoát tâm khỏi các phiền não và giải thoát huệ khỏi các tri kiến sai lầm.  

3. Chữ Ngũ trong Nho giáo


 Nho giáo  được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt và trong Nho giáo cũng có chữ Ngũ :

3.1.ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín:

- Nhân là  tình thương: tình thương giàu sang, nghèo hèn không phân biệt của người quân tử.

- Nghĩa là hợp tình hợp lý . Khổng Tử nói: "Cách xử sự của người quân tử, không nhất định là phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm." 

-Lễ là  qui tắc, nghi thức, kỷ luật tinh thần. 

-Trí là sáng suốt . Khổng Tử nói: " Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân."

-Tín: đáng tin. Khổng Tử nói: Người mà không có tín thì không hiểu sao thành người được (hoặc làm nên việc gì được). Đây là lòng tin tưởng giữa người và người, là giữ trọn lời hứa để tạo lòng tin với nhau; không được bội ước, thất tín. Người mà không có chữ tín này sẽ đánh mất nhân phẩm, tư cách của đạo làm người. Khổng Nho nói: "Nhân vô tín, bất lập"; có nghĩa là người không giữ chữ tín thì không đặt để vào đâu được cả; ý nói là không thể đứng được trong thế gian, không thể làm người được nữa.

Tóm lại, theo quan niệm chung của nền minh triết Đông phương thì nhân, nghĩa, lễ, trí, tín  là năm yếu tố, điều kiện để hoàn thiện nhân văn, nhân bản: người không có Nhân thì sẽ thành kẻ độc ác; người không có Nghĩa sẽ thành kẻ bội bạc; người không có Lễ thì sẽ thành kẻ vô phép; người không có Trí thì sẽ thành kẻ ngu ngốc; người không có Tín thì sẽ thành kẻ giả dối.

3.2. ngũ phúc. Ngũ phúc gồm có:  thọ (sống lâu), phú (giàu có, địa vị tôn quý), khang ninh (thân an và tâm an),  hiếu đức (lương thiện, nhân hậu) và cuối cùng là thiện chung ( khi lìa cuộc đời không đau đớn, không vương vấn )  . 

3.3. ngũ hành. Đó là 5 yếu tố cơ bản trong vũ trụ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ; 5 yếu tố này có nhiều mối tương quan hay tương khắc nhau. Quy luật tương sinh, tương khắc là sự chuyển hóa qua lại giữa Trời và Đất để tạo nên sự sống của vạn vật: . Có thể nói rằng, tương sinh và tương khắc là hai quy luật luôn tồn tại song hành với nhau, có tác dụng duy trì sự cân bằng trong vũ trụ. Nếu chỉ có sinh mà không có khắc thì sự phát triển cực độ sẽ gây ra nhiều tác hại. Ngược lại nếu chỉ có khắc mà không có sinh thì vạn vật sẽ không thể nảy nở, phát triển. Do đó, sinh-khắc tạo ra quy luật chế hóa không thể tách rời.

3.3.1.tương sinh nghĩa là cùng thúc đẩy, hỗ trợ nhau để sinh trưởng, phát triển. Đó là quy luật phát triển của ngũ hành, tuy nhiên sinh nhiều quá đôi khi trở thành tai hại. Cũng giống như cây củi khô là nguyên liệu đốt để tạo ra lửa, thế nhưng nếu quá nhiều cây khô sẽ tạo nên một đám cháy lớn, gây nguy hại đến tài sản và tính mạng của con người. Đó là nguyên do tồn tại quy luật phản sinh trong ngũ hành:

- Kim hình thành trong Thổ, nhưng Thổ quá nhiều sẽ khiến Kim bị vùi lấp.
- Hỏa tạo thành Thổ nhưng Hỏa quá nhiều thì Thổ cũng bị cháy thành than.
- Mộc sinh Hỏa nhưng Mộc nhiều thì Hỏa sẽ gây hại.
 
- Thủy cung cấp dinh dưỡng để Mộc sinh trưởng, phát triển nhưng Thủy quá nhiều thì Mộc bị cuốn trôi.
 - Kim sinh Thủy nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.
Trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc, và trong tương khắc luôn tồn tại tương sinh

          3.3.2.tương khắc là sự áp chế, sát phạt cản trở sinh trưởng, phát triển của nhau.
Tương khắc có tác dụng duy trì sự cân bằng nhưng nếu thái quá sẽ khiến vạn vật bị suy vong, hủy diệt. Vài ví dụ:

Thủy khắc Hỏa: Nước sẽ dập tắt lửa

 Hỏa khắc Kim: Lửa mạnh sẽ nung chảy kim loại

 Kim khắc Mộc: Kim loại được rèn thành dao, kéo để chặt đổ cây.

 Mộc khắc Thổ: Cây hút hết chất dinh dưỡng khiến đất trở nên khô cằn.

 Thổ khắc Thủy: Đất hút nước, có thể ngăn chặn được dòng chảy của nước.

Giản đồ sau đây trình bày các mối tương sinh  và tương khắc     


4. ngũ cung

Truyện Kiều có câu:

Âm thương lầu bậc ngũ cung
Nghề riêng ăn đứt, hồ cầm một trương

5. ngũ quả. Ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên thường có mâm ngũ quả gồm 5 trái cây với sắc màu khác nhau,  thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng. 

6.ngũ vị hương là một loại gia vị dùng trong ẩm thực của người Trung Hoa hay Việt Nam. Nó bao gồm năm loại vị cơ bản trong ẩm thực là: mặn, ngọt, chua, cay, đắng. Thành phần của ngũ vị hương không giống nhau trong từng loại công thức pha chế. Nó có thể bao gồm bột của các loại thực vật sau: 

Thái Công Tụng

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

Tình Yêu Màu Thiên Thanh - Thơ Trần Ngọc - Nhạc Quốc Dũng - Ca sĩ Hạnh Nguyên


Anh nhớ buổi đầu tiên gặp gỡ
Em ngoan hiền đượm nét ngây thơ
Ðôi mắt nai hồn nhiên rộng mở
Tà áo xanh duyên dáng nên thơ

Anh nhớ chiều hè xưa rực rỡ
Nắng reo vui lấp lánh sân trường
Làn môi hồng nỡ nụ yêu thương
Tình thơ mộng lên ngôi từ đấy

Em ôm ấp mùa thu hò hẹn
Từng con đường thành phố thân quen
Ðêm Sài gòn ngọc ngà lộng lẫy
Chiều Tây đô thuở ấy kiêu sa

Em nhớ mãi hàng me xanh lá
Ðường thần tiên anh đón em về
Tay trong tay nắng vàng êm ả
Mắt nhìn nhau âu yếm thiết tha

Em ấp ủ nghìn thương anh gởi
Tình thư xanh nỗi nhớ không rời
Tim rộn rã say mê từng chữ
Uống từng câu mật ngọt tuyệt vời

Bao mùa xuân mây trời thay đổi
Màu thiên thanh vẫn đẹp sáng ngời
Sông kỷ niệm tình ta trân quý
Nắng yêu thương đan kết cuộc đời

Thơ: Trần Ngọc
Nhạc: Quốc Dũng
Ca sĩ: Hạnh Nguyên


Thuở Đá Vàng

(Thương tặng vợ hiền
- Kỷ niệm sinh nhật em 30 tuổi)

Hỡi vợ hiền yêu dấu của anh!
Nghe anh bầy tỏ tấm lòng thành
Nhớ em anh vẫn chờ vẫn đợi.
Một ngày sum họp Tái Duyên Sanh 

Cuộc sống trăm năm đâu là mấy.
Thế mà đời mấy lượt bể dâu 
Tình 8 năm chồng chất đau sầu
Giờ xa nữa bao giờ gặp lại.

Nghĩ thấy đời sao mà khổ vậy.
Một kiếp người lận đận phân ly
Một lần yêu trong tuổi dậy thì 
Rồi đau đớn lệ tràn thương nhớ 

Từng cơn gió hôn vờn trên lá.
Đêm lạnh về buồn tím không gian 
Lòng bâng khuâng nhớ thuở đá vàng
Xin dệt lại vần thơ vương vấn.

