Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Xin Tình Thu Lãng Quên



Xướng:Xin Tình Thu Lãng Quên

(Thể Thuận nghịch độc)

Đêm trắng đêm thầm ta nhớ em
Vấn vương màu lá rụng bên thềm
Êm đưa sóng dạt bờ xa vắng
Lắng vọng tâm về chốn tịnh yên
Rèm lạnh giấc phai nồng tủi phận

Bóng tàn châu đẫm xót xa duyên
Nghiêng chao nguyệt gọi mùa thu đến
Miên viễn khúc sầu gửi lãng quên!

Nghịch

Quên lãng gửi sầu khúc viễn miên
Đến thu mùa gọi nguyệt chao nghiêng
Duyên xa xót đẫm châu tàn bóng
Phận tủi nồng phai giấc lạnh rèm
Yên tịnh chốn về tâm vọng lắng
Vắng xa bờ dạt sóng đưa êm
Thềm bên rụng lá màu vương vấn
Em nhớ ta thầm đêm trắng đêm !

Thy Lệ Trang
***
Bài Họa:

Dỗ Đêm
Thuận

Đêm chong nẫu dạ tưởng hoài em
Lạnh giá cô trăng ánh soãi thềm
Êm vọng tiếng đàn nghe nhức buốt
Ảo mơ hình bóng mộng bình yên
Rèm lay gió động ai buồn phận
Lệ nhỏ hồn đau kẻ lỡ duyên
Nghiêng ngả mãi đời kia nổi sóng
Miên man giấc gượng dỗ tìm quên

Nghịch:

Quên tìm dỗ gượng giấc man miên
Sóng nổi kia đời mãi ngả nghiêng
Duyên lỡ kẻ đau hồn nhỏ lệ
Phận buồn ai động gió lay rèm
Yên bình mộng bóng hình mơ ảo
Buốt nhức nghe đàn tiếng vọng êm
Thềm soãi ánh trăng cô giá lạnh
Em hoài tưởng dạ nẫu chong đêm

Cao Bồi Già
03-09-2016
***
Nguyệt Và Em

Thuận

Đêm thu ngát tỏa nguyệt và em
Gió lả lơi đưa tóc xõa thềm
Êm mãi tiếng lòng hương mát dịu
Đắm thêm hồn nhạc khúc bình yên
Rèm buông lại đợi sầu năm tháng
Mộng dệt cùng trao thắm phận duyên
Nghiêng ngả sóng tình ru huyễn ái
Miên ưu gánh nặng đã sao quên.

Nghịch

Quên sao đã nặng gánh ưu miên
Ái huyễn ru tình sóng ngả nghiêng
Duyên phận thắm trao cùng dệt mộng
Tháng năm sầu đợi lại buông rèm
Yên bình khúc nhạc hồn thêm đắm
Dịu mát hương lòng tiếng mãi êm
Thềm xõa tóc đưa lơi lả gió
Em và nguyệt tỏa ngát thu đêm.

Nguyễn Gia Khanh
***
Tình Nhớ


Thuận

Đêm tàn lịm nhớ mãi hoài em
Lá xạc xào khua gió lộng thềm
Êm hết ru tình nôi đượm thắm
Úa chờ rơi mộng giấc bình yên
Rèm khuya cợt bóng ơ thờ nguyệt
Ảnh ảo trêu lòng khắc khoải duyên
Nghiêng ngả sóng cuồng yêu đắm đuối
Miên sầu ruổi khách lãng tìm quên

Nghịch

Quên tìm lãng khách ruổi sầu miên
Đuối đắm yêu cuồng sóng ngả nghiêng 
Duyên khoải khắc lòng trêu ảo ảnh
Nguyệt thờ ơ bóng cợt khuya rèm
Yên bình giấc mộng rơi chờ úa
Thắm đượm nôi tình ru hết êm
Thềm lộng gió khua xào xạc lá
Em hoài mãi nhớ lịm tàn đêm !

Lý Đức Quỳnh
***
T
ình Lỡ
Thuận

Đêm buồn nhắc chuyện nhớ thương em
Tóc xõa vai thon dáng hiện thềm
Êm dịu những ngày qua sóng gió
Ấm nồng bao buổi đón bình yên
Rèm nhung cách biệt xa tình nghĩa
Bóng lẻ chia lìa xót phận duyên
Nghiêng ngả trí buồn vương tiếc nuối
Miên sầu cuộn nhói dạ sao quên.

Nghịch

Quên sao dạ nhói cuộn sầu miên
Nuối tiếc vương buồn trí ngả nghiêng
Duyên phận xót lìa chia lẻ bóng
Nghĩa tình xa biệt cách nhung rèm
Yên bình đón buổi bao nồng ấm
Gió sóng qua ngày những dịu êm
Thềm hiện dáng thon vai xõa tóc
Em thương nhớ chuyện nhắc buồn đêm 

020916
Đoàn Đình Sáng
***
Buồn Dang Dỡ


Canh trường chạnh nhớ mãi về em
Trở giấc sầu yêu rớt giọt thềm
Cành tím tái tê tình lắng đọng
Mộng vàng thầm lặng dạ nào yên
Xanh xuân trắc trở mong manh phận
Xế bóng âu buồn hắt héo duyên
Mành liễu quạnh cô chiều lẻ bạn
Đành sao nghĩa cạn hững hờ quên.

Nghịch

Quên hờ hững cạn nghĩa sao đành
Bạn lẻ chiều cô quạnh liễu mành
Duyên héo hắt buồn âu bóng xế
Phận manh mong trở trắc xuân xanh
Yên nào dạ lặng thầm vàng mộng
Đọng lắng tình tê tái tím cành
Thềm rớt giọt yêu sầu giấc trở
Em về mãi nhớ chạnh trường canh.

Liêu Đình Tự

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Hoa Tím Ngoài Sân - Thanh Tùng - Elvis Phương

Và hoa tím vẫn rơi đầy sân...
Con đường chưa quên tên bàn chân


Sáng Tác: Thanh Tùng
Ca Sĩ: Elvis Phương

Kiếp Nhân Sinh



(viết cho các cháu của tôi)

Có nghĩa chi đâu, một kiếp người
Chỉ là một giấc mộng mà thôi
Sự nghiệp, sương mai đầu ngọn cỏ
Công danh, khói nhạt bốc lên khơi

Nhà cao cửa rộng vừa thấy đó
Một thoáng phù du mất hết rồi
Hạnh phúc hôm nay, vui thụ hưởng
Tương lai là chuyện của xa xôi

Ta hãy sống sao cho đáng sống
Lưu lại danh thơm lúc cuối đời
Ngày nào đó, trở về cát bụi
Mọi người thương khóc,chỉ (có)ta cười

Rời bỏ trần gian, hai tay trắng
Thăng trầm, vinh nhục gởi lại đời
Chiếc nắp quan tài vừa sập xuống
Trả lại nhân gian một kiếp người.

Hoa Đô, Hè 2017
Trần Gò Công/ Lão Mã Sơn.

Nghe Trong Khói Thuốc




Sớm dậy pha trà buồn hắt hiu
Khói thuốc vờn ta thêm nhớ nhiều
Cố lắng nghe trời càng tĩnh lặng
Không một tiếng trùng thân thiết yêu

Khói bay ta bạn với mình ta
Mải miết nhìn vô cái tuổi già
Chẳng thích trăng sao cùng gió lạnh
Lại buồn đếm mãi những ngày qua

Thời gian ơi mi bỏ ta ư
Chạy trốn về xa cõi mịt mù
Ném mẩu thuốc tàn rồi chép miệng
Cõi đời buồn tẻ thế này ư

Chân Diện Mục

Áo Trắng Thơ Ngây



Ngày xưa áo trắng em bay
Con đường ngóng đợi hàng cây ngắm nhìn
Tóc dài xõa xuống dịu êm
Nắng qua cũng ngả nghiêng mềm cánh đưa

Áo em bay trắng bốn mùa
Dìu theo giọt nắng làn mưa an hòa
Nụ cười trổ thắm bông hoa
Xuân quàng vai áo thướt tha đi về

Vui cùng trường lớp bạn bè
Tháng ngày hớn hở em khoe nụ cười
Trái me trái cóc chia đôi
Ngọt chua ngày ấy một thời sao quên

Ghế bàn ngan ngát hương quen
Lời thầy cô giảng bên thềm mãi vang
Tuổi khờ nghiêng gió thênh thang
Cột trên mái tóc những làn hương xuân

Trái tim suối biếc trong ngần
Áo dài đôi cánh thiên thần phiêu du
Em hiền dịu tựa ma soeur
Chút mơ mộng xõa đôi bờ tóc mây

Rồi em từ giã thơ ngây
Rời trường nước mắt rơi đầy luyến lưu
Áo xưa bay trắng sớm chiều
Vấn vương những tiếng chim reo rối trời

Người quê nhà kẻ xa xôi
Chỗ xưa thương nhớ còn ngồi nhớ thương
Gói bao kỷ niệm lớp trường
Trong tà áo lượn mùi hương học trò

