Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Thơ Tranh: Bức Tượng Chưa Đặt Tên


Thơ&Hình Ảnh: Huy Phương
Thơ Tranh: Kim Oanh

Quan Thư 2 關雎 2



關雎  2    Quan Thư 2
詩經        Kinh Thi


參差荇菜 Sâm si hạnh thái
左右流之 Tả hữu lưu chi
窈宨淑女 Yểu điệu thục nữ
寤寐求之 Ngộ mị cầu chi
求之不得 Cầu chi bất đắc
寤寐思服 Ngộ mỵ tư bặc
悠哉悠哉 Du tai! Du tai!
輾轉反側 Triển chuyển phản trắc

Dịch nghĩa: Tiếng Chim Sư Cưu 

Rau hạnh so le không đều nhau
Mọc dưới nước, đưa qua đưa lại, khi trái khi phải tuỳ theo dòng chảy
Ôi! người con gái dịu dàng duyên dáng
Dù thức hay ngủ đều mong có được nàng
Nếu điều mong muốn không được
Dù thức hay ngủ cũng đều nhớ tưởng đến nàng
Xa vời thay, xa vời thay
Cứ trằn trọc mãi không yên giấc.

Chú Giải của Chu Hy:

- sâm si 參差: dáng dài ngắn không đồng đều nhau.
- hạnh 荇: rau tiếp dư, rễ mọc ở đáy nước, lá màu đỏ tía hình tròn, đường kính hơn một tấc, nổi trên mặt nước. Hoặc tả hoặc hữu, vô định không thường, khi bên trái khi bên mặt lưu, thuận theo dòng nước mà hái lấy. Hoặc ngộ hoặc mỵ, không lúc nào là không, khi thức khi ngủ đều nhớ đến nàng.
- bặc 服: nhớ.
- du 悠: dài, xa xôi.
- triển 輾: lăn nửa vòng; chuyển 轉: lăn trọn vòng; phản 反: lăn qua lăn lại; trắc 側: lăn nghiêng. Đều là nói nằm không yên giấc.

Dịch Thơ:

Tiếng Than Chim Cưu
1/
Rau hạnh vắn dài
Nghiêng theo dòng chảy
Cô gái dịu dàng
Ao ước được nàng
Nếu như chẳng trọn
Chỉ còn nhớ mong
Cõi lòng giá lạnh
Năm canh thao thức.

2/
So le rau hạnh vắn dài
Xuôi theo nước chảy mọc hai bên dòng
Dịu hiền cô gái trắng trong
Cho dù thức ngủ đều mong được nàng
Nếu như người đẹp chẳng màng
Ta mơ hay tỉnh vẫn mang bóng hình
Xa xôi quá vẫn riêng mình
Suốt đêm trằn trọc mối tình đơn phương.

Quên Đi
***
Quan Thư

Rau hạnh lắc lư theo suối chảy
Dịu dàng thực nữ thấy ưa duyên
Trong mơ có được thuyền quyên
Cho dù tĩnh thức nỗi riêng nhớ nàng
Xa vời tơ tưởng miên man
Đêm khuya trằn trọc không an tấc lòng

Mai Xuân Thanh
Ngày 26 tháng 07 năm 2017
***
KINH THI của Trung Hoa xưa giống như là CA DAO của ta ngày xưa vậy, nên thiết nghĩ diễn Nôm bằng Lục Bát sẽ thích hợp hơn ...

Kìa xem rau hạnh so le,
Theo nước trong xè phải trái chảy đi.
Cô em yểu điệu nhu mì,
Ngày mong đêm nhớ kể gì thời gian.
Cầu mà chưa được chẳng an,
Thức ngủ mơ màng đêm nhớ ngày mong.
Dài ghê đêm tối mông lung,
Nằm mãi trong mùng trăn trở trở trăn!

Đỗ Chiêu Đức

Vào Nghề Giáo



Hè năm 1955, tôi được anh bạn là Trần Thế Lý dậy toán tại trường trung học Nguyễn Trường Tộ, Vĩnh long cho biết trường đang cần giáo sư Anh văn, nên rủ tôi xuống dạy cho có bạn. Hồi đó tôi mới tu nghiệp ở Thụy sĩ về, chưa có việc làm nên nhận lời ngay.

Lần đầu tiên tôi gặp cha Quang, hiệu trưởng của trường, tôi xin ngài cho tôi dạy toán hay Việt văn; lúc đó trường còn theo chương trình Pháp, mà tôi phải dạy tiếng Anh bằng tiếng Pháp, sợ soạn bài bằng hai ngôn ngữ không biết có kham nổi không; vì biết mấy tháng trước đó tôi có đi làm thông dịch trong Ủy Hội Quốc Tế kiểm soát đình chiến (ICC) cho phái đoàn Pháp, nên ngài nói, “Thầy làm việc cho phái đoàn Quốc Tế được, thì việc dạy song ngữ Anh Pháp đâu có gì khó!” Thế là đâm lao phải theo lao. Niên khóa 1955-1956 tôi phải dạy Anh văn cho 3 lớp: cinquième, quatrième và troisième. Vào khoảng giữa niên khóa sở giáo dục ra lệnh cho các trường công lập cũng như tư thục phải chuyển từ chương trình Pháp sang chương trình Việt. Các trường trung học đều bắt đầu từ lớp đệ thất tới lớp đệ nhất; học xong đệ tứ các học sinh sẽ thi lấy bằng Trung học; lớp đệ nhị thi Tú tài một, và lớp đệ nhất thi Tú tài hai.

Chương trình trung học lúc đó chỉ phải học một ngoại ngữ: Anh hay Pháp tùy học sinh chọn; trường Nguyễn Trường Tộ lúc đó có lớp troisième, cuối năm phải thi Brevet nên trường vẫn giữ nguyên, còn các lớp khác đều chia làm hai, lớp Pháp văn và lớp Anh văn; thầy Phong dạy các lớp Pháp còn tôi dạy các lớp Anh…Cũng trong niên khóa này tôi được linh mục linh hướng khi tôi còn ở Thụy sĩ xin cho tôi được học bổng du học tại Fribourg về y khoa: bốn năm lý thuyết tại Thụy sĩ và ba năm thực tập tại Tây đức. Vì giấy thông hành cũ của tôi còn giá trị, nên tôi chỉ cần xin chiếu khán xuất cảnh là xong.

Hè năm đó, trước khi lên Saigon lo giấy tờ, tôi gặp cha Quang, trình bày công việc xuất ngoại của tôi và xin ngài tìm người thay thế. Không may cho tôi là khi tới sở công an, người ta cho biết: hiện đang có lệnh không cho thanh niên tuổi quân dịch xuất ngoại! Thế là chương trình du học của tôi trở thành mây khói. Trở lại Vĩnh long, cha hiệu trưởng Nguyễn Trường Tộ đã xếp giờ cho ông Ngô, bạn của tôi rồi; tôi trở thành thất nghiệp! Vì còn đang là mùa hè, tôi vội làm đơn xin dạy giờ tại trường công Nguyễn Thông (sau đổi ra Tống Phước Hiệp). Tôi có quen với ông hiệu trưởng của trường, nên được nhân dạy Anh văn cho hai lớp Đệ tam và Đệ nhị. Trong những ngày đi đi về về Vĩnh long, Sài gòn, tôi đã tiêu hết số tiền dành dụm trong năm dạy tại Nguyễn Trường Tộ, vì thế tôi phải xin phép mở lớp dạy Anh văn tư để có tiền chi dụng hằng ngày.

