Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

Đà Lạt Ngày Về



Đà-Lạt hỡi! một trời nhung nhớ
Nơi tình yêu chớm nở đôi ta
Đồi thông, thác nước , trăng ngà
“Xuân Hương “Than Thở” mặt hồ như ru

Ta nhớ mãi sân Cù xanh cỏ
Bóng giáo đường hiện rõ xa xa
Bên em trong nắng chiều tà
Khói ngo ai nhúm làm ta nhớ hoài

Nay trở lại mặt mày ngơ ngác
Cảnh nên thơ tan tác còn đâu
Đồi thông trơ trọi rầu rầu
Nhà nhà san sát để sầu người xưa

Mong tìm lại chiều mưa sương khói
Mây la đà che lối nhà ai
Giờ đây dõi mắt trông hoài
Ồn ào xe cộ buồn thay đổi dời

Trời lành lạnh, nhớ ơi! ngày trước
Em co ro bước bước bên anh
Con đường nho nhỏ thông xanh
Cao nguyên còn đấy trăng thanh đâu rồi

Rời Đà Lạt bồi hồi chua chác
Nỗi u hoài man mác lòng ta
Cảnh xưa giờ đã phôi pha
Em ơi! thôi hết bài ca hoa đào 

Mailoc
(Kỷ niệm chuyến về thăm Đalat 2-13-12)

Rupert Neudeck Ông Là Ai?

Kiếp người chỉ có một lần để sống
Vậy sống như thế nào?


Ngày 31/5 vừa qua tại bệnh viện Koln ở nước Đức đã có một trái tim nhỏ ngừng đập ở tuổi 77. Một người ra đi ở tuổi gọi là thất thập cổ lai hy, điều đó có gì để gây xôn xao vì trên hành tinh này mỗi ngày có hơn 150,000 người từ trần với nhiều nguyên nhân.
Nhưng đây là một tin gây rúng động cho nhiều cộng đồng, đặc biệt là người VN di tản hiện đang sống tại Đức vì người đó là Tiến sỹ Rupert Neudeck , một nhà thần học thiên chúa giáo, một nhà báo, nhà hoạt động xã hội. Ropert Nudeck - Ông là ai? Thú thật trước đây Anh Tri tôi cũng chưa biết đến tính danh của ông, nhưng tình cờ nhận một email của một cộng đồng ngừơi Việt ở Đức đang kêu gọi nhau đến dự lễ cầu nguyện ông vào ngày 14/6/2016 tôi mới tò mò tìm hiểu tại sao một người Đức qua đời mà cộng đồng người Việt lại xôn xao báo tin và kêu gọi nhau đến nơi sẽ an táng ông để dự lễ tưởng niệm vậy.
Càng tìm hiểu về ông tôi lại càng say mê và ngưỡng mộ về những gì ông đã làm cho đồng bào của tôi trong thập niên1970s khi hàng ngày ở miền Nam có hàng trăm người vượt biển đi tìm cuộc sống tốt đẹp hơn cho họ.