Trầm Vân

Về Miền Tây - Phần 3


                                                            Cầu Bến Lức
Đặc biệt khi Pháp mới xâm chiếm miền Nam, Cần Giuộc và Cần Đước là những vùng đất ngập mặn âm u với rừng đước, sú, vẹt, rất ít dân cư, nên nghĩa quân đã dùng những nơi này làm căn cứ địa đánh Pháp và gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề. Dân Nam Kỳ lục tỉnh không ai là không biết Tân An vì tỉnh lỵ Tân An nằm ngay trên trục lộ từ Sài Gòn về miền Tây. Từ Sài Gòn về miền Tây phải qua Phú Lâm, Bình Chánh, Bến Lức, và đi ngang qua Tân An bằng cầu Tân An... rồi mới đến ngã ba Trung Lương, Cai Lậy, Cái Bè, Cổ Cò, Mỹ Thuận... Ngày trước khi quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1) hãy còn là một con đường nhỏ chưa được tráng đá hay tráng nhựa thì những nhánh sông Tân An và Bến Lức là hai thủy lộ quan trọng cho giới thương hồ từ miền Tây về Sài Gòn. Tân An là giao điểm giữa hai vùng Đông và Tây Nam Bộ nên dù được phù sa bồi đắp, Tân An cũng có những gò đất khá cao như các vùng Biên Hòa và Đồng Nai, chẳng hạn như các vùng Thủ Thừa, Khánh Hậu. Tuy nhiên, đồng ruộng Tân An không phì nhiêu như đồng ruộng miền Tây. Vùng Cần Giuộc nằm sát biển Đông thì nước mặn gần như quanh năm, trong khi vùng Thủ Thừa ở phía Tây thì luôn bị ủng phèn. Thời các chúa Nguyễn thì sông Vàm Cỏ Đông được gọi là sông Thuận An, chảy từ biên giới Việt Miên qua tỉnh Tây Ninh, xuống Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Lức, tuy nhiên dân địa phương quen gọi khu vực này là sông Bến Lức, còn người Pháp thì gọi là Vaico Oriental. Còn sông Vàm Cỏ Tây cũng phát xuất từ Miên nhưng chảy qua vùng Đồng Tháp Mười, Tuyên Bình, Mộc Hóa, đến Thủ Thừa, rồi chảy về phía Đông qua Tân An (khi đi từ Sài Gòn về miền Tây, đến cầu Tân An là cây cầu bắt ngang qua sông Vàm Cỏ Tây), người Pháp gọi sông Vàm Cỏ Tây là Vaico Occidental. Cả hai sông Vàm Cỏ gặp nhau ở phía Đông quận Tân Trụ, rồi dòng sông mở rộng ra để chảy vào Nhà Bè và đổ ra cửa Xoài Rạp. Nước sông Vàm Cỏ hai mùa trong đục, về mùa nắng ráo thì nước trong đến nỗi người ta có thể nhìn thấy thấu tận đáy, đến mùa mưa thì nước sông đục ngầu. Ban đầu tỉnh lỵ Tân An được đặt tại Châu Phê, nằm về hướng Bắc sông Bảo Định (Châu Phê là vùng đất mà Chúa Nguyễn đã cấp cho Vân trường Hầu Nguyễn Cửu Vân vì ông này có công khai khẩn đất quanh vùng Mỹ Tho). Sau đó tỉnh lỵ Tân An dời về Nhựt Thạnh, bên tả ngạn sông Vàm Cỏ Tây. Năm 1868, sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ thì chúng cho dời tỉnh lỵ về vị trí Châu Thành Tân An ngày nay. Đối với dân thương hồ từ miền Tây đi Sài Gòn lúc nào họ cũng phải đi ngang qua châu thành Tân An, hoặc từ sông Tiền qua Bảo Định, hoặc vàm Kỳ Hôn qua Chợ Gạo để vào sông Vàm Cỏ, rồi qua sông Bao Ngược để đến Cần Giuộc... hay từ Tân An lên Thủ Thừa rồi qua sông Bến Lức, nghĩa là phải đi ngang qua Tân An tại xã Bình Lập (xưa gọi là Vũng Gù). Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ, họ cho đào kinh Chợ Gạo nối liền các tỉnh phía Tây với Sài Gòn, nên Tân An không còn giữ vị trí trọng yếu nữa. 

Đến thời đệ nhất Cộng Hòa thì một phần của tỉnh Tân An được cắt ra để thành lập tỉnh Hậu Nghĩa. Trước năm 1975, Mộc Hóa là tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Tường, và hai quận Đức Hòa và Đức Huệ trực thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, nhưng sau năm 1975 chính quyền Cộng Sản chia cắt lại nên diện tích tỉnh Long An lên tới 4.492 cây số vuông, gồm các quận Bến Lức, Cần Đước, Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Vĩnh Hưng và Tân Hưng, với tổng dân số là 1.363.600 người, đa số là người Việt, một số nhỏ người Khmer sống bằng nghề làm rẫy trong vùng Mộc Hóa, và một số nhỏ người Hoa sống bằng nghề thương mại tại các thị trấn lớn. Sau năm 1975, chính quyền sáp nhập tỉnh Mộc Hóa và Hậu Nghĩa vào Tân An, nên hiện tại về vị trí Long An, Bắc giáp Tây Ninh và Cao Miên, Đông giáp Sài Gòn, Tây giáp Đồng Tháp (vùng Cao Lãnh cũ), và Nam giáp Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Về đường bộ, Tân An có đường trải đá đi từ Tân An đi Sài Gòn (khoảng 50 cây số), Tân An đi Gò Công, Tân An đi Mỹ Tho, Tân An đi Thủ Thừa (khoảng 7 cây số), Tân An đi Tầm Vu (khoảng 12 cây số), Tân An đi Bình Phước (khoảng 15 cây số), Tân An đi Bình Quới (khoảng 6 cây số), và Tân An đi Nhật Tảo, vân vân. Sau khi chiếm trọn miền Nam thì chính quyền Cộng Sản cho sáp nhập tỉnh Mộc Hóa vào Tân An. Tuy nhiên, từ Tân An không có đường bộ đi Mộc Hóa, nên phải đi theo quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1), qua ngã ba Trung Lương, đến Cai Lậy, rồi từ Cai Lậy mới đi đường 49 vào Ấp Bắc rồi lên Mộc Hóa. Bây giờ thì con lộ 62 chạy dọc theo bờ kinh đi từ Tân An vô Mộc Hóa đã được thông thương, nên việc đi lại giữa Tân An và các nơi trong vùng Đồng Tháp Mười cũng dễ dàng hơn. Cho đến hôm nay thì vùng Đồng Tháp thuộc Tân An vẫn còn là một vùng mênh mông bạt ngàn rừng tràm, mùa khô thì đất ủng phèn và trở thành hoang mạc, chỉ còn lại những ốc đảo “tràm” là xanh mát. Còn về mùa nước lũ thì toàn vùng biến thành một biển nước bao la. Cư dân trong vùng đã quen sống với lũ lụt từ gần bốn trăm năm nay, nên họ đã xây đắp những con đê bao quanh những thị trấn trong Đồng Tháp, vừa ngăn lũ vừa làm nơi trú ngụ trong mùa nước nổi như đê Tân Hưng và Vĩnh Hưng. Thật ra, Long An không hẳn là vùng đất bồi của đồng bằng sông Cửu Long, mà chỉ là một cánh đồng nhỏ được bồi đắp bởi hai sông Vàm Cỏ nằm giữa hai hệ thống đồng bằng sông Đồng Nai và Cửu Long. Bên cạnh đó, đất đai Long An luôn được nước mưa tưới tẩm quanh năm với một số nước mưa lượng khá lớn hàng năm gần 1.700 mm. Nhờ lượng nước mưa cao, sông rạch chằng chịt và tựa lưng vào biển Đông nên nhiệt độ trung bình của Long An là 26 độ C, rất lý tưởng cho vùng khí hậu nhiệt đới. Ngoại trừ một số đồi gò và những vùng trũng thấp thuộc Đồng Tháp Mười ở phía Bắc, còn thì đa số đất đai của tỉnh Long An đều bằng phẳng với kinh rạch chằng chịt, chia cắt tỉnh này ra làm nhiều vùng. Tân An còn là xứ của cá tôm nước ngọt, gà vịt, rắn rùa. Về trồng trọt, ngoài hai vụ lúa mỗi năm, dân Tân An còn trồng rất nhiều dưa hấu, dưa hấu Tân An chẳng những nổi tiếng trong tỉnh, mà còn biết tiếng ở Sài Gòn và các vùng phụ cận nữa. Những năm sau này, nhứt là khoảng 10 năm trở lại đây, dân Tân An bắt đầu trồng thanh long để xuất cảng ra ngoại quốc. Từ Sài Gòn, theo quốc lộ 1A đi Thủ Thừa, một thị trấn nhỏ nằm trong cửa ngỏ đồng tháp ra Sài Gòn. Đặc biệt tại Thủ Thừa vẫn còn một chiếc “Cầu Treo” một nhịp giữa sông, được treo bởi những sợi dây cáp lớn, cầu được xây từ thời Pháp thuộc, nhưng đến nay vẫn còn tốt. Từ Sài Gòn về miền Tây, trước khi đến Tân An, đến Gò Đen lúc nào chúng ta cũng nghe một mùi men rượu phảng phất. Đây là vùng sản xuất rượu nổi tiếng của tỉnh Tân An. 

