Thứ Năm, 12 tháng 3, 2020

Yểu Điệu Nàng Thu Rón Rén Sang!


Long Hồ vàng lá thu bay
Mùa thu lộng ngọc thêm say men đời
(Kim Phượng)

Ghé Vườn Thơ Thẩn xem chơi
Mới hay bên Úc lá rơi thu vàng
Rừng phong cảnh đẹp huy hoàng
Mười ba bức ảnh nai vảng ngẩn ngơ (*)
Thiên nga sông lạnh bên bờ
Ngựa hồng cảnh vắng như tờ hoang vu
Có nàng dạo giữa sương mù
Đằng xa thơ thẩn điệu ru mơ màng
Con đò cập bến sương tan
Thấy chim cất cánh vội vàng vụt bay
Vầng trăng vành vạnh trên mây
Núp vào bóng tối cành cây xanh ngời
Hữu tình cảnh sắc dạo chơi ...
Thăm Vườn Thơ Thẩn khách mời tự nhiên !...

Mai Xuân Thanh
Ngày 06/03/2020

(*) Link: Bây Giờ Trời Sắp Vào Thu - Bộ Ảnh Của Họa Sĩ Nguyễn Sơn

Bồi Hồi Nào


Bồi hồi nào còn ngây ngất buồng tim
Tôi cúi xuống cho bờ môi chạm đất
Bùi ngùi nào cuốn theo cơn gió bấc
Biển lạnh hoang sơ giá buốt đầu non.

Đêm không em thành phố cũng thấy buồn
Chỉ riêng tôi cãm nhận niềm cay đắng
Biển không em biển lúc nào cũng mặn
Tôi không em nghe thiếu một chút tình.

Trót thương em thời trai trẻ chúng mình
Nên anh cũng không mơ hình bóng khác
Từ màu tóc đen đến giờ chớm bạc
Anh moi tìm trong ký ức ngày xưa...

Mỗi đêm về anh nhìn mưa làm thơ
Dáng hình em dật dờ trong ý tưởng
Em đi đỏ hồng màu huyết phượng
Lúc em về cằn cỗi cội mai già !..

Dương hồng Thủy

Nước Mắt Của Một Hiệu Trưởng


Xin được thắp nén hương lòng kính viếng.Lại nhớ một tối Đọc Thơ "Reaching To The Stars" ở Arlington Career Center gồm các sắc dân đa văn hoá vào cuối thập niên 1970, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích góp phần, thay mặt cho Hội Phụ Huynh Học Sinh Việt Nam vùng Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, đã đọc và phiên dịch ra tiếng Anh, một bài thơ của Lê Tất Điều, vừa khóc vừa dịch trong nước mắt:

"Mai mốt anh về có thằng túm hỏi
Mầy qua bên Mỹ học được củ gì 
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi 
Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li ..." ̣ 

Tôi đã không cầm được nước mắt và từ đó thương qúy nhau lắm.

Nhân nhắc đến chuyện thấy anh Nguyễn Ngọc Bích vừa đọc thơ vừa khóc trong buổi hội thơ Reaching To The Stars ở Arlingon Virginia cuối thập niên 1970, tôi lại muốn nhắc đến ở đây với qúy anh chị em PTGĐTĐ một câu chuyện trong nhà ̣Sau 6 năm trả nợ nghĩa vụ công dân, tôi được phép giải ngũ trở về đời nhà giáo.

Ngày đầu tiên, trường đang trong thời gian đóng cửa, tôi chỉ gặp được anh Nguyễn Trung Quân Hiệu Trưởng, quần áo cravate chỉnh tề, đang ngồi một mình ở văn phòng ̣ Rồi mấy ngày sau, mới gặp thêm được anh Phan Đăng Trực Giám Học, anh Võ Văn Trí Pháp Văn, anh Lại Thanh Tòng, anh Lê Văn Quới Việt Văn ... Tôi đã được đón tiếp niềm nở và thân tình như một người bạn đồng nghiệp trở về dạy học trở lại. ̣ 
Một sáng đến trường, anh Quân nghẹn ngào thông báo với anh em chúng tôi là trường vẫn phải tạm đớng cửa thêm một hai tuần nữa để sửa chữa, dọn dẹp, xây dựng lại những đổ vỡ vì biến cố Tết Mậu Thân. Hình ảnh anh Quân vừa nói vừa khóc vì trường đã khiến tôi thật sự xúc động.
 ̣ 
Cho đến bây giờ, mấy chục năm gần đây, người cựu hiệu trưởng, cựu giám học Nguyễn Trung Quân này, gần như không một lần vắng mặt trong các đaị hội thường niên của nhóm PTGĐTĐ hải ngoại.
Thương qúy nhau lắm!