Một buổi sáng cánh chim lạc bến.
Thật sững sờ như giấc chiêm bao
Anh nhìn em như gặp kiếp nào
Em hờ hững tim hồng chưa ngỏ 

Ngày đó ngây thơ em nào đã.
Yêu ai đâu mà mộng mà mơ.
Tình anh đến dạt dào sóng cả.
Dìu em đi khắp nẻo sơn hà 

Anh vẫn đến như tình anh đến
Em thỏa nguyện đón nhận tình yêu
Xa một phút lòng buồn khôn tả 
Mình bên nhau vui biết bao nhiêu 

Có những buổi trưa gió hắt hiu.
Sánh bước vai nhau đợi nắng chiều
Em ngồi đan tóc lời tâm sự.
Anh mơ màng ôm trọn dáng yêu .

Mới hẹn tình ta đã ngát hương.
Thương anh, em nói: “ phận thuyền quyên.
Trao anh một tấm lòng chung thủy .
Đừng làm em khổ hỡi người thương .”

Mười ngón tay ngà tay đan tay
Đất trời chứng giám ước nguyện này.
Mai sau sẽ không làm em khổ 
Để tình hương lửa vẹn duyên say.

Em cười khoe sắc hồng đôi má 
Suối tóc buông lơi xỏa bờ vai.
Đôi môi thắm đượm tình ân ái 
Ôi ! đẹp làm sao anh ngất ngây. 

Buổi sáng, buổi trưa và buổi tối.
Mình yêu nhau quấn quýt bên nhau 
Mình thương nhau ước hẹn duyên đầu.
Cùng xây dựng lâu đài hạnh phúc 

Anh biết làm thơ từ độ ấy 
Góp ngàn mây rạng rỡ bốn phương.
Vạn loài hoa khoe sắc bên vườn 
Để dâng tặng người yêu muôn thuở 

Nét đẹp đài trang- ôi! diễm lệ 
Hàng mi cong đan vẻ kiêu sa.
Mắt long lanh chứa lệ Ngân Hà.
Ngón tay ngọc tuyệt vời kỳ lạ 

Anh dạo khúc tơ vàng êm ả
Em ca bài Đẹp Mộng Chiều Xuân.
Ôi ! dư âm thánh thót vang ngân.
Ngàn sao sáng bâng khuâng tưởng nhớ .

Mỗi buổi chiều sau giờ tan sở.
Anh vội vàng tìm đến thăm em.
Mình trao nhau tiếng ngọt êm đềm.
Màn đêm phủ anh về tiếc nuối 

Em chẳng muốn đường xa đêm tối 
Anh trở về phòng vắng đìu hiu.:
“Thôi anh à: Mình sống bên nhau 
Anh hãy dọn hành trang về ở.

Em nào biết vắng em anh lỡ.
Hẹn hò hoặc nhậu nhẹt cùng ai.
Thời bây giờ nguy hiểm nạn tai .
Em không có lấy ai chăm sóc. “

Đẹp làm sao lời trong ý ngọc 
Ân Tình Em ghi tạc vào lòng
Những đêm dài thao thức nhớ mong.
Xa một bước anh buồn muốn khóc 

Căn nhà nhỏ đôi tim thổn thức
Tiếng ra vào miệng đắng thế nhân.
Người nói không, kẻ nói xa gần 
Bao giông tố đè đôi tim héo 

Tháng ngày trôi tình mình càng thắm.
Vượt không gian kết chặt đời nhau 
Vượt thời gian sóng gió ba đào
Tình yêu đã san bằng trở ngại 

Em lộng lẫy thiên thần áo cưới 
Anh sáng ngời trong buổi tân hôn 
Sánh bước bên nhau đẹp ước nguyền
Tay nâng chén rượu mừng hai họ.

Từng tiếng chúc trăm năm hạnh phúc 
Đến tiếng cười vui vẻ Mẹ Cha 
Em thẹn thùng đỏ hồng đôi má
Anh rộn ràng đẹp quá vợ ta 

Hai mái đầu xanh vai sánh nhau
Đôi tim rạo rực nụ hôn đầu
Tình em thơm ngát ngàn hoa thắm 
Tô điểm đời anh hết khổ đau 


Lâm Hoài Vũ

1982

Lỡ Nhịp Thời Gian


Anh úp mặt sau bán cầu nức nở
Vì tên anh trần thế lãng quên đi
(Giao cảm/Thơ HN-HNT, lhvl Nov.18.18)

Bên nửa này hành tinh hoàng hôn chợt đến
Bên kia tinh cầu vừa mới rạng đông
Cách biệt đại dương, núi rừng trùng điệp
Thả hồn thơ bay qua vũ trụ mênh mông

Ta lướt đi theo hướng thái dương hồng
Tìm tia sáng lẻ loi đang chiếu rọi
Góc nào đó nơi hoang tàn trơ trọi
Nhưng thời gian vùn vụt cánh chim bay

Ta trở về với bóng tối bên đây
Tay mang nhẹ gói hành trang trống rỗng
Chẳng vẽ được nét nào trang viễn mộng
Bởi nguồn tia đã tắt tự bao giờ

Ta bâng khuâng giữa hai nẻo đường đời
Sẽ tiếp tục đi tìm chân trời hư ảo
Hay thui thủi trên lối mòn sáng tạo
Cho hồn thơ lại cất cánh bay lên

ChinhNguyên/H.N.T. 
2017-21

 

Sinh Tố K2 Cực Kỳ Quan Trọng Để Phòng Ngừa Và Chữa Trị Nhiều Chứng Bệnh Của Người Già.

 

Từ hậu bán thế kỷ thứ 20 đến nay, tuổi thọ của con người đã tăng vọt, trung bình bây giờ là trên 80 tuổi. Với tuổi thọ gia tăng, các thứ bệnh như Ba Cao (Cao Mỡ, Cao Máu, Cao Đường loại 2), bệnh Suy Thận Mãn Tính, bệnh Tim Mạch, bệnh Xốp Xương và các bệnh Ung Thư cũng tăng theo.

Y học tiến bộ mang đến các thuốc công hiệu giúp bệnh nhân sống lâu hơn như Statin cho Cao Mỡ, thuốc chống angiotensin cho Cao Máu, thuốc Metformin cho Cao Đường loại 2, v.v.. Tuy nhiên, các chứng Ba Cao về lâu về dài vẫn gây suy thận mãn tính khiến một số không ít bệnh nhân phải cần đến giải phẫu ghép thận hay lọc máu (dialysis) để sống còn. Bất kể điều trị tinh vi và cẩn thận bởi các bác sĩ chuyên về thận đến đâu, nhiều bệnh nhân vẫn bị bệnh mạch vành tim sau khi đã lọc máu hay ghép thận vài năm mà nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ.

Trong khi đó, các bà sau tuổi tắt kinh bắt đầu mất dần calcium trong người đưa đến chứng xốp xương. Dùng hoóc môn estrogen có thể làm chậm sự lão hóa ấy nhưng có thể tăng nguy cơ bị ung thư vú. Quý bà được bác sĩ khuyên uống thêm calcium và sinh tố D để làm chậm sự tiến triển của xốp xương. Nhưng uống nhiều calcium là một con dao hai lưỡi: ngoài việc gây sạn thận, quá nhiều calcium khiến thành mạch máu bị đóng vôi gây bệnh tim mạch và tăng tử vong, trước đây tưởng chỉ gặp ở  đàn ông uống calcium, nhưng gần đây cho thấy phụ nữ cũng bị như vậy.

May thay, trong những năm gần đây khảo cứu cho thấy một loại sinh tố K, gọi là K2, có thể giúp phòng ngừa và chữa việc Calcium đi nhầm chỗ, đóng trên thành mạch máu gây tắc nghẽn, thay vì đóng lên xương giúp xương bớt xốp loãng.

Sinh Tố K2 là gì ? Nguồn ở đâu?

Từ lâu, chúng ta đã biết sinh tố K đóng vai trò quan trọng trong việc cầm máu và đông máu. Thật ra có hai loại sinh tố K: sinh tố K1 (Phylloquinone) chiếm 90% thành phần, là loại cần thiết cho máu đông, có nhiều trong các loại rau xanh như rau dền; 10% còn lại là sinh tố K2 (Menaquinone) đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển calcium từ máu đến đúng mục tiêu ở xương và răng thay vì phân phối bừa bãi khắp nơi gây nên các chứng bệnh đề cập trong phần dẫn đầu của bài này. Sinh tố K2 tổng hợp một số ít từ vi trùng trong ruột nhưng đa số đến từ thịt, sữa, lòng đỏ trứng gà, bơ và phó mát. Vì sinh tố K hòa tan trong mỡ, sữa và phó mát bị lấy mất mỡ sẽ không còn sinh tố K2. Hai thực phẩm có nhiều sinh tố K2 nhất là gan bò và món đậu nành lên men của người Nhật gọi là Natto. Sinh tố K2 có side chain isoprenoid từ MK-4 (chuỗi ngắn) đến MK-14 (chuỗi dài). Chuỗi trung bình MK-7 là loại thông dụng nhất vì dễ được hấp thụ qua đường ruột.