Sau đó chúng ta phải đi qua cầu Bến Lức rồi đến Tân An. Vừa qua cầu Bến Lức, nếu rẽ phải thì chúng ta sẽ đi đến thị trấn Đức Hòa. Hai quận Đức Hòa và Đức Huệ, trong thời VNCH trực thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, nhưng sau năm 1975, nó được sáp nhập vào Tân An. Cũng như các vùng khác ở miền Nam, Long An nằm trong khu văn hóa Óc Eo, nền văn hóa mang máng hình ảnh văn hóa Ấn Độ, đã chiếm ngự toàn vùng trong suốt sáu thế kỷ từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ sáu sau Tây lịch. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại Long An trên 20 di tích tiền sử và trên 100 di tích thời Óc Eo tại các gò như Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm Tước nằm trong vùng ấp Bình Tả, thuộc quận Đức Hòa. Các nhà khảo cổ phải đào sâu gần 2 mét mới phát giác ra những di tích này. Người ta cho rằng đây là một trong những địa điểm hành lễ của dân Phù Nam. Ngoài ra, trong bộ sư tập 26 hiện vật bằng vàng ở Gò Xoài có một bản bằng chữ Phạn cổ được khắc trên một lá vàng mỏng ghi lại câu kinh Phật giáo. Bên cạnh đó, cũng có các tượng thần Siva, thần giữ đền, thần Vinu, các linh vật Linga, Yoni, và rất nhiều mảnh gốm mịn, hay mảnh kim loại, đá quý, sa thạch thuộc nền văn minh Óc Eo, cũng như rất nhiều di chỉ xung quanh ngôi đền Gò Xoài có liên quan đến con người từ thời tiền sử. Các di tích về ngôi đền thờ thần Siva ở Bình Tả cho thấy người Phù Nam thuộc tôn giáo Bà La Môn, một tôn giáo đã có lâu đời tại Ấn Độ và được truyền bá qua phía Nam bán đảo Đông Dương như Chiêm Thành và Phù Nam vào những thế kỷ đầu Tây lịch. Những di tích khảo cổ cho thấy vùng Đồng Tháp Mười khi xưa đã từng một thời là một trung tâm chính trị văn hóa của dân tộc Phù Nam. Ngày nay tại xã Khánh Hậu, cách thị xã Tân An chừng 4 cây số có lăng miếu thờ ông Nguyễn Huỳnh Đức, một công thần thời nhà Nguyễn. Lăng mộ, đền thờ và nền nhà cũ của quan Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức hãy còn tương đối nguyên vẹn, vì được dân địa phương và con cháu của ngài bảo quản rất chu đáo. Cách châu thành Tân An khoảng 5 cây số có mộ Ông Hống, nằm ngay bên bờ Kinh Ông Hống. Ngoài ra, tại xã Long Hựu Đông, quận Cần Đước, cách thị xã Tân An khoảng 50 cây số, vẫn còn ngôi nhà Trăm Cột, làm bằng cẩm lai, được khởi công xây từ năm 1898 đến 1903, với lối kiến trúc thật độc đáo do những tay thợ chạm trổ từ Huế vào xây dựng. Ngôi nhà có 68 cột tròn, 12 cột vuông và 40 cột làm bằng gạch ở ngoài hiên. Mãi cho đến ngày nay hãy còn rất nhiều người tới đây để nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc cũng như chạm trổ những hoa văn tại đây. Ngoài ra, về di tích lịch sử, tại Tân An hiện còn ba ngôi chùa cổ, một là chùa Tôn Thạnh ở ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc, quận Cần Giuộc. Đây là ngôi chùa cổ nhất của tỉnh Long An, được xây vào năm 1808, chùa do Hòa Thượng Viên Ngộ khai sáng với tên là Lan Nhã. Hiện trong chùa hãy còn rất nhiều pho tượng cổ theo nghệ thuật điêu khắc của thế kỷ 18, đặc biệt pho tượng Bồ Tát Địa Tạng được đút tại chùa. Chùa Tôn Thạnh còn là nơi mà nhà thơ nổi tiếng Nguyễn đình Chiểu đã sống và sáng tác những áng thơ tuyệt tác. Ngôi chùa thứ hai là chùa Linh Sơn, nằm trong vùng Rạch Núi. Chùa do Hòa Thượng Minh Nghĩa khai sáng vào giữa thế kỷ thứ 19. Trong chùa hiện còn trên 100 bức tượng cổ làm bằng gỗ quý. Ngôi chùa thứ ba là chùa Kim Cang, tọa lạc trong xã Bình Thạnh, quận Thủ Thừa. Chúa được xây dựng vào giữa thế kỷ thứ 19. Dưới đây là một số hình chụp tại tỉnh Tân An của một số nhiếp ảnh gia người Pháp từ năm 1925 đến năm 1945 sưu tập được từ các Công Báo Hành Chánh Nam Kỳ từ năm 1862 đến năm 1945 (Bulletin Administratif de la Cochinchine 1862-1945). Dầu hình ảnh không được rõ ràng, nhưng người viết bài này vẫn mong rằng đây là những hình ảnh kỷ niệm những sinh hoạt của một thời còn dưới sự cai trị của người Pháp:

Nhà Khách tỉnh Tân An

Về phía Tây Bắc Tân An là Mộc Hóa. Vùng Mộc Hóa nằm trọn trong vùng Đồng Tháp Mười bao la bát ngát. Sở dĩ gọi là Đồng Tháp Mười vì giữa cánh đồng bao la có một ngôi tháp cổ mười tầng (ngôi tháp này nằm giữa khoảng Long An và Cái Bè). Xưa kia Mộc Hóa là một quận lỵ nhỏ của tỉnh Tân An, nằm ở thượng lưu sông Vàm Cỏ Tây, giữa Đồng Tháp Mười. Hai bên bờ sông Vàm Cỏ quanh vùng Mộc Hóa toàn là dừa nước. Mộc Hóa là một vùng bao la với những rừng tràm, năng, lát, được thiên nhiên ưu đãi với vô số cá tôm, rùa, rắn, cua đinh... đây cũng là những đặc sản của vùng Đồng Tháp Mười. Tân An là một tỉnh nông nghiệp, đất đai màu mỡ và phong phú trải dài theo hai con sông lớn là Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Từ Mộc Hóa qua Cao Lãnh và ra Tân An hãy còn rất nhiều cụm rừng tràm, xa xa mới có một vài căn chòi xuất hiện. Cây cối quanh nhà còi cọc chứ không xanh tươi um tùm như những vùng khác ở miền Nam. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Mộc Hóa là tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Tường. Mộc Hóa nằm giữa Đồng Tháp Mười, bên bờ sông Vàm Cỏ Tây. 

Sau năm 1975, Mộc Hóa bị chính quyền Cộng Sản sáp nhập vào tỉnh Long An. Giữa cánh đồng năng lát bạt ngàn, chen lẫn những khu rừng tràm ủng nước, Mộc Hóa thuở ban sơ chỉ là một xóm nhà dùng làm nơi dừng chân cho giới lang bạt giang hồ từ Việt Nam tìm đường lên Cao Miên lập nghiệp, hay giới buôn lậu những món hàng được chuyên chở từ Miên về. Vào mùa khô thì cả vùng này là vùng đồng khô cỏ cháy, nhưng đến mùa nước nổi thì vùng này biến thành một biển nước không cạn không sâu, nhưng rất thuận tiện cho bọn buôn lậu vận tải hàng hóa từ Miên về Việt Nam hay từ Việt Nam lên Miên. Trước thời Pháp thuộc thì đa số dân vùng Đồng Tháp và Mộc Hóa là người Miên, nhưng về sau này người Kinh và người Hoa từ các vùng khác đổ xô đến đây khai hoang lập nghiệp. Khoảng năm 1973 hay 1974, dù chánh quyền VNCH đã cố gắng bảo vệ và phát triển tỉnh Mộc Hóa, nhưng ngay tại tỉnh lỵ cũng chỉ có một vài khu phố lèo tèo, có căn lợp ngói, có căn lợp tôle fibro ciment, có căn hãy còn lợp lá. Về buôn bán thì chỉ có một vài tiệm tạp hóa của người Hoa. Hồi này dân chúng còn chăn nuôi thả rong heo, trâu, bò, gà, vịt... rồi bán cho bạn hàng từ Tân An lên. Bây giờ thì không biết đã có đường tráng nhựa từ Tân An lên Mộc Hóa hay chưa, chứ mãi đến gần năm 1975 thì phương tiện duy nhất vẫn là tàu đò, còn con lộ từ Cai Lậy vô Ấp Bắc đi Mộc Hóa thì bị tàn phá gần hết, không còn lưu thông được nữa. 

Sông Vàm Cỏ Tây

Về phía Bắc Đông Bắc của Sa Đéc là tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh). Năm 1956, Tổng Thống VNCH thành lập tỉnh Kiến Phong vì nhu cầu an ninh lãnh thổ. Về vị trí, Bắc giáp Cao Miên, Nam giáp Sa Đéc, Đông giáp Kiến Tường (Mộc Hóa) và Mỹ Tho, Tây giáp Long Xuyên và Châu Đốc. Thị xã Cao Lãnh nằm bên bờ sông Cao Lãnh, một nhánh nhỏ của sông Tiền Giang, cách quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1) khoảng 40 cây số, và cách Sài Gòn khoảng 160 cây số. Ngay từ thời Pháp thuộc, Cao Lãnh là một đô thị sầm uất và là trung tâm kinh tế của khu Đồng Tháp Mười. Kiến Phong là một tỉnh nông nghiệp, tuy đất đai có vùng hãy còn ủng phèn, nhưng đa phần là đất màu mỡ do phù sa sông Cửu Long bồi đắp. Những vùng dọc theo bờ sông Tiền Giang bốn mùa cây cối xanh tươi. Cũng như các tỉnh dọc theo biên giới Việt Miên như Châu Đốc và Kiến Tường, Kiến Phong nằm trong vùng lũ lụt hằng năm, nên thiên nhiên đã ưu đãi cho Kiến Phong một loại lúa nước nổi, là một loại lúa mọc tự nhiên từ tháng 4 hay tháng 5 và đến tháng 10 thì thu hoạch mà không cần phải chăm bón hay phân phướn gì cả. Tuy nhiên, về sau này khi Kiến Phong được mở mang và phát triển thì chính phủ thời VNCH đã cho nghiên cứu và trồng thử nghiệm nhiều loại lúa Thần Nông ngắn ngày, và kết quả rất khả quan. Hiện nay thì Kiến Phong là một trong những vựa lúa lớn trên toàn quốc. 
Ngoài ra, trong hai thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa, trừ những vùng nào quá mất an ninh thì thôi, còn những vùng ven thị xã Cao Lãnh và ven bờ sông Tiền Giang thì chính phủ thời VNCH còn khuyến khích nhân dân trồng những loại cây công nghiệp ngắn ngày khác như mía, bông, thuốc lá, các loại đậu, đặc biệt là đậu nành để làm tàu hủ và tương hột. Kiến Phong còn là quê hương của những loài cây ăn trái nổi tiếng như xoài Cao Lãnh, quít Lai Vung, mận, nhãn Châu Thành, ổi và bưởi Phong Hòa, còn chôm chôm, vú sữa, và mãng cầu thì có hầu như quanh năm... Kiến Phong là một dãy đất gò tương đối cao nằm trong vùng Đồng Tháp Mười. Hiện nay muốn đi đến ngôi tháp cổ trong Đồng Tháp Mười, người ta có thể đi từ ngã Sa Đéc qua Cao Lãnh, hay từ ngã Cái Bè vào, hoặc từ Châu Đốc qua Tân Châu đến chợ Hồng Ngự, qua Tam Nông, đến Mỹ An, gò “tháp cổ” cách chợ Mỹ An chừng 8 hay 9 cây số (nghĩa là cách chợ Cao Lãnh chừng 43 cây số). Gò Tháp Mười là một khoảng đất cao với diện tích khoảng 100.000 thước vuông, chiều dài nhất khoảng nửa cây số. Vào mùa nước nổi thì xung quanh đều chìm vào biển nước, duy chỉ có gò tháp mười là không bị ngập. Hiện tại trên Gò Tháp có Tháp Mười, Tháp Cổ Tự, mộ và đền thờ Đốc Binh Kiều, Gò Minh Sư và Miếu Bà Chúa Xứ. Theo các bô lão trong vùng kể lại thì ngôi Tháp Cổ Tự cách Tháp Mười chừng 100 mét đã có từ thời vua Thiệu Trị, và được xây ngay trên nền Tháp Cổ của người Phù Nam. 