Niên khóa 1977-1978 tôi xin cha Quang cho tôi trở lại Nguyễn Trường Tộ, ngài cố xếp cho tôi dạy một lớp Đệ lục. Tới niên khóa 1959-1960, ông bạn của tôi làm giám đốc trường Lam Sơn, mới mở, mời tôi và các giáo sư trường công ra dạy. Điều không may cho tôi là ông ta cho người gián quảng cáo tên các giáo sư của trường ngay gốc cay me giữa sân trường Nguyễn Trường Tộ, đứng đầu danh sách là tôi! Thấy vậy cha Quang liền mời tôi đến nhà xứ, tỏ ý muốn tôi chỉ dạy trường công và Nguyễn Trường Tộ thôi. Về nhà, tôi hỏi ý kiến ông Oánh cùng dạy với tôi tại Nguyễn Trường Tộ năm đó, anh nói, “Nếu dạy trường tư thì nên dạy nhiều trường để tránh bị chèn ép sau này.” Đàng khác tại Nguyễn Trường Tộ tôi chỉ dạy có một lớp, còn bên Lam Sơn tôi dạy tất cả các lớp Anh văn; hơn nữa tôi còn đứng ra mở một lớp luyện thi Tú tài ban tối tại Lam Sơn, với sự cộng tác của các bạn dạy trường công với tôi nữa. 

Tiến thoái lưỡng nan!“Thân này nếu xẻ làm đôi, nửa cho Trường Tộ, nửa về Lam Sơn.” Sau cùng tôi phải từ giã Nguyễn Trường Tộ, nơi tôi bắt đầu nghề gõ đầu trẻ, cũng là nơi tôi có được những kỷ niệm tốt đẹp và kinh nghiệm ban đầu trong sự nghiệp dạy học của tôi! Thôi đành” Bỏ con săn sắt, bắt con cá rô” vậy. Tuy nhiên không bao giờ tôi quên được trường Nguyễn, Vĩnh long, vì đã cho tôi những kinh nghiệm rất cần thiết cho sự thành công trong suốt 28 năm tôi dạy tại các trường tư thục nổi tiếng nhất Sài gon như: Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Thánh Tôma, Chí Thiện ... .

THẠCH TRONG (HĐN)
(Hình phụ bản do chính Tác Giả gửi)

Có Một Chỗ Để Về



Đường sá của người
Đâu phải của ta
Sao ta cứ miệt mài đi, về năm tháng
Dù đông lạnh căm
Dù hè cháy nắng
Ta ngựa già nối những dặm xa

Gió ở đây cũng là gió của người ta
Đâu phải gió đồng bằng
Đâu phải mưa châu thổ
Nước mặn Đại Tây Dương
Đâu bằng nước ngọt phù sa quạch đỏ
Ta nghe chừng thiếu một hơi quen

Nên mỗi ngày qua
thêm một nỗi buồn riêng 
thêm một chút ngậm ngùi cố thổ 
ở ở, đi đi ta làm khách trọ 
sớm nắng chiều mưa bóng nhỏ bên đường

Để mỗi đêm dài điếm cỏ cầu sương 
ta mơ làm người Lý Bạch 
đê đầu tư cố hương 
thấy hồn mình lượn lờ nơi viễn phố

Thấy mẹ lưng còng 
trên sân rêu phủ 
mắt lệ nhòa từ buổi con đi 
ngày ngóng đêm trông từng cánh chim về 
nghe sao nặng tháng ngày đứt ruột

Thấy cha một mình 
trên dòng kinh nước đục 
đêm ba mươi một chiếc xuồng câu 
tiếng độc huyền cầm chảy suốt đêm thâu (cha muốn gởi gì trong hơi đồng sũng nước?)

Thấy mái chùa cong
thấy ngôi trường buổi trước 
ta nhìn ta một thuở rong chơi 
ta nhìn em tóc bím, môi cười 
trao ánh mắt cho ta 
mà con tim giữ lại

Và cứ giữ nghe em 
những ngày xưa ấy
Giữ giùm ta một góc trời quê 
để hồn ta còn có chỗ trở về 
khi đất lạ ta mồ xanh cỏ.

Trần Bang Thạch

Hát Nói: Lòng Người - Ca Trù: Tình Xa...



Mưỡu:
Sông sâu còn có đường dò
Lòng người thì đố mà đo mà lường
Hổ kia khó họa được xương
Nhân sinh mới lấy chữ lương làm nền


Nói:
Nhìn trời mây đoán chừng mưa gió
Cá hồ ao chả khó thả câu
Trông ngoại vỏ đã biết ngon cau
Nhưng nào tỏ nhân sinh xấu tốt
HỌA HỔ,HỌA BÌ NAN HỌA CỐT
TRI NHÂN, TRI DIỆN BẤT TRI TÂM (*)
Thuở đời nay nghe chuyện nghĩa nhân
Ngọt như mía mặn mà tựa muối
Vàng son bóng phủ điều khuất tối
Vẫn nhởn nhơ chẳng xét tội suy tình
Còn căn cơ phản bác rập rình
Nhớ lời xưa Trạng Trình than thở
“Còn bạc,còn tiền còn đệ tử
Hết cơm ,hết rượu hết ông tôi”
Lòng người lắm lúc như vôi

Cao Bồi Già
08-10-2012
(*) Vẽ hổ, vẽ da khó vẽ cốt
Biết người, biết mặt không biết lòng
***
Ca Trù : Tình Xa...

Mưỡu:

Nhớ thương vò xé tim côi
Vọng phương trời thẳm xa xôi ngút ngàn..!

Hát nói:
Bao mùa thay lá...
Cội đào xưa sương giá lạt màu hoa.
Rồi Đông Phong thoảng gọi trước hiên nhà.
Cứ tưởng tiếng giầy ai qua bên cửa.
Non nước ngập chìm sôi bão lửa
Thôn làng tan tác ngập phong ba.
Để cho đôi lứa chia xa....
Người viễn xứ kẻ quê nhà đằng đẵng.
Người năm cũ thương làn tóc trắng.
Cội đào xưa nhớ bóng ngày xanh.
Bao giờ gương vỡ lại lành..?