Diagram

Description automatically generated 

Trong các xứ kỹ nghệ, lượng sinh tố K2 từ thực phẩm chế biến ngày càng giảm thiểu bắt đầu từ thập niên 1950; và cho đến nay hầu như 100% người Mỹ không ăn đủ sinh tố K2 (cần tối thiểu khoảng 32mcg mỗi ngày). Những người Nhật có ăn đều món natto là nhóm dân duy nhất không thiếu K2 và họ sống lâu hơn, mạnh khỏe hơn với ít chứng bệnh lão suy hơn người Âu Mỹ.

Tác dụng của sinh tố K2:

Trên xương, sinh tố K2 tác động chất osteocalcin từ tế bào tạo xương osteoblast giúp điều động calcium kết với khoáng hydroxyapatite khiến xương thêm chắc và cứng, ngừa được xốp xương ở tuổi già.

Trong mạch máu, sinh tố K2 có tác dụng vào chất đạm trên thành mạch máu Matrix GLA Protein (MGP), chống lại sự kết tụ của chất vôi trong mạch máu gây bệnh xơ cứng làm nghẽn tuần hoàn máu, đồng thời chống lại kết tụ calcium trong các mô mềm.

Chúng ta có thể ví sinh tố K2 như cảnh sát lưu thông, giúp vận chuyển calcium trong máu đến đúng chỗ ở xương và răng thay vì đi lạc vào thành mạch máu và các mô mềm. Nhờ vậy mà răng và nướu răng cũng tốt hơn với sinh tố K2.

Timeline

Description automatically generated 

Bệnh nhân suy thận mãn tính uống sinh tố K2 phụ gia mỗi ngày được giảm cả suy thận lẫn bệnh tim mạch có lẽ do tuần hoàn máu đến thận tốt hơn; tác động của MGP khiến máu lưu thông đến da tốt giúp giảm các biến chứng ngoài da của người bệnh thận. Bệnh nhân tim mạch dùng K2 phụ gia sau hai năm thì lượng calcium đóng trong thành mạch máu cũng thuyên giảm đáng kể.

Ngoài ra, sinh tố K2 còn có thể chống viêm, chống kháng insulin, và, mặc dù chưa có kết quả lâm sàng, trên lý thuyết có thể giúp ngừa và chữa Tiểu Đường loại 2.

Diagram

Description automatically generated

Gần đây nhất, sinh tố K2 cho thấy khả năng chống ung thư, nhất là ung thư gan, một chứng bệnh không hiếm trên người già gốc Việt. Sinh tố K2 trên lý thuyết có tiềm năng kết hợp với hệ vi sinh vật ở ruột giúp ngừa các bệnh thoái hóa não bộ như Parkinson và Alzheimer nữa.

Diagram

Description automatically generated

Diagram

Description automatically generated

Cách giản tiện nhất ở Mỹ để bảo đảm có đủ sinh tố K2 mỗi ngày là uống một viên từ 50mcg (micrograms) đến 100mcg Vitamin K2 MK-7 mỗi ngày, được bán trên thị trường mà không cần toa bác sĩ.

Sinh tố K2 cùng với sinh tố D3 là hai phụ gia không thể thiếu để bảo đảm sức khỏe cho tuổi già. Nên bắt đầu dùng từ tuổi 50 trở lên (tuổi trung bình của phụ nữ tắt kinh). Các bệnh nhân bị xốp xương, bị bệnh tim mạch hay suy thận mãn tính nên uống sinh tố K2 ít nhất 100 mcg mỗi ngày để trị bệnh thay vì chỉ ngừa bệnh. Sinh tố K2 không làm giảm ảnh hưởng của thuốc chống đông máu trên các cụ có bệnh tim hay nghẽn mạch máu não.

Trong những năm tới, chúng ta sẽ biết nhiều hơn về các lợi ích khác của sinh tố K2 trong tuổi già.

Liem H. Pham, MD Former Jackson T. Stephens Professor and Vice-Chairman of the Donald W. Reynolds Department of Geriatrics, UAMS

A person wearing glasses and a tie

Description automatically generated with medium confidence

Phạm Hiếu Liêm


Nỗi Buồn Mùa Thu

(photoshop by le tuan)

Buổi sáng tôi vô tình gửi đi một nỗi buồn
Nỗi buồn vướng vào hàng cây
Một cơn gió vô tình thổi bay
Nỗi buồn tan theo đám mây
Ngày nắng thu mới lên
Lá còn xanh
Bầu trời cũng màu xanh
Mà ngọn gió thì hơi lành lạnh
Bên thềm cửa
Em co ro áo ấm
Em nay đã
thành màu mây cũ
Bức tường xưa loang dấu vết rong rêu
Buổi sáng sớm
viên thuốc ngủ còn chưa tan hết
Em mơ màng
cố vét hết giấc mơ đêm.
Thời gian đẹp
như những hoa văn
vẽ vào trang thơ huyền thoại
Lời tình tự hôm qua
lời độc thoại hôm nay
bài thơ tình ướt át
Giọt lệ rơi
làm nhòe câu thơ cũ
Những bông hoa đá
rực rỡ nở ven tường
Mùa thu trải lụa vàng trên thung lũng
Kí ức, hoài niệm trong cơn mê
Quạnh hiu
hoá đá vật vờ
Giữa buổi sáng
Nồng hương mùi hoa cải dại
Tiếng lao xao lá rụng bên thềm
Âm vang của nỗi buồn
Không bị giới hạn
Theo chiếc lá vàng rơi rụng
Rồi tan vỡ thành từng mảnh vụn
Ngồi ráp lại
mảnh đời lận đận
Buồn vô cảm
trầm ngâm
Buổi sáng lê thê theo ngọn gió thu
Một bản nhạc buồn vang vọng
Tiếng dương cầm thánh thót bên cửa sổ
Ngày mộng du
vọng tưởng
Để nỗi buồn
Tan loãng vào mùa thu.

Lê Tuấn
Mùa Thu San Jose Sep 26, 21

Đoạn Trường Ngâm Khúc


(Riêng tặng bạn ta BS Phạm-Đình Bách
về trời tại Tân Uyên)

Bến Thủ Thiêm đêm trường bó gối
Gác cần câu gặm mối sầu miên
Buồn cho thế cuộc đảo điên
Biết cùng ai tỏ nỗi phiền xa quê .

Tiếng địch đâu thảm thê vọng lại
Thêm não nùng tê tái hồn ta
Đầy sông máu lệ chan hòa,
Vầng trăng vàng úa thẩn thơ u hoài.

Thuyền mấy lá như loài ngạ quỷ
Dạt sóng sâu rền rĩ trong sương...
Dõi theo tiếng địch Trương Lương,
Sao khuya leo lét đưa đường cầu rêu.

Tới thuyền khách tiếng tiêu chưa dứt,
Lặng ôm cần đứng chực ngoài khoang.
Tiêu đâu trổi khúc đoạn tràng...
Nghe ra bạc mệnh Kiều Nương khó bì.

Sao ta thấy bờ mi ướt thấm,
Vì lệ sầu, hay đẫm sương đêm ?
Âm thanh da diết triền miên,
Bỗng dưng chợt nức nở lên, rồi ngừng.

Thời gian thoáng như ngưng đọng lại,
Và tiếng mời êm ái vọng ra :
"Sáo đang rền rĩ thiết tha,
Tự dưng khúc mắc như là hụt hơi.

Hẳn có khách tới chơi trước cửa,
Xin thứ cho lỗi chửa rước mời.
Ghe nghèo mui lá tả tơi,
Mong rằng khách chẳng ngại ngồi cùng ta".

-Vừa mạo muội nghe qua tuyệt khúc,
Hân hạnh thay diễm phúc nào tày ?
Cho hầu đàm đạo càng hay,
Nhạc buồn nghe trọn khúc này được chăng ?

