Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Văn Quyên 聞䳌 - Phương Hiếu Nhụ

Nhàn lão, một bài thơ xưa ,với vài cảm xúc ghi vội ̣ Có là giây phút hạnh phúc an ủi chăng, cho người nửa đời biệt xứ, khi tưởng nghe được tiếng quyên kêu buồn, đã nghĩ là mình vẫn còn có một nơi chốn để nhớ, để về?



Cảm Xúc Ghi Vội Trong Lúc Nghe Tiếng Cuốc Kêu

"Chốn xưa nhớ về / Chốn xưa nhớ về / Chốn xưa nhớ về ... "

Một tiếng, chạnh lòng lữ thứ
Hai tiếng, xót phận ngu ngơ
Ba tiếng, mây trắng dật dờ
Bốn tiếng, vườn xưa còn đó
Năm tiếng, trăng lọt song thưa
Bóng ai miệt mài canh cửi
Sáu tiếng, lệ hoa huyết đổ
Ố hoen trổ tím lan thềm
Bảy, tám, chín tiếng ... hết biết
Lặng ngồi, nước mắt bơ vơ
Nhớ trước, hồi còn ở nhà
Dửng dưng chim kêu chim gọi
Thân nay, đất khách, mới hiểu
Bạc đầu tiếng cuốc vu vơ!


Phạm Khắc Trí
***
1. Nguyên Tác chữ Hán cổ của bài thơ:

聞䳌                        Văn Quyên

不如歸去,            Bất như quy khứ,
不如歸去 !              Bất như quy khứ !
一聲動我愁,         Nhất thanh động ngã sầu,
二聲傷我慮。         Nhị thanh thương ngã lự.
三聲思逐白雲飛, Tam thanh tư trục bạch vân phi,
四聲夣繞荆花樹。 Tứ thanh mộng hiểu kinh hoa thụ.
五聲落月照踈櫺, Ngũ thanh lạc nguyệt chiếu sơ linh,
想見當年弄機杼。 Tưởng kiến đương niên lộng cơ trữ.
六聲泣血濺花枝, Lục thanh khấp huyết tiễn hoa chi,
恐汚堦前蘭茁紫。 Khủng ô giai tiền lan truất tử.
七八九聲不忍聞, Thất bát cửu thanh bất nhẫn văn,
起坐無言淚如雨。 Tọa khởi vô ngôn lệ như vũ.
憶昔在家未逺遊, Ức tích tại gia vị viễn du,
毎聽䳌聲無點愁。  Mỗi thính quyên thanh vô điểm sầu.
今日身在金陵上, Kim nhật than tại Kim Lăng thượng,
始信䳌聲能白頭 !   Thủy tín quyên thanh năng bạch đầu!

明·方孝孺         Phương Hiếu Nhụ

2. Chú Thích:
* Phương Hiếu Nhụ 方孝孺 ( 1357-1402 ), tự là Hi Trực, Hi Cổ. Người huyện Ninh Hải tỉnh Chiết Giang ( nay là TP Ninh Ba tỉnh Chiết Giang ). Ông là một nhà thơ, nhà tư tưởng, nhà văn học của đời Minh. Thục Hiến Vương Chu Xuân gọi ông là Chánh Học, nên người đời xưng ông là Chánh Học Tiên Sinh. Sau vì tham gia tổ chức Tiểu Phan, nên sau Tĩnh Nạn chi biến, không hợp tác với Minh Thành Tổ Chu Đệ, bị Đệ tru di thập tộc.
* Văn Quyên 聞䳌 : là nghe tiếng chim quyên kêu. Chim Quyên người Miền Nam gọi là Con Cuốc, miền Bắc gọi là Con Quấc.
* Bất như 不如 : Không phải là " Không bằng ". Ở đây có nghĩa là Thôi thì ..., Thôi hãy ...
* Kinh Hoa Thụ 荆花樹 : Một loại cây có gai trổ hoa đẹp như Hoa Giấy của ta, thường được trồng trước sân nhà, nên tượng trưng cho Cái Nhà , cho gia đình.
* Sơ Linh 踈櫺 : là Cái mái hiên che ngoài song cửa sổ.
* Cơ Trữ 機杼 : là Cái Khung cưởi để dệt vải.
* Khấp huyết tiễn hoa chi 泣血濺花枝 : Nước mắt khóc thành máu tưới lên các nhánh hoa.
* Vô Điểm Sầu 無點愁 : là Không một chút ưu sầu nào cả.
* Thủy tín 始信 : Mới tin rằng ...