Thời đó do phương tiện truyền thông bị hạn chế, cũng như tin tức về người vuợt biên rất nhạy cảm theo quan điểm của nhà cầm quyền, nói chung chưa có face book, Twitter… như thời bây giờ nên những vụ đắm tàu, cướp biển tấn công, hãm hiếp người di tản, một số nước châu Á cho tàu quân đội ra xua đuổi tàu chở thuyền nhân khi vào lãnh hải của họ... ít ngừoi biết đến. Nhưng lúc đó ở các nước phương Tây tin tức này là thời sự, nó cũng như cảnh ta đang xem trên tivi mới đây về những người dân Somali, Lybia vượt biên chết hàng loạt trên biển. Tình cảnh thê lương cùng đường bị xua đuổi như tội đồ đã đánh động trái tim của tiến sỹ Ropert Nudert. Nó thúc đẩy ông dấn thân hành động bằng cách kêu gọi chính quyền Đức, cộng đồng xã hội,tôn giáo, các bằng hữu hãy cứu giúp những thuyền nhân VN đang bị nạn như thuyền hết xăng dầu, lương thực, chết máy, bị cướp bóc ... đang lênh đênh trên biển . Khi bị nhà cầm quyền từ chối, ông không nản lòng mà đã cầm cố ngôi nhà của mình, kêu gọi bạn bè thân nhân góp tiền của để đóng thuyền ra khơi cứu ngừoi VN. Câu chuyện về người có trái tim nhân ái này được ông Franz Alt, sau này là giám đốc đài truyền hình Baden kể lại vô cùng ấn tượng đối với tôi: “Ông ấy gõ cửa xin tôi phát lời kêu gọi cộng đồng, tôi bảo không thể làm thế được vì một ý kiến cá nhân. Ông ấy kêu gào:” Chẳng lẽ chúng ta cứ nhìn thảm cảnh như vậy mỗi ngày sao?”, tôi trả lời:” Tôi có thể làm được gì?” – ông ấy trả lời: “ Tôi có thể cầm cố ngôi nhà đang ở để khởi sự cho chuyến đi biển” . Tôi đành nhượng bộ trước quyết tâm của con người này và cho ông ấy 2 phút để phát sóng.
Đúng vậy, sau lời kêu gọi trên đài, chỉ 3 ngày sau cả nước Đức đã hưởng ứng với số tiền đóng góp lên đến 1.3 triệu mác ( tiền Đức thời bấy giờ)- để thuê chiếc tàu CAP ANAMUR đầu tiên ra khơi vào ngày 9/8/1979 với sứ mệnh cao cả là cứu vớt người VN gặp nguy khốn trên biển Đông.
Tiếp theo đó là thêm 2 chiếc Cap Anamur được hạ thủy nhờ vào sự ủng hộ của những người có lòng từ tâm.

Trong thời gian 7 năm hoạt động (1979-1986) tổ chức Cap Anamur đã cứu vớt được 11.300 người vượt biển trên 223 chiếc ghe /thuyền và hầu hết được định cư tại nước Đức. Để làm được việc này chính ông, cùng với nhà văn Heinrich Boll, đoạt giải Nobel năm 1972, cùng thân hữu đã thuyết phục thành công chính quyền Đức cho thuyền nhân VN được nhập cư vào nước này.
Được biết ngoài việc cứu giúp cho người Việt, tổ chức do ông sáng lập đã có nhiều hoạt động giúp đỡ nạn nhân chiến cuộc tại Somali, châu Phi, Afganistan, Pakistan. Để tỏ lòng trân trọng công lao to lớn của ông nhà cầm quyền Đức đã tặng ông huân chương Chevalier cao quý nhưng 2 lần ông từ chối.
Chính ông đã đánh động lương tâm của nhiều người, trong đó có người Mỹ và người VN tại Mỹ. Năm 1979, chính tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã ra lệnh cho 5 tuần dương hạm đi cứu vớt những thuyển nhân và cho họ được nhập cư vào Mỹ.
Hãy tưởng tượng từ 11.300 người từ năm 1979 đến nay gần 40 năm số lượng này tăng lên bao nhiêu, nếu tính luôn việc họ bảo lãnh cho người thân từ VN sang thì có hàng chục ngàn số phận đã đổi thay từ nhân duyên này.


Ngày 14/6 sẽ diễn ra lễ tưởng niệm một con người vĩ đại, nói như lời của ông thị trưởng nơi thành phố ông qua đời : " ông Rupert Neudeck làm được việc cao cả của con người là cứu mạng người khác, nước Đức tự hào vềông".
Sẽ có nhiều người Việt Nam và con cái họ chịu ơn cứu tử của ông từ khắp nơi trên nước Đức đến dự lễ tưởng niệm, sẽ có nhiều lời tri ân, cảm phục tấm lòng nhân ái của ông. Riêng tôi, dù may mắn không là thuyền nhân trên các chuyến tàu thập tử nhất sinh đó, tôi vẫn ngưỡng mộ ông như một nhân cách cao quý, một trái tim vĩ đại - ông sẽ sống mãi trong lòng của những người tử tế biết trân quý tinh cảm, có lòng nhớ ơn. Tôi cũng muốn chia xẻ thêm tin về thời niên thiếu của ông: Lúc còn bé, thời đệ nhị thếchiến ông và gia đình đã nhỡ một chuyến tàu tỵ nạn và chuyến tàu xấu số đó trúng thuỷ lôi của hồng quân Liên xô chìm ngoài biển mang theo trên 9000 người. Có lẽ biến cố này đã gây ấn tượng quá lớn với một cậu bé để khi trưởng thành nó thôi thúc ông làm một nghĩa cử gì đó cho những nạn nhân trên biển cảchăng?
Vĩnh biệt tiến sỹ Rupert Neudeck- ông ra đi về nơi thanh thản sau khi làm được việc lẽ ra của thượng đế làm là đem sự sống lần thứ hai cho hàng chục ngàn người, và nhờ đó ông trở thành bất tử.