- Nếu khách chẳng chê rằng rầu rĩ,
Cũng xin chiều nhã ý vài hơi-.
Tay thần rung vuốt nhặt lơi,
Không gian phút chốc ngập lời oán than.

Nghe chua xót bầm gan xé ruột,
Nghe thảm sầu tê buốt óc tim.
Nước cau mày lệ im lìm,
Trăng tà ảm đạm khuất chìm trời tây.

Gió gây gấy chở đầy nuối tiếc,
Mây bàng hoàng đặc sệt hờn căm.
Trầm như ma rú cõi âm,
Cao như trời thẳm bặt tăm phi thuyền.

Giốc trủy vũ ré lên nức nở,
Đồ rê mi rung vỡ sao khuya.
Trăng sông sương muối ủ ê,
Hàng dừa hiu quạnh lê thê dâng sầu.

Ai ngăn nổi rầu rầu nét mặt
Khi điệu buồn lan khắp sơn khê ?
Tiêu thiều như đoạn như chia...
Chủ nhân ngưng sáo tái tê thở dài.

Dáng phong nhã u hoài thêm lịch,
Vẻ trầm tư tĩnh mịch càng ưa...
Bâng khuâng như chợt tỉnh mơ,
Tựa thân trượng trúc thẫn thờ đứng lên :

"Xin tha lỗi ! Vô duyên thái quá !
Biết lấy gì khuây khỏa khách đây ?
Quen tay tấu mãi khúc này,
Mong rằng khách chẳng nỡ rầy chủ nhân".

Được thưởng thức đã hân hạnh lắm,
Chỉ tiếc là quá chậm gặp nhau.
Cũng may đồng khí tương cầu,
Đồng thanh tương ứng điệu sầu thiên thu .

Có điều lạ dường như tuổi tác,
Của chủ nhân mới trạc đôi mươi.
Sao tiêu âm quá chán đời,
Nghe như luyến tiếc hồn người thác oan.

Thêm chứa chất muôn vàn cay đắng,
Như Tiệm Ly khóc vắng Kinh Kha...
Đã buồn thế sự can qua,
Lại đau trí lớn hải hà chưa xong...

Thực phức tạp khó lòng mô tả,
Ước được như Tư Mã Giang Châu
Lắng tai nghe cạn niềm sầu
Hẳn là ý hợp tâm đầu cũng nên.-

- Ôi ! phải đâu gần đèn hóa quáng !
Tài Tử Kỳ xứng đáng tri âm !
Tiêu thanh tức tưởi âm thầm,
Quả nhiên có chút bận tâm phổ vào.

Khách đã hỏi lẽ nào không đáp :
Tuổi hăm lăm gốc gác Quy Nhơn.
Từ lâu gậm nhấm căm hờn,
Những mong nối gót giang sơn anh hào.

Gương Nguyễn Huệ nêu cao trước mặt,
Mười lăm năm luyện tập chân thân.
Trau dồi thế võ câu văn,
Quyết chờ đợi dịp xả thân cứu đời.

Mười sáu tuổi tới lui đại học,
Lấy chân thành chọn lọc anh em.
Toàn phường lừa dối đảo điên,
Túi cơm giá áo nhỏ nhen tầm thường.

Cả thế hệ trên đường thoái hóa,
Đầy những quân mèo mả, gà đồng.
Nói thì như rắn như rồng,
Làm không đáng một, kể công gấp mười.

Y dược chỉ là nơi trốn lính,
Luật văn thêm lỉnh kỉnh con buôn.
Thầy trò kèn cựa buồn nôn,
Đốt đèn lên kiếm khó còn một ai.

Như hải âu lạc loài mặt đất,
Cánh lê thê khôn cất mình bay.
Ba năm mặt dạn mày dày,
Bảng vàng tên dự mà cay đắng lòng.

Đã thử nhẩy vào vòng chính trị,
Kém bạc tiền nói dễ ai nghe.
Mấy lần vào nhóm vô phe,
Gập toàn một giống gà què quẩn quanh.

Ăn cắp vặt tay nhanh như cắt,
Miệng bô bô óc đặc cán mai.
Dăm câu lý thuyết ngoại lai,
Nói như con vẹt, nhơi hoài tựa trâu.

Lãnh tụ ma đòi bầu trên trước,
Đảng viên ranh kiếm được mươi ngoe.
Tinh đồ sỏ lá ba que,
Dân sinh, quốc kế miệng khoe rầm trời.

Động vời tới ngó ngôi khanh tướng,
Ngồi ít lâu xơi chướng bụng lên.
Lẻn ra ngoại quốc nằm yên,
Nước non đảng phái đắm chìm mặc ai.

Lại lắm kẻ chỉ tài chửi Đổng,
Cứ làm như Thánh Khổng phục sinh.
Suốt năm đòi hỏi chính danh,
Nhưng luồn cổng hậu lại nhanh nhất đời.

Chẵn một năm thử coi nhẵn mặt,
Ngẫm thế tình đau thắt ruột gan.
Chưa đành bó gối nằm khan,
Hành nhân quyết định thử làm coi sao ?

Trường Võ Bị nhập vào binh nghiệp,
Mộng vẫy vùng tô đẹp sử xanh.
Mới hay rốn biển tăm kình...
Bạn bè còn kẻ tinh minh hơn đời.

Bàn cùng ta tạo thời dựng thế :
Tài lược thao há để một mai ?
Gươm thiêng dưới ánh nguyệt mài,
Sắt son ước hẹn một lời đồng tâm.

Ôm chí cả âm thầm sớm tối,
Tính thời cơ xoay đổi sơn hà.
Thực tâm phục vụ quốc gia,
Há làm lãnh tụ mới là anh minh ?

Gương Ký Con liệt oanh còn đó !
Nước Nhựt kia nhờ có Hắc Long.
Sắt son vì nước một lòng,
Luôn luôn thế giới đứng trong ngũ cường

Nay gặp buổi kỷ cương lộn đảo,
Nếu không lo cảnh cáo gian phị
Tham giầu bán nước thiếu chi ?
Giống nòi Hồng Lạc dám đi theo Hời...

Tuy chính phủ học đòi pháp trị,
Vẫn còn người ngủ kỹ cầu an
Lấy ai vị nghĩa diệt thân ?
Chờ khi nước đã tới chân muộn rồi.

Cần phải gấp thế trời hành đạo.
Quét sạch loài cầy cáo gian manh
Sao cho xã hội mạnh lành
Sẽ quay về ẩn non xanh hưởng nhàn...

Sau hai năm luận bàn rõ kỹ
Cùng ra trường mỗi kẻ một nơi
Bạn ta góc biển ven trời
Quyết vì Lạc Việt tạo nòi Kinh Kha

Ta cũng gắng vào ra thuyết phục
Mong anh em tâm phúc thêm đông
Cánh bằng rợp mát non sông.
Dân đen che chở thoát vòng dầu sôi

Xuân Mậu Thân mới rồi cùng hẹn
Về Cố Đô chuốc chén thề bồi
Ghi tâm khắc cốt một lời
Mượn câu Sát Đát diệt loài sói lang.

Tám anh em trong khoang thuyền nhỏ
Soạn chương trình nghị sự hẳn hoi
Cao đàm hùng biện đủ lời
Định xong kế hoạch thì trời lập xuân .

Bạn ta vốn "Sáo Thần" nổi tiếng
Nâng đồng tiêu vui miệng vài hơi,
Long ngâm trầm bổng tuyệt vời
Như thôi thúc cả giống nòi vùng lên :

Hịch Tướng Sĩ vang rền núi Ngự
Cáo Bình Ngô chấn vỡ sông Hương
Âm ba lồng lộng phi thường,
Nghe như cả một đại dương chuyển mình...

Đang giữa lúc vô tình nào biết
Trẻ Tạo kia ganh ghét người tài
"Hùng Tâm" trổi chửa hết bài
Đì đùng súng giặc khắp trời nổ vang .

Anh em đang bàng hoàng lúng túng
Hỏa tiễn đâu rớt trúng ven thuyền
Xót xa thay bẩy bạn hiền !
Tang bồng chưa thỏa quy tiên cả rồi !

Tùng lúc sắp ra người thiên cổ,
Gượng đua tiêu nhắn nhủ qua loa :
"Bách lo bồi đắp sơn hà,
Sao cho trọn vẹn là ta vui lòng.