Trần Lệ Khánh
23-7-2017
***

Mưỡu Tiền:
Xem rồi lại thấy buồn thầm
Dưng không trời rét căm căm thế này

Nói
Vì đâu ngơ ngẩn
Để ra vào thơ thẩn, thở than
TÌNH XA... êm ái tựa cung đàn
Như nghe có giọt lệ tràn
Câu thơ tha thiết, nàng Ban chỉ vừa
LÒNG NGƯỜI...thế đấy tự ngàn xưa
Cụ Trạng còn e sự lọc lừa
Ở đời sự thật khó ưa
Cảm ơn ai viết, tưởng đùa mà đau!

Mưỡu Hậu
Bây chừ lòng chợt xôn xao
Làm sao theo kịp bạn Cao, chị Trần?

Thy Lệ Trang

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Mộng Mơ - Thơ Mỹ Ngọc - Nhạc Phạm Anh Dũng


Thơ &Youtube : Mỹ Ngọc
Nhạc: Phạm Anh Dũng 

Ca Sĩ: Quang Minh

Tháng Tám Và Anh…- Tháng Tám Và Em


Tháng Tám Và Anh…

Tháng tám về rồi anh chưa kịp đón
Mà lá xanh mùa hạ chợt phai đi…
Như người em quay lưng nghiêng vành nón
Như ngỏ lời hạ trắng đã phân ly...

Tháng tám về anh còn trong cơn ngủ
Mùa hè dài cho anh nhớ trường xưa
Xác phượng rơi còn trong sân ủ rủ
Mà gió thu đã gợi nhắc cơn mưa !!!

Tháng tám về rồi anh không còn chối !!
Để dối lòng sao hạ nắng còn đây
Cơn mây chiều cho anh thêm bối rối
Nhủ lòng anh sao rượu đắng cơn say…

Tháng tám về như mùa thu về báo
Em ra đi như hạ dứt nhạc ve
Tình bay đi như gió đưa tà áo
Tháng tám dài tim nào vẫn còn se…!!!

Trần Văn Mãnh
Paris August 1, 2017
***
Cảm họa:
Tháng Tám Và Em

Tháng tám về rồi mừng tiếp đón
Mùa thu sắp đến hạ chưa đi
Nắng còn nồng chảy quanh vành nón
Hạ trắng băn khoăn chuyện cách ly?

Tháng tám về hè thương ở lại
Gợi thêm nhung nhớ chuyện trường xưa
Dấu yêu kỷ niệm theo em mãi
Mặc kệ thời gian lẩn gió mưa

Tháng tám rạng ngày gờn gợn lạnh
Vào trưa nắng nóng vẫn còn đây
Tình em anh viễn miên canh cánh
Thuở ấy mê ... nay tiếp đắm say

Đêm dài ngày ngắn mang tin báo
Hè ngập ngừng qua hết nhạc ve
Mùa tựu trường xưa bao cánh áo
Trắng đường hoài niệm tim còn se.

Anh Tú
Hoa Kỳ August 1. 2017

Mỏi Mòn



Mỏi Mòn

Bậu ơi trời tối đã lâu
Qua mòn mỏi đợi Bậu đâu chưa về
Ngồi chờ mà dạ ủ ê
Đồng hồ từng nhịp lê thê canh dài

Quên Đi

***
Các Bài Họa:

Đổi Mới


Lang thang xó chợ bấy lâu
Không nơi nương tựa bé đâu ngõ về
No lòng cơm cặn hôi ê
Mong ngày đổi mới thỏa thê đời dài

Kim Oanh
***
Mỏi Mòn

Bền lòng mòn mỏi chờ lâu
Đôi bờ thương nhớ đi đâu cũng về
Chớ chi mặt ủ mày ê
Mai kia kết nghĩa phu thê tình dài

Kim Phượng

***
Các Bài Cảm Tác:

Trách

Đôi mình quen đã bao lâu
Mà sao mai mối trầu cau chẳng về
Để em mặt ủ mày ê
Anh quên lời hẹn phu thê nghĩa dài.

Phương Hà
***
Tái Tê


Trúc, Mai hàng xóm khá lâu
Học chung trường, lớp trước, sau cùng về
Mãi mê liếc trộm...thẹn ê
Vấp chân té ngã tái tê đường dài...

Mai Xuân Thanh
***
Mùa Sang

Đông tàn cũng đã từ lâu
Xuân sang, hạ đến mùa sau thu về
Trường làng tiếng trẻ a ê…
Ve ngừng than thở buồn thê ngày dài

Yên Dạ Thảo

Như Cuộc Tuần Lưu



Bên thềm mây trắng khéo xây thành
Xao xác ngoài kia tiếng lợi-danh
Vinh nhục bao phen đời khập khễnh
Đỉnh chung mấy cuộc mộng tan tành.

Xoay chiều ngọn bấc đau lòng vạc
Trở giấc phong hồ lạnh điếm canh.
Ngàn thuở ai hay tuồng thế sự,
Bức tranh vân cẩu vội qua mành.

Vội qua mành ấy, ảo tuồng thôi!
Cốt để làm nên chất liệu người
Vẫn biết non cao còn bóng cả
Nào hay rừng thẳm có ma trơi!

Đã rằng nắng quái nung thêm lửa
Vì bởi lầm mê phó mặc đời.
Ấy thế, cuộc tuần lưu vẫn thế...
Chừng như thế sự nước mây trôi!

South Dakota, tháng 8.2017.
Mặc Phương Tử

Về Miền Tây - Phần 4



Về giao thông đường bộ, toàn tỉnh hiện có trên 300 cây số đường bộ. Con đường chính là liên tỉnh lộ 30 nối liền quốc lộ 4 tại quận Giáo Đức (tỉnh Mỹ Tho) với thị xã Cao Lãnh, quận Thanh Bình và quận Hồng Ngự. Thời VNCH, chính phủ muốn xây dựng thêm đường sá đi vào vùng Tháp Mười và Đồng Tiến, nhưng vì tình trạng chiến tranh nên chưa thực hiện được, không biết bây giờ sau gần 30 hết chiến tranh chính quyền mới có xây thêm được con đường nào thêm không hay vẫn con lộ liên tỉnh 30 như ngày nào? Về phương diện kinh tế, tỉnh Kiến Phong nói riêng, vùng Đồng Tháp Mười nói chung, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Vùng này, ngày xưa nổi tiếng hoang vu với những bưng biền, đầm, bàu và bạt ngàn đưng, lác, năng, sen, súng, và lau sậy, nên Đồng Tháp còn là khu an toàn của vô số cá tôm nước ngọt như cá lóc, cá trê, cá rô, và những loại cá trắng khác. Ngoài ra, đây cũng là khu an toàn và nơi sản sanh của vô số rắn, rùa, chuột, ếch, cua đinh, càng đước, cá sấu, và muôn loài chim muông khác... Nếu khu Đồng Tháp được dẫn thủy nhập điền và khai thác đúng mức thì chắc chắn ngoài lúa mùa ra, người ta sẽ canh tác được lúa ba trăng và các loại lúa “thần nông” khác, và mỗi công ruộng có thể thu hoạch hai hay ba chục giạ lúa. Khác với những vùng phụ cận như Vĩnh Long hay Sa Đéc, trước khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, dân vùng Cao Lãnh không có người theo đạo Thiên Chúa, mà đa phần theo đạo Phật. Sau khi Pháp chiếm Việt Nam, họ xây dựng nhà thờ và khuyến khích người dân theo đạo Gia Tô, hiện nay trong toàn tỉnh Kiến Phong có nhiều tôn giáo như Phật giáo, Thiên chúa, Cao đài, Hòa Hảo, Bà Hai... Người dân ở đây cũng mang tính hài hòa và phóng khoáng như những vùng khác của đồng bằng sông Cửu Long. 