Tuy nhiên, cho tới nay chưa ai biết rõ lai lịch của ngôi tháp cổ này, nhưng có nhiều giả thuyết, thứ nhất là ngôi tháp cổ mười tầng là do Thiên Hộ Dương xây để cho nghĩa quân làm trạm canh cho chiến khu Đồng Tháp, giả thuyết này không đứng vững, vì theo dân trong vùng ngôi tháp đã có từ lâu đời lắm rồi, chứ không phải sau thời Pháp chiếm miền Nam. Giả thuyết thứ nhì cho rằng đây là một trong những ngôi cổ mộ của các vì vua chúa của vương quốc Phù Nam, và giả thuyết thứ ba cho rằng đây là một trong những phế tích của một thành phố cổ thuộc vương quốc Phù Nam xưa kia. Hai giả thuyết sau này có phần có lý hơn giả thuyết thứ nhất, vì đất Nam Kỳ xưa kia thuộc vương quốc Phù Nam, và những gạch ngói cổ và một vài khối đá có hoa văn chạm trổ có tính nghệ thuật cao mà thỉnh thoảng dân trong vùng tìm thấy trong những cánh rừng tràm, có khi người ta cũng tìm thấy vàng bạc trên những gò đất cao... cho chúng ta thấy có lẽ vùng Tháp Mười xưa kia cũng phồn thịnh, nhưng vì thế đất thấp nên chịu nhiều trận lũ từ miệt đồng bằng sông Cửu Long tràn qua, nên mới lâm vào cảnh “thương hải tang điền” này. Còn một giả thuyết nữa mà nhà khảo cổ học người Pháp tên Parmentier đã tìm thấy một bia đá có ghi chép lại rằng ngôi tháp cổ được xây vào thời vua Javavarman (1181-1281). Nhà vua bị bệnh phong cùi nên ông rất thương cảm với nhân dân nghèo trong xứ, ông đã cho xây nhiều tháp tương tự như vậy để làm những trạm tế bần. Ngôi tháp ở Đồng Tháp là ngôi tháp thứ mười nên được gọi là “Tháp Mười.” 

Dù đã có bia đá ghi lại như thế nhưng đâu có chứng cứ nào xác thực nào chứng nhận ngôi tháp thứ mười ấy là ngôi phế tháp hiện tại, nên theo tôi giả thuyết thứ hai và thứ ba vẫn còn đứng vững. Vào thời Pháp mới xâm chiếm Việt Nam thì Đồng Tháp Mười là căn cứ kháng Pháp của các anh hùng Thiên Hộ Dương (Võ Duy Dương), Thủ Khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân), Đốc Binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều). Nhờ những đạo quân “Trời” (nắng, vắt, đỉa, rừng rậm và đầm lầy) làm bức chắn, nên nghĩa quân dù thế yếu vẫn được Tháp Mười che chở và nuôi dưỡng để tấn công quấy phá địch. Năm 1957, chính quyền VNCH cho xây lại tháp (có lẽ dùng để làm một đài quan sát toàn vùng), nhưng tháp ấy cũng bị chiến tranh tàn phá gần hết. Không biết sau chiến tranh người ta có trùng tu lại ngôi tháp hay không? Hiện tại tại gò Tháp Mười có đền thờ Đốc Binh Kiều và Miếu Bà Chúa Xứ, hằng năm dân chúng trong vùng vẫn tổ chức lễ vía bà vào ngày 16 tháng 3 âm lịch và lễ giỗ ngài Đốc Binh vào ngày 15 và 16 tháng 11 âm lịch. 

Về giao thông đường thủy, người ta có thể đi Cao Lãnh bằng cách đi theo tỉnh lộ từ Giáo Đức (Mỹ Thuận) đi lên, hay từ Sa Đéc qua bắc Cao Lãnh. Kiến Phong có một hệ thống sông ngòi và kinh rạch chằng chịt, bên cạnh đó còn có những ao, hồ và đầm rộng mênh mông. Sông chính chảy qua Kiến Phong là sông Tiền Giang, một nhánh của sông Cửu Long, chảy qua địa phận tỉnh Kiến Phong trên một thủy lộ dài 132 cây số. Dọc theo hai bên bờ sông là hệ thống kinh rạch xẻ dọc xẻ ngang, tạo cho việc đi lại trong tỉnh bằng đường thủy rất thuận tiện. Trước năm 1975, vì chiến tranh nên đường sá chưa được tái thiết hay mở mang thì sự đi lại chính trong tỉnh Kiến Phong là những chiếc đò nhỏ mà dân trong vùng gọi là “Tắc Rán”. Riêng vào mùa nước nổi thì không có phương tiện nào có thể đi lại trong tỉnh được ngoài những chiếc “Tắc Rán” này. Chính vì vậy mà có lẽ không nơi nào có nhiều những “bến đò” bằng tỉnh Kiến Phong, xa xa một đỗi trên dòng sông Tiền là có một bến đò, đò đi An Long, đò đi Hồng Ngự, đò đi Đồng Tiến... 

Hết Phần 3 (Trang 8 - 13)
Người Long Hồ


Thứ Hai, 31 tháng 7, 2017

Thơ Tranh: Thu Cảm


Thơ: Bằng Bùi Nguyên
Thơ Tranh: Kim Oanh

Tự...

 

Lặng ngắm tấm hình em.
Ngập tràn màu cảm xúc.
Muốn tìm trong ký ức.
Sao kỷ niệm không về.

Một thời nhiều đam mê.
Qua đi rồi dừng lại.
Lãng quên trong mê mải.
Chợt thấy là hư không.

Như chiểc lá xuôi dòng.
Được khát thèm buông bỏ.
Đi trong chiều ngược gió.
Dù biết mãi xa bờ.
Để gặp tìm bình yên...

Hhai

Ví Dầu



Xướng: Ví Dầu

Ví dầu em ở hay đi
Cũng xin để lại chút gì với nhau
Một mai nước chảy qua cầu
Ta còn cái thuở ban đầu chớm yêu

Trần Bang Thạch
***
Các Bài Họa:
Ví Dầu

Dẫu mà kẻ ở người đi
Nghìn thu còn mãi những gì trao nhau
Ví dầu con tạo cơ cầu
Trái tim chửa xóa mộng đầu ấp yêu

Kim Phượng
***
Giá Như

Từ người cất bước ra đi
Nghìn trùng cách biệt mong gì gặp nhau
Giá như Ô Thước bắc cầu
Tháng Bảy Ngưu Chức buổi đầu trao yêu

Kim Oanh
***
Dù sao

Dù sao người cũng đã đi
Thì xin giữ kỷ niệm gì cho nhau
Dòng trôi nước cuốn chân cầu
Bóng hình xưa giấc mộng đầu vào yêu

Song Quang
***
Dặn lòng

"Người ta" lặng lẽ ra đi!
Dặn lòng giữ lại những gì cho nhau
Dù cho nghịch cảnh cơ cầu
Đừng làm tan vỡ tình đầu vừa yêu!

Song MAI Lý Lệ
***
Còn Chăng?

Người ơi chớ vội quay đi
Để ta còn được những gì cho nhau
Chớ đừng như nước qua cầu
Buông trôi kỷ niệm buổi đầu mình yêu.

Quên Đi
***
Chia Tay

Chia tay bịn rịn em đi
Hôn nhanh môi mắt có gì nhớ nhau
Ôm em như mống trên cầu
Niềm thương da diết buổi đầu mới yêu...

Lý Tòng Tôn
***
Các Bài Cảm Tác:

Thương

Thu về đông tới xuân đi
Tiếc thời hoa bươm thầm thì bên nhau.
Em ơi mây đã qua cầu,
Còn đây cái nghĩa nhuộm màu tin yêu.

Mailoc
***
Ví Dầu

Ví dầu lòng bậu muốn đi,
Lòng tôi muốn để chút gì cho nhau.
Một mai có bước qua cầu,
Cầu bao nhiêu bước dạ sầu hơn yêu!

Đỗ Chiêu Đức
***
Ngậm ngùi

Sao người nỡ bỏ ta đi
Không lời từ biệt, chắc gì đợi nhau!?
Nhìn dòng nước dưới chân cầu
Miên man nỗi nhớ, rầu rầu dạ yêu.

Phương Hà
***
Còn Yêu

Ghe tàu anh trốn mau đi
Còn em ở lại bầu bì nhớ nhau
Nhược bằng nối được nhịp cầu
Ấm no chia sớt, buổi đầu còn yêu!

Mai Xuân Thanh
Ngày 20 tháng 07 năm 2017

***
Ví Dầu

Ví dầu chuyến lỡ tàu đi
Duyên còn đứng đợi lấy gì tặng nhau
Chiều lơ lửng bóng qua cầu
Hồn trôi lơ lửng mối sầu tàn canh

Mai Thắng
170721


Đôi Điều Gợi Nhớ Về Bác Sĩ Khương Hữu Long - Phường 5 – Vĩnh Long

(Bác Sĩ Khương Hữu Long)

Ông Khương Hữu Long sanh năm 1890, sinh quán Thiềng Đức (phường 5), Vĩnh Long, mất ngày 23 tháng 02 năm 1983, hưởng thọ 93 tuổi
Vợ bà Nguyễn Thị Thạch sanh năm 1900 mất năm 1934. Trú quán thuộc nội thành Huế, vào nam gặp và kết hôn cùng ông Long. Hưởng dương 34 tuổi.