3. Nghĩa Bài Thơ:

Về đi thôi, hãy về đi thôi! Cuốc kêu một tiếng đã khơi động mối sầu của ta, kêu hai tiếng lại đánh động niềm ưu tư của ta, kêu ba tiếng làm cho sự nhớ thương của ta bay theo làn mây trắng, kêu bốn tiếng thì mộng hồn của ta đã vờn quanh cây Tử kinh hoa trước sân nhà rồi, kêu năm tiếng thì bóng nguyệt đã mờ ngoài song cửa sổ, nhớ đến ai năm nào còn ngồi dệt cưởi bên song. Sáu tiếng cuốc kêu thì máu đã vãi khắp các cành hoa, e rằng đã làm hoen ố đi cành phong lan tím trước thềm. Bảy tám chín tiếng tiếp theo ta đã không đành lòng nghe nữa, ngồi bật dậy không nói năng chi mà lệ nhỏ như mưa. Nhớ lại những năm xưa còn ở nhà chưa lê gót lãng du, mỗi lần nghe cuốc kêu ta không chút âu sầu nào cả. Hôm nay thì thân ta đang ở tại Kim Lăng, ta mới tin rằng tiếng cuốc kêu dễ làm cho người ta trở thành đầu bạc !

Đọc bài thơ trên làm cho ta nhớ đến Tam Nguyên Yên Đỗ với:

Khoắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ ...
và ...
Năm canh máu chảy đêm hè vắng ...
với ...
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ!
nên dễ ...
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ!


Tiếng cuốc kêu đêm qủa rất dễ đánh động lòng người ! Chưa đi mưa chưa thấy lạnh, chưa xa nhà chưa thấy nhớ quê, như cụ Tiên Điền đã từng trãi:
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!

4. Diễn Nôm:

Nghe Cuốc Kêu

Về đi thôi, hãy về đi thôi!
Một tiếng cuốc kêu đã sầu rồi,
Hai tiếng thương tâm ba tiếng nhớ,
Lòng ta đã theo với mây trời.
Bốn tiếng đến sân hoa tử kính,
Trăng tà năm tiếng trước song rơi.
Dưới hiên bóng nguyệt xế rồi,
Nhớ người năm cũ bên trời đưa thoi.
Sáu tiếng quyên mửa máu rồi,
Hoen cành lan tím chơi vơi trước thềm.
Bảy tám rồi chín tiếng liền,
Bật ngồi rơi lệ im lìm như mưa.
Quê nhà nhớ những ngày xưa,
Nghe quyên đêm vắng lòng chưa thấy buồn.
Nay Kim Lăng vạn dặm đường,
Mới hay quyên hót sầu thương bạc đầu !


Đỗ Chiêu Đức
***
Tiếng Quyên Kêu

Quốc kêu một tiếng thấy khôn rầu
Vẳng tiếng thứ hai cảm động lâu
Ba tiếng thương tâm mây trắng nhớ
Thứ tư tử kính khóc cơ cầu
Thứ năm dệt cửi trăng mờ bóng
Sáu tiếng máu rơi lan tím sầu
Bảy, tám, chín nghe chi nữa... dậy
Thầm rơi giọt lệ thấm dường mưa !
Buổi xưa nhớ lại còn niên thiếu
Nghe cuốc kêu vang chẳng biết sầu
Nức nỡ Kim Lăng quyên lạc giọng
Bạc đầu thoáng chốc quốc kêu lâu

Mai Xuân Thanh
Ngày 30 tháng 11 năm 2017
***
Nghe Cuốc Kêu

Hãy về đi hởi hãy về đi
Một tiếng cuốc kêu đã lụy bi
Hai tiếng chạnh niềm thương xót phận
Ba kêu khắc khoải mây trắng di
Bốn tiếng vườn đêm sầu não nuột
Năm tiếng nhớ người trăng tủi buông
Sáu tiếng nguyệt tà hoa rỉ máu
Lan tím trước thềm hoen cánh loang
Bảy tám chín tiếng chẳng ngơi buồn
Không từ bất đông lệ mưa tuông
Hồi tưởng ngày xưa nhớ quê nhà
Tâm chưa giao đọng giọng cuốc đa
Nay Kim Lăng cách đường vạn dặm
Chim kêu da diết tóc bạc pha!