Phạm Khắc Trí
CGS PTG 1968-75

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2020

Hoài Thu - Văn Trí - Mạnh Đình


Sáng Tác: Văn Trí
Ca Sĩ: Mạnh Đình
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình



Mơ Khách Từ Xa



Đường về lạnh lẽo gió đìu hiu
Cỏ úa vàng theo bóng nắng chiều
Ghé mắt trông vời mây cuối nẻo
Gạn lòng chia xót tiếng chim kêu
Giật mình tiếng lá mơ chân bước
Tơ tưởng bên trời mộng chắt chiu
Mơ khách từ xa về cố quận
Hương xưa trầm ngự giữa xuân kiều


Bằng Bùi Nguyên

My Way - Paul Anka & Frank Sinatra


My Way 

[Verse 1]
And now, the end is near
And so I face the final curtain
My friend, I'll say it clear
I'll state my case, of which I'm certain
I've lived a life that's full
I traveled each and every highway
And more, much more than this
I did it my way

[Verse 2]
Regrets, I've had a few
But then again, too few to mention
I did what I had to do
And saw it through without exemption
I planned each charted course
Each careful step along the byway
And more, much more than this
I did it my way

[Verse 3]
Yes, there were times, I'm sure you knew
When I bit off more than I could chew
But through it all, when there was doubt
I ate it up and spit it out
I faced it all, and I stood tall
And did it my way

[Verse 4]
I've loved, I've laughed and cried
I've had my fill, my share of losing
And now, as tears subside
I find it all so amusing
To think I did all that
And may I say, not in a shy way
Oh, no, oh, no, not me
I did it my way

[Verse 5]
For what is a man, what has he got?
If not himself, then he has naught
To say the things he truly feels
And not the words of one who kneels
The record shows I took the blows
And did it my way.

Paul Anka & Frank Sinatra
***
Thơ phỏng dịch của Nguyên Trần
Con Đường Tôi Đi

[Phiên bản 1]
Bây giờ kết thúc gần kề
Nên tôi đối mặt cơn mê lộ nầy
Xin được cùng bạn tỏ bày
Đời tôi từng đã chân mây dặm trường
Cho dù lăn lóc gió sương
Và tôi theo đúng con đường tôi đi

[Phiên bản 2]
Nhưng tôi cũng tiếc vài điều
Tuy không lớn lắm để nhiều băn khoăn
Trải bao gian khổ nhọc nhằn
Tôi cũng làm được tuy rằng vấn vương
Mặc cho sóng gió bất tường
Và tôi theo đúng con đường tôi đi

[Phiên bản 3]
Nhiều lần các bạn đã mong
Tôi cần một ít lót lòng cho thân
Không cần tự hỏi băn khoăn
Tôi ăn với điệu ân cần muôn phương
Trên cao soi sáng tinh tường
Và tôi theo đúng con đường tôi đi

[Phiên bản 4]
Tôi yêu tôi khóc tôi cười
Ấy là duyên số cuộc đời của tôi
Và khi dòng lệ thôi rơi
Đó là giây phút tuyệt vời yêu thương
Cho dù còn chút vấn vương
Và tôi theo đúng con đường tôi đi

[Phiên bản 5]
Một thân nam tử trong đời
Bôn ba xuôi ngược trùng khơi mỏi mòn
Có chi ngoài những héo hon
Lụy quỳ phủ phục chỉ còn thê lương
Chập chờn bao nỗi chán chường
Và tôi theo đ́úng con đường tôi đi./.

Toronto 9/3/2020
Nguyên Trần




Lời Tiếng Pháp: Claude François  


Lời Việt: Nhạc Sĩ Nam Lộc - Nguyên Khang ca


Theo Bóng Tình Về



Tôi thấy vầng trăng trong mắt em
Lung linh sóng lượn rất êm đềm
Con đò neo lại làn tóc gió
Và mắt hồ thu neo sóng đêm

Tôi thấy ngày về trên tóc bay
Líu lo chim hót nắng hương gầy
Ngẩn ngơ ký ức neo chiều hẹn
Tình tôi neo lại một vòng tay

Tôi thấy hạ về trên nụ môi
Cánh phượng nghiêng rung đỏ nụ cười
Tôi như bàn ghế sân trường vắng
Nỗi nhớ người theo tóc rẽ đôi

Tôi thấy tình về trên giọt mưa
Tóc người, khăn mãi chẳng lau khô
Tóc ướt để tình luôn sũng ướt
Cho lòng thương nhớ mãi che dù

Tôi thấy người về trên gió đông
Se se cái lạnh má thêm hồng
Người tận phương trời xa cách nhớ
Soi gương kỷ niệm nỗi buồn hong

Trầm Vân

Chùa Long Thiền


Khoảnh đất mà ngôi chùa tọa lạc thuở đầu, bề ngang 50 thước, dài 50 thước, tổng cộng khoảng 2500 thước tương đương hai công rưỡi, với thời gian cùng sức ép cư dân, đất chùa teo tóp dần còn lại khoảng chừng non hai công cho ba công trình: Sân trước, chùa và khu mộ phía sau chùa. Nằm bên trên bờ sông Long Hồ, giữa hai chiếc cầu là cầu Thiềng Đức và cầu Bạch Đằng, phía sau chùa giáp ranh phía sau nhà thờ họ đạo Thiềng Đức, hai ông này đâu lưng nhau, mặt xây hai hướng khác nhau, nhưng mục đích không khác nhau ... 