(Bà Nguyễn Thị Thạch)

Sau khi hoàn thành chương trình học thành chung “ Diplome “, anh thứ ba là Khương Hữu Phi, giàu có và thế lực, nhận thấy đứa em kế mình có khả năng học cao, ông tài trợ bằng cách tặng 5.000 đô la cho em ra Hà Nội tiếp tục học đại học ngành y “ Vào thuở đó 200 đô la sắm được chiếc xe hơi mới “. Sau khi học hết 4 năm đại học y Hà Nội, ra trường với chức danh Bác Sĩ, làm việc cho một bệnh viện của Pháp tại Vĩnh long với tện gọi bác sĩ Pháp người Việt, như vậy có thể nói ông đã nhập tịch Pháp nên mới dễ dàng vào đại học y của người Pháp ở Hà Nội, có lẽ ông không dùng tên Pháp mà sử dụng tên do cha mẹ ban cho, theo sử liệu, ông là người khơi nguồn đầu tiên cho người Việt theo học ngành y tại Viêt Nam.


Vừa làm việc nơi bệnh viện, ông còn mở thêm một cơ sở y tế khám và trị bệnh, có phòng cho bệnh nhân nội trú bên bờ sông Long Hồ, thuộc phường 5, nằm giữa hai cầu Thiềng Đức và Cầu Kè. Có thể gọi đây là bệnh viện tư đầu tiên ở Vĩnh Long, đầy đủ uy tín được người dân các nơi xa đến trị bệnh dài ngày.

Theo yêu cầu của Hoàng Đế Bảo Đại cùng đồng nghiệp của ông là bộ trưởng tư pháp Nguyễn Văn Thinh, ông gia nhập cục quản lý nhà nước đầu tiên, với chức danh bộ trưởng Y-tế, với tên gọi chung cho thời này “ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ “.
Sau khi phát hiện người Pháp không thành thật trao trả độc lập, ông từ chức và chính phủ giải thể “ Từ 02-06-1946 đến 10-11-1946 “.
Ngoài ra ông còn giảng dạy cho các chính trị gia đương thời như: Luật sư Trần Ngọc Liểng, thủ tướng Trần Văn Hương cùng nhiều vị khác. Trong suốt thời buổi biến động chính trị, ông giới thiệu ông Ngô Đình Diệm với Đức Hồng Y công giáo Boston của Hoa Kỳ, tìm gặp ông Eisenhower giới thiệu ông Diệm, kể cả gặp thượng nghị sĩ john Kennedy. Việc giới thiệu và tư vấn đã đưa ông Diệm đến sự công nhận của chính phủ Pháp và Hoàng Đế Bảo Đại.

Có lẽ ông có công trình nghiên cứu bệnh, ông được chức danh tiến sĩ Khương, trị bệnh với bệnh viện tư của ông.

Ông hành nghề đến năm 1970 thì nghĩ hưu nơi bệnh viện cũng là nhà của ông.

Ông có một người con nuôi tên thường gọi Ba Siển, hiện ngụ ở lộ cũ thuộc phường năm, khi Bác Sĩ Long còn mạnh, ông vừa là tài xế riêng, vừa là quản gia, hiện sức khỏe yếu do 2 lần tai biến.

Ba người con với vợ là bà Nguyễn Thị Thạch 

- Khương Hữu Hổ, sang Pháp thuở 13 tuổi, hiện đã mất tại Pháp

- Khương Hữu Hội và Khương Hữu Thị Hiệp, sang Pháp vào năm 1975 

Riêng bà Khương Hữu Thị Hiệp có chồng là bác sĩ Hồ Trung Dung, giám đốc bệnh viện Từ Dũ, SàiGòn

Ông mất năm 1983, hưởng thọ 93 tuổi, được chôn tại đất nhà, thuộc khu vực lộ cũ, thuộc phường 5, gần khu nghĩa địa Triều Châu.

Được làm con dân Vĩnh Long là phước của chúng ta. Vùng đất sản sinh nhiều nhân tài.

Mộ Bác Sĩ Khương Hữu Long
Mộ Bà Bác Sĩ Khương Hữu Long

Trương Văn Phú

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Mùa Hè Tới - Nhạc Và Lời : Phạm Anh Dũng - Tiếng Hát: Quỳnh Dao


Nhạc Và Lời : Phạm Anh Dũng
Hoà Âm: Quốc Dũng
Tiếng Hát: Quỳnh Dao
Video Clip: Nguyễn Minh Các Quỳnh Dao

Hạ Hồng - Phượng Hồng


Xướng: Hạ Hồng

Nắng hạ hồng vươn phượng đỏ cây
Cung trời xưa gợi nhớ còn đây
Đậm tình xanh mộng thời hoa phấn
Áo trắng lòng xây ngát mộng đầy
Lưu bút còn ghi hồn chữ cũ
Nguồn thơ vẫn động suối thơ say
Bốn phương bạt gió dù phiêu bạt
Giữ mãi trong tim lớp bạn thầy

Bằng Bùi Nguyên
***
Họa: Phượng Hồng

Phượng hồng rợp nở đỏ cành cây
Nắng hạ lung linh khắp đó đây
Tuổi mộng hoa niên thời cắp sách
Lòng mơ tươi sáng tương lai đầy
Chuyền tay lưu bút thay lời nói
Ánh mắt trao tình rất đắm say
Lữ thứ bao năm đời viễn xứ
Mà lòng vẫn nhớ bạn,cô thầy

Song Quang

5/25/17

Tuổi Mơ


Cuộn mình trong chăn, tấm chăn được đan chằng chịt từng kỷ niệm, liếng thoáng, ngây ngô, nuối tiếc và cả ngọt ngào… Nhỏ mơ màng theo tiếng hát của ca sĩ Thùy Dương 

“ Hãy yêu lại từ đầu, 
Những bông hoa mới nở. 
Hãy đi lại từ đầu, 
Con đường bóng cây che. 
Hãy nghe lại từ đầu, 
Tiếng yêu người thỏ thẻ. 
Hãy yên vui chờ đợi, 
Bàn tay tìm bàn tay.”
(Hãy Yêu Lại Từ Đầu của Nhạc sĩ Nguyên Chương)

Mùa hè ấy nhỏ tròn mười lăm tuổi, cái tuổi môi hồng e ấp, nụ cười thẹn thùng đôi mắt lóng lánh mộng mơ, và những cái “lớ ngớ” lại làm “khờ ” người ta. Ai mà chả nghe các nhà thơ, nhà văn, ca tụng tuổi dễ thương này. 

Con gái có mái tóc dài để làm duyên che những e thẹn và cũng trộm… nhìn người ta. Mái tóc nhỏ  demi cho nên đã bị người ta nhìn lén một cách dễ dàng, ức quá cho nên không thèm nhìn trộm ai hết….mà chỉ trộm.. để trong lòng rồi ấp ủ mộng mơ…


(Trường Tống Phước Hiệp - Ảnh KimOanh Tháng 4/2000)

Lớp học nhỏ  trên lầu, mỗi giờ ra chơi từ hành lang nhìn xuống sân, nhìn anh lang thang dưới hàng phượng vỹ, hoa cũng thẹn thùng, từng cánh rơi trên tóc anh, nhỏ mỉm cười liếng thoáng làm thơ 

Ước chi là cánh phượng hồng 
Rơi trên mái tóc bềnh bồng của anh.. 

Hằng, nhỏ bạn thân bật cười. 
- Thôi đi bà cụ non muốn ngồi trên đầu người ta sao? 
nhỏ phá lên cười 
- Ta thử mi có thông minh không thôi, ta ước vầy nè: 

Ước chi là cánh phượng hồng 
Trôi theo mái tóc bềnh bồng của anh.. 

- Tạm được,vậy là mi chỉ ngồi… trên vai của tên con nít đó thôi. 
- Ê Hằng nói chi tệ rứa, biết đâu hắn ta hơn mình một, hai tuổi. 
- Bà cụ non ơi! luật lệ bọn mình đã định rồi không được thay đổi. Con trai bằng tuổi làm em, lớn hơn hai tuổi là bạn . 
- Ô hay! Thì ta chỉ xem hắn là bạn thôi mà. 
- Bạn gì? Con nít quỷ mới trổ mã đã bày đặt yêu. Nghe ta đi đừng ước chi hết…đi theo ta… nó lôi tay nhỏ đi như bay… xuống thang lầu … 
- Ê ,từ từ  rách aó dài ta nè… 
- Thì mi cứ cột hai tà aó lại, giờ ra chơi hết rồi…nhanh thôi…

Vèo một cái là hai đứa đã có mặt ở canteen, và hai ly chè sâm bổ lượng có ngay. 
Thế là mơ mộng thoáng phút chốc được theo ly chè trôi vào bao tử. Nhỏ khoang khoái sửa lại hai câu thơ khi nãy 

Ước chi là một ly chè 
Trôi vào bao tử để mèo nhè anh??!! 

Nhỏ Hằng thích chí cười như nắc nẻ: 
- Vậy mới là phải phải bà cụ non ơi! Tùng..tùng… tiếng trống vào học bắt đầu, hai đứa lại cuốn áo chạy như bay. 

(Cầu thang lên lớp nhìn xuống đường Pasteur - Tống Phước Hiệp - Ảnh Vũ Bình)

Nhưng vừa đến chân cầu thang thì anh cũng vừa chạm mặt, nhỏ tài lanh khi nãy giờ riu ríu làm dáng, nhỏ níu tay Hằng tiếp tục chạy về lớp để tránh ánh mắt như sao đang…xẹt vào mắt nhỏ. 
Bỗng tiếng anh ngâm nga làm cả hai dừng bước và trợn tròn đôi mắt ngạc nhiên. 

Ước chi là vạt áo dài 
Bay theo cơn gió cùng ai …ăn chè? 

Ô hay! nghe lén người ta, nhỏ giận dỗi bỏ đi, miệng lầm bầm: “đi thì có hai chân mà đi, làm gì bắt chước người ta ước này ước nọ” 
Nhỏ Hằng nguýt nhẹ. 
- Đáng đời ai bảo mi trao duyên nhầm tướng …nhỏ vội bịt miệng không cho Hằng phát ngôn bừa bãi. Nhưng nhỏ không thể bịt miệng anh: 
- Đùa chút thôi cô bé, đừng hờn mà anh thực sự ước thế này nè:

Ước chi là vạt áo dài 
Bay theo cơn gió cùng ai đến trường 
Ước chi được người ta… thương 
Đêm trăng thanh vắng anh tương tư hoài. 