Kim Oanh

Xa Quê



Xướng: Xa Quê

Cố quận, trời xa vọng ngóng về
Ngàn trùng sóng gió biệt hà khê
Chiều giăng thăm thẳm niềm ngang ngổn
Tối nhốt mênh mang nỗi bộn bề
Cuộc thế cờ tàn lay lắt mộng
Canh đời lối nghẽn chập chờn mê
Dài đêm tiếng cuốc lòng côi nghẹn
Lịm giữa vô cùng những tỉ tê

Lý Đức Quỳnh
***
Bài Họa: Nhớ Quê

Vời trông mây trắng gửi thương về
Quê cũ mịt mờ dạ tái tê
Cất bước phong trần,xoay xứ lạ
Vượt đường sỏi đá,thoát bờ mê
Qua nhiều ải khổ trời mơ lịm
Thấm đẫm thành sầu giấc mộng khê.
Cố gắng vươn mình không nản chí
Niềm riêng cố quận vẫn bề bề

Thanh Hòa
***
1/ Dạ Khúc

Cố Hương thăm thẳm lối tìm về
Đò mộng mòn trông bến Nhị Khê!
Lập nghiệp đáo đôn trầy vạn nẻo,
Mưu sinh vật lộn cực trăm bề!
Nhân tình thuận đạo neo bờ Giác,
Thế cuộc may đời thoát bến mê!
Liệm chặt nỗi niềm buồn dạ khúc
Lệ nhòa thương khó,...thấm sầu tê!?

2/ Tản Mạn

Từ ly,...ước hẹn có ngày về,
Xua vợi buồn vương thuở khét khê,
Tiến thoái lạc thời ?...dè ngã rẽ
Dại khôn loạn thế?...khó yên bề.
Mèo cào sớp chữ!... còn hư mộng
Cóc gặm ghẻ thơ!...vẫn máu mê?!
Ai cúi ai khom,...đời mặc xác
Tỉnh say,...cài chốc....hết mô tê.

11-2017
Nguyễn Huy Khôi
***
Bế Tắc


Ly biệt bao năm chẳng trở về
Nào vì ngăn cách lắm sơn khê
Nỗi niềm trăn trở còn trăm mối
Công việc lo toan vẫn tứ bề
Sự nghiệp mười phương hoài lận đận
Đường đời muôn nẻo mãi u mê
Nhìn lui quá khứ, lòng đau quặn
Nghĩ đến tương lai, dạ tái tê.

Sông Thu
***
Xa Quê Lòng Nước

Quê hương mãi hẹn muốn quay về
Viếng tổ thăm làng với ruộng khê
Lận đận sông đời xa vạn nẽo
Lao đao nghiệp sống cách muôn bề
Lòng mong mấy bận gieo mơ hảo
Dạ ước bao phen chịu mộng mê
Đất khách phong sương thân quạnh quẻ
Cam lòng ngày tháng nhớ hoài tê

Hương Thềm Mây
(GM.Nguyễn Đình Diệm. )
27.11.2017
***

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

Tìm Em


Anh trở lại Mộc Châu tìm em.
Con đường cao nguyên hun hút sâu, hoang dại.
Đông đã về trên triền đồi vàng hoa cải.
Nhà em đâu đây rồi, mà em ở đâu..

Anh đi tìm em trong nỗi niềm trăn trở.
Sương mù cao nguyên, không nhoà mờ được nỗi nhớ.
Em đang ở đâu. Về đi.
Em đang ở đâu. Thôi đừng buồn chi..

Anh muốn thấy.
Trong ánh mắt em, niềm vui được hò hẹn.
Anh muốn nghe.
Giọng nói em trong hơi thở nóng nồng nàn.
Anh muốn ủ ấm.
Bàn chân em trong kỷ niệm ngập tràn.
Mà vô tình, em trượt ngã lúc chiều đông.

Anh ước làm cơn gió giữa khoảng không.
Bay tìm em, khắp triền đồi vạt núi.
Len lỏi từng con suối khô trần trụi.
Dù chỉ một lần, còn được thấy em.


Anh nhớ như mình từng mơ về nhau.
Về con phố nhỏ, ta gặp lần đầu.
Dù cuộc đời có xô ta về đâu.
Ta mãi còn, không thôi nhớ về nhau.
Ta như thấy bên mình. Có nhau.

Em đang nằm đâu, trên mảnh đất này.
Cả cao nguyên đang mùa hoa cải trắng.
Phố thị chiều đông, mưa mù sương ướt lạnh.
Con đường em thường đi, trải nỗi buồn xa vắng.
Anh gọi tên em mà đất trời câm lặng.
Em đang ở đâu. Về đi.
Em đang ở đâu. Thôi, đừng buồn chi...