Còn đây chiếc sáo đồng kỷ vật
Sẽ là nơi ủ ấp hồn ma !
Mỗi khi tưởng nhớ đến tạ
Trổi lên dăm khúc ắt là gặp nhau".

Ta nằm lặng lòng đau như cắt,
Nhìn bạn mình nhắm mắt xuôi tay
Bẵng quên nửa ống chân này
Đã theo miếng đạn vụt bay đâu rồi .

Để từ đó sống đời tàn phế
Khắp sông hồ kiếm kẻ đồng tâm...
Đến nay đã chẵn ba năm
Biển đời như bặt bóng tăm ngư kình.

Đêm thanh vắng, buồn tênh ngao ngán
Đành đem tiêu lọc gạn thanh âm
Trổi vài vần điệu xa xăm
Chiêu hồn cố hữu mà căm trời già

Tiêu âm đã xót xa não nuột
Tâm sự thêm tê buốt khối sầu
Anh hùng vận bĩ càng đau
Thương ai lã chã lệ châu hai hàng.

Bút cùn ghi Đoạn Tràng một khúc
Mong thế nhân trong đục tỉnh say
Soi gương tự ngắm mặt mày
Sao cho dân Việt đỡ cay đắng lòng

Lạc Thủy Đỗ Quý Bái

Tam Bát Đồng Môn


Đọc sách xưa như Đông Chu, Tam Quốc, ta gặp đầy những chuyện nói về nghĩa vua tôi, tình thầy trò, tình phụ tử. Một số ít chuyện nói về nghĩa vợ chồng, tình bè bạn. Lần này, được chỉ thị của Phạm đại ca, Bát Sách nói về tình bạn. Tiếng Bạn của Việt Nam quá phong phú: Làm quan cùng với nhau là bạn đồng triều hay đồng liêu, học cùng với nhau là bạn đồng môn hay đồng song, ở tù “cải tạo” cùng nhau là bạn đồng tù, cùng nghề với nhau là bạn đồng nghiệp, cùng đơn vị là bạn đồng ngũ, làm cùng chỗ là bạn đồng sở, bán hàng với nhau là bạn hàng, thậm chí chỉ đi cùng với nhau một quãng đường cũng được gọi là bạn đồng hành... Ngoài ra, hai người chênh lệch tuổi nhau khá xa mà chơi với nhau thì được gọi là bạn vong niên, hai người cùng làm rể một nhà thì gọi là anh em bạn rể, đồng hao hay cột chèo. . Lẽ dĩ nhiên, loại nào cũng có bạn tốt, bạn xấu, chỉ có bạn vong niên là lúc nào cũng tương thân, tương kính, trái với bạn rể, tuy gọi là bạn nhưng hình như chẳng bao giờ là bạn cả.Có bạn lâu lâu gặp nhau, chào hỏi xã giao vài câu, rồi quên bẵng đi cả mấy năm trời, đó là bạn sơ. Bạn thân thì chia ngọt xẻ bùi, giúp đỡ nhau tận tình, không lừa, không hại nhau, xa nhau thì nhớ mà gần nhau thì đôi khi bất đồng ý kiến, cãi nhau ỏm tỏi như chó với mèo. . Loại bạn này, tiếng Việt gọi là bạn nối khố, bạn tâm giao, bạn từ hồi để chỏm, từ khi mặc quần thủng đít v.v... thường không đủ đếm trên đầu ngón tay. ..Theo anh Dược sĩ Mai Bá Vị thì các cụ ta ngày xưa còn một loại bạn thân hơn bạn thân nữa, như câu ca dao Việt Nam sau đây:
Anh em bạn cũ lưu tồn, 
Củ khoai chia bốn, cái l. . . chia đôi.

Về bạn thân,Bát Sách may mắn có được 7,8 người,vừa trong vừa ngoài ngành Y Khoa,nếu kể hết thì giấy mực nào cho đủ.Lần này,Bát Sách chỉ muốn nhắc tới 2 người cùng có biệt hiệu chữ Bát mà thôi,đó là Bát Văn và Bát Vạn. Bát Văn,nhưng họ Vũ,người đẫy đà,có da có thịt,tính hiền lành,vui vẻ,ít khi gây gỗ với bạn bè.Vì tròn tròn nên được chữ Văn của cỗ bài mạt chược.
Bát Vạn,vốn họ Trần,người gầy gò,xương xẩu,hay nổi cáu bất tử.Được chữ Vạn, vì hai chân chàng đi chữ bát,giống như quân bài bát vạn,nói theo kiểu miền Nam là bổ hàng đôi,nói theo kiểu tân thời là mười giờ mười,để so sánh với hề
Charlot là chín giờ mười lăm.Bát Vạn không hề bị mặc cảm vì tướng đi của mình,chàng thường hãnh diện:”tao đi giống như Ngô Tổng Thống “
Gần đây,đọc báo,thấy có một bực tiền bối chia bạn thành 2 loại : tri âm và tri kỷ
**Thế nào là TRI ÂM?Là như Bá Nha và Tử Kỳ.
Bá Nha người nước Sở,nhưng làm quan đại phu nước Tấn.Trên đường đi sứ nước Sở trở về,Bá Nha neo thuyền ở bến Hàm Dương.Vì cảnh đẹp,trăng thanh, gió mát,trời nước mênh mông,Bá Nha nổi hứng lấy đàn ra gẩy.Âm thanh đang dâng cao vút,thì đàn chợt đứt một dây.Bá Nha cả kinh,đoán có người quân tử nghe trộm,bèn sai quân lên tìm,thì gặp Tử Kỳ.Hai bên ngồi đàm đạo suốt đêm, thật là tâm đầu,ý hợp.Bá Nha đàn mà nghĩ đến núi,thì Tử Kỳ khen:ý tại cao sơn, nghĩ đến sông nước thì Tử Kỳ khen:ý tại lưu thủy.Hai người bèn kết nghĩa anh em rồi từ giã,hẹn đúng ngày này năm sau sẽ tái ngộ.Đúng kỳ hẹn,Bá Nha trở lại chốn cũ thì mới hay Tử Kỳ đã bị bạo bệnh qua đời.Bá Nha buồn rầu,ngồi gẩy khúc Thiên Thu Trường Hận,rồi đập vỡ cây đàn.Đây là bài thơ Bá Nha làm để tỏ ý của mình:

Thốt đoái dao cầm phượng vĩ hàn.
Tử Kỳ bất tại,hướng thuỳ đàn,
Xuân phong mãn diện giai bằng hữu,
Dục mịch tri âm nan thượng nan.

Giải nghĩa:

Đập nát dao cầm,đau lòng phượng,
Không có Tử Kỳ,đàn với ai,
Gió xuân bốn mặt,bao nhiêu bè bạn,
Muốn tìm tri âm thật khó vô cùng.
(Theo Điển tích chọn lọc của Mộng Bình Sơn)