Ngôi chùa nhìn từ phía ngoài đường Nguyễn Chí Thanh mà ngày xưa là đường Lê minh Thiệp, xa nữa là lộ làng, xa hơn nữa là đường thôn xóm vắng. Cách mặt đường khoảng gần hai mươi thước là ngôi chùa theo kiến trúc phái thiền thuộc Lâm Tế tông, từ ngoài nhìn vào không thấy được bên trong chánh điện, bức tường gạch gian chánh điện che kín liền lạc, muốn vào viếng chùa phải qua sân đất trống được lát đá xanh nguyên tảng, dài khoảng 1 thước rưỡi, ngang khoảng 3 tấc, dầy chừng 1 tấc rưỡi, đi gần chục tảng đá sấp xuôi là đến 5 bậc thềm, hai bên hông chánh điện gồm hai hành lang thường gọi, đông lang dành cho nam, bên trái hông chùa là tây lang dành cho nữ. Vào chánh điện phải đi hết hai hành lang tùy theo nam nữ, rẽ trái hay phải mới vào chánh điện được. Cuối đông lang là chiếc chuông công phu sáng sớm và chiều tối, cuối tây lang < dành cho nữ > an vị chiếc trống to, dùng trong dịp lễ, nhịp trống vào giữa thời kinh còn gọi < đánh trống bát nhã >, cửa vào chánh điện mở chính giữa, cách khung cửa khoảng hai thước là bức vách bằng cây che phía lưng tượng đức Thế Tôn, vào chánh điện cũng đi vòng theo nam nữ, mà vào hẳn bên trong hành lễ thì nam nữ đồng vị Trong chánh điện bện trái sát giữa tường có bộ lễ âm gồm một trống nhỏ, một cái giá treo chiếc chuông nhỏ đường kính khoảng 3 tấc, phía dưới chuông treo tấm cây bằng gỗ đen, còn gọi là bảng, để đánh trống có cặp dùi nhỏ, để đánh bảng cùng chuông dùng chiếc búa bằng cây, bộ lễ cụ này thường dùng trong công phu khuya gần sáng, phần này phải học nhuần nhuyễn mới đánh được, chỉ bởi một vị thầy.


Hồi xưa, tượng đức Bổn Sư ngồi trên nghi cao, mà người lớn đi dưới nghi không cần cuối đầu, tượng được dát vàng, theo thời gian mầu sậm lại trông cổ kính, nhìn kỷ chiếc miệng dường như cười, nên vừa từ ái lẫn nét hoan hỉ. Cách đây khoảng hơn 10 năm vị trụ trì già, có lẽ nghĩ để trang nghiêm tượng phải làm cho đẹp, nên ông sơn bên ngoài bằng sơn dầu với môi son mặt hồng phấn, y sơn nhủ vàng sáng sủa, còn chiếc đại hồng chụng theo thời gian đã đen mun, ông nhận thấy cần cho bóng mới đẹp, ông sơn dầu trong cho toàn chuông, và chuông bị điếc. Giữa chánh điện và tổ đường có khoảng đất trống bên dưới, cũng để trống luôn bện trên thường gọi là sân khấu, chẳng biết ngày xưa có phải dùng vào việc họp tăng chăng? Cũng xưa lắm trong khuôn viên nhỏ của sân khấu có một con quy khá lớn thường chậm chạp bò quanh sân nhỏ ẩm ướt, được cho ăn rau cải, thường là trái chuối xiêm, có lần < ông chín khùng> thân cao to mập ăn trầu liền miêng, trên tay luôn có cây gàu với đầu gàu là chiếc son sữa bò, dùng múc nước tưới cây dọc đường đi, tưới vài lon nước là xin tiền hoặc xin trầu ăn, ông vào chùa ngồi lên con quy, vị thầy trụ trì phải hô lên vài lần ông mới chịu đứng lên, cách đây vài chục năm không thấy con quy trong sân khấu, có lẽ đã tham gia buổi nhậu nào đó chăng? 


Trước tổ đường, gần sát sân khấu có một nghi trên đó an vị tượng đang ngồi, mặt hướng về sân khấu sau chánh điện, tay tựa lên cán búa dùng cho tiều phu, được sơn son thếp vàng, vị này là lục tổ Huệ Năng khi còn là tiều phu danh xưng trong đại chúng là Ông Giám, tương truyền trong lịch sử thiền tông ngài là vị dốt đặc, dốt một cách bi tráng, ngài chỉ nghe âm hưởng tụng đọc của bộ kinh Kim Cương mà cảm ngộ. Phía sau lưng tượng, nghi giữa là tổ vị, hai bên là hai nghi thờ các vị có công đức với chùa. 

Ngày xưa, sát vách ván của gian thờ tổ, mà đàng sau là nơi ngụ của vị hòa thượng, hai bên phía ngoài sát vách là hai phòng, bề ngang khoảng 2 thước rưỡi, sâu khoảng hơn bốn thước, cả hai phòng dành cho giáo thọ và yết ma, là hai chức vụ phụ hòa thượng điều hành mọi việc trong chùa. Trên nghi cao của tổ vị, góc trái có một xương đầu cọp, mà theo truyền miệng là của vị tu trì đầu tiên nơi cuộc đất này, ông ngụ nơi đây tịnh tu cùng với một con cọp, mà người xưa gọi là ông hổ tu theo thầy, sau đó vị sư này mất, con hổ cũng chết theo, mộ của con hổ nằm cuối dãy mộ, gần sát mương nước, thuở tôi còn nhỏ, thì núm mộ nhỏ đã lạng gần sát mặt đất, cách đó khoảng 5 thước là một buội trúc sát mương nhỏ, mương này thông ra cống chảy vào sông Long Hồ. Hiện nay xương đầu cọp cũng hô biến đâu mất tiêu, chắc là được vào nồi nấu cao du hí muôn phương rồi. 