Anh Tri 7/6/2016
Trần Ngọc sưu tầm

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016

Tình Không Phai - Unchained Melody - Alex North & Hy Zaret - Ngọc Bích)


Alex North & Hy Zaret 
Tiếng Hát:Ngọc Bích
Trình bày PPs: Quý Denver


Ngày Mai Là Em Tốt Nghiệp



"Thương tặng con gái của bạn và tôi"

Trời tháng sáu nắng hè ấm
Dù nơi đây không phượng thắm sân trường
Không ve sầu gợi nhớ thương
Mùa này vẫn mùa thường tốt nghiệp
Mười hai năm học rộn rịp
Lòng nôn nao khi nhận thiệp chúc mừng
Hòa theo khúc nhạc tưng bừng
Thơm lời khen ngợi tên từng tân khoa
Niềm vui rạng rỡ muôn hoa
Tạm biệt tuổi hồng chan hòa mơ ước
Mang tri thức vừa đạt được
Thêm hành trang hãy đậu vượt lớp cao
Cho dù thoáng chút xuyến xao
Ngoài vườn ong bướm lượn chao la cà
Bền tâm hồn,vững tim ta
Noi theo gương tốt mẹ ba giải bày
Đường mây nâng bước tương lai
Nương theo chiều gió đẹp thay cuộc đời
Sự nghiệp vững là tuyệt vời
Sau ngày tốt nghiệp học thời sinh viên
Vòng thời gian nối triền miên
Tựu trường,tan lớp,hết niên khóa rồi
Thu, Đông,Xuân đến Hè thôi
Sau ngày tốt nghiệp em tôi trưởng thành...

Phượng Trắng
Canada, mùa tốt nghiệp 22/ 6/2016

Mừng Con Ra Trường


''Thương tặng các con trai của bạn và tôi"

Nhiều mùa thu con đi học
Đường đến trường hoa cúc dọc lối đi...
Từ ngu ngơ đến tuổi dậy thì
Con ngoan, chăm chỉ ,kiên trì học hành
Thời học trò dưỡng mộng lành
Nuôi bao mơ ước xây thành tương lai
Thời sinh viên học thành tài
Tùy theo sức lực học dài hay nhanh
Đại học,cao đẳng nghề ngành
Điều được bằng cấp ghi danh đi làm
Sự nghiệp vững chớ ba xàm
Thanh niên trụ cột mới ham gia đình
Chung quanh hoa thắm đẹp xinh
Chọn hoa ý nghĩa tận tình nâng niu
Bình thường tối sớm trưa chiều
Dòng đời thử thách thật nhiều con ơi!
Hương hoa gọi bướm chơi vơi
Bền tâm, vững chí thảnh thơi cả đời
Mừng con tốt nghiệp rạng ngời
Tặng bao lời chúc tuyệt vời đến con...

Phượng Trắng
Canada, mùa ra trường 22/6/16

Hạ ơi!


(Trường xưa Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long )

“Hạ ơi ! Hạ đến làm chi nhỉ ! Để lại trong tôi bao ngẩn ngơ.” Mùa hạ đã qua hơn một tháng, ngoài kia qua khung cửa sổ những tia nắng cứ gay gắt tỏa xuống lòng ta, mỗi sợi nắng vàng cứ như thiêu đốt tâm tư nhớ nhung của bạn và tôi. Tuổi học trò của chúng mình đẹp biết bao, ơi ! nhớ quá nhưng giận hờn vu vơ, những nhớ thương, những vui buồn trong phút chốc , øchẳng biết nhớ gì? Thương gì? Tuổi học trò chấp cánh những ước mơ. Rất đơn sơ nhưng đầy hoa thơm, cỏ lạ.đầy màu xanh của cây lá, của tiếng cười, tình bạn bè tình thầy cô.