Về dân số, trước năm 1975 tỉnh Kiến Phong có khoảng 700.000 dân, sau năm 1975 chính quyền hiện nay sáp nhập Kiến Phong vào Sa Đéc để thành lập tỉnh Đồng Tháp với diện tích là 3.238 cây số vuông, với tổng dân số trên 1.607.800 người, gồm các quận Tân Hồng (giáp biên giới Việt Miên), Hồng Ngự, Tam Nông (vùng Đồng Tiến), Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành (một phần của thị xã Sa Đéc cũ và vùng Nha Mân và Cái Tàu Hạ), và thị xã Sa Đéc. Về vị trí của tỉnh mới Đồng Tháp, Bắc giáp Cao Miên, Đông giáp Mộc Hóa (nay thuộc Long An), Tây giáp Châu Đốc và Long Xuyên, Nam giáp Vĩnh Long và Cần Thơ. Tại quận Thanh Bình, cách Cao Lãnh chừng 24 cây số về phía Tây Bắc hãy còn đền thờ Đốc Binh Vàng (một viên tướng thời Minh Mạng). Ngoài ra, tại thị xã Cao Lãnh còn có Văn Thánh Miếu, được quan Tri Phủ Hồ trọng Đính đứng ra xây dựng vào năm 1857 để thờ Đức Khổng Phu Tử cùng tứ Thánh (Tăng Tử, Nhan Hồi, Tử Tu và Mạnh Tử). Năm 1878, Văn Thánh Miếu được dời đến địa điểm hiện tại trong phạm vi phường 1 thị xã Cao Lãnh. Sau năm 1975, chính quyền Cộng Sản cưỡng chiếm Văn Thánh Miếu để biến nơi thờ tự thiêng liêng này thành thư viện của tỉnh Đồng Tháp. Đồng Tháp đất đai bao la thì làm gì thiếu nơi thiếu chốn cho họ xây dựng một thư viện, nhưng họ cố tình làm như vậy để xóa mờ đi truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. 

Tại quận Hồng Ngự hiện còn ngôi đình Long Khánh, được xây trên cù lao Long Khánh, đây là nơi thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh và các vị tiền hiền hậu hiền. Ngoài ra, trong vùng An Long Đồng Tiến (nay là Tam Nông) còn có khu tràm chim nằm trong khu rừng tràm các xã Tân Công Sinh, Phú Đức, Phú Thọ, và Phú Thành. Khu tràm chim An Long Hồng Ngự này rất đặc biệt vì trong vùng Đồng Tháp thật đa dạng này, thường mênh mông những nước vào mùa mưa, nhưng trở thành đồng khô cỏ cháy vào mùa nắng. tuy nhiên, khu này thì rừng tràm ủng nước quanh năm là khu an toàn của các loài chim, cò, sếu, trích, hạc, gà đãy, sếu cổ trụi, ngan cánh trắng, te vàng, bồ nông, diệc, vịt trời, các loại cò... Tại đây có những loài sếu cao đến hơn 2 mét với bộ lông xám mượt và đôi cánh dang ra thật rộng Đây còn là nơi sinh sản của các loài trăn, rắn, rùa, lương, ếch, và nhiều loại cá đồng khác. Đây cũng là một trong những vùng ủng nước còn lại duy nhất của vùng Đồng Tháp, mà bất cứ chính phủ có trách nhiệm nào cũng phải ra sức bảo vệ. Về phía Nam của tràm chim là Vườn Cò Tháp Mười (cách thị xã Cao Lãnh chừng 35 cây số), đây là khu an toàn của hàng vạn loại cò từ các nơi bay về mỗi buổi chiều.Vào thời chúa Hiền, năm 1679 có quan tổng binh Long Môn (Quảng Tây) của nhà Minh là Dương Ngạn Địch, sau khi triều đình lọt vào tay nhà Thanh, đã cùng phó tổng binh Huỳnh Tấn và tổng binh Châu Cao, và quan tổng binh Châu Lôi và Châu Liêm là Trần thượng Xuyên và Trần an Bình cùng nhau cất quân diệt Thanh nhưng thất bại. Sau đó họ kéo vô đàng trong của nước Việt gặp chúa Hiền. Tuy không thích gì họ nhưng chúa Hiền cũng nghĩ ra cách dùng họ như những người tiên phong đi khai thác đất phương Nam. 
Đoàn quân của Dương ngạn Địch cùng nhau kéo về miền Nam, Trần thượng Xuyên thì đi vào cửa Cần Giờ, ngược dòng Đồng Nai lên Biên Hòa và Gia Định. Dương ngạn Địch và Huỳnh Tấn theo cửa sông Cửu Long kéo vào vùng mà bây giờ mà mình gọi là Mỹ Tho. Hồi này người Chân Lạp vẫn còn làm chủ phần đất Nam Kỳ Lục Tỉnh mặc dù quân của chúa Nguyễn cũng đã có mặt tại đất Gia Định. Năm 1731, nhân vụ quân Chân Lạp từ vùng Tầm Bôn (Tân An) kéo lên quấy phá lưu dân ở Gia Định nên chúa Nguyễn Phúc Chu tức giận bèn xua quân đánh chiếm các vùng Định Tường và Long Hồ và sáp nhập Định Tường vào dinh Trấn Phiên (Gia Định), đồng thời thành lập thêm dinh Long Hồ. Cũng năm này thủ phủ của tỉnh Định Tường tại Cái Bè (do Dương ngạn Địch thành lập năm 1680) được dời về bên bờ rạch Bảo Định. Năm 1753, chúa Võ Vương cho lập đạo Trường Đồn gồm đất Mỹ Tho và Cao Lãnh, rộng đến biên giới Cao Miên bây giờ. Thời Nam Kỳ Lục Tỉnh, Định Tường là một tỉnh lớn, chạy dài từ biên giới Miên Việt xuống Hồng Ngự, Cao Lãnh, Sa Đéc...bốn mặt đều là đồng bằng và sông rạch. Bắc giáp Cao Miên, Nam giáp Vĩnh Long, Tây giáp Vĩnh Long và An Giang, Đông chạy ra tận biển Đông. Thành Định Tường cũ nằm trong địa phận hai thôn Điều Hòa và Bình Biên, thuộc huyện Kiến Hưng. Sau khi xâm chiếm Việt Nam, Pháp chia Định Tường ra làm 3 tỉnh gồm Mỹ Tho, Gò Công và Sa Đéc.