Thông thường gian thờ tổ thường xây dựng cao hơn chánh điện một chút, với ước mong hậu bối tấn phát hơn các vị tiên hiền. Bên phải chùa là gian nhà cất riêng biệt rộng, dùng tiếp đãi bá tánh trong những ngày rằm, ngày vía lớn, với hai dãy bàn dài cùng hai bộ ngựa bằng gổ khá to, phía trong cũng nằm bên phải của nhà khách là phòng dành cho khách tăng hoặc tăng nhân của chùa cư ngụ. Phía sau bên ngoài cùng là trù phòng, nơi nấu ăn cho tăng chúng, từ đây mở ra sân sau, nơi an nghĩ vĩnh hằng của hòa thượng, tăng nhân cùng bá tánh.


Vào khoảng năm 1956 bên trái phía ngoài sân trước chùa, chánh quyền có xây một giếng nước dùng bơm tay để đưa nước lên, người dân cũng ít dùng vì sát mé sông, theo thói quen dân cư là xách hay gánh nước từ mé sông lên, lóng phèn là dùng, không phải hì hục bơm, thời gian lâu lại phải chờ đợi, do vậy đám con trai trong xóm buổi xế chiều thường tụ tập kẻ bơn người bịt cho đến khi áp suất lớn, mới nhích khẻ tay ra cho nước văng tung tóe rồi cùng nhau đùa giỡn, hơn mười năm sau, chánh quyền đặt ống nước dẫn vào nhà dân, một trụ nước sạch công cộng đặt sát đường cách giếng nước cũ khoảng 5 thước, về phía cạnh đường đi, kể từ đó giếng bơm tay được gở bỏ. 

Năm 1968 chiến tranh lan vào thành phố, gian nhà khách bị cháy và sập, chùa nghèo không xây dựng lại được, khoảng sau đó ít lâu, hai nhân sĩ địa phương phá bức tường phía trước chánh điện làm cửa mở thẳng ra phía lộ, cho sáng sủa mặt tiền chùa do vậy đức bổn sư không còn ngồi trên nghi cao nhìn tường mà ngó thẳng ra đường cho vui mắt. Đến đây chấm dấu hết nét xây độc đáo dành riêng cho ngôi cổ tự thuộc phái Lâm Tế tông ở địa phương. 

Khi xưa chùa không có cổng, nay trước chùa là chiếc cổng tam quan bề thế, vị trụ trì hiện tại đã khởi công tu sửa và phát triển toàn bộ ngôi chùa đâu khoảng từ năm 2007 cho đến nay là năm 2015. Mặt sân trước được nâng lên cách nền chùa khoảng 2 tấc, do vậy khi vào chùa không còn phải lên năm cấp như xưa. Hai hành lang đông và tây được bỏ vách tường ngăn, nên bề ngang chánh điện được rộng thêm, nền lót gạch men theo hiện thời, chồng lên nền gạch tàu cũ, nơi nghi giữa, có thêm tượng đức Thích Ca cao to, tượng xưa cũng chính giữa nhưng thấp hơn, hai bên vách hông cũng nhiều nghi đặt tượng mà không biết tên vị nào, thành thử cũng không biết luôn thứ bậc “ chức vụ “, cho nên các vị thiện tín khi vái lạy có lẽ vái trổng rồi lạy mà thôi, phần này cũng dễ, thấy tượng phía trước có bát nhang thì cứ cuối lạy là trúng. Ngói nóc từ chánh điện cho đến tổ đường đã hư hỏng khá nhiều được đưa xuống thay gổ hỏng, rồi xấp nóc trở lại, do đó từ trên nhìn xuống vẫn y nguyên kết cấu của ngôi chùa cổ.


Theo cách bày trí ngày nay, thông thường trước chùa miếu thường có tượng đức Quán Thế Âm, thân nữ, ngài đứng, có lẽ tiện lợi cho người cầu nguyện khỏi phải vào chánh điện. Nơi sân khấu sau chánh điện, hiện thời là một ao sen vuông, chiếc cầu bắt bên trên dẫn lối đến một tượng Quán âm ngồi xem sách có lẽ được tạc từ đá cảm thạch trắng, tượng khá bề thế và đẹp. Bên trái khuôn viên sân khấu, một gian xây dành thờ riêng đức Quan Thánh Đế Quân, được biết tượng được tạc từ một gốc cây cổ thụ hàng trăm năm, thế ngồi cao to đen bóng khá uy nghi. 

Bên phải là khuôn viên một trệt hai lầu, tầng trệt một tượng bằng cây to, ngồi trên tòa sen cũng là tượng đức quán thế âm, hai tầng trên sử dụng làm nơi đặt cốt cho bá tánh. Đứng trên bao lơn tầng cao có thể nhìn bao quát thành phố và một phần sông Tiền vĩnh long. 

Dựa theo thông tin được cập nhật gần đây, Phật giáo Việt Nam đã phát triển từ lâu lắm, có lẽ từ trước công nguyên, bởi tại Bắc Ninh đã có trung tâm tu học phật tên gọi – Trung tâm Tuy Lâu – Tại nơi này, đôi vợ chồng người Ấn sang buôn bán, hạ sinh một người con trai, < khoảng giữa những năm 180- 190 > hai ông bà mất khi cậu con còn vị thành niên, vị này xin vào tu học nơi trung tâm Tuy Lâu, tỉnh Bắc Ninh, đó là thiền sư Khương Tăng Hội, tạm gọi là sơ tổ thiền tông Việt nam. 

