Lá cờ Mỹ là hình ảnh nổi bật ngay tại trung tâm nơi từng là khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, ngày 15 tháng 9 năm 2001. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Phóng viên Hạng nhất Preston Keres thực hiện.
Chào quý anh chi
Xin gởi một vài mẫu chuyện THẬT đau lòng về ngày KHÔNG BAO GIỜ QUÊN --Tháng 9 - 2001
Còn RẤT nhiều câu chuyện THƯƠNG TÂM về những hành khách trên các chuyến bay, về các nhân viên ở các tòa nhà bị tấn công, về những vị anh hùng LÍNH CỨU HỎA . . .
- Bao nhiêu Thảm Cảnh của hàng ngàn gia đình nạn nhân-
QUÁ ĐỖI THƯƠNG ĐAU!
Bài này đề cập đến một vài vị anh hùng của Thế chiến thứ II, rồi bây giờ đến ngày ĐAU THƯƠNG của nước Mỹ, họ cũng không tránh khỏi...
Định Mệnh sao Quá Oái Oăm???!!!
Quý anh chị đã đọc rất nhiều câu chuyện, xin mời bổ túc cùng L nha
Cảm ơn anh chị
Xin chúc gia đình quý anh chị thật Bình An
(𝓽𝓷𝓵 -phannữlan)
--o0o--
Lá cờ Mỹ là hình ảnh nổi bật ngay tại trung tâm nơi từng là khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, ngày 15 tháng 9 năm 2001. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Phóng viên Hạng nhất Preston Keres thực hiện.
Tưởng nhớ các cựu chiến binh Thế chiến II
trong số những nạn nhân của sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001
Tại Bảo tàng Quốc gia về Thế chiến II, việc tưởng niệm ngày 11 tháng 9 đồng nghĩa với việc tưởng nhớ tất cả những người đã thiệt mạng vào ngày hôm đó, cũng như ghi nhận vô vàn câu chuyện riêng biệt mà họ mang theo bên mình.
September 10, 2026
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, người dân Mỹ đã chứng kiến đất nước mình bị tấn công. Bốn chiếc máy bay thương mại đã bị không tặc khống chế chỉ trong vòng vài giờ. Hai chiếc đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới, một chiếc lao vào Lầu Năm Góc và chiếc thứ tư rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania. Đến cuối ngày hôm đó, 2.977 người đã thiệt mạng.
Ngày 7 tháng 12 năm 1941 và ngày 11 tháng 9 năm 2001 là những cột mốc mang tính bước ngoặt trong lịch sử Hoa Kỳ. Cả hai sự kiện đều bắt đầu bằng các cuộc tấn công nhắm vào nước Mỹ và đều làm thay đổi vận mệnh quốc gia trong những năm tháng tiếp theo. Sự kiện Trân Châu Cảng đã đưa Hoa Kỳ bước vào Thế chiến II và huy động cả một thế hệ người Mỹ tham gia phục vụ quân đội cũng như đất nước. Sự kiện ngày 11 tháng 9 lại đưa một thế hệ khác bước vào kỷ nguyên mới của chiến tranh và nghĩa vụ quốc gia.
Bảo tàng Quốc gia về Thế Chiến II (The National WWII Museum) kể lại câu chuyện về thế hệ đã đáp lại lời kêu gọi sau sự kiện Trân Châu Cảng. Trong số những người thiệt mạng vào ngày 11 tháng 9, có những cá nhân thuộc chính thế hệ từng tham gia Thế chiến II ấy. Họ đã phục vụ đất nước, trở về quê hương, xây dựng gia đình, phát triển sự nghiệp và sống qua hơn nửa thế kỷ lịch sử nước Mỹ trước khi một cuộc tấn công khác lại làm thay đổi đất nước một lần nữa. Câu chuyện về họ phần lớn vẫn chưa được nhiều người biết đến.
Robert Grant Norton và Francis Edward Grogan từng phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ thời Thế chiến II.
Norman O. Wahlstrom từng thực hiện các phi vụ chiến đấu bằng máy bay B-24 tại Thái Bình Dương.
John Talignani từng phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ trong giai đoạn chiếm đóng và tái thiết Nhật Bản sau chiến tranh.
Gần sáu thập kỷ sau, cuộc đời họ đã gắn liền với sự kiện ngày 11 tháng 9 theo những cách rất khác nhau.
Ba trong số các cựu chiến binh này đã thiệt mạng trên ba chuyến bay khác nhau vào ngày 11 tháng 9, còn người thứ tư thì đau đớn mất đi vợ và con gái.