Ba tên họ Bát chúng tôi có phải tri âm không?
Ngày còn học Y Khoa,những khi buồn,Bát Vạn và Bát Sách còn nhập nhằng ôm chiếc Tây ban cầm,gẩy tưng tưng vài nốt trong bài Đàn Chim Việt,Con Thuyền Không Bến...Bát Văn thì thật tình được xếp vào loại ....mù nhạc.
Hồi còn Ngô Tổng Thống,các vũ trường bị cấm;sau “đảo chính “1963,Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ban bố “tự do”,vũ trường mọc lên như nấm,bal de famille được tổ chức dài dài,ba chàng họ Bát cũng phải theo thời,bóp bụng nhịn ăn,nhịn mặc để đi học khiêu vũ.Chúng tôi học vũ sư Đỗ Long ở Tân Định.
Đỗ giáo sư người mập và lùn,nhưng lúc nhẩy,đôi mông ngoáy rất dẻo.Bát Vạn, Bát Sách còn cố cầm cự,chứ Bát Văn thì hỏng hẳn:lúc nhảy,mắt tìm bạc cắc ở dưới đất,chân dậm bình bịch như lực điền giã gạo,trông rất mất thẩm mỹ.Vì mù nhạc,nên trước khi ra sàn nhảy,bao giờ chàng cũng phải hỏi lại cho chắc là điệu gì.Chàng chỉ mơ,trước khi trổi nhạc,có một tên đứng trước máy vi âm hô lớn:Rum. ba,Bos...ton để cho chàng vào nhịp.Với cái vốn nhạc lý siêu việt như vậy,Bát Sách đành phải kết luận là ba chàng họ Bát không phải tri âm.
**Thế nào là Tri Kỷ?Là như Quản Trọng và Bảo Thúc Nha.
Quản Trọng và Bảo Thúc Nha là bạn với nhau từ nhỏ,lúc lớn,cùng làm quan nước Tề.Gặp khi có loạn,2 người con vua Tề phải lưu vong,thì Quản Trọng phò người anh là Công tử Củ,còn Bảo Thúc phò người em là Công tử Tiểu Bạch.
Thời thế đổi thay,Tiểu Bạch được nước,làm vua,đó là Tề Hoàn Công,Bảo Thúc được trọng dụng,mà Quản Trọng thì thành tù nhân vì có tội đã phò Công tử Củ.
Nhờ được Bảo Thúc hết lòng tiến cử,nhờ được vua Tề khoan dung mà Quản Trọng trở thành một vị tướng quốc nổi danh kim cổ.Lúc Bảo Thúc mất,Quản Trọng thương tiếc,khóc như mưa,nước mắt ướt đầm cả áo.Có kẻ hỏi: “ Bảo Thúc không phải là họ hàng thân thích mà sao ông khóc thương quá đáng như vậy?”Quản Trọng trả lời: “Tại người không biết đó thôi!Để ta kể cho mà nghe.Ta lúc nhỏ khốn khổ,thường buôn chung với với Bảo Thúc,lúc chia lãi,bao giờ ta cũng lấy phần hơn mà Bảo Thúc không cho ta là tham,biết ta gặp cảnh quẫn bách,bất đắc dĩ phải làm vậy.Ta ở chỗ chợ búa,thường bị lắm kẻ dọa nạt,Bảo Thúc không cho ta là nhát,biết ta có lượng bao dung.Ta bàn việc với Bảo Thúc, nhiều khi việc hỏng,Bảo Thúc không cho ta là ngu,biết ta gặp lúc không may.
Ta ba lần làm quan,ba lần bị bãi,Bảo Thúc không cho ta là bất tiếu,biết ta chưa gặp thời,chưa gặp minh quân..Ta ra trận,ba lần thua cả ba,Bảo Thúc không cho ta là bất tài,biết ta còn mẹ già phải phụng dưỡng.Ta nhẫn nhục thờ Hoàn công,Bảo Thúc không cho ta là vô sỉ,biết ta không câu nệ tiểu tiết,có chí làm lợi cho cả thiên hạ .Sinh ra ta là cha mẹ,biết ta là Bảo Thúc.Mà đối với người biết mình,mình đem cả tính mạng ra hiến còn chưa cho là quá,huống chi thương khóc thế này đã thấm vào đâu.”(Theo Cổ học tinh hoa của Nguyễn Văn Ngọc)


Vậy ba chàng họ bát có phải tri kỷ?
Ngày còn đi học,ba đứa ăn chung,đi chơi chung,học bài chung,ở nhà thương cũng trực chung.Khi có hẹn với đào mà nhằm phiên trực thì cứ tà tà mà đi,đã có 2 đứa kia trực hộ,chỉ việc chi tiền ăn sáng hôm sau.Thiếu tiền dắt đào đi chơi có thằng ứng trước,lỡ xe hỏng,có đứa dâng xe...Giống như các sinh viên y khoa hồi đó,ba chàng họ Bát cũng lai rai có đào,nhưng thường thường bị hai đứa kia phá đám,nói ngang,làm nản chí.Chẳng hạn,đào hơi ngăm ngăm thì nó gọi là Mai Liên,tức Miên lai,đào hơi có da,có thịt,thì nó nói chỉ cần thêm chút lá chuối là thành đòn bánh tét..Đào mình dây thì nó còn độc mồm hơn,bảo nàng có tật “nói không thành có”,rồi giải thích: nói không thành có là vu khống,nghĩa là không vú.
Đàn ông không râu bất nghì,
Đàn bà không vú lấy gì nuôi ....anh..
Bát Văn có đào sớm,”đào” này sau thành nội tướng của chàng nên Bát Sách kính nhi viễn chi,không dám kể lại.Nói cho ngay,ngày xưa,theo truyền thống của ba đứa,có lẽ Bát Vạn và Bát Sách cũng một đôi khi đưa lời ông,tiếng ve, nhưng Bát Văn thuộc loại chung tình,lập trường cứng ngắc,cứ việc lừ lừ tiến tới hôn nhân.Bát Vạn và Bát Sách,trái lại,thuộc loại”xìu xìu ển ển,chân có chân duỗi “nên phải lận đận bao nhiêu năm trời.

Ngày đó,Bát Vạn đang kết với một cô trẻ đẹp,học giỏi,con nhà giầu,lại biết đàn dương cầm,rất văn nghệ.Bát Vạn cứ tối tối lọc cọc chạy xe mô bi lét đến trước biệt thự của người đẹp để nghe đàn,chỉ tiếc là dây đàn không đứt để nàng biết có chàng đang nghe trộm!Đến lúc anh chị quen nhau,dắt tay dạo phố thì mọi người mới biết nàng bị cận thị.Một hôm,Bát Văn chợt rủ anh em đi xem hồ nuôi cá.Thấy mọi người thắc mắc,hắn giải thích:”Để khi nào Bát Vạn cưới vợ thì tao mua làm đồ mừng “ Rồi cười cười rất đểu:”Nàng mà vào đó bơi lội,thì nó khỏi cần mua cá vàng “ Bát Vạn đau lịm người,mặt tái mét,và một cuộc tình tan vỡ.
Bát Sách cũng bị một vố tương tự.Đào của Bát Sách,ba vòng đều đủ tiêu chuẩn lại mình dây,chân dài tha thướt...trường túc bất tri lao.Mọi người xúm lại khen làm Bát Sách càng hí hửng.Trong một phiên trực,ba đứa đang ngồi chuyện gẫu thì Bát Văn khơi mào:
- Này Bát Sách,hôm nọ tụi tao gặp em,biết được một bí mật,tao muốn nói với
mày mà Bát Vạn nó cản.
Bát Sách nhẩy nhổm lên,hơi ghen:
- Bộ em có bồ hả?
Bát Vạn ỡm ờ:
-Thôi đừng có nói,mất tình bè bạn..
Tụi nó cứ đưa đẩy như vậy,tới lúc Bát Sách nổi cáu,chửi bới tùm lum,Bát Văn mới chịu nói:
-Tụi tao đi qua nhà em,thấy em đứng ở cửa,hai chân khép lại như đang chào cờ,mà con chó cún cứ chạy ra,chạy vào thong thả!
À,thì ra em bị vòng kiềng!Bát Sách đang tức cũng phải phì cười.Những lần gặp nhau sau đó,quả nhiên Bát Sách thấy chân em càng ngày càng cong và từ từ gài số de...
Hồi báo Tình Thương đang thịnh,Bát Sách có ti toe viết mấy bài với bút hiệu Yên Thảo:

Yên thảo như bích ti,
Tần tang đê lục chi...
( Cỏ Yên như sợi tơ xanh,
Dâu Tần đã nở mấy cành tươi non)

Bát Sách vốn người huyện Việt Yên,tự ví mình như cỏ Yên.
Một hôm,hai đứa nói: bài của mày có người khen.Bát Sách sướng quá,tưởng đâu em gái hay bạn của em gái tụi nó thì may ra có đường...Hỏi gặng mãi,tụi nó mới nói:”Đó là liên tử nhà tao”Liên tử là gì?Đó là chữ Nho:liên là sen,tử là con,nghĩa là con sen!Bát Sách đau lịm người,Yên Thảo từ đó tuyệt tích giang hồ.Đó là chuyện lúc còn sinh viên.


Sau khi ra trường,nhập ngũ,mỗi đứa đi một ngả.Bát Văn về Tiểu Đoàn 5 Quân YBát Vạn về Quân y viện Phan Thanh Giản,còn Bát Sách đi mũ đen,Thiết đoàn 6 Kỵ binh.Sau 2 năm,Bát Văn và Bát Sách lục tục khăn gói quả mướp về Cần Thơ, thế là Tam Bát lại trùng phùng.Hồi đó ở Cần Thơ,y sĩ đông lắm,và được chia làm ba loại:

-Bần y là loại chân ướt chân ráo mới về,sống nhờ lương quân đội,hoặc có phòng mạch còm,ngày 4,5 khứa,chỉ đủ đánh mạt chược ,uống cà phê,và buổi tối ra bến Ninh Kiều ăn canh chua đầu cá...Bát Sách được xếp vào loại Bần y.