Vào khoảng giữa năm 500 thời Lý Nam Đế, Tì Ni Đa Lưu Chi đắc đạo với tam tổ Tăng Xán, đã sang Việt Nam truyền pháp. 

Năm 826 nhánh thiền Vô Ngôn Thông vào tiếp 
Năm 867 nhánh Chuyết Công Nguyên Thiều, thuộc dòng Lâm Tế. 
Năm 949 nhánh Vô Ngôn Thông với tông phái Thảo Đường. 
Cuối năm 800 đến đầu những năm 900 nhánh Tào Động Tông với phái Nhất Cú


Năm 1683, thiền sư Nguyên Thiều người Quảng đông, Trung Hoa, theo thuyền buôn vào Bình Định, góp nhặt gạch, đá của Thập Tháp xậy nên ngôi chùa Thập Tháp Di Đà hoàn thành năm 1683. Tính đến nay đã hơn 16 đời truyền thừa dòng Lâm Tế chánh tông nơi chùa Thập Tháp. Các đời kế tiếp xuôi về phương nam theo sự khuyến khích của chúa Nguyễn, riêng thời Tự Đức cho mở mang bờ cõi mạnh về phương nam, kèm theo đó là nơi nào có làng xã thì lập chùa, các sư, tăng, từ các chùa miền trung cũng được vua khuyến khích vào nam khoảng năm 1853. Chùa Long Thiền cũng được tạo dựng trong khoảng thời gian này. 

Vị sư đầu tiên đến lập nơi thờ Phật và truyền bá là hòa thượng Thiện Sơn, ngài đến cùng với một con cọp, về sau ngài tịch con cọp cũng mất theo. 

Vị kế tiếp là hòa thượng Tâm Hội, ngài vốn người Bình Định, họ Lại, sinh năm kỷ tỵ - 1869, là đệ tử chánh truyền dòng Lâm Tế, là tổ thứ 39 của chùa Thập Tháp Di Đà kế thừa và xây cất lại toàn bộ chùa Long Thiền. Trong thời gian hoằng hóa Phật Pháp, ngài lên vùng Châu Đốc mua gỗ súc kết thành bè, xuôi theo sông đưa bè gỗ đến bến an lành, trừ thời gian công phu khuya và sớm, suốt ngày trầm nơi bến sông lo việc cất chùa. Không rõ thời gian xây chùa trong bao năm mới hoàn thành, năm hoàn tất được ghi trên tấm hoành gian giữa chánh điện vào năm nhâm dần ( 1902 ). Hai vị thí chủ lớn của chùa là Đốc Phủ Bảo và bà Phủ Y “ Trương Thị Loan “, ngoài ra còn nhiều vị nữa được ghi trong bảng treo bên vách trong chánh điện của chùa. Như vậy hòa thượng Tâm Hội là sơ tổ chùa Long Thiền, thuộc hệ phái Lâm Tế chánh tông chùa Thập Tháp, ngài viên tịch ngày mùng 3 tháng 8 năm bính tý ( 1936 ), hưởng thọ 63 tuổi. Các đệ tử truyền thừa của ngài thuộc hàng chử Chơn, rất nhiều được phân ra các nơi trong miền nam, hai đệ tử còn lại gắn bó với chùa là, thầy Chơn Hòa và Chơn Nguyện, thầy Chơn Nguyện yết ma kế thừa chùa Long Thiền. 

Khoảng thập niên 70 thầy Yết Ma già yếu, thầy Thiện Tâm kế thừa, Thiện Tâm là pháp hiệu, pháp danh là Từ Khai do sư bác là thầy Chơn Hòa đặt trong lễ xuất gia tại chùa Hội Phước nơi An Hửu, thuộc tỉnh Định Tường, cách bắc Mỹ Thuận khoảng 10 cây số, sau đó ông theo học tốt nghiệp cao trung Phật học, cư ngụ nhiều chùa tại Sài Gòn, sau cùng về chùa Long Thiền 

Giữa năm 1985 Thiện Tâm mời thầy Minh Thanh, đang trụ trì chùa Bảo An, tỉnh Cần Thơ, về chăm sóc chùa, có lẽ do duyên tu của Thiện Tâm đã mãn. Thầy Minh Thanh trụ trì hơn năm năm, rồi cũng rời chùa.



Nhận thấy ngôi tam bảo không thầy chăm sóc, chánh quyền phường 5 mời vị cư sĩ tu tại gia là ông ba Bê, người địa phương đến trông nom hương khói, pháp danh Minh Pháp, ông trở thành trụ trì chùa trong nhiều năm sau đó, vào thuở chính thức nhận chùa, ông cũng đã cao niên lắm, sức yếu, phải nhờ đến một vị thượng tọa phụ việc trong chùa, thầy Phước Quang, vốn là thầy trẻ, có học lại giao tiếp rộng, được các vị thí chủ ủng hộ, trong số đó có vị đại thí chủ là cô Diệu Mãn gần như lo toàn bộ từ xây dựng cho đến an vị các tượng thờ. Chùa Long Thiền có thể được xem như đổi mới toàn bộ, khi viếng khách có cảm giác tôn kính trước cảnh uy nghiêm rạng rỡ của ngôi chánh điện. 