1/- Robert Grant Norton
Ảnh trong hồ sơ quân nhân chính thức của Robert Norton. Cục Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia.
Sinh ra tại Lubec, bang Maine, Robert Grant Norton từng làm thợ cơ khí bảo trì cho Công ty American Can trong 5 năm trước khi nhập ngũ vào Hải quân ngày 20 tháng 5 năm 1943. Khi đó ông 27 tuổi và đã lập gia đình; ông gác lại công việc và tạm biệt người thân để lên đường phục vụ đất nước. Ông trở thành một thành viên của lực lượng Seabee (Công binh Hải quân).
Hải quân đã đào tạo Norton trở thành thợ mộc trước khi điều động ông đến Tiểu đoàn Xây dựng Hải quân số 103 để được huấn luyện thêm về kỹ năng vẽ kỹ thuật. Sau đó, ông gia nhập Đơn vị Bảo trì thuộc Tiểu đoàn Xây dựng Hải quân số 539, trở thành một trong những thành viên của lực lượng Seabee – những người đã xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng giúp quân đội Mỹ hoạt động trên khắp Thái Bình Dương. Vào ngày 28 tháng 12 năm 1943, Norton rời Gulfport, Mississippi, để bắt đầu hành trình dài đến Thái Bình Dương. Ông đã vượt qua đường Xích đạo và Đường đổi ngày quốc tế trước khi đặt chân đến Ebon – một đảo san hô nhỏ thuộc quần đảo Marshall – vào ngày 7 tháng 2 năm 1944.
Norton cùng các đồng đội Seabee đã lập tức bắt tay vào công việc xây dựng và bảo trì các sân bay, đường sá, cảng biển cùng những cơ sở vật chất khác nhằm hỗ trợ các hoạt động hậu cần và đổ bộ của quân đội Mỹ. Ông đã ở lại Ebon khoảng 21 tháng trước khi thực hiện hành trình dài trở về quê nhà vào tháng 10 năm 1945. Sau khi được Hải quân giải ngũ trong danh dự, ông trở về Maine cùng với Dải băng Chiến dịch Châu Á - Thái Bình Dương, Dải băng Khu vực Châu Mỹ, Huy chương Chiến thắng Thế chiến II và quyền được mang phù hiệu chính thức của lực lượng Seabee.
Các thành viên đơn vị Seabee hạ thuốc nổ Hercules xuống từ mạn tàu LCVP trong quá trình xây dựng sân bay tại đảo san hô Eniwetok, tháng 2 năm 1944. Bảo tàng Seabee của Hải quân Hoa Kỳ.
Sau chiến tranh, Norton đã tận dụng chính sách hỗ trợ cựu chiến binh (GI Bill) để theo học tại Viện Kỹ thuật Franklin ở Boston và lấy bằng kỹ sư. Ông làm việc tại Massachusetts trong vài năm trước khi trở về Lubec vào đầu thập niên 1980. Tại đây, ông tích cực tham gia các hoạt động của Nhà thờ Congregational Christian địa phương và đảm nhiệm vai trò chấp sự. Bạn bè và hàng xóm nhớ đến ông như một người đàn ông trầm tính, hào phóng, luôn sẵn lòng dành thời gian và tài năng của mình để giúp đỡ người khác.
Robert Grant Norton. Ảnh: Bangor Daily News -- FindAGrave.com
Vào tháng 9 năm 2001, Norton đã 85 tuổi và là nạn nhân lớn tuổi nhất trong các vụ tấn công khủng bố. Ông cùng vợ, bà Jacqueline, đang trên đường đến California để dự một đám cưới của gia đình. Họ đã bay từ Bangor đến Boston vào ngày 10 tháng 9 trước khi lên chuyến bay số hiệu 11 của hãng American Airlines tại Sân bay Quốc tế Logan vào sáng hôm sau. Chiếc Boeing 767 cất cánh lúc 7:59 sáng, hướng tới Los Angeles. Lúc 8:46 sáng, những kẻ không tặc đã điều khiển máy bay đâm vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới.
Gần sáu thập kỷ đã trôi qua kể từ khi Norton rời Maine để đến vùng Thái Bình Dương. Trong khoảng thời gian đó, ông đã trở về nhà sau chiến tranh, xây dựng sự nghiệp, vun đắp gia đình, cống hiến cho cộng đồng và tận hưởng cuộc sống mà chính ông đã chiến đấu để bảo vệ. Vào ngày 11 tháng 9, ông chỉ đơn thuần là một người chồng đang cùng vợ đi xa để sum họp ăn mừng cùng gia đình. Cuộc đời đầy dấu ấn của ông đã khép lại vào sáng hôm ấy trên chuyến bay số hiệu 11.