Đời học sinh buồn vui bất chợt
Những ưu sầu như phớt qua nhanh

Mái trường thân yêu. Bon hoc tro chung ta đã từng mến thương gọi như thế!, Bay gio, qua rồi khỏang thời áo trắng, xin hãy nhớ về ngôi trương ngày xưa, để nghe một chút bâng khuâng, tiếc nuối, ngậm ngùi…

Mai xa trường có nhớ?
Ta áo trắng bay bay
Bước chân nào vụng dại
Mái tóc thề ngang vai
Mai xa trường em nhớ? 
Hàng phượng vĩ thân thương
Hoa điệp vàng ngập lối
Oâi! Những chiều quê hương.

Hè về, tiếng ve râm ran, hoa phượng đỏ rực trên cành … bao nhiêu đó cũng đủ làm xao xuyến bao con tim bé nhỏ .. phải nói lời chia tay suốt ba tháng hè và nhất là cá bạn học sinh lớp 12 … là phải xa trường xa lớp mãi mãi ơi! Buồn làm sao! 

Phượng buồn, phượng khóc ai đây
Mà sao đỏ cả những ngày mến thương
Cánh phượng buồn khóc vấn vương
Sao nghe thương quá mái trường thân yêu

Cũng với “ Nỗi buồn hoa phượngõ tâm sự với bao nỗi nhớ thương trong lòng.

Hè ơi! Hè đến làm chi
Xa thầy, xa bạn chia ly mái trường
He mang nhiều nỗi vấn vương
Hè cho ta nỗi nhớ thương trong lòng

Ngày mai- ư!ngày mai ơi! Thương quá những tà áo trắng bé nhỏ dịu hiền. Ngày mai ừ! ngày mai tất cả rồi phải chia tay

Ngày mai người đã đi rồi
Nơi đây hoa đỏ vừa rơi theo chiều


Trở lại trường xưa một sớm mai, bạn có còn nhớ …. Những nhớ thương cháy bỏng . Tuổi học trò- khung trời mơ ước – thời gian qua đi- bao mùa hè- bao vấn vương – mãi mãi trong tâm hồn mỗi ngươi chúng ta dù năm tháng có phôi pha.

Mai trở lại trường xưa em có nhớ 
Dáng học trò trong áo trắng nên thơ

Ngọc Hải

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2016

Thơ Tranh: Vào Mộng



Thơ: Lê Kim Hiệp
Thơ Tranh: Kim Oanh

Con Bướm Trắng Không Về


Con Bướm Trắng Không Về

Sáng nay tỉnh giấc nồng khi giọt nắng
Chiếu thẳng vào phòng qua mấy chấn song
Anh bất chợt nghe tâm hồn xao động
Khi con tim nhịp bải hoải trong lòng.

Suốt đêm qua luôn dật dờ thao thức
Nhớ em nhiều mà …em chẳng về thăm
Nắng mùa Thu chảy trên thềm đỏ rực
Không dấu chân người – còn quá xa xăm.

Anh mơ ước trở về ngày tháng cũ
Được gặp nhau thỉnh thoảng trên giảng đường
Anh bẽn lẽn trộm nhìn trong tư lự
Giận gì đâu – không nói được lời thương!

Anh muốn về thời ăn lông ở lỗ
Sống trong rừng chỉ tụ tập làm vui
Anh săn thú dâng em quà bày tỏ
Trong hang sâu anh tạc đá em ngồi.

Hoặc cái thuở mới khai hoang lập địa
Trời đất ban sơ chưa có bóng người
Anh sẽ cố hóa thành viên đá sỏi
Để sau nầy em dạo bước rong chơi.

Buổi sáng nay vẫn là bình minh ấm
Như bao ngày tia nắng cũng bơ vơ
Con bướm trắng không bay về ghé đậu
Muộn phiền ơi ! ray rức đến bao giờ?!