-Trung y là những người có thêm lương vợ,như Bát Văn,hoặc có phòng mạch khá hơn,ngày 15-20 khứa như Bát Vạn.

-Phú y là những đàn anh uy tín,ngày 80-90 bệnh nhân,lại tính giá cao,làm một ngày bằng Bát Sách làm cả tháng.

Vì là Trung y,Bát Vạn có tiền tậu được chiếc xe con cóc cũ (Volkswagen)Xe này rất đặc biệt,kêu to như xe thiết giáp,máy lúc nào cũng húng hắng ho.Khi chạy, xe rung lên bần bật,tất cả các bộ phận đều kêu rất to,trừ có 2 thứ cần kêu thì lại không kêu là cái kèn và cái radio!Chiếc xe tuy cũ,nhưng đã giúp cho Bát Vạn và Bát Sách sống một cuộc đời vi vút,thỏa chí tang bồng.
Những kỷ niệm cũ của Bát Vạn và Bát Sách thì nhiều lắm,kể hết thì sợ nhàm tai quý vị,Bát Sách xin kể hầu một chuyện thôi.Đó là vào dịp Tết 1972.Ngày mùng hai,Bát Vạn và Bát Sách được rủ đi khai xuân,chiến đấu đến chiều mùng ba thì cả hai cháy túi,mỗi đứa chỉ còn vài ba chục,uống cà phê cũng không đủ.Lúc đó Bát Văn về phép Sàigon nên hai đứa không có chỗ ăn chực.Thật ra,ngày mùng ba Tết,ghé nhà ai mà chả được miếng bánh chưng với khoanh giò,nhưng Bát Vạn và Bát Sách vốn giòng cà cuống,chết đến đít vẫn còn cay,nên hai đứa nhất định nhịn đói.Mãi đến khuya,Bát Vạn mới nhớ ra trong xe còn một trái soài!Thế là hai đứa loay hoay gọt soài,chấm muối,ăn trừ bữa.Bát Sách ăn chập chuội, ruột sót như cào,chỉ có Bát Vạn,vốn tính lạc quan,an phận,vừa ăn vừa hát theo nhạc của Vũ Thành An:” Đời một người y sĩ,ước mơ đã nhiều,Trời cho không được mấy,đến khi thua bài,chỉ còn trái soài cầm hơi “

Trong thời gian ở Cần Thơ,Bát Văn,vì có vợ nên bị gạt ra ngoài lề.Đôi khi,chàng cũng mon men,cười cầu tài,xin tháp tùng,nhưng bị Bát Sách từ chối thẳng cánh.Cẩn thận như vậy mà còn có lần bị mắng oan!
Thấm thoắt 4-5 năm trôi qua...Cộng sản đánh mạnh,Mỹ cúp viện trợ,các tỉnh miền Trung lần lượt rơi vào tay giặc.
Đến ngày 25/04/1975 thì hình như Bát Văn đã nằm ở Guam,Bát Vạn thì về Sàigon tìm đường chạy,chỉ có Bát Sách vẫn tỉnh bơ thủ trại.Lúc đó, Bát Sách làm “lớn”:Chỉ huy phó kiêm Trưởng khối chuyên môn,Trung tâm 4 Hồi lực,xử lý thường vụ chức Chỉ huy trưởng. Ngày 30/04,khi Big Minh đọc thông điệp đầu hàng,Bát Sách tập họp anh em,tuyên bố rã ngũ,ai nấy tự lo thân.Nhìn các thương binh kẻ què,người cụt lếch thếch dắt nhau ra khỏi trại,Bát Sách đã đứng khóc một mình,khóc thương đồng đội,thương thân,khóc vì sự bất lực của mình trước thời cuộc.Nhờ có anh bạn cũ là Nha sĩ Trần Văn Bé ở Hải quân,Bát Sách được tháp tùng mấy chiếc tầu há mồm,tối 30/04/1975,từ Bình Thuỷ,xuôi giòng Tiền giang ra biển...
Với những kỷ niệm đã qua thì Tam Bát cũng không phải là bạn tri kỷ.Vậy thì là bạn gì?Bát Sách không cần biết,chỉ biết là ba đứa chúng tôi vẫn thân và thương nhau như ngày xưa...

Tới đây,chắc quý vị cũng muốn biết ba chàng họ Bát bây giờ ra sao?
Bát Văn,vì lấy vợ sớm,các con đã lớn,vào đại học.Bầy chim non 3 đứa,đủ lông, đủ cánh,đã tung bay bốn phương trời,để lại hai bố mẹ sồn sồn hưởng mùa trăng mật ở Californie.Biết đâu một ngày gần đây,bạn bè chả được tin lão bạng sinh châu?
Bát Vạn,sau khi nếm mùi “cải tạo”của bọn dép râu,nón cối,đã lấy vợ và vượt biên,đến định cư ở Gia Nã Đại năm 1979.Trung thành với chiến thuật đánh mau, đánh mạnh,chàng rút được đôi bồi kít thì hết xí quách.Khi chung bàn vuông (mạt chược)với Bát Sách,chàng chiến đấu rất tận tình,ngồi trên thì đì,ngồi dưới thì phỗng quạt...cầm tấm chi phiếu của Bát Sách thì chàng có vẻ sung sướng hơn khi cầm chi phiếu của người khác gấp mấy lần!Chàng vẫn gầy như xưa,vẫn bổ hàng đôi,nhưng xe của chàng tốt hơn nhiều,chạy êm ru,và nhạc hát ông ổng....
Còn Bát Sách?cũng có vợ từ năm 1978,rút được một cây bồi và một cây đầm thì cạn láng.Bát Sách vẫn da bọc xương,vẫn gàn,vẫn tếu,chỉ có mái tóc xanh ngày xưa đã bắt đầu điểm bạc.Lại có lần bị tai nạn xe cộ,đưa miệng cạp vỡ cả tableau de bord,nên hàm răng vốn rất tốt,đã trở thành hàm răng của cụ Yên Đổ, chiếc rụng, chiếc lung lay.Và để tỏ tình bạn thắm thiết,Bát Vạn chỉ thích mời Bát Sách gặm chân giò!

Bát Sách
(Tháng 7/1992)
 

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

Thơ Tranh: Tình Thu


Thơ: Quên Đi
Thơ Tranh: HĐ


 

Áo Tím Ngày Nao - The Lavender Dress Of Yesteryear

(Metalic watercolor and watercolored pencils on paper, 11”x14”)

Họa Sĩ: Mùi Quý Bồng
***
Đề Thơ:

Tóc huyền mềm mướt rũ ngang hông,
Mặt trái soan, môi thắm, má hồng,
Áo tím Huế, chân dài uyển chuyển
Gái Hương giang nức tiếng trời Đông


Nguyễn Tích Lai

Dạt Bến

  

Tầm mắt xa xăm gửi cuối trời
Trông chờ tin nhạn vẫn mù khơi
Lòng chiều đã nhủ thôi vương vấn
Đêm lại ngày qua tủi phận đời

Ai bến giang đầu ngóng cuối sông
Bày chi ngang trái chẳng xuôi dòng
Ước mơ tương ngộ xin đành hẹn
Lơ lửng thuyền tình dạt biển đông

Kim Phượng


Tinh Thu - Nhạc Sĩ Liên Bình Định - Ca Sĩ : Thủy Tiên


Nhạc Sĩ Liên Bình Định 
 Ca Sĩ : Thủy Tiên


Đáo Lai 到 來 - Trần Văn Lương




Dạo:

Qua bao chướng ngại trùng trùng,
May thay người đã cuối cùng đến nơi.


Cóc cuối tuần.
 