2/-Francis Edward Grogan
Francis Edward Grogan
Ảnh trong hồ sơ quân nhân chính thức của Francis Edward Grogan. Cục Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia.
Francis Edward Grogan mới chỉ 18 tuổi khi gia nhập Hải quân trong Thế chiến thứ hai. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1943, Hải quân tiếp nhận Grogan
với cấp bậc thủy thủ tập sự và cử ông đến Trường Huấn luyện Tác chiến Âm thanh Hạm đội (Fleet Sound School) tại Key West, Florida, nơi ông được đào tạo để trở thành nhân viên vận
hành thiết bị định vị bằng âm thanh (sonar). Sau khi hoàn tất khóa huấn luyện, Hải quân đã điều động ông phục vụ trên tàu khu trục USS Barney (DD-149).
Nhiệm vụ mới đã đưa Grogan trực tiếp tham gia vào Trận chiến Đại Tây Dương. Trong khoảng thời gian từ ngày 14 tháng 1 đến ngày 11 tháng 5 năm 1944, tàu Barney đã hoàn thành hai chuyến hộ tống đoàn tàu vận tải đến Bắc Phi. Một trong những chuyến đi đó đã đưa Grogan và các đồng đội vào tình thế giao tranh thực sự. Barney tham gia hộ tống Đoàn tàu UGS-37 — một nhóm gồm 37 tàu có lực lượng bảo vệ vũ trang — đi từ Vịnh Chesapeake, qua Eo biển Gibraltar để tiến vào Địa Trung Hải. Vào khoảng nửa đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12 tháng 4, khi đang ở vị trí cách Algiers khoảng 35 dặm về phía đông, đoàn tàu đã bị máy bay địch tấn công.
Các con tàu đồng loạt khai hỏa khi lực lượng tấn công áp sát. Hỏa lực phòng không dữ dội bao trùm bầu trời đêm trong nỗ lực tự vệ của đoàn tàu. Grogan cùng thủy thủ đoàn trên tàu Barney đã may mắn thoát khỏi các quả ngư lôi và bom của địch, trong khi một số tàu khác phải chịu thiệt hại nhẹ và có thương vong. Sau đó, Hải quân đã trao tặng tàu Barney danh hiệu "ngôi sao chiến trận" (battle star) để ghi nhận vai trò hộ tống Đoàn tàu UGS-37. Các con tàu đồ
Grogan tiếp tục phục vụ trong quân ngũ cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ông được Hải quân trao tặng Huy chương Chiến thắng Thế chiến II, Huy chương Chiến dịch Hoa Kỳ và Huy chương Chiến dịch Châu Âu - Châu Phi - Trung Đông (kèm một ngôi sao chiến dịch). Ông xuất ngũ trong danh dự vào ngày 2 tháng 4 năm 1946.
Cuộc đời ông sau khi rời Hải quân đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Grogan sau đó trở thành một linh mục Công giáo và dành nhiều thập kỷ để giảng dạy, làm tuyên úy cũng như công tác tại Dòng Thánh Giá (Congregation of Holy Cross) ở North Dartmouth, Massachusetts.
Cha Francis Grogan, C.S.C. Ảnh: Congregation of Holy Cross
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Cha Grogan – khi đó 76 tuổi – đã lên chuyến bay số hiệu 175 của hãng United Airlines tại Sân bay Quốc tế Logan ở Boston để đến California thăm em gái. Ông đã không bao giờ đến được nơi này. Máy bay cất cánh lúc 8 giờ 14 phút sáng để bay tới Los Angeles. Lúc 9 giờ 03 phút sáng, những kẻ không tặc đã điều khiển chuyến bay 175 đâm vào Tháp Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới.
Cuộc đời đã đưa ông đi một chặng đường dài, từ hình ảnh chàng thủy thủ trẻ đứng gác trên tàu Barney giữa lòng Đại Tây Dương năm nào. Các cựu học sinh và giáo dân luôn nhớ về ông như một người có ảnh hưởng tích cực và trầm lặng, người vẫn luôn tự hào về quãng thời gian phục vụ trong Hải quân Mỹ suốt Thế chiến II.
3/-Norman O. Wahlstrom
Câu chuyện của