Định Tường nằm ở lưu vực sông Tiền và các nhánh nhỏ khác của sông Cửu Long. Trước thuộc hai huyện Kiến Hưng và Kiến Đăng, chạy dài từ Tân Hiệp (Bến Tranh) qua Thuộc Nhiêu tới vùng Cai Lậy, Cái Bè và Giáo Đức. Có thể nói Định Tường là nơi đã chứng kiến nhiều trận đánh kịch liệt giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cả thủy chiến lẫn bộ chiến. Đây cũng chính là nơi vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh tan tát đoàn quân xâm lược Xiêm La của hai töôùng Chieâu Taêng vaø Chieâu Söông (taïi Raïch Gaàm Xoaøi Muùt). 

Dưới thời Gia Long, nhà vua chia Nam kỳ ra làm 4 dinh và một trấn: dinh Trấn Biên (Biên Hòa), dinh Trấn Phiên (Gia Định), dinh Trấn Định (Mỹ Tho), dinh Trấn Vĩnh (Vĩnh Long) và trấn Hà Tiên. Đời Minh Mạng, sau khi Lê văn Duyệt qua đời, nhà vua bãi bỏ chức tổng trấn Gia Định thành và đổi dinh làm tỉnh. Nhà vua chia Nam kỳ ra làm 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Thời Tự Đức, vua sai Nguyễn tri Phương vào làm Kinh Lược Sứ và Phan thanh Giản làm Phó Kinh Lược Sứ. Năm 1859, quân Pháp từ Đà Nẳng kéo vào đánh chiếm ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Mặc dầu quân Pháp đã chiếm xong ba tỉnh miền Đông và triều đình vẫn co đầu rút cổ cầu hòa, nhưng nhân dân ba tỉnh này vẫn anh dũng đứng lên chống lại giặc Pháp, nhứt là nhân dân vùng Định Tường. Tại đây, ngay khi giặc Pháp chiếm xong Định Tường, ông Phủ Cậu đã tức thời đứng lên đánh phá giặc, nhưng vì cô thế nên ông bị Pháp bắt hành hình vào năm 1862. Thủ Khoa Huân (Nguyễn hữu Huân) đã đánh phá giặc Tây trong ròng rã 11 năm, từ năm 1863 đến năm 1874. Năm 1863, ông bị giặc bắt và đầy đi Côn Đảo và Réunion, nhưng nghĩa binh của ông vẫn tiếp tục đánh phá giặc Pháp. 

Năm 1874, sau khi triều đình đã nhường đứt sáu tỉnh Nam kỳ cho Pháp, ông được tha và quản thúc tại gia, nhưng ông vẫn ngấm ngầm tổ chức nghĩa quân để chuẩn bị tấn công giặc Pháp. Năm 1875, ông bị giặc bắt lần nữa, nhưng nhứt định không hàng giặc, nên bị chúng hành hình ở Mỹ Tho. Năm 1865, Nguyễn duy Dương (Thiên Hộ Dương), văn võ song toàn đã đứng lên đánh Pháp trong 2 năm 1865 đến 1866. Thiên Hộ Dương đặt căn cứ trong Đồng Tháp Mười. Vì Pháp chưa chiếm trọn Nam Kỳ nên ông vẫn được sự tiếp tế từ các vùng trong 3 tỉnh miền Tây như Cao Lãnh, Mộc Hóa, Hồng Ngự và Sa Đéc. Dù gây cho Pháp nhiều tổn thất nặng nề, nhưng vì vũ khí thô sơ nên công cuộc kháng chiến của ông bị Pháp dập tắt vào năm 1866. 
Năm 1867, Phan Tôn và Phan Liêm từ Vĩnh Long về Bến Tre khởi binh đánh Pháp, nhưng thất bại nên hai ông phải dong buồm ra Bình Thuận. Năm 1868, Thân văn Nhiếp làm chủ tướng đột kích vào thành Mỹ Tho, trong khi đó các phó tướng là các ông Rồng, ông Được và ông Long tấn công đồn ở Cai Lậy, nhưng cuộc khởi nghĩa thất bại, cả bốn ông đều bị tên tay sai Trần bá Lộc hành hình tại Mỹ Tho. Về địa thế, hồi mới thành lập, phía Bắc Định Tường bao gồm Mộc Hóa và giáp với biên giới Cao Miên (về sau Mộc Hóa trở thành một quận của Tân An), Nam giáp sông Tiền Giang (đối diện với tỉnh Vĩnh Long) và biển Đông, phía Đông giáp Gò Công và biển Đông, Tây Nam giáp Sa Đéc. Ngày đó Định Tường bao gồm các tỉnh Kiến Tường (Mộc Hóa), Kiến Phong (Cao Lãnh) và Gò Công. Hiện tại thì Định Tường về phía Tây Bắc giáp Mộc Hóa, Đông Bắc giáp Tân An, Đông giáp Gò Công, Đông Nam giáp Kiến Hòa, Tây giáp Cao Lãnh và Nam giáp Vĩnh Long. Dưới thời Pháp thuộc, Định Tường có 4 quận là Châu Thành Mỹ Tho, Kiến Hòa, Kiến Phong và Kiến Đăng (vùng Cai Lậy). Tổng diện tích thời đó là 223.660 mẫu Tây. Tổng dân số của Định Tường theo thống kê năm 1870 của La Cochinchine là 325.000 người, đa số là người Việt, kế đến là người Hoa, rất ít người Khmer trong vùng Định Tường. Định Tường là một trong những tỉnh ở miền Tây có nhiều cù lao, lớn nhất là cù lao Phú Túc dài trên 20 cây số. Đồng Tháp Mười chiếm 1/5 diện tích toàn tỉnh, về phía Nam của Mộc Hóa, bao gồm từ Ấp Bắc chạy về Cai Lậy, đó là vùng bị ảnh hưởng lũ lụt hằng năm. Phần đất phía Nam là vùng đất mầu mỡ do phù sa sông Cửu Long bồi đắp, với kinh rạch chằng chịt nên không bị lũ lụt, vùng này thích hợp cho ruộng lúa và vườn cây ăn trái. Định Tường là xứ của kinh rạch và sông nước bao la, nên việc giao thông bằng đường thủy là tối quan trọng. Thời vua Minh Mạng, nhà vua sai vét một con kinh xưa, ăn từ rạch Chanh qua kinh Bà Bèo, nằm ven Đồng Tháp Mười, để khai nước xả phèn đất trũng ở vùng này. Đến thời Pháp thuộc, họ cho vét lại con kinh Bảo Định, dài 28 cây số chảy từ Mỹ Tho qua Tân An. Năm 1877, người Pháp cho đào kinh Chợ Gạo, nhằm làm ngắn đường chở lúa từ các tỉnh miền Tây lên Sài Gòn. Về đường bộ, Định Tường có nhiều đường trải đá từ Mỹ Tho đi Sài Gòn (qua quốc lộ 4, nay là quốc lộ 1), Mỹ Tho đi Bến Tre, Mỹ Tho đi Gò Công, vân vân. Ngoài ra, khi mới xây dựng đường xe lửa, người Pháp cũng cho tuyến đường xe lửa xuyên Việt chạy đến Mỹ Tho. 