Nhỏ Hằng xí ….một tiếng dài và vừa đi vừa càm ràm: 
- Ê tỉnh lại đi bà cụ, hắn chỉ tương tư mi khi hắn ăn bánh Trung Thu thôi, còn đêm nào trời không trăng không sao hắn ngủ khò… mất thôi. 
- Nhỏ khỏi lo không trăng thì …có đèn đường. 
Nhỏ mỉm cười hài lòng với câu nói của mình. Nhẹ nhàng buông hai tà áo dài xuống cho gió phất phơ và ung dung rảo bước đi về lớp dù biết sẽ bị thầy la vì cái tội vào trễ giờ. Quê lắm đó!…nhưng có bị la thì tội này cũng đáng lắm cơ!. 
Thì ra …ly chè của nhỏ đã chui vào bao tử của anh thật rồi. Thế là giờ học kế tiếp hồn nhỏ len theo cơn gió cùng ai bay ra ngoài cửa sổ rong chơi. 
Hết gìờ học nhỏ Hằng vúi quyển tập của Hằng vào tay nhỏ: 
- Nè về làm ơn chép bài đi bà cụ non, ta biết mi hôm nay hồn treo lơ lửng trên cây phượng rồi, ráng mà giữ chặt nhe đừng để té đau đó em. 
Hằng tựa vào vai nhỏ ngân nga: 

Ước mi là cánh chuồn chuồn
Khi vui thi được khi buồn nhớ bay! 

- Nhớ nhe em cưng, Hằng bẹo yêu vào má  nhỏ. 
Nhỏ vuốt tóc nhỏ Hằng, cười trìu mến: 
- Chỉ có mi là số một hiểu ta nhất, cám ơn nhe bạn. 
- Mốc xì ta bây giờ là con số một nhỏ hiểu mi, cái tên “chết tiệt” kia dám chiếm số một La Mã của ta, từ nay ta sẽ bám theo mi ăn hàng… trù hắn, cho hắn biết tay ta. 

Tan trường chiều nay gió lặng nhưng sao hai tà áo dài cứ vướn đôi chân, trái tim thì thình thịch, sau lưng nhỏ tiếng giày anh khẽ đều bước cùng tiếng sỏi rào rạo làm  nhỏ luống cuống.. nhưng hài lòng… dạ cảm thấy nhẹ tênh. 
Và từ dạo đó đêm nào học bài xong  nhỏ cũng ra hành lang ngồi dưới góc cây xoài, ngắm xuyên qua kẽ la, thầm mơ ánh mắt anh đang hòa vào ánh trăng thẩn thờ một bóng tương tư!. 
Sương đêm tẩm mát vào hồn, một nỗi nhớ dịu dàng cho tình đầy miên man.


Dãy lớp ngay cột cờ - Trường Tống Phước Hiệp - (KimDiệp, KimOanh)

Những giờ ra chơi sau đó,  nhỏ không được yên thân để thả hồn theo cánh phượng, không được trộm nhìn anh dưới hàng cây… vì cái ranh mãnh của nhỏ Hằng, bắt nhỏ phải nhanh chóng đi ăn hàng, Hằng không bỏ lỡ cơ hội “trả thù” anh. 
Một hôm hai đứa vào quán giải khát, trên tay anh ba ly sâm bổ lượng cũng vừa mang đến, trong nụ cười thân ái anh mời. 
- Mời hai cô bé giải khát 
Nhỏ Hằng chanh chua: 
- Cô bé hả? ”chị hai” thì có 
Miệng nói, tay nhỏ nhe kéo ly chè vừa nói bâng quơ: 
- Người đâu tự nhiên tệ! 
Khác mọi ngày, hôm nay Hằng thủng thỉnh ăn một cách rề rà… không “đớp” nhanh…”đớp” bạo như trước. Hằng thả hồn lên mây, lim dim đôi mắt cất giọng một cách đắc ý: 

Ước chi tôi được thế này! 
Ra chơi được đãi.. dài dài…vui ghê! 
Ước chi người ta.. say mê. 
Còn tôi thì được .. ê hề chè ăn… 

Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, thì ra bạn cũng biết làm thơ, Hằng nghiêng người hít vào hông  nhỏ, cái mặt nghinh nghinh ra vẽ ta đây, mặt  nhỏ nhăn nhăn vì hai chữ “say mê” táo bạo của Hằng, lại tiếp tục trổ tài: 
Ước chi cái mặt đừng nhăn.. 

Hằng chưa kịp dứt lời thì anh lại tiếp:
Ước chi ai đó hãy thăng 
Đừng cà kê nói lăng nhăng “em“ nhờ 

Nhỏ không nhịn được cười vì trận chiến thơ đến hồi sôi nổi, Hằng cũng chẳng vừa ngồi lỳ ra đó và xuất khẩu thành thơ: 
Người đâu cái mặt bơ.. bơ 
Nhưng sao cũng biết làm thơ đuổi tà 
Ước chi … 

Chưa dứt câu nhỏ thúc lưng Hằng phụ họa: 
Ước chi có cây chổi chà.. 

Nhỏ Hằng tiếp lời: 
Đừng đánh…chị sẽ tà tà…đi đây. 

Hằng nhéo mũi  nhỏ và nghiêng người qua anh cười đắc thắng 
- Cám ơn ly chè nhe “chị” thăng đây. 

Nhỏ cũng chạy theo Hằng vì hết giờ chơi, nhỏ để lại anh nụ cười đầm ấm thay lời cảm ơn. Anh nhìn theo  nhỏ ánh mắt trìu mến thật thà.


Hành Lang Dãy sau Văn Phòng -Tống Phước Hiệp - (Ảnh KimOanh)

Một hôm vào giờ Việt Văn, thầy Việt Văn thông báo, nhà trường chuẩn bị làm bích báo tất cả các lớp được tham gia, thầy sẽ kiểm duyệt nôi dung bài vở. 
Nhỏ vui thầm trong lòng, đây là dịp may “gián tiếp” thổ lộ nỗi lòng thầm kín của mình mà ngày qua ngày nhỏ vẫn “làm tàng” anh chả có “ký lô” nào trong tim  nhỏ, rồi mơ màng tìm ý làm thơ. 
Nhỏ Hằng thúc cùi chỏ và tủm tỉm cười:
- Ta sẽ làm một bài thơ đăng chơi.

Tùng…tùng…tùng tiếng trống ra chơi! Trống chưa dứt Hằng đã kéo nhỏ đi. 
- Ê nhỏ Hằng, thầy chưa đi đấy. 
Hằng nhấp nha nhấp nhỏm: 
- Thì ta mới depart thôi mà. 
Thầy vừa bước xuống bục, Hằng đứng tựa cửa cúi đầu đưa tay: 
- Em mời thầy nghỉ giải lao a.! và Hằng kéo  nhỏ chạy vội vàng… 
- Nhanh lên bà cụ hôm nay ta đãi mi và hắn ăn hàng nè. 
- Ê chuyện lạ bốn phương à nha, mi tính toán gì đây? 
- Xuỵt… ngoan “chị” cưng ! 

Đến canteen, Hằng ấn nhỏ ngồi xuống vội vã đi mua chè, anh cũng vừa đến, Hằng mang đến ba ly chè và mời 
- Hôm nay “tui“ trả lễ nè. 
Nhỏ trố mắt nhìn và anh tủm tỉm cười ngạc nhiên, không biết con nhỏ này quỷ quái gì đây, sao hôm nay tử tế thế này? Chắc là có ẩn ý gì?!
Rồi Hằng ăn từ.. từ.. từng hạt bo bo từng cọng phổ tai, vờ như không có ai bên cạnh,  nhỏ và anh chờ xem Hằng trổ tài gì hôm nay… Anh nháy mắt ra hiệu cho  nhỏ ăn nhanh. 

Ngẩn đầu lên Hằng hỏi: 
-Ủa sao im lặng vậy? Hôm nay hổng ước nữa hả? 
Anh cũng lém lỉnh không kém Hằng 
Hôm nay..”chị” khỏi la cà 
Ngồi đây chị hãy …tà tà …mà xơi! 

Anh đứng lên và bảo: 
-  Nhỏ đi, chúng ta đi 
Nhỏ bật cười và thấy thương cái mặt ngớ ra của Hằng
Hằng nói to: 
- Ê mi phản bội ta há! 
Hằng xô nhỏ ra và bảo: 
- Thôi đi đi, nhặt hoa phương nhớ chia cho ta với nhe. 
Hằng cười kèm theo ánh mắt tinh ranh.
Bỗng nhiên vài hạt mưa còn sót rơi nhanh trong mùa hạ, mưa êm ả nhẹ cài lên tóc, gió lùa qua nhành cây mang theo những cánh hoa phượng rơi làm rối lòng bao thi sĩ và …cũng rối lòng nhỏ. 
Nhỏ Hằng chỉ “xạo”thôi, có bao giờ nhỏ tha cho anh và  nhỏ, nhỏ luôn kè kè làm cái đuôi..đi theo phá đám.

Lối ra cổng chính Trường Tống Phước Hiệp - ( Ảnh KimOanh)

Sợi dây thân ái kết ba người từng chuỗi ngày vui nhộn bên nhau, trói thêm muộn phiền theo Thu tàn, Đông qua, Xuân sang, rồi Hạ đến. Tha thiết chờ đợi một điều gì sao mà chậm chạp, van xin một điều gì chớ vội thì lại đến thật nhanh. 
Hè về, hè về… một thông điệp chia tay, không chỉ riêng  nhỏ, tâm hồn học trò đều xuyến xao buồn vui gói trọn. 
- Ê, bà cụ non có làm bài thơ nào cho Bích Báo năm nay không? 
Câu hỏi Hằng mang  nhỏ về với thực tại,  nhỏ trả lời: 
- Rồi chị hai ạ. Bài Tuổi Mơ 
- Đưa ta xem, lấy bút hiệu là gì? 
- Bút hiệu Áo Trắng 
- Còn mi, làm thơ cũng khá lắm đấy, được bài nào cống hiến cho lớp không? 
- Có rồi bà cụ non ơi. Nhưng chưa có tựa đề 
- Nhỏ Hằng cho ta kiểm duyệt trước nhe. 
- Khỉ mốc nè, ta bật mí sau. 
Bất chợt Hằng reo vui: 
- A! có tựa rồi Tuổi Ước, bút hiệu Chè Ba Màu được không? Hằng cười hề hà thật vô tư. 
- Trời ơi làm ơn cho hoa lá cành chút đi mi ạ.Tuổi Ô Mai,Tuổi Ngọc hay Tuổi Thơ. Mi toàn là ăn với uống! 