Dương hồng Thủy
(tháng 09/2013)
***
Mộng Hồ Điệp
( Cảm tác từ Con Bướm Trắng Không Về)

Dòng sông khách qua đò chiều tắt nắng
Chờ một người tầm mắt hướng ngoài song
Chiếc lá rơi vô tình nước dao động
Buồn mênh mang sầu dâng khoắc khoải lòng

Bến vắng tanh hồn dạt dào thổn thức
Người ở đâu không rảo bước ghé thăm
Làm sao cấm trái tim thôi rạo rực
Khung trời mơ cánh nhạn mãi xa xăm

Nhớ Tây Đô chiều nao quen góc phố
Giây phút bên nhau đường tiếp nối đường
Kẻ ngượng ngùng người giấu lời chưa tỏ
Lần chạm vai mở ngỏ bắc cầu thương

Những năm sau đó không còn gặp nữa
Quê người ta chọn kiếp sống lưu vong
Trời vào thu đông sang khi hè tới
Biết còn mơ tạc đá chốn hang sâu

Có trở về Đại học khuôn viên cũ
Trên lối mòn tìm lại dấu chân xưa
Và chiếc ghế nơi giảng đường dành chỗ
Hai đứa thì thầm mong sớm giờ chơi

Từ rất xa vầng thơ gây bối rối
Lời thiết tha tiếc nuối mộng vu vơ
Con bướm trắng Trang Chu hồ điệp mộng
Tâm tư ai ray rức đến bây giờ

Kim Phượng

28.6.2016

Nỗi Buồn Tọa Thiền


Đôi khi cảm thấy nỗi buồn
Tựa vào pho tượng giọt sương tọa thiền
Màn đêm ngả bóng ngoài hiên
Trườn lên trăng sáng qua miền hư vô

Đôi khi buồn lại lửng lơ
Treo trên ngõ vắng ngủ nhờ hàng cây
Ngắm nhìn những giọt mưa bay
Rơi trong xanh xóa tội đày trần gian

Đôi khi buồn nhẹ vai mang
Làm khăn ấm thắt tình quàng ngày xưa
Quên đi cay ngọt được thua
Hóa thành gió mát thổi mùa sạch trong


Trầm Vân

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Lời Cuối - Từ Công Phụng

Ngày xưa em thường đạp xe đến thăm tôi.
Hôm nay...Thôi đừng tìm đến nhau làm gì. Thôi đừng nhìn nhau nữa...mà chi!



Nhạc: Từ Công Phụng

Đàn và Hát: Nguyễn Đức Tri Ân

Dòng Kỷ Niệm


                     (Ảnh của chính tác giả thời đi dạy)

Ta đã đến tận vùng sâu đất nước
Trên con đò nho nhỏ đến U Minh
Con sông Trẹm một sáng sớm cựa mình
Giòng nước đỏ (*) hân hoan chào bạn mới 

Trong lạ lẫm vùng sâu đầy chất phát
Rời con đò ngơ ngác mắt nhìn quanh
Dưới hàng cây cho bóng mát an lành
Từng bước chậm hỏi đường tìm nhiệm sở...

Kinh Chắc Băng (**) trước trường hiền êm ả
Mỗi chiều về ta lặng thả hồn mơ
Những bóng mây in đáy nước lững lờ
Lòng vui với đời bảng đen phấn trắng

Hàng phượng vỹ hôm nay như choàng tỉnh
Xanh lá mừng cô giáo mới đến trường
Dáng rụt rè nhỏ nhắn tóc thề buông
Ta chợt thấy tim có gì vương vướng

Em xuất hiện tất cả dường thay đổi
Ta mơ màng như rung động lần đầu
Vào lớp dạy hồn mãi gởi đâu đâu
Thật bực bội nhưng êm đềm khôn xiết

Em nào biết mỗi ngày ta đến sớm
Ngắm nhìn em từ cửa sổ văn phòng
Tà áo xanh lượn vờn trong nắng sáng
Giữa cõi đời thực ảo khác chi nhau

Duyên đã đến và nợ rồi cũng đến
Hai đứa mình bền chặt chẳng hề xa
Giòng Chắc Băng vẫn hiền hoà xuôi chảy
Nước tươi hồng sông Trẹm khắc tình ta...

Mấy mươi năm biển dâu nhiều thống khoái
Tháng ngày vui đã rớt lại bên đường
Nhưng tủi buồn hận chán lẫn đau thương
Không thể cắt chữ tào khang bền vững.