Trước năm 1945, Định Tường gồm 8 quận: Bến Tranh, Chợ Gạo, Giáo Đức, Gò Công, Hòa Đồng, Khiêm Ích (Cai Lậy), Long Định (Châu Thành), và Sùng Hiếu (Cái Bè). Sau 1945 thì 2 quận Hòa Đồng và Gò Công tách ra làm tỉnh Gò Công. Từ năm 1954 đến 1975, chánh quyền VNCH vẫn giữ tỉnh Định Tường như cũ, tuy nhiên, dân trong vùng vẫn quen gọi bằng tỉnh Mỹ Tho. Vùng Mỹ Tho là một trong những vùng phong phú nhứt của Nam Kỳ Lục Tỉnh nhờ được bao bọc bởi nhiều sông rạch. Định Tường không có rừng núi nên không có lâm sản và khoáng sản. Định Tường nằm trọn giữa hai con sông Tiền Giang và Ba Lai, được phù sa sông Cửu Long bồi đắp nên đất đai phì nhiêu, cây cối xanh tươi quanh năm. Định Tường có nhiều cù lao: An Hóa (bây giờ thuộc Bến Tre), cù lao Rồng (ngang Châu Thành Mỹ Tho tại bến đò Tân Thạch), Thới Sơn (Sầm Giang), và cù lao Năm Thôn (Cai Lậy). Ngoài những cù lao trên, Định Tường còn có cồn Qui (Giáo Đức). Sông Tiền Giang chảy vào Định Tường ở khúc cù lao Rồng rộng tới 3 cây số. 
Lưu lượng sông Cửu Long rất lớn và nước sông chảy mạnh, nhất là vào mùa nước lớn, tuy nhiên, Định Tường ít khi bị ngập lụt vì có nhiều sông rạch và gần biển nên nước rút rất nhanh. Định Tường có 8 con rạch lớn: rạch Cái Thia ở Giáo Đức với ba nhánh là Cái Cối, Cái Thia và Mỹ Thiện, rạch Trà Lốt ở Phong Hòa Cái Bè, rạch Cái Bè có 2 nhánh là nhánh Tây chảy qua Phong Hòa (Cái bè) và nhánh Đông chảy qua Lợi Thuận (Cái Bè), hai nhánh này gặp nhau tại chợ Cái Bè. Rạch Ba Rài chảy qua Cai Lậy và Sùng Hiếu (Cái Bè). Rạch Trà Tân trong tổng Lợi Hòa (Cai Lậy). Rạch Gầm chảy qua Long Định. Rạch Bảo Định chảy qua Bến Tranh, rạch này chảy thông với hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Vì kinh rạch chằng chịt nên ngoài quốc lộ 4 và các trục giao thông khác, đa số dân Định Tường di chuyển bằng đường sông rạch. Định Tường còn là nơi xuất phát rất nhiều nhân vật lịch sử, nhứt là trong thời Nguyễn Ánh giành giựt giang sơn với nhà Tây Sơn. Vào khoảng năm 1770 khi chúa Nguyễn phúc Thuần bị quân Tây Sơn rượt đuổi, đến Ba Giồng thì được quân Đông Sơn của Đỗ thành Nhơn, Võ Tánh và Châu văn Tiếp theo phò trợ. 
Đỗ thành Nhơn là người có công lớn trong việc giành giựt lại đất Nam Kỳ, tuy nhiên, về sau này cũng bị Nguyễn Ánh nghi ngờ mà giết đi vào năm 1781. Chính thái độ ích kỷ hẹp hòi này của Nguyễn Ánh, chưa đặng chim đã nghe lời sàm nịnh mà bẽ ná, nên hai thuộc hạ của Đỗ thành Nhơn là Võ Nhàn và Đỗ Bảng đã kịch chiến với quân của Nguyễn Ánh, gây ra không biết bao nhiêu là điêu linh tang tóc cho nhân dân vùng Ba Giồng và Định Tường. Hiện còn ngôi mã của Đỗ thành Nhơn ở Phú Lâm (ngay sau quốc lộ 4). Ngoài Đỗ thành Nhơn, phải kể Lê văn Duyệt cũng là một khai quốc công thần của Nguyễn Ánh. Lê văn Duyệt là người gốc Quảng Ngãi, sau nội tổ di cư vào Rạch Gầm (Sầm Giang). Ông sanh ra và lớn lên tại đây. Năm 1780, trên đường bôn tẩu trốn tránh quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã gặp Lê văn Duyệt, từ đó Lê văn Duyệt một lòng theo phò Nguyễn Ánh và có công lớn trong việc giành giựt lại giang sơn từ tay nhà Tây Sơn. Năm 1802, ông được phong làm Khâm sai Tả quân, tước Quận công, cùng Lê Chất cất quân đánh Bắc Thành. 

Năm 1813, vua Gia Long phái ông làm Tổng trấn Gia Định thành, trông coi toàn bộ miền Nam. Tại đây ông đã dẹp trừ giặc “Phụng Ba Đuôi” và mọi “Vách Đá” đem lại an lạc thái bình một thuở cho nhân dân miền Nam. Sau khi ông mất năm 1832, vua Minh Mạng vốn đã không ưa, vì chính Lê văn Duyệt đã đề nghị vua Gia Long phong cho dòng chánh (con của hoàng tử Cảnh) lên làm vua, nhưng vua lại phong cho hoàng tử Đảm là con của dòng thứ lên kế vị. Năm 1833, Minh Mạng sai người vào Nam cùng Bố chánh Bạch xuân Nguyên điều tra quá trình cai trị đất Nam kỳ của Lê văn Duyệt. Kết quả là Lê văn Duyệt bị kết tội và lăng mộ bị xiềng xích. Thấy điều bất công, nhóm võ quan tâm phúc của Lê văn Duyệt là Hoành và Trấn cùng người con nuôi của ông là Lê văn Khôi đã nổi lên giết Bạch xuân Nguyên và chiếm thành Gia Định. Hai bên kịch chiến cả 2 năm trời, đến năm 1835, Lê văn Khôi bị bệnh chết, triều đình mới dẹp xong. Thế mới thấy cái hẹp hòi, ích kỷ và gian trá của cha con Nguyễn Ánh, cha vì nghi kỵ mà giết khai quốc công thần, đến con cũng vì hiềm khích mà thẳng tay trừng trị người đã có công giành giựt lại giang sơn cho cha mình, dù người ấy đã chết. Ngoài ra, đất Định Tường còn là quê hương của “Bảo Hộ Lân” (Hồ văn Lân).
 Ông đã từng theo chân Nguyễn Ánh và Đỗ thành Nhơn đánh dẹp đó đây. Đức độ và tài năng của ông đã được người Chân Lạp thời bấy giờ mến phục. Một võ tướng khác cũng quê ở Định Tường là ông Nguyễn văn Hiếu, không rõ sanh năm nào, theo Võ Tánh khởi binh tại Gò Công năm 1785. Năm 1802, ông được phong chức Phó Tướng Hữu Quân, đóng tại Bình Định. Năm 1808, thăng Lưu thủ Bình Định, sau đó được bổ đi làm trấn thủ Nam Định, rồi án trấn Thanh Hóa, trấn thủ Nghệ An, rồi Kinh lược đại thần, Tổng đốc Hà Ninh, cuối cùng là chức Tả quân Đô thống. Ông mất năm 70 tuổi.