Nhỏ Hằng khoác tay lia lịa 
- Thôi đi, ở Vĩnh Long này làm gì có Ô Mai, chỉ có Chùm Ruột, Xí Muội, Ô Môi thôi, ta thực tế lắm. 
Nhỏ vui cười trong nét trẻ con của bạn, hồn nhiên, thanh thoát, đáng yêu. 
Giờ Văn kế tiếp, thầy thu bài, lần đầu tiên nhỏ bạo dạn nộp bài dư thi, phập phòng chờ đợi.

***
Tuần sau cũng giờ này thầy trả lời những bài dư thi hợp lệ và không hợp lệ.
Tên Hằng đươc lọt vào danh sách hợp lệ, bạn mừng toáng lên choàng ôm lấy nhỏ. 
Tên  nhỏ đươc đầu danh sách…bất hợp lệ. 
Nhỏ Hằng đứng lên khiếu nại: 
- Thầy có chấm kỹ không thầy?  
Thầy mỉm cười không đáp, tiếp tục xướng danh. 
Trên tay  nhỏ bài thơ kèm theo dòng viết đỏ thắm với lời phê bình 
“Bài thơ lãng mạn không phù hợp với lứa tuổi học sinh ”

Một chút buồn thoáng qua, thế là hỏng, lòng mình chỉ riêng mình hiểu! 
Nhỏ Hằng tức tối: 
- Đưa ta xem, hay mi bị ếm tài. Hằng xuống giọng “em ghét thầy!”. Hằng thì thầm bên tai nhỏ, phân tách như một lời an ủi: 
- Mi nè, theo ta thầy cũng dễ thương lắm, không như ta nghĩ, thầy khen khéo mi nè "thơ lãng mạn” vậy là hay rồi, nhưng ai bảo mi yêu sớm nên mới ra nông nỗi này. Thôi biết đâu thiếu bài, thầy sẽ cho đăng bài dự khuyết. 
Nhỏ bật cười: "Mi là con bạn…” lãng nhách” ...nhưng... thật... dễ thương của ta"

Trong tim mỗi người có một căn nhà nhỏ, Hằng là người khách quý luôn ghé vào tệ xá thăm nhỏ, Hằng đem nụ cười xoa dịu nỗi muộn phiền chợt đến trong nhỏ, và Hằng mang nhỏ trở lại hồn nhiên trong thực tại.


Tiếp nối những ngày nhộn nhịp, háo hức mỗi bận nhỏ đi ngang qua văn phòng báo chí, nhìn các đàn chị, đàn anh trong ban chấp hành cùng nhau cặm cụi làm báo, không khí náo nhiệt tưng bừng tiếng máy đánh chữ lốc cốc …lốc cốc.. đều đều vang lên hòa với tiếng cười dòn làm lòng nhỏ thêm náo nức, hòa niềm vui như mình đang được tham gia. Trong tâm tư  nhỏ ước muốn, được bước vào để được phụ một tay dù chỉ được quậy bột trét hồ dán báo hay cắt xén bài vở cho đỡ ghiền. Thực sự thời đó  nhỏ rất “thèm” được làm báo. 

Nhỏ cũng ganh tỵ với các chị Phỉ Phỉ, Sương, Huệ, Điều, Thúy Hiền, vừa đẹp lại tài ba, rồi thêm Ngô Thị Mỹ Trang, Phan Các Chiêu Hằng gương mặt sáng giá trong ban Văn nghệ kiêm luôn Báo chí, hai cái tên dài lê thê…vậy mà khi gọi không ai có thể tách rời ra vì sẽ mất hay đi. Tiếc rằng thời ấy không ai hiểu tâm trạng của  nhỏ và cũng tại quá nhút nhát hổng chiụ nói ra làm chi. 

Rồi ngày lại qua ngày, nhỏ hay thẩn thờ lo nghĩ, anh ái ngại lo tra hỏi, nhỏ chẳng dám nói, anh mà biết  nhỏ làm “thơ yêu” rớt đài, mắc cỡ chết ! 
Anh một phen vất vả, tốn tiền o bế nhỏ Hằng để điều tra, nhỏ Hằng tha hồ hành hạ anh, lợi dụng anh để được ăn chè miễn phí. 

Rõ sự việc thơ nhỏ bị bất hợp lệ, anh nài nĩ cho anh xem thơ. 
Nhỏ Hằng ngồi bên đốc thúc: 
- Bà cụ non đưa cho ông cụ xem thơ đi. 
Nhỏ trừng mắt bạn: 
- Mi không phản bội ta nha. 
Nhỏ Hằng cười vuốt ve: 
- Bà cụ non ơi, ta biết trên đời này có một “ông cụ non”sẽ thưởng thức thơ mi, ta mặc kệ cho mi giận.. 
Nhanh tay Hằng chìa bài thơ cho anh, nhỏ tái mặt vì xấu hổ. 
Nhỏ choàng người để giật lại nhưng bài thơ gọn gàng nằm trong túi áo anh. 
- Cảm ơn cô bé nhé, mai anh trả lại. 

Cái ngày mai của anh như là một cực hình, nhỏ hồi hộp, hổ thẹn đợi chờ… còn hơn là dạo trước chờ thầy duyệt bài nữa kia. 
Nhỏ hờn dỗi Hằng, suốt đoạn đường tan học vắng tiếng cười, mặc Hằng xin lỗi hay dỗ dành,  nhỏ vẫn lặng im… Hằng cũng tự ái chả nói chi… 
Hai đứa lặng lẽ đi một cách nặng nề. Hằng rẽ vào nhà chẳng có tiếng chia tay…Thế là giận thật rồi! 
Nhỏ hối hận… nhưng ai bảo Hằng quá đáng chi. 

Sáng hôm sau  nhỏ đi học lẻ loi, trên đường qua cổng nhà Hằng, nhỏ không thấy Hằng đợi như mọi hôm, lòng buồn rười rượi. Nhưng bỗng phía sau Hằng tiến lên kề vai sánh bước, mắt liếc sang  nhỏ thỏ thẻ: 
- Giận đã chưa? đầu ta nè “ giận cá thì cứ chém thớt” cho sáng con mắt tên chết tiệt kia, tối con mắt mi. 
- Mi làm như vô tội vạ vậy, con mắt mi thì sao? 
- Mắt ta hả? Ờ thì xem như bị bù lệch ăn đi, hổng biết nhìn người… 
- Ơ hay, mi đúng là tên ăn nói ngang ngược. Hằng cặp tay nhỏ xiết mạnh, hai đứa khúc khích cười… thổi nỗi buồn, cơn hờn giận cho… “qua cầu gió bay”. 

Hai đứa vừa đổ dốc Cầu Lầu, anh đã đứng đấy chờ cùng nhau đến trường. Anh kín đáo trao quyển vở cho nhỏ trong ấy kèm bài thơ của  nhỏ, được anh chép lại màu mực tím với nét chữ thanh thanh bằng ngòi viết lá tre. Cùng đoạn tái bút của anh.


Tuổi Mơ 

Tuổi mười lăm sao lòng lạ quá!
Có những trưa hè chợt bâng khuâng
Nhớ hoa rơi đỏ thắm trên sân
Nhớ áo trắng học trò chi lạ
Hay là em đã… nhớ người ta?! 

Tuổi mười sáu pha chút thương thương.
Nắng vàng rơi ấm áp lạ thường
Tha thiết như mắt người ta ấy
Ấm nồng trong sáng sớm hơi sương

Buổi sáng đến trường những vấn vương. 

Tuổi mười bảy hồn bay theo gió
Thoảng hương thơm áo trắng học trò
Mộng mơ thơ thẩn với lá hoa
Tương tư một bóng dưới trăng ngà
Thì ra… em đã yêu người ta!!! 


Áo Trắng 
(Bút Hiệu của Kim Oanh) 
Mùa Hè1973

TB:

Cảm ơn cô bé!
Anh cũng xin cảm ơn thầy em!
Đã dành bài thơ này chỉ riêng anh
Trong nắng sáng long lanh
Mỗi độ hoa phượng nở đầy cành,
Anh nhớ mãi bài thơ tình"Áo Trắng"

Nhớ người…nhớ lớp, nhớ trường.. một chút gì ấm áp pha cả luyến thương có lẽ nhờ “chiếc chăn kỷ niệm” phủ kín lên người?! Chiếc chăn kiên trì không phai màu, không nhầu rách đã thủy chung cùng nhỏ vượt đại dương và chia sẻ ba mươi mùa giá lạnh.Và hơi ấm ấy đã cho  nhỏ những giấc mơ tuyệt đẹp, đẹp như một thuở mới khởi đầu của tuổi mười lăm. 

Hình ảnh cũ, âm vang xưa vẫn mãi mãi là bức tranh linh hoạt, là những nốt nhạc bổng trầm hòa thành khúc hát du dương ấp ủ hương học trò, ru cuộc đời còn lại trong  nhỏ…ấm áp ngọt ngào, trong giây phút này  nhỏ vẫn còn những “ước chi” chân thành, giản dị của thuở mười sáu, mười bảy ngây ngô. 


Ước chi là cánh phượng hồng 
Vương lên mái tóc bềnh bồng của anh 
Ước chi là chiếc lá xanh 
Rơi trên vai áo dạo quanh sân trường 
Ước chi là những hạt sương 
Long lanh nắng sớm anh tương tư hoài 
Ước chi là mái tóc dài 
Gió lay em gửi hương say cuộc đời 
Ước chi là trang tập mới 
Hồn nhiên anh viết những lời thơ yêu 
Ước chi là một cánh diều 
Anh say sưa ngắm những chiều vàng rơi.. 