Hhai
Ảnh cao nguyên Mộc Châu vào tháng cuối năm khi mùa đông về
mùa hoa cải trắng, cải vàng. Nơi đây được ví Dalat thứ hai


(Ảnh sưu tầm từ Net))

Hy Vọng Sông Dakbla Cười


Thời gian tiếp bạn thân thêm ngã 
Gục đầu chào tuổi đã dần cao
Qua bao năm lỗi hẹn nghẹn ngào
Chiến trường cũ nôn nao chờ đợi....

Các anh phương ngàn xa diệu vợi
Cố trở về vơi nỗi niềm riêng
Khóc đoàn viên vùng miền sinh tử
Nơi chỉ mành treo thử đời trai

Cuộc đời người mây bay gió thoảng
Ước mơ mang ngại khoảng trời xa
Đôi chân run chồng chất tuổi già
Sợ tất cả đi vào hư ảo

Chỉ lần về thôi buồn áo não
Khúc dạo đầu thăm lại sông xưa
Dòng chảy ngược đưa ta hồi ức
Cao cội nguồn sao rớt vực sâu

Nhìn xa xăm dãy núi buồn rầu
Sự kiện còn về đâu lịch sử
Bạn bè thân từ ngày chiến bại
Vạn nẻo đường ôm mãi sầu mang

Tháng ngày nhanh đời ta ngắn lại
Trêu mật gan hai chữ " suy tàn "
Quê Hương đẹp! Gian nan còn đó
Ráng chung lòng không khó vượt qua

Dăm ba cô Thượng tắm tươi cười
Dakbla dòng gượng gạo cười theo
Về đi thôi! Kẻo dần.....dần mất
Tất cả gì kỷ niệm trong ta!

"Thật lòng" cùng thăm lại Dakbla....
Dòng sông ngược đơm hoa khoe sắc
Như trước ngày vội tắt bình minh
Hy vọng nhỏ sông cười in bóng!

Kontum 13-8-2011
Lê Kim Hiệp

Chuyện Blogger




Xướng: Chuyện Blogger

Ngơ ngơ ngáo ngáo một thằng tôi
Láo láo lơ lơ chuyện đã rồi
Web web mail mail khoe loạn xạ
Thi thi phú phú chẳng lo bồi
Thà rằng ngốc ngốc ngu ngu vậy
Bỏ hết hờn hờn giận giận thôi
Giờ đã sung sung kèm sướng sướng
Thảnh thơi nói nói với cười cười.

Quên Đi

***
Các Bài Họa:
Tâm Sự Blogger


Vẩn vẩn vơ vơ một ngốc tôi
Vui Vui cực cực chuyện xong rồi
Thơ thơ xướng xướng luôn bay tới
Ảnh ảnh tranh tranh mãi đấp bồi
Chẳng trí khờ khờ khạo khạo vậy
Được tâm tịnh tịnh an an thôi
Đau đau yếu yếu nhưng tâm khoẻ
Ngắm ngắm xem xem thích thú cười.

Kim Oanh



Đường Vào Thi Phú


Dở dở ương ương bản tính tôi
Ngơ ngơ ngáo ngáo tự lâu rồi
Bằng Bằng Trắc Trắc không tuân thủ
Luật Luật Niêm Niêm chẳng đắp bồi
Mộng mộng mơ mơ pha ý vị
Thơ thơ thẩn thẩn vậy mà thôi
Thi thi phú phú nay mai khá
Thực thực hư hư rõ khóc cười

Kim Phượng



Quen Quen Lạ Lạ

Lạ lạ quen quen lỗi tại tôi
Quên quên nhớ nhớ cũng lâu rồi
Yêu yêu trách trách xưa lo lắng
Ghét ghét hờn hờn sớm liệu bồi
Né né lơ lơ luôn bất tiện
Im im lặng lặng sẽ qua thôi
Buồn buồn mệt mệt nên tha thứ
Sắc sắc không không miệng mỉm cười

Mai Xuân Thanh
Ngày 11 tháng 04 năm 2017



Đường Vào Thơ Luật

Vui vui thích thích ấy thằng tôi
Đắm đắm mê mê​ ​quả lạ rồi
Thẩn thẩn niêm niêm hoài kiếm tới
Thờ thờ đối đối mãi tìm bồi
Ngoài hiên ngáo ngáo ngơ ngơ ấy
Cạnh ngõ lờ lờ lửng lửng thôi
Vẫn vẫn vơ vơ hoài cũng được
Khoái khoái vui vui miệng mỉm cười

Hương Thềm Mây
(GM.Nguyễn Đinh Diệm)