Một nhân vật khác của Định Tường cũng có công rất lớn với đất nước, đó là Lãnh binh Huỳnh khắc Hơn. Lúc Pháp vừa chiếm xong 3 tỉnh miền Đông, thì tại Mỹ Tho Lãnh binh Huỳnh khắc Hơn đã đứng lên chống Pháp và gây điêu đứng cho giặc trong mấy năm liền. Về sau ông thất trận và bị bắt. Pháp cố gắng chiêu dụ ông ra làm quan nhưng ông nhứt quyết chối từ. Ngoài ra, nhân dân vùng Ba Lai vẫn còn nhắc nhở đến ông Đặng văn Lượng, người Định Tường, là một khai quốc công thần thời Nguyễn Ánh. Ông Trương văn Hoàng, quê tại Cai Lậy cũng theo phò tá Nguyễn Ánh và chết trận năm 1799. Chưởng cơ Lê văn Thụy, người đã tòng quân với Nguyễn Ánh, làm tượng quân cai đội, rất dũng cảm, nhưng so với danh tiếng của Đỗ thành Nhơn, Võ Tánh, Châu văn Tiếp hay Nguyễn Huỳnh Đức thì ông bị lu mờ. Mãi đến đời Minh Mạng, khi vua phái ông đi đánh dẹp giặc Xiêm, người ta mới thấy được tài thao lược của ông. Ông được vua Minh Mạng phong làm Chưởng Cơ. Trong hàng ngũ tướng lãnh của Nguyễn Ánh, phải kể Lê văn Quân, công lao chẳng kém chi Lê văn Duyệt, Võ di Nguy hay Trương tấn Bửu. Trong thời kháng Pháp, ngoài Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân, phải kể thêm Nguyễn tấn Kiều, Âu dương Lân và Nguyễn văn Cẩn cũng là những người đã một thời làm cho giặc Pháp điêu đứng tại vùng Đồng Tháp Mười. Ngoài ra, xứ Định Tường còn sản sinh ra các vị khoa bảng cựu trào như Phan Hiển Đạt, người quận Long Định, đậu Tiến sĩ đệ nhị dưới thời Tự Đức. Hiện vẫn còn ngôi mộ của cụ xây bằng đá ong tại Long Định. 
Trong khi đó tại Sầm Giang cũng có Học Lạc (Nguyễn văn Lạc), văn hay chữ giỏi không thua cụ Nguyễn đình Chiểu, nhưng không ra thi mà chỉ lui về dạy chữ nho và hốt thuốc bắc cứu dân độ thế mà thôi. Hiện tại thơ văn của Học Lạc còn lưu lại rất nhiều. Bên cạnh những nhà nho khí khái như Bùi hữu Nghĩa, Phan văn Trị, Nguyễn hữu Huân, Phan văn Trị, Định Tường còn sản sinh ra cụ cử Thạnh (Nguyễn văn Thạnh), lúc đương thời ai cũng kính phục. Cụ đỗ cử nhân dưới triều Tự Đức, nhưng gặp cơn quốc phá gia vong, cụ lênh đênh trên các kinh rạch miền Nam và cụ mất năm 1915 trong niềm u uất cho dân tộc. Tại Mỹ Tho cũng còn rất nhiều di tích lịch sử như Đại Thạch Bia ở quận Bến Tranh, bia được vua Gia Long cho xây dựng để tưởng niệm những khai quốc công thần trong vùng này như Nham tinh Hầu, Bửu thiện Hầu (người đã có công đào kinh Bảo Định), Lý vân Hầu, An toàn Hầu (Trịnh Hoài Đức) và Dực quận công. Tại tỉnh lỵ Mỹ Tho còn có đàn Xã Tắc và đàn Tiến Nông được xây vào thời Minh Mạng. Miếu Thành Hoàng tại huyện Kiến Hưng thờ ông Mai Bá Hương, được các vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị phong thần. Miếu thờ thần Bão Tố tại vàm cái Bè. Hiện nay tại xã Hưng Mỹ Thạnh, quận Long Định hãy còn một pho tượng Phật cổ bằng đá, nghe nói do một nông dân đã đào dược dưới thời vua Lê Hiển Tông (khoảng năm 1772). 
Tại xã Tân Hiệp, quận Bến Tranh có một cái ao tên là Tha La Tân Quý Tây. Tại đây hồi trước là một gò đất cao mà các quan đàng cựu dùng làm trường đua ngựa. Sau khi Pháp chiếm Nam kỳ, chúng bắt dân lấy đất từ cái gò này để đắp đường rầy xe lửa Đông Dương, vì lấy đất quá sâu nên nơi đây biến thành một cái ao thật lớn mà đến bây giờ vẫn còn. Tại xã Mỹ Đông, quận Cai Lậy có miếu Trinh Nữ. Tương truyền tại làng Mỹ Đông có một thiếu nữ tên Nguyễn thị Liệu, cùng cha đi buôn, đến Kompong Chàm, bị giặc Miên bắt, cô quyết giữ trinh tiết, nên đập đầu vô đá mà chết. Hồn về báo mộng cho quan trấn Châu Đốc, quan đệ sớ về kinh tâu rõ sự tình. Triều đình khen tặng và ban cho một tấm biển khen ngợi xã Mỹ Đông, tổng Mỹ Lợi, tỉnh Định Tường. Dân chúng trong vùng ngưỡng mộ và lập miếu thờ. Ngoài ra, Định Tường còn có các ngôi mã quan đàng cựu rãi rác khắp nơi trong tỉnh. Tại Mỹ Đức Tây, Giáo Đức có mộ quan chưởng cơ Nguyễn văn Kỳ. 