Từ năm 1902 trở về sau là cảnh hưng thịnh của chùa, với đầy đủ lễ nghi theo phong thái tông Lâm Tế, nhưng mang đậm nét tịnh độ của dân tộc Việt nam. Đó là thời của sơ tổ Hòa Thượng Tâm Hội, sau khi ngài tịch, chùa suy hoại từ từ, mãi đến thời thầy Minh Thanh, rồi sư ông Minh Pháp, chùa không còn suy trầm, song chưa phát triển được. Nay đến thời thầy Phước Quang chùa khởi sắc trở lại với nhiều hoạt động Phật sự, đáng lưu ý nhất là rất nhiều tượng được thay đổi mang về thờ trong điện với nhiều tên rất lạ hơi hướng giống tên các tiên thánh bên Tàu. Ngày thường rất ít người viếng, chỉ ngày lễ tết cùng ba rằm lớn là mở rộng cửa cho dân chúng vào lễ lạy. 

Đáng lẽ tôi có nhiều ảnh của chùa Long Thiền, song không thể vào chùa ghi hình được bởi năm 2012 Nhâm thìn, ngày mồng một theo lệ gia đình, tôi cùng con cháu vào viếng chùa chụp vài ảnh con cháu lễ kính, tôi vai đeo máy ảnh, con Bé Ky xuống xe vào trước, tôi định xuống xe vào chùa theo sau cháu, chợt có tiếng nói từ máy phóng thanh của nhà chùa vọng ra, không cho chụp hình, tôi ở ngoài xe chờ cháu lễ xong, đến viếng chùa ông, rồi thiền viện Sơn Thắng, kế đó mới lên nhà mừng tuổi má tôi ở cầu Huyền báo. 

Đó là nguyên do tôi không có nhiều hình về chùa Long Thiền ở gần nhà tôi, nơi ngày xưa tôi tới lui thường xuyên như ở nhà vậy.


Trương văn Phú

Nhớ Nhà



Xướng:

Nhớ Nhà

Gót bước, quê nhà xa lắc lơ
Chiều buông mắt ngóng hướng tây mờ
Tàu cau gợi nhớ vuông vườn ngoại
Tiếng mẹ ru hời những giấc mơ
Đất lạ mà quen danh địa chí (*)
Trời quen nhưng lạ mái nhà thờ
Vẳng đâu tiếng quạ cung sầu thảng
Nửa mảnh hồn ta tựa vất vơ …

Cao Bồi Già
(*): L. SaigonSanta Anna, 08-03-2020
***
Các Bài Họa:
Hồn Tổ Quán

Nghĩa tình nguồn cội dễ gì lơ
Mòn gót phong sương sạm bụi mờ!
Mê mải đường trần sa bể mộng
Lao lung dặm nẻo lạc trời mơ ?
Hiếu chung khắc cốt hằng tu tỉnh
Cúc dục ghi tâm mãi phụng thờ!
Ký ức hằn sâu hồn xứ sở
Chạnh lòng xa xót thuở bơ vơ!

6-3-2020
Nguyễn Huy Khôi
***
Tứ Cố Vô Thân

Ca Li xuân đến trời xanh lơ
Quê mẹ vời trông tận thẳm mờ
Lạc tổ chim sầu kêu tiếng nhớ
Lìa cành lá úa rụng triền mơ
Làn mây viễn xứ còn hoang hoải
Ngọn gió cô phương đã thẫn thờ
Gót lữ đau mòn theo tuế nguyệt
Tay đời cũng mỏi níu vu vơ…

Lý Đức Quỳnh

8/3/2020
***
Tâm Sự Kẻ Xa Quê

Lạc lõng xứ người thân láo lơ
Vời trông quê cũ khuất xa mờ
Con đường đi học ...chìm trong mộng
Quán nước hẹn hò...lạc giữa mơ
Thôn mẹ: sông trăng và bến đợi
Vườn cha: nhà tổ với trang thờ
Mỗi chiều dõi mắt nhìn mây trắng
Lòng lại bồi hồi nghĩ vẩn vơ.

Sông Thu
***

Khắc Khoải

Bao ngày trông đợi chẳng hề lơ!
Trên chuyến ly hương cảnh nhạt mờ!
Nhớ buổi người đưa ngờ giấc mộng
Ghi lời bạn chúc thỏa niềm mơ
Đường quê vời vợi lòng hiu hắt
Sóng biển lao xao mặt thẫn thờ
Khắc khoải canh dài ôm vạn mối!
Trăng già thương cảm bóng chơ vơ!

Như Thu
03/08/2020
***
Xa chốn cũ

Trông về xứ mẹ,biển xanh lơ
Mây trắng lang thang,núi nhạt mờ
Cảnh lạ,chưa nằm trong ký ức
Tên quen,từng gọi giữa cơn mơ*
Tiết xuân trở lại hoa tươi thắm
Tiếng quạ bay qua,dạ thẫn thờ
Khóm trúc vườn ai khơi nỗi nhớ
Xa rồi...mái rạ, thấy bơ vơ

*sài gòn(little)

Thanh Hoà
***

Nhớ Quê Hương

Nhìn lên mây trắng khó làm lơ,​
Chạnh nhớ quê hương tận mịt mờ.​
Những buổi chiều tàn thầm ước vọng,​
Một mai trời sáng thỏa hoài mơ.​
Trở về cố quốc yêu sâu đậm,​
Thăm lại người xưa nhớ thẫn thờ.​
Đất khách lang thang đời bất định,​
Xứ người lạc lõng sống bơ vơ.​ 