Đông Chí 冬至 - Nguyễn Khuyến


冬至

雲 走 風 飛 霜 滿 天,
光 陰 從 此 入 新 年。
春 回 舊 徑 鳥 知 未,
樹 破 新 牙 花 欲 燃。
壓 悶 日 將 醇 酒 酌,
畏 寒 夜 抱 火 爐 眠。
近 來 懶 向 西 園 上,
強 起 扶 筇 看 水 仙。

Vân tẩu phong phi sương mãn thiên,
Quang âm tòng thử nhập tân niên.
Xuân hồi cựu kính điểu tri vị,
Thụ phá tân nha hoa dục nhiên.
Áp muộn nhật tương thuần tửu chước,
Úy hàn dạ bão hỏa lô miên.
Cận lai lãn hướng tây viên thượng,
Cưỡng khởi phù cung khán thủy tiên.

Nguyễn Khuyến

***
Phỏng dịch nghĩa: 
 
Mây trôi, gió thổi, sương đầy trời.
Thời gian theo đó mà vào năm mới.
Xuân về đường cũ chim chưa hay biết.
Cây nứt, nẩy chồi, hoa muốn nở.
Sầu muộn ngày tới rót rượu ngon.
Sợ lạnh tối ôm hỏa lò ngủ.
Khu vườn ở phía tây rất gần, cũng lười không sang.
Gượng dậy cố chống gậy để xem hoa Thuỷ tiên nở.

(LB)
***
Tiết Đông

Gió thổi sương đầy mây cuốn trôi
Thời gian theo đó hết năm rồi
Xuân về đường cũ chim nào biết
Cây nẩy chồi non hoa muốn khơi
Sầu muộn ngày chuyên chung rượu quý
Lạnh lòng tối ấp hỏa lò chơi
Vườn tây kề cận lười không tới
Nương gậy, thủy tiên ngắm chút thôi.


Lộc Bắc
Nov2017

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

Tình Vẫn Còn Đây - Thơ Quách Như Nguyệt - Nhạc Nguyễn Văn Thơ


Thơ: Quách Như Nguyệt 
Nhạc: Nguyễn Văn Thơ
Tiếng hát: Giáng Hương
Thực Hiện: Dĩ Vãng Buồn

Phong Nguyệt



Thơ Ngũ ngôn (tiếp theo)

1.- Diệu Pháp nào ?
Không từ nơi nguồn cuộc sống
Muôn trùng khổ đế thậm thâm
Cành lau nghiêng chiều thực-mộng
Cành lau trắng trời diệu tâm.

2.- Vằng trăng nào?
Giữa ao trời diễm tuyệt
Huyền diệu mười phương mây
Vẫn tròn gương cổ nguyệt
Cõi thơ, cõi Phật nầy.

3.- Cái nhìn
Đốt cháy niềm đau khổ luỵ
Buông tay cuộc hẹn ta bà
Đêm trở bừng cơn mộng tuý,
Chòi khuya nghiêng ánh trăng tà.

4.- Trăng đoàn viên
Lung linh vầng nguyệt cổ
Ngàn sông thoáng hiện trăng
Vẫn RẰM - tròn muôn thuở
Huyền diệu ánh tơ vàng.

5.- Dặm xưa
Bỏ lại dấu chân nguyên thuỷ
Mấy mùa mây trắng trôi xa
Sương đọng chiều hôm mộng mị
Đầu non quang ánh trăng ngà.

6.- Cuối ngàn
Đêm sắm tuồng dâu bể
Sương đọng ngoài hiên trăng
Thêu dài thêm mộng mị
Lạc vầng mây cuối ngàn
7.- Canh trường
Đá mòn phơi lối cũ
Sương rụng nẻo tà dương
Chim về non xanh ngủ
Vầng nguyệt sáng canh trường.

8.- Vẫn nguyên Rằm
Âm vang lời cát sỏi
Tình tự thuở ngàn năm
Theo hoài vầng trăng cổ
Lòng trăng vẫn nguyên Rằm.

9.- Tình trăng sao
Đầy vơi trà mấy bận
Thế sự tuồng lao xao
Mây trắng đường vô tận
Thức-ngủ tình trăng sao.

10.- Tam thiên tụng
Bài kinh tam thiên tụng
Ý kinh vi diệu lời
Cỏ hoa bừng cơn mộng
Mây trắng đầu non trôi.

11.- Rừng Sala
Bình minh thức, mây lành nổi
Bóng nghiêng vàng sắc cà sa
Thế giới ba ngàn tụ hội
Bình yên theo từng sát na.