Quên Đi
(*) Nước sông Trèm Trẹm có màu đỏ như nước trà do nhận nước từ rừng U Minh đổ ra.
(**) Thị trấn Thới Bình toạ lạc tại ngã ba sông Trẹm và kinh Chắc Băng.

 

Gửi Vào Thu



Ôi,
Những buổi chiều
mưa nắng thay ngôi
Những sớm mai
gió mây vời vợi...

Mộng ước ngần ấy thôi
Lời yêu chưa kip nói
Kỷ niệm cũng xa vời
Với tay buồn níu gọi

Cuộc đời như mây trôi
Cuộc tình như sóng dội
Ngày tháng cứ pha phôi
Chừng như ta vẫn đợi
Ta đợi gì em ơi !

Thu đã qua lâu rồi
hay còn vương trước ngõ
Sao vơi đầy nỗi nhớ
Sao hiu hắt niềm riêng ?...

Nhưng đâu phải tại em
hay tại tôi, em nhỉ !

Quýdenver

Giấc Mộng Cuối Mùa

Đó không phải là cuối mùa Nho học hay cuối mùa của phong kiến mà là cuối mùa của Thăng Long. Bốn phương giặc giả nổi lên như ong. Hết Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển rồi đến Nguyễn hữu Cầu. Trong khi dân chúng đói khổ, xiêu tán, thì Triều Đình lạm phát chức tước, Quận Công, Quận chúa đầy đường.

Lê Hữu Trác đã ẩn cư ở Hương Sơn từ lâu. Năm 1773 Nguyễn Huệ san bằng thành Trấn Biên. Năm 1774 Trịnh Sâm xua quân Nam tiến diệt Nguyễn.
Chính lúc quốc khố trống rỗng, dân chúng quá mệt mỏi vì chiến tranh, thì vua chúa đắc thắng, vênh vang, Trịnh Sâm ngấp nghé ngôi vua!!! Chính lúc kẻ sĩ chân chính rất lo rầu cho thời cuộc, thật là ngổn ngang trăm mối thì Lê Hữu Trác được lệnh tiến triều. Số là trước đó Quận Huy Hoàng Đình Bảo , một người cũng giỏi về y thuật, hồi trấn thủ Nghệ An, thường mời Lê Hữu Trác tới công đường đàm đạo về y thuật rất là tương đắc. Nay Quận Huy ở trong triều quyền cao tột đỉnh , thường gọi là quan chánh đường , tiến cử Lê Hữu Trác lên chúa Trịnh Sâm để chữa bênh cho Trịnh Cán ( Thế Tử )
Ý của Quận Huy là muốn tiến cử Lãn Ông làm chức Thái y trưởng , hoặc làm quan lớn hơn nữa ...!
Khi Lãn Ông lên đường , các đệ tử đưa tiễn rất vui mừng hớn hở mừng cho thầy ... Nhưng Lãn Ông rất trầm tư, suy nghĩ mông lung nhiều điều ...
Trong Thượng Kinh Ký Sự, Lãn Ông viết là ra đi miễn cưỡng, thực tâm chỉ muốn an nhàn , ẩn dật , Nhưng tôi nghĩ không hẳn như thế . Nếu chán ghét Thăng Long, nếu dứt khoát không muốn ra đi thì Lãn ông có toàn quyền từ chối ... lấy cớ là già lão bệnh tật, lúc đó ông hơn 60 tuổi . Xưa nay không ai bắt tội một nhân sĩ từ chối chức quan vì già nua!
Không hiểu điều suy nghĩ của tôi có súc phạm tới Lê Hữu Trác không ( người mà tôi rất thần tương ), nhưng tôi nghĩ Lãn Ông muốn nhân chuyến đi này đem tài kinh bang tế thế ra giúp nước, đem y thuật ra giúp đời .Lãn ông có ông và cha làm quan lớn, đặc biệt bác là Lê Hữu Kiều làm tới Thượng Thư, Tể Tướng, môn sinh đầy triều ... Các danh sĩ Thăng Long đều công nhận Lê Hữu Trác là một tài năng lớn, tiếc cho ông mai một nơi chốn núi rừng!
Tuổi trẻ ông đã từng nuôi chí lớn, muốn làm cho rõ mặt anh hùng, không hổ thẹn với cha ông: 
Mười năm mài một lưỡi gươm
Hào quang sáng loáng phi thường ai đương
Trước cờ ai dám tranh cường
Nghiêm uy chuyển động tuyết sương ngàn trùng 
Tìm đường về Hán chửa xong
Sang Tần thì sự đã không nên rồi
Biển hồ trôi dạt đôi nơi
Xui người tráng chí ra người cuồng ngông