Tại làng Mỹ Tịnh An, quận Bến Tranh, có hai ngộ mộ của quan trấn thủ Phạm tấn Kinh và án sát Phạm hoàng Đạt, đã theo phò tá Gia Long trong thời tẩu quốc. Tại quận Cai Lậy có ngôi mộ “Bốn Ông” (ông Thân, ông Rồng, ông Đước và ông Long), từ là thủ lãnh của nhóm nghĩa binh kháng Pháp dưới quyền chỉ huy của ông Thân. Tại làng Long Hưng, quận Long Định lại có ngôi mộ với kiến trúc chạm trỗ đặc sắc, mà các bô lão trong làng cho đây mới chính là ngôi mộ thật của tả quân Lê văn Duyệt, còn tại gia định chỉ là đền thờ mà thôi, nhưng về sau người ta cứ quen gọi là Lăng Ông. Ngoài ra, Định Tường cũng có rất nhiều ngôi chùa cổ như chùa Long Tuyền tại quận Long Định, chùa Linh Phong ở thôn Tân Hiệp (chợ cũ Điều Hòa), chùa Bửu Lâm trên 150 năm, cũng ở Tân Hiệp (chợ cũ Điều Hòa), chùa Vĩnh Tràng tại quận Chợ Gạo, là một trong những ngôi chùa lớn và đẹp nhất của Mỹ Tho. Vì nằm không xa đất Gia Định nên nói về văn nhân thì ngày trước tỉnh Định Tường có phần vượt trội hơn các nơi khác. Mặc dù người sáng tác ra bản vọng cổ hoài lang quê ở Bạc Liêu, nhưng phải nói Định Tường và Vĩnh Long là hai nơi đã đề xướng về nghệ thuật cầm ca như thầy Nam Tú, Phước Goerges (Bạch Công Tử) làm chủ gánh Huỳnh Kỳ, nam danh ca Tư Giỏi, Bảy Nhiêu, Năm Châu, đạo diễn Trần hữu Trang, Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nam, các nhạc sĩ nổi danh như bà Trần ngọc Diện, Mộng Trung, vân vân. Đặc biệt, chợ Giữa (thuộc Vĩnh Kim, Sầm Giang) là cái nôi của ca nhạc và cải lương, không riêng cho Định Tường, mà cho cả miền Nam nước Việt, đây là quê hương của những danh cầm, danh ca và nghệ sĩ như Trần văn Khê, Trần Quang Hải, Trần văn Trạch... Nghe nói vùng này là nơi đã sáng chế ra dây đàn kìm “Tố Lan”. 

Hết phần 4 (trang 13-17)
Người Long Hồ

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

Thơ Tranh: Mừng Sinh Nhật Chính Mình

Mừng Huynh Kim Tây):): món quà Nhân ngày Sinh Nhật.
Chúc Huynh ngày vui trọn vẹn cùng gia đình, Bạn bè. Nhất là Anh Chị thật hạnh phúc nha.
( Út Kim)

Thơ: Dương Hồng Thủy
Thơ Tranh: Kim Oanh


Mừng Sinh Nhật Bảy Bảy



Chúc Mừng, Chúc Mừng !
Chúc Mừng SINH NHẬT của
Bác Sĩ, Thi Sĩ, Văn Sĩ, Thiện Sĩ ...
Vương Thủy Tùng,
Dương Hồng Thủy,
Thuỷ Tailor ...

Mừng Sinh Nhật Bảy Bảy

Mừng người song thất cổ lai hi,
Hai bảy chục tư chửa thấy gì !
Ngũ thập niên tiền nhị thập thất,
Nhị tam tuế hậu nhất linh chi.
Mắt mờ tai lãng lòng còn nhớ,
Tình cũ duyên xưa dạ vẫn ghi.
Sống mãi sống dai như đĩa đói,
Một trăm tuổi đủ vẫn chưa đi !!!


Đỗ Chiêu Đức


*Thơ của Dương hồng Thủy :
Hôm nay các con chúc mừng sinh nhật
Tuổi vừa song thất mới biết mình già

Song Thất là 2 con 7 là 14, là Một Chục Tư.
2 VÀ 7 LÀ : 2 mươi 7: 27.
Bắt chước cụ Dương Khuê:
Năm mươi năm trước hai mươi bảy,
Hăm ba năm nữa chẵn một trăm!
***
Họa Thơ "Mừng Sinh Nhật 77" với thầy đồ Đỗ Chiêu Đức

Bảy bảy xưa nay đắc thọ hi
Vui tươi khỏe mạnh há lo gì!
Thanh niên ngang dọc bền tâm chí
Trai tráng tung hoành vững sá chi
Tháng rộng năm dài chờ bách tuế
Năm cùng nguyệt tận đợi ngày ghi
Niên kim bằng hữu nâng ly chúc
Bạn Thuỷ Taylor sống mãi đi...!

Mai Xuân Thanh
Ngày 04 tháng 08 năm 2017

Chúc Mừng Bạn Hiền Bảy Mươi Bảy


Dương Hồng Thuỷ Bác Sĩ Tùng Vương
Thi sĩ văn nhân khách viễn phương
Tuổi trẻ ba lô qua Đà Nẵng
Thanh niên Đà Lạt phố mù sương
Bốn vùng buổi ấy đều đi khắp
Lục tỉnh Cần Thơ lắm bạn thương
Bảy bảy nay vui bên tiệc rượu
Chúc mừng sinh nhật bạn Tùng Vương

Mai Xuân Thanh
Ngày 04 tháng 08 năm 2017

Mừng Sinh Nhật 77


Dương huynh Hồng Thủy thất song (77)
Tâm hồn sảng khoái - thơ chong thọ trường
***
Cuộc đời lần lữa cuốn trôi trôi
Cặp bảy hiên ngang thách vãn hồi
Bác sĩ nhà thơ nguồn thực thể
Tailor Hồng Thủy nét tinh khôi
Áo bờ lu trắng lòng nhân ái
Ngọn bút bi xanh khí phách bồi
Tuổi hạc trời cao sừng sững đứng
Tâm tình thuở trẻ vẫn sôi sôi!

Nguyễn Đắc Thắng
170804

Sinh Nhật Ước Mơ

(Huynh Kim Tây Tặng Út Kim)

(Riêng tặng bạn thơ Dương Hồng Thủy)

Bạn và tôi sinh cùng năm cùng tháng
Với tuổi đời hai số bảy trôi qua
Nhìn thời gian nuối tiếc mãi khôn nhòa
Nhớ thưở trước chung trường mà khác lớp.

Thời chinh chiến đời trai ta đóng góp
Những mong sao đất nước được an bình
Có ngờ đâu chiến cuộc quá điêu linh
và phút cuối, để làm người thua cuộc

Chốn quê nhà, bạn làm điều đức phước
Có bạn bè,con cháu thật đông vui
Cảm thương thân,tôi chút thấy ngậm ngùi
Nơi xứ lạ ,ngọn đèn tàn môt bóng

Sức đã yếu, chân tay đều lóng cóng
Được chăng là hưởng không khí tự do
Mơ môt ngày bảo con cháu toan lo
Đưa về lại nơi chôn nhau cắt rún

Thấy cảnh cũ,,bạn xưa mình lung túng
Chắc nhiều người không nhận được ra thôi..
Phố xá xưa,ngôi trường cữ.....mất rồi
Quê hương đó! sao ta người khách trọ

Hay khi về đã làm người thiên cổ
Nắm xương tàn xin gởi gắm trùng khơi
Hồn phiêu du về cuối nẻo tây trời
Hoà đất Mẹ, xong cuôc đời nhân thế

Song Quang