Có ai biết nắng vàng rơi nơi đây có như nắng vàng quê nhỏ không nhỉ? Rồi khẳng định lòng mình. 
Chắc không nắng nào đẹp bằng nắng Vĩnh Long! 
Thời gian trôi hay dừng lại? 
Có bao giờ anh còn nhớ như  nhỏ? 

Khó mà hiểu được lòng người ta. 
Nhưng chỉ hiểu được cái tình mình… xa. 
Thì thôi, cứ mặc thì thôi… 
Chỉ cần anh hiểu… là đời nhỏ vui. 
Kẻo mai tóc trắng như vôi 
Nhai trầu, xỉa thuốc, vẫn còn làm thơ. 

Dù thơ có tệ đến đâu… 
Có người hút điếu, vuốt râu ngâm hoài! 
Nhất thiên hạ rồi nhỉ !!! 
Khà…khà…khà… 

Còn ước chi hơn nhỏ và anh hỡi! 
Dòng đời ba mươi ba năm trôi qua có một cái ước mơ.. được toại nguyện không còn thấy đời hiu quạnh lẻ loi. 

Mỹ Úc thật xa xôi, nhưng  nhỏ ngỡ như đang ngồi dưới mái trường xưa yêu dấu, nhờ sự động viên khuyến khích của thầy cô Hiệu Trưởng, anh Ngọc Em, và bạn hữu nhỏ cũng tập tễnh làm thơ, viết tùy bút gửi cho Đặc San Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp Cali.

Nhỏ có một lá gan và lá phổi bò to lắm, chị 6 Phượng của nhỏ bảo “đúng là điếc không sợ súng” , nhỏ điện thoại cho anh 4 Thành của nhỏ bên Mỹ hỏi: “ Anh cảm nghĩ thế nào” anh cũng như thầy dạy Văn khi xưa phán một câu “xanh dờn” 
“Thì không ai viết, bài mình phải đăng thôi” 
Cũng như nhỏ Hằng bảo thơ  nhỏ chờ “dự khuyết” ấy mà...

Nhưng cô Dung chưa thấy nhỏ gửi bài sang thì kêu “ Bớ em Kim Oanh. …” Chiêu Hằng thì bảo “ kêu gào chớ không phải kêu gọi đâu nhé…” thế thì sao nhỉ??? Gảy đầu nhỏ biết chắc bài viết mình đã được …dự khuyết rồi. 
Thiện tai!Thiện tai! 

Anh Tư Thành của nhỏ ngày xa xưa cũng một thời đã hiên ngang làm Trưởng ban Văn Nghệ và Báo Chí của trường Tống Phước Hiệp. Thế mà đứa em gái này một bài cũng hổng được đăng. Rõ dở ơi là dở!!! 
Thôi thì làm liều một phen, nay nhỏ cũng không còn trẻ, tai cũng ù.., da mặt cũng không còn non… để mắc cỡ . Viết được.. thì thầy cô, bạn bè khen một tiếng, có dở thì cũng được …một nụ cười tươi như …“Tuổi Mơ” ấy mà. 
Phải chăng các bạn?!!! 

….Bâng khuâng, rộn ràng, ngại ngùng theo tháng ngày vun vút trôi. 
Tôi ơi, người ơi, đừng để thêm một lần nuối tiếc. Hãy thắp lên tia lửa ấm trong đêm lạnh, ngân lên chút tình.. ngọt ngào... như lời hát cuối của ca sĩ Thùy Dương. 

Mỗi chúng ta trong đời 
Đã có lần dang dở. 
Hãy yêu lại từ đầu, 
Mối tình tuổi thanh xuân. 
Hãy trao lại từ đầu, 
Lá thư xanh muốn tỏ… 
Hãy yên tâm hò hẹn 
Êm đềm ánh trăng khuya…”
(Hãy Yêu Lại Từ Đầu của Nhạc sĩ Nguyên Chương)

Khúc tình thuần khiết năm xưa của nhỏ nay chỉ còn là một thoáng hương…nhẹ bay vào trong nỗi nhớ dịu dàng và rơi vào tim nhỏ, tiếng nói đầu đời của một tri âm cùng một tri âm.

Úc Châu 2009
Kim Oanh
Viết cho Kỷ niệm mùa Hè 1973
***
Hãy Yêu Lại Từ Đầu của Nhạc sĩ Nguyên Chương



Nhạc sĩ Nguyên Chương
Tiếng Hát Thùy Dương
Thực Hiện youtube: Nguyen Thang

Xướng Họa:Tuổi Mơ



Bài Xướng:Tuổi Mơ

Cái thuở học trò, cái tuổi mơ
Con tim dang díu cũng non khờ
Ve sầu gọi hạ, tình dang dở
Phượng nở vào hè, mộng ngẫn ngơ
Gió thoảng bờ vai, trao điệu nhạc
Trăng soi dáng liễu, trỗi lời thơ
Mê ly cuộc sống càng da diết
Khắc khoải đêm đêm nỗi đợi chờ…

Thanh Trương
***
Các Bài Xướng

Mơ Tới Tầm Cao

Phượng hồng lứa tuổi lắm niềm mơ.
Tiếng gọi yêu đương vẫn dại khờ.
Vở học thư cài vờ chẳng thấy.
Tai nghe giọng tán giả làm ngơ.
Hè về cuốn sổ ghi lời biệt.
Hẹn đến mái trường dậy ý thơ.
Bạn hữu Thầy Cô vui họp mặt.
Tầm cao đại học thỏa mong chờ.

Trần Lệ Khánh
25-5-2017
***
Hay M
ơ

 Tuổi vừa chanh cốm,lại hay mơ
Chưa có người yêu, hãy dại khờ
Mấy bạn hẹn hò vui tíu tít
Một mình lầm lũi tủi lơ ngơ
Yêu văn lãng mạn mây cùng gió
Mến nhạc dịu dàng nguyệt với thơ
Thoáng chốc thời gian trôi quá vội
Mộng xưa vẫn đó, mỏi mong chờ.

Thanh Hoà
***
Thuở Mộng Mơ

Ai chẳng từng qua thuở mộng mơ
Yêu đương lãng mạn lẫn si khờ
Thư xanh, mực tím... từng đêm viết
Tóc mượt, vai mềm... trọn buổi ngơ
Lẽo đẽo chân theo không dám ngỏ
Bâng khuâng tim rộn mãi mong chờ
Chao ơi cái tuổi trăng tròn ấy
Là cả thiên đường ngập ý thơ.

Sông Thu
***
Người Xưa Ơi

Quay về thôn cũ sáng tinh mơ
Tìm dáng thân yêu thủa dại khờ
Nhật ký chuyền tay còn bỡ ngỡ
Thư tình gợi ý mải ngu ngơ
Làn mây nhắn nhủ ra chào bạn
Sợi nắng trêu đùa nhớ đọc thơ
Trăn trở đêm khuya buồn não nuột
Người ơi có thấu kẻ trông chờ !

Như Thu
***
Vụng Dại

Thuở còn con gái đã từng mơ
Chẳng biết điều khôn chỉ nghĩ khờ
Lóng ngóng chàng thưa còn nói nghịu
Phớt lờ anh ngỏ lại làm ngơ
Người ta chững chạc chê già giặn
Các hắn nồng nàn bảo trẻ thơ
Mới đó trên đầu ba thứ tóc
Tình xưa vụng dại có ai chờ.

Phan Tự Trí
***
Tuổi Học Trò

Học trò lứa tuổi dệt ngàn mơ
Vẫn thích đùa vui chẳng chịu khờ
Phượng đỏ tươi cười duyên ẩn dáng
Ve sầu góp nhặt tiếng hòa thơ
Chiều mưa mẫn cảm màu thương nhớ
Sớm nắng chìm say giấc mộng chờ
Buổi hẹn hò trao lời vớ vẩn
Đêm thầm tiếc mãi phút lơ ngơ

Uyên Du
170526
***
Còn Tuổi Nào

Đời người son trẻ lắm sầu mơ
Không biết rằng đang tuổi dại khờ
Khi lớn đâu ngờ duyên lỡ dỡ
Về già mới thấy kiếp ngu ngơ
Thẫn thờ tìm cảnh buồn trăng nước
Hiu quạnh nghe lòng nhạt ý thơ
Tình đã qua đi nào trở lại
Mong chi cái chuyện đợi hay chờ !

Trịnh Cơ (Paris)
26/5/2017
***
Tình Thơ Dại
-/-
Cô bé ngày nào mới biết mơ
Đong đưa bím tóc rất ngoan, khờ
Áo dài bay nhẹ...tà xinh xắn
Xe đạp quay đều...nhịp ngác ngơ
Đến lớp, anh nhìn...tâm dệt mộng
Về nhà, hồn gửi...ý vào thơ
Mười lăm, mười sáu qua nhanh quá
Chẳng nhớ vì sao lỡ cuộc chờ.

Thy Lệ Trang
***

Thuở Yêu Người

Thuở đó yêu người chỉ biết mơ
Tương tư một bóng đến lờ khờ
Ngày mong tay quyện ...lòng ngây ngất
Đêm ước vai kề ...dạ dại ngơ
Hạ ngắm lụa vàng say tiếng nhạc
Thu nhìn áo tím dệt vần thơ
Hôm nao vắng bóng em đầu ngõ
Là lúc hồn tôi mãi ngóng chờ

Minh Thuý
Tháng 5_2017
***
Thuở Xuân Mơ

Một thời non trẻ, một thời thơ
Vừa vụng, vừa ngây lại dại khờ
Trộm liếc mắt nai, lòng dạ rối
Thầm trông dáng liễu, trái tim ngơ
Sầu buồn khôn kể bao lần lỡ
Rạo rực làm sao những buổi chờ
Vút thoảng tháng ngày đà trắng tóc
Nuối hồn thương quá , thuở xuân mơ…


Cao Bồi Già
***
Kẽ Gỗ Là Đây
 

Hàng chữ học đầu có chữ mơ
Tổ quê chim nhỏ ngó nghiêng khờ.
Con sâu mẹ mớm luôn còn ngẫm
Cái nắng trời đầy chẳng thể ngơ.
Phượng nở chân đi xây đập nước
Mai đào vai vác hóa vần thơ
Bên hồ Kẻ Gỗ hai dòng nghĩ
Hướng tới xa xa mọi nỗi chờ ,

Trần Như Tùng