Rõ ràng là người đã từng nuôi chí lớn, nay ở ẩn, đã già, nhưng chắc là hùng tâm vẫn chưa nguội hẳn.
Đêm ở trạm xá Thăng Long, ngày mai vào Triều, suốt đêm không ngủ, người đã xúc cảnh làm thơ 
Mưa dồn gió giật bất thình lình
Quán khách càng thêm bối rối tình
Ngoài dãy lau xa mây kín mít
Trước chùa sóng gợn nước long lanh
Tổ nọ chim về vừa chập tối
Chùa nào chuông đã báo tàn canh
Nào phải uống trà mà tỉnh ngủ
Đêm nay vẫn biết mộng không thành

Tôi thấy rõ ràng Lê Hữu Trác có MỘNG giúp nước giúp dân ! Muốn về quê làm ruộng thì quá dễ rồi , nào cần chi phải nuôi MỘNG!

Câu nói sáng hôm sau với các đệ tử khi kiệu tới đón cho ta thấy một sụ phân vân ... cực kỳ phân vân chứ không phải một mặc định :
" Hay là ta cáo bệnh không đi ! "
Tôi thấy sau khi vào triều rồi Lê Hữu Trác mới thực sự chán ngấy cái triều đình này . Trịnh Sâm và các quan lớn cực kỳ kiêu căng , phách lối , xa hoa , dâm đãng . Còn tên nhóc con sẽ nối ngôi chúa thì èo uột , bệnh hoạn , khó lòng chữa khỏi . Và hẳn Lãn Ông còn thấy ở hắn sự thiếu trí nữa . Khi Lãn ông xụp lạy thế tử thì ngài nhóc vỗ tay phán rằng :
A! Ông già này lạy đẹp quá!
Ôi ! Cụ Lãn Ông đã thấy sự bất khả ở đây rồi!
Mỗi lần đọc về Lãn Ông tôi lại bồi hồi xúc động, xin có mấy lời thơ cảm thán về người:

TÂM SỰ LÊ HỮU TRÁC
 

" Tìm đường về Hán chưa xong
Sang Tần thì sự đã không nên rồi
Biển hồ trôi dạt đôi nơi
Xui người tráng chí ra người cuồng ngông "
(L.H. Trác)

Thương Lê Hữu Trác trung trinh
Nước non nặng một mối tình ngàn năm
Triều Lê gặp bước gian truân
Nhìn xem họ Trịnh xoay vần ra sao
Kìa như họ Mạc còn đâu
Biên thùy họ Nguyễn núp sau núi Hoành
Bốn phương giặc cỏ tung hoành
Thăng Long ấy thực kinh thành xa hoa
Vẳng nghe tiếng gọi thiết tha
Chim kêu bãi vắng chuông tà ngẩn ngơ
Lãn ông thức trắng ngồi trơ
Công danh ! Y học ! Hay là dân đen !
Ngoài kia kiệu đợi người lên
Nôn nao đệ tử tiến lên giục thầy
Lại thêm Huy Quận tâu bày
Ắt là ơn chúa phen này lo chi
Hay là cáo bệnh không đi

(Chân Diện Mục)

Chân Diện Mục
  

Nhớ Đà Lạt Xưa


Xuân Hương Thủy Tạ đẹp như mơ,
Kỳ Ngộ Bích Câu chớ hững hờ...
Chợ Mới Đồi Cù, ai cũng biết...
Cam Ly Than Thở kẻ mong chờ...
Cao niên hoài niệm thời son trẻ,
Vóc hạc nhành mai buổi tuổi thơ.
Thắng cảnh rừng thông reo khúc nhạc,
Bình an du lịch xứ sương mờ....

Mai XuânThanh
Ngày 19 tháng 06 năm 2016