12.- Nỗi niềm
Khởi đi từ bao thuở
Qua mấy nẻo hoàng hôn
Chút nắng còn tạm bợ
Phong kín dấu rêu cồn.

13.- Vai gầy
Quảy lên vầng nhật nguyệt
Ngược xuôi chiều gió sương
Nhẹ tênh hồn dâu bể
Nhẹ tênh gánh vô thường.

14.- Sầu rụng
Trái sầu thiên cổ luỵ
Sầu rụng, mấy tiêu dao
Vo tròn cơn mộng tuý
Về ngủ dưới trăng sao.

Mặc Phương Tử

Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

Giọt Lệ Penseé

( Hình ảnh của Biện Công Danh)
Xướng: 
Giọt Lệ Penseé


Tương tư mắt tím nỗi u hoài
Giọt lệ trang đài tiễn bước ai
Xuân mộng tiếc thương thời tuổi dại
Penseé mãi mãi chẳng nhoà phai

Kim Oanh
***
Bài Họa:

Ơ hỡi Penseé mãi khóc hoài
Cuộc tình chẳng phải của riêng ai
Một bước chân son tình nào dại
Hai dòng lệ thắm nghĩa chưa phai.

Biện Công Danh
***
Hoa Pensee

Pensee mắt tím mãi xinh hoài
Giấc mộng đài trang ấy đợi ai
Nguyệt tỏa mơ màng soi dáng ngọc
Hồn tươi phơi phới chả hề phai

Hương Thềm Mây
(GM.Nguyễn Đinh Diệm)
30.11.2017


Đời Là Giấc Mộng


Sáng sớm tung chăn, nhìn qua song cửa
Thấy bình bình rực rỡ cuối chân mây
Qua được một đêm ta vẫn còn đây
Tìm khuây khoả với văn, thơ, và bạn

Chiều ngắm hoàng hôn từ từ tắt nắng
Ta thấy Ta vẫn còn đang may mắng
Qua một ngày Ta cũng vẫn còn đây
Sống ngày nay, Ta vui hưởng ngày nay

Chuyện quá khứ, trả về cho quá khứ
Còn chi đâu mà nghĩ đến tương lai
Ai tranh danh, đoạt lợi cũng mặc ai
Bạn còn đó, Ta còn đậy là phúc

Sự nghiệp tạo nên, bao nhiêu công sức
Chỉ một giờ, đã phũi sạch đôi tay
Nay ngộ ra, biết Đời Là Giấc Mộng
Chợt thấy mình như vừa tỉnh cơn say.

Hoa Đô, 2017
Trần Gò Công /Lão Mã Sơn

Trầm Tư


Mây trời lờ lửng ở trên không
Có chở dùm ta một nỗi lòng
Đến kẻ tri âm ngàn dặm cách
Về người tri kỷ một đời mong
Đêm nhìn trăng úa, sầu khôn cản
Ngày ngắm chiều buông, lệ khó đong
Bến cũ nằm trơ, đò vắng bóng
Sông trôi, trôi mãi, nước xuôi dòng...

Phương Hà

Phút Cảm Hoài


Phút Cảm Hoài

Trăng tròn khuyết đường mây nào mở lối
Lòng nghe dâng bao cảm xúc bồi hồi.
Xuân hạ thu đông mai vàng mấy độ
Tình quê hương đâu há dễ phai phôi
Tang điền thương hải chẳng dừng biến đổi
Tuế nguyệt phong ba thế sự đã rồi
Trái đất vẫn xoay non sông vẫn đấy
Sao chừng như cay đắng ngập hồn tôi.


Quên Đi
***
Lẩm Cẩm

Một giấc mơ thiên đường chưa thấy lối
Nghe dư âm tuyệt vọng mất một hồi
Mùa thu ơi lá vàng rơi bao độ
Sương đẫm rừng phong giá lạnh chia phôi
Hoàn cảnh nhiễu nhương tình đời dễ đổi
Giang sơn gấm vóc vang bóng học rồi
Thương nhớ nghìn năm tình yêu còn đấy
Vẫn giữ trong lòng ấp ủ riêng tôi...

Mai Xuân Thanh
Ngày 24 tháng 11 năm 2017

Cùng Lội Ngược Dòng Sử Việt

Cùng lội ngược dòng sử Việt, đi tìm 3 người thầy vĩ đại nhất mảnh đất hình chữ S. 
Nổi tiếng với đủ ba yếu tố: Tâm, tầm và tài, những “người chèo đò” vĩ đại này mãi mãi được sử sách Việt Nam lưu danh.