Nguyễn Thị Mỹ Ngọc.​
Mar.8/2020
.​***
Hoài Hương

Đất khách quê người dạ chẳng lơ
Quê hương đậm nét khó phai mờ
Sông nằm nhớ mãi con đường mộng
Bến ngủ thương hoài góc phố mơ
Gắn bó hoà chung nơi lớp học
Lân la nhập hội ở ngôi thờ
Khung chiều dạo bộ lòng hoang vắng
Nắng rũ chân đồi mắt vẩn vơ 

Minh Thuý
Tháng 3/8/2020
***
Ra Khơi

Trùng dương bát ngát biển xanh lơ
Mấy chốc làng thôn ẩn hiện mờ
Mây ráng chân trời dải lụa tím
Xóm chài xa tắp khói lam mơ.
Buồm giăng sóng vỗ lòng se thắt
Gió nổi thuyền đi dạ thẫn thờ.
Đăm đắm trông theo viền núi biếc
Nhớ nhà chiều xuống nỗi bơ vơ.

Mailoc
***

Xứ Lạ Buồn Tênh

Đã tới rồi ư, khách giả lơ
Biển tây xa thẳm khói sương mờ
Chưa đi, có vẻ như thầm mộng
Vừa đến, sao đành nghĩ chỉ mơ
Ở hẳn hay về còn lãng đãng
Chơi thôi hoặc nhớ cũng bơ thờ
Trời cao, đất thấp đều ngơ ngẩn
Xin chớ buồn đây đó vẩn vơ...

Hawthorne 8 -3 - 2020
Cao Mỵ Nhân
***
Thầm Mong

Bỗng chốc mây buồn treo lửng lơ
Tâm xao xuyến đến mắt hoen mờ
Nương đồi xanh thẳm tươi đồng lúa
Biển bạc bao la sáng ước mơ
Sợ ở phương xa quên tục lệ
Thầm mong chốn mới nhớ đền thờ
Vấn vương sáu khắc năm canh mãi
Dạ cứ nôn nao nghĩ vẩn vơ 

Hồng Phượng
 ***
Chiều Buông

Đồi vắng mây chiều treo lửng lơ
Dừng chân dõi mắt tít xa mờ
Ngời ngời nét ngọc khơi duyên đắm
Đạo mạo dung nghi gọi ước mơ
Hà cớ thần quang dường dã dượi
Can chi sắc vóc toát ơ thờ
Ai hay viễn khách lòng đau đáu
Đất tổ trông vời trí vẩn vơ

Phương Hoa 
Mar 8th 2020
***
Nhớ Quê

Xứ người quê ngóng bóng xa lơ,
Ẩn hiện đâu đây dáng thoáng mờ.
Lời mẹ mãi in như giấc mộng,
Tiếng ba dường ẩn tợ trong mơ.
Nghìn trùng đất Mỹ ngồi hiu quạnh,
Viễn hút quê xưa nghĩ thẩn thờ.
Nhớ quá Việt nam! Ôi nhớ quá!
Mượn vần thơ thẩn đọc vu vơ.

Hồ Nguyễn
(09-3-2020)
***
Nỗi Lòng Kẻ Xa Quê

Nhìn về quê Mẹ bể xanh lơ
Xa tít mù khơi quá mịt mờ
Nhớ mãi vườn xưa bao nỗi xót
Thương hoài cảnh cũ lắm niềm mơ
Xứ người thấy lạ lòng hiu quạnh
Đất khách chưa quen trí thẫn thờ
Còn chút hồn say nên khắc khoải
Như vầng mây trắng lạc bơ vơ

songquang
20200308
***
Gợi Nhớ

Đứng ngẩn ,trông vời mây lửng lơ
Quê hương thấp thoáng giữa sương mờ
Đồi xưa...xanh biếc con diều nhỏ
Hiên vắng ...êm đềm nhịp võng mơ
Một sớm mưa buồn ...thân lử thứ
Bao đêm lệ đẫm...dáng ơ thờ
Xa xôi...mấy chục năm thầm lặng
Ai gợi ?cho hồn thêm vẩn vơ !

Thy Lệ Trang
***
Cứ vẩn vơ!


Chìm mài ven rừng hát lới lơ
Nay đà thoát được cảnh mây mờ
Nhìn Nga, nó đó vào mộng tưởng
Ngắm Mỹ, ta đây nảy ước mơ
Nước họ văn minh nên dạo viếng
Quê mình lụp sụp đáng chi thờ
Đời không nghệ giỏi tiền đâu chứ
Đành tắm ao nhà, cứ vẩn vơ !

Trần Như Tùng

***
Thanh Thản Từ Đây


Phố xá Saigon, xa tít lơ
Quê hương bỏ lại, lệ hoan mờ
Vì đâu lưu lạc về nơi lạ
Chẳng nhẽ kiếm tìm lại giấc mơ
Gian khổ đũ rồi, thôi tạ biệt
Nghĩa tình còn chút, đáng tôn thờ
Đất lành chim đậu, vui sum họp
Thanh thản từ đây hết vẩn vơ.

Thanh Trương
***
Dời Đô

Ngước mắt lên trời sắc xanh lơ
Vời trông chỉ thấy bóng mây mờ
Thương bao kỷ niệm thời thơ ấu
Nhớ những ân tình thuở mộng mơ
Xứ lạ nên lòng còn bỡ ngỡ
Nhà cao nhưng dạ vẫn ơ thờ
Tình quê lưu luyến không xao lãng
Giấc ngủ mơ màng nhớ vẩn vơ!