Dịch nghĩa:

Đến Nơi


Vội vàng muốn đi xem sóng Chiết giang, (1)
Sáng tối giày cỏ lướt trên đường như gió thổi.
Hè rực rỡ, đông điêu tàn, lòng luôn bền vững,
Núi cùng, sông tận, chân vẫn còn mạnh mẽ.
Rồng rắn điềm đạm gặp (chim) cánh vàng, (2)
Lừa ngựa lặng lẽ qua cầu đá. (3)
Đêm đen, ngọn gió thiền thổi tắt ngọn đuốc,
Hiểu biết của một đời chợt hoàn toàn tan biến. (4)

Chú thích:
(1) Thiền Luận, quyển thượng, bản dịch của Trúc Thiên:
...
Thi hào Tô Đông Pha, một quan đại phu đời nhà Tống, diễn lấy bằng mấy vần thơ như sau:

Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều
Khói ngút non Lô sóng Chiết giang
Khi chưa đến đó luôn mơ màng
Đến rồi hóa vẫn không gì khác
Khói ngút non Lô sóng Chiết giang

Cũng vậy, sư Thanh Nguyên Duy Tín có lời tự thuật như sau:

“Sãi tôi, ba mươi năm trước, khi chưa học Thiền,
老 僧 , 三 十 年 前 , 來 參 禪 時 ;
thấy núi là núi, thấy nước là nước;
見 山 是 山 , 見 水 是 水 ;
“Sau nhân theo bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào,
及 至 後 來 親 見 知 識,有 箇 入 處
thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước;
見 山 不 是 山 , 水 不 是 水
“Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh, y nhiên,
而 今 得 箇 體 歇 處 ,依 然 ,
thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước,
見 山 衹 是 山 , 見 水 衹 是 水.
...
(2) Bích Nham Lục, tắc 52, Triệu Châu Thạch Kiều

Trích lời Bình của Viên Ngộ:
..
Lại có vị tăng hỏi Hoàng Long (*):
- Từ lâu nghe danh Hoàng Long (rồng vàng), đến khi
tới nơi thì chỉ thấy có con rắn vằn đỏ.
Hoàng Long nói:
- Ông chỉ thấy con rắn vằn đỏ mà không thấy Hoàng Long.
Tăng hỏi:
- Thế nào là Hoàng Long?
Hoàng Long nói:
- Kéo dài trên đất.
Tăng nói:
- Thế chợt gặp Kim Sí Điểu (**) đến thì như thế nào?
Hoàng Long nói:
- Tính mệnh khó giữ.
Tăng nói:
- Như thế là bị chim ăn mất.
Hoàng Long nói:
- Cám ơn đã cúng dường.
...
Chú:
(*) Thiền sư Hoàng Long (Huệ Nam) sinh năm 1002 và tịch năm 1069. Dòng Lâm Tế đến đời Thạch Sương Sở Viên
(Từ Minh) thì chia làm 2 nhánh: Dương Kỳ và Hoàng Long.
Dòng Hoàng Long sản xuất ra những Thiền sư rất nổi tiếng như Hối Đường Tổ Tâm, Bảo Phong Khắc Văn và
Minh Am Vinh Tây (Nhật bản).
(**)Theo truyền thuyết, Đại bàng Kim Sí Điểu chuyên bắt rồng để ăn thịt.

(3) Bích Nham Lục, tắc 52, Triệu Châu Thạch Kiều


Cử:
Tăng hỏi Triệu Châu (Tùng Thẩm):
- Từ lâu nghe tiếng cầu đá Triệu Châu, đến nơi lại chỉ thấy chiếc cầu khỉ sơ sài.
Triệu Châu nói:
- Ông chỉ thấy cầu khỉ sơ sài, không thấy cầu đá.
Tăng nói:
- Thế nào là cầu đá?
Triệu Châu nói:
- Để lừa qua, ngựa qua.

(4) Bích Nham Lục, tắc 4: Đức Sơn Hiệp Phức

Trích lời Bình của Viên Ngộ:
...
Đức Sơn (Tuyên Giám) vốn là giảng sư, ở Tứ xuyên giảng kinh Kim Cương, dạy về Kim Cương Dụ Định, theo đó sau khi đạt được trí huệ thì phải học uy nghi Phật trong một ngàn kiếp, học Phật hạnh trong một vạn kiếp, rồi mới thành Phật.Thế mà đám tà ma ở phương Nam lại nói "Tâm chính là Phật".
Đức Sơn phát phẫn, gánh "sớ sao" (luận giải về kinh do mình soạn) thẳng tới phương Nam để tiêu diệt đám tà ma này. Thấy ông phát phẫn như vậy thì hiểu được ông là một người cương liệt như thế nào.
Mới đến Phong Châu, trên đường gặp một bà lão bán bánh, bèn đặt sớ sao xuống, để mua điểm tâm ăn.
Bà lão hỏi:
- Thầy mang cái gì vậy?
Đức Sơn nói:
- Kim Cương Kinh sớ sao.
Bà lão nói:
- Tôi có một câu hỏi, nếu trả lời được thì xin biếu bánh cho thầy điểm tâm, còn nếu trả lời không được thì xin đi mua chỗ khác.
Đức Sơn nói:
- Bà cứ hỏi.
Bà lão nói:
- Kinh Kim Cương nói: "quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc(***),
thế thì Thượng tọa muốn điểm cái tâm nào?
Đức Sơn không nói gì được. Bà lão bèn chỉ cho đến tham kiến Long Đàm (Sùng Tín).
Vừa qua ngưỡng cửa, Đức Sơn nói:
- Từ lâu nghe tiếng Long Đàm, nhưng khi đến chẳng
thấy đàm (đầm) mà cũng chẳng thấy long (rồng).
Long Đàm hòa thượng từ sau bình phong hiện ra nói:
- Ông quả đã đến Long Đàm.
Đức Sơn bèn lễ bái rồi lui. Đêm đến nhập thất,
đứng hầu mãi đến khuya.
Long Đàm nói:
- Sao thầy chưa lui về.
Đức Sơn chào kính rồi vạch màn bước ra, thấy bên ngoài tối bèn quay vào nói:
- Ngoài cửa tối.
Long Đàm thắp cây đuốc giấy đưa cho Đức Sơn. Đức Sơn vừa tiếp, Long Đàm bèn thổi tắt. Đức Sơn hoát nhiên đại ngộ,
bèn cúi lạy.
Long Đàm nói:
- Ông thấy gì mà lễ bái vậy?
Đức Sơn nói:
- Từ nay trở về sau kẻ này sẽ không còn nghi ngờ những lời nói của các lão hòa thượng trong thiên hạ nữa.
...
Chú:
(***) Nghĩa: "tâm quá khứ không thể có được, tâm hiện tại không thể có được, tâm vị lai không thể có được".

Phỏng dịch thơ:

Đến Nơi

Nôn nao tìm đến sóng triều xa,
Chân lướt sương mai, trượt nắng tà.
Mặc tháng năm nhòa, luôn phấn chấn,
Dù non nước tận, vẫn xông pha.
Rồng sa xuống đất chờ chim bắt,
Cầu bắc ngang sông đón ngựa qua.
Ngọn đuốc vừa trao đà vụt tắt,
Một đời kiến giải thoắt tiêu ma.

Trần Văn Lương
Cali, 9/2021
***
Lời bàn của Phi Dã Thiền Sư:

Nhìn rồng ra rắn, nhìn cầu đá ra cầu khỉ!
Vọng tưởng rập rình, vô minh lấp nẻo!
May thay, ngọn đuốc Long Đàm vụt tắt, con mắt huệ bỗng
mở bừng ra và hành giả đã đến nơi. Và, ô kìa, núi vẫn là núi,
sông vẫn là sông, rồng cứ lại là rồng và cầu đá vẫn hiện
nguyên hình là cầu đá. Cuối cùng rồi thì khói sóng Chiết
giang vẫn là khói sóng Chiết giang, nào có gì lạ đâu!
Hỡi ơi, một lần nữa, lão tăng lại:

Nhắm mắt nói càn,
Muôn vàn tội nghiệt,
Khẩu nghiệp mênh mang,
Thênh thang địa ngục!  

Than ôi!
***
Đến Nơi

Vội vã muốn xem sóng Chiết Giang,
Giầy gai như gió lướt băng băng.
Hạ tươi, Đông xám, tâm luôn vững.
Sông tận, núi cùng, bước chẳng chùn.
Rồng rắn hạ mình hàng ác điểu,
Ngựa lừa im ắng lách cầu ngang
Trời khuya gió thổi, đèn đêm tắt,
Kiến thức đời ta thoắt biến, tan!

Mùi Quý Bồng
09/30/2021