1. Thầy giáo Chu Văn An (1292-1370)

Ngược dòng thời gian trở về hơn 600 năm trước để cùng tìm hiểu về một người thầy lỗi lạc mà nhân dân đời đời ngưỡng mộ – thầy Chu Văn An, người đã có công lớn trong việc xây dựng Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Cả cuộc đời thầy đã “làm thầy giỏi của một thời đại, để đạt tới thầy giỏi của muôn đời”, dạy dỗ Vua Trần Hiển Tông và đào tạo ra những vị quan có tài và thanh liêm cho triều đình nhà Trần.

Trong thời gian đứng đầu Quốc Tử Giám, thầy Chu Văn An có nhiều đóng góp trong việc hoàn thiện chương trình truyền dạy tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam và được lưu danh là “ông tổ của đạo Nho ở Việt Nam”. Thầy là người tài cao đức trọng, giữ chức Tư nghiệp đầu tiên và trong một thời gian dài, cũng là người đầu tiên được đưa vào thờ tại Văn Miếu.

Thầy Chu Văn An từng thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà (làng Huỳnh Cung bên sông Tô Lịch (Hà Nội). Thầy nổi tiếng có học vấn sâu rộng, tư cách thanh cao, không cầu danh lợi, danh tiếng lan xa, học trò theo học rất đông.

Thầy Chu Văn An luôn đối xử bình đẳng và công bằng với các lứa học trò từ bậc cao nhất cho đến lớp học trò bình thường ở nông thôn. Thầy cũng rất nghiêm nghị và gương mẫu. Những học trò cũ đã làm quan to như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát lúc về thăm thầy vẫn phải khép nép giữ gìn, và nếu có điều gì chưa đúng phép, thầy vẫn nghiêm khắc dạy bảo. Điều này càng khiến thầy được học trò kính mến hơn.
Thầy Chu Văn An được tôn là Vạn thế sư biểu – người thầy chuẩn mực của Việt Nam muôn đời 
Thầy được tôn là Vạn thế sư biểu – người thầy chuẩn mực của Việt Nam muôn đời. Trần Nguyên Đán đã đánh giá về những đóng góp của thầy như sau: Nhờ có Chu Văn An mà “bể học xoay làn sóng, phong tục trở lại thuần hậu”.

Sự liêm khiết, chính trực và công tâm của Thầy giáo Chu Văn An cũng nhắc nhở những thế hệ nhà giáo luôn vì sự tiến bộ của giáo dục, sự nâng cao dân trí mà không ngừng phấn đấu để làm phong phú và dồi dào nguồn nguyên khí quốc gia. Không phải chỉ 6 thế kỷ qua, mà hàng thiên niên kỷ sau, có lẽ người ta vẫn không thôi nhớ đến người thầy vĩ đại đã dành cả cuộc đời chở đạo, những công lao và tiếng thơm về thầy đã khắc sâu trong tâm tưởng mỗi con dân Việt từ thủa ấu thơ.

2. Thầy giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)


Một cây đại thụ tỏa rợp bóng ở thế kỷ XVI – Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một danh nhân văn hóa, một nhà thơ lớn, một bậc hiền triết, một nhà tiên tri đại tài mà còn là một nhà giáo vĩ đại, một bậc sư biểu được người đời tôn vinh, ngưỡng mộ.

Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ Giải Nguyên đời nhà Mạc (1527-1592). Làm quan được 8 năm, năm 1542, thầy dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan về ở ẩn lập Am gọi Bạch Vân Am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học.

Hơn 40 năm lui về Bạch Vân am dạy học là hơn 40 năm thầy dồn hết tâm huyết đào tạo nhiều tri thức lớn cho đất nước. Học trò của thầy đều là những nhân tài xuất chúng, văn võ song toàn như Phùng Khắc Khoan, Lý Hữu Khánh, Nguyễn Quyện… Danh tiếng và tài năng của thầy và trường Bạch vân bên dòng Tuyết Giang vang dội khắp nơi. Thầy được các môn sinh tôn là “Tuyết Giang phu tử” – Một danh xưng tôn kính cho những bậc sư biểu đức độ.

“Tuyết Giang phu tử” – Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà tiên tri số 1 Việt Nam. 
Đồn rằng, do được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” nên thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông về lý học, tướng số, có thể tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Với những câu “sấm truyền”, thầy được người đời suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Giai thoại cùng với những lời sấm tiên tri của thầy vẫn còn được truyền tụng tận đến ngày hôm nay và ứng nghiệm đến bất ngờ.