Thiên Lý
***
Trời Quen Đất Lạ

Nơi đâu trời đất cũng xanh lơ
Nhà cũ vời trông biển mịt mờ
Đất Mẹ thương hoài nơi ướp mộng
Quê Cha nhớ mãi chốn thầm mơ
Lòng người viễn xứ buồn rười rượi
Dạ kẻ tha hương xót thẫn thờ
Mới đến , chưa quen nên thấy lạ
Lâu dần , hy vọng hết bơ vơ

Người Sông Cửu
***
  Sầu Quê

Xa vời đất lạ núi xanh lơ,
Gió thoảng mây trôi sóng biển mờ.
Ga đẹp xứ người tươi phố mộng,
Bướm hồng hoa lá thắm tình mơ.
Tà dương nắng tím nhìn vương vấn,
Cảnh sắc vườn xinh ngó thẫn thờ!
Tha thiết dạ quê sầu tưởng nhớ…
Nhà tan cách nước hận buồn vơ!

Liêu Xuyên

***
Vọng Khúc Cô Lữ

Càng thêm sâu lắng giọng hò lơ
Khi bóng miền quê chẳng khuất mờ
Mai mốt tương lai neo bến thực
Bây chừ kỷ niệm tắm dòng mơ
Miếu đình tiên tổ đà thương phụng
Hương khói ông cha mãi kính thờ
Cô lữ không nhà đành gửi gió
Ru thành vọng khúc đỡ buồn vơ...

11-3-2020
Phan Tự Trí

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2020

Nhạc Kịch Đàn Ca Tài Tử - Kiều ( Nguyễn Du)

Trúc Tiên và toàn Ban kính mời quý vị tham dự buổi nhạc Kịch: Kiều.
Trân trọng kính mời 


Bông Sầu Riêng - Thơ Đỗ Thị Minh Giang - Nhạc Nguyễn Hữu Tân



Thơ Đỗ Thị Minh Giang 
Nhạc Nguyễn Hữu Tân
Tiếng Hát: Thùy An

Thu Quạnh Hiu


(Ảnh - N.Đ.Trọng & Thanh Đan)

Đất trời thay áo khoe vàng đỏ
Gần cuối thu rồi em ở đâu?
Đảo xa đất khách sầu mưa gió
Bạn cũ loe hoe trắng mái đầu

Thi hữu cách chia chẳng thấy mặt
Rải rác phương trời khắp năm Châu
Vẳng tiếng vọng âm gầm đại pháo
Sắc mầu chinh chiến sao bền lâu?

Thu đến thu đi  thu lại lại
Hà nội thu xưa mối tình đầu
Thừa Thiên Thành Nội thu êm vắng
Sài gòn còn tưởng thu tình sâu

Đã lắm lá vàng chen lá đỏ
Ta khóc cho em mối tình sầu!
Gần cuối thu rồi còn tìm mãi,
Ai người mang ấm sưởi hồn nhau?

Locphuc

Tình Lỡ



(Họa từ thơ của Tác Giả Phạm thị Mỹ Phương)
Tình lỡ muộn màng dạ ngổn ngang
Mây trời lãng đãng sắc thu vàng
Hương tình lai láng muôn cành thắm
Sương khói lung linh mấy dậm hoang
Điệu nhạc reo vang hòa khóm trúc
Lời ca vi vút vọng cành bàng
Chờ hoài chẳng thấy người xưa đến
Chỉ có nỗi sầu mãi nặng mang.

Toronto 3/3/2020
Nguyên Trần

Nỗi Niềm Em



Bài Xướng:

Nỗi Niềm Em


Ngày qua tháng lụn thân già
Cùng sông cùng núi quanh ta bóng chiều
Tháng năm còn đó bao điều
Còn trong trăng gió mãi trêu tình người.
Bao mùa gối mộng ngày trôi
Vọng âm vạn dặm xa xôi đất trời
Tóc mây buông gió hiên đời
Bâng khuâng sợi nắng đầy vơi nỗi niềm

Hương Thềm Mây
2020
***
Bài Họa:

Nỗi Niềm Riêng

Lá vàng rụng dưới cội già
Khác chi héo hắt bóng ta cuối chiều
Còn đây manh áo lụa điều
Ủ hương xưa giữ như trêu lòng người
Thời gian vun vút mùa trôi
Tâm hơi biền biệt xa xôi mây trời
Người vui say giấc mộng đời
Xót xa kẻ ở sao vơi cảm niềm

Kim Oanh
3/2020

Trần Ai



Trần ai cứ tưởng chốn nhân gian
Cõi thật nên người ở địa đàng
Mở mắt vào đời sinh lão bệnh
Khóc nhòe nhập thê bước quan san
Bạn thân thấu hiểu bao lâu nữa
Tri kỷ nào hay khoảnh khắc sang
Sống tạm trả vay còn nợ mãi
Phù du cát bụi mớ tro tàn

Phù du cát bụi mớ tro tàn
Xuất thế từ tâm hỉ xả ban
Sự nghiệp tiêu tan đâu phú quý
Cơ ngơi hủy hoại đấy kinh hoàng
Lìa đời chôn cất bàn tay trắng
Tạ thế hỏa thiêu cỗ áo quan
Giây phút dứt hơi như gió thoảng
Hồn theo khói quyện gởi mây ngàn

Mai Xuân Thanh
Ngày 06 tháng 03 năm 2018