Lúc sinh thời, thầy đã dùng tài lý số của mình “cứu vãn” cho triều nhà Mạc tồn tại được một thời gian khá dài. Tương truyền rằng, lúc nhà Mạc sắp mất liền sai người đến hỏi thầy. Thầy đã đưa ra lời sấm cho nhà Mạc rằng: “Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô”. Nghĩa là nếu chạy lên Cao Bằng thì sẽ tồn tại được 3 đời. Quả nhiên, nhà Mạc lên Cao Bằng thì tồn tại được thêm 3 đời.

Thầy cũng đưa ra lời sấm cho nhà Nguyễn, mà nhờ đó nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cõi để đất nước ta có hình thái như ngày hôm nay.

Còn với triều đại thứ 3 cùng tồn tại khi ấy là nhà Trịnh, thời điểm vua Lê Trung Tông mất không có người nối dõi, Trịnh Kiểm định soán ngôi nhà Lê nhưng chưa dám quyết nên đã sai người tới hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thầy cũng chỉ nói: “Giữ chùa thờ phật thì ăn oản”, ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn. Trịnh Kiểm nghe theo liền sai người đi tìm tôn thất nhà Lê đưa lên ngôi. Họ Trịnh mượn tiếng nhà Lê nhưng thực chất nắm quyền điều hành chính sự, hai bên cùng tồn tại tới hơn 200 năm. Vì thế mà có câu: Lê tồn, Trịnh tại.

Có đôi câu đối ở đền thờ Bạch Vân am “Kế tuyệt, phù suy Chư Cát Lượng/ Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu” (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Chư Cát Lượng/Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu). Tiếng tăm của thầy không chỉ nổi ở trong nước mà còn vang đến tận Trung Hoa, khiến giới học giả ở đó cũng ngưỡng mộ xưng tụng: “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”.

3. Thầy giáo Lê Quý Đôn (1726-1784)


Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê ở Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Ngay từ nhỏ thầy đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, thầy theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy thầy đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, thầy thi Hương đỗ Giải Nguyên. 27 tuổi đỗ Hội Nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn.

Sau khi đã đỗ đạt, thầy được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê – Trịnh. Thầy là người học rộng, tài cao, am thông nhiều lĩnh vực như: khoa học tự nhiên, địa lý, khoa học xã hội, văn chương, sử học,… luôn được vua, quan và nhân dân kính nể.

Thầy Lê Quý Đôn không chỉ là một nhà bác học mà còn là người thầy xuất sắc ở nước ta hồi thế kỷ XVIII. Thầy từng mở trường dạy học, có nhiều học trò theo học, và còn lưu được ân tình đằm thắm đối với học sinh. Thầy phụ trách các kỳ thi, lo lắng quan tâm tới việc đào tạo và tuyển dụng các nhân tài.

Thầy Lê Quý Đôn không chỉ là một nhà bác học mà còn là người thầy xuất sắc ở nước ta hồi thế kỷ XVIII 
Trái với những nho sĩ chỉ biết nhồi nhét những lý luận kinh điển xa xôi mà coi thường, thậm chí không biết gì đến các môn học khác thì thầy cho rằng cần phải học tập toàn diện. Thầy cũng đã nêu lên một số ý kiến về phương châm học tập, chủ trương học phải biết nắm lấy cái chính: “Không thể vu vơ theo việc ngọn ở ngoài mà không tìm tòi đến chỗ gốc ở trong. Nếu không thể mà cứ vật gì cũng xét cho đến cùng, cho đủ cả thì chẳng hoá ra vì đường có nhiều lối rẽ mà đến nỗi lạc mất dê ư?”

Thầy cũng căn dặn rằng học hành phải có óc suy luận, không chỉ phụ thuộc vào sách vở: “Sách không hết lời, lời không hết ý… Phải hiểu ngầm ý của thánh nhân ở ngoài lời sách mới được”. (Dịch kinh phu thuyết).

Thầy còn khuyên: “Dù ngu dốt đến đâu, cũng nên kính giấy, tiếc chữ, dù keo bẩn đến đâu cũng tìm mua sách vở”. Thầy cho rằng biết học thì không thể biện lẽ thiếu thì giờ.

Hình ảnh thầy Lê Quý Đôn tận tụy truyền dạy phương pháp học tập tiến bộ và kiến thức cho học trò đã là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo. Thầy giáo Lê Quý Đôn thực sự xứng đáng với danh hiệu Người thầy mẫu mực và luôn được người đời tôn kính.

Hiểu Minh
Bích Huyền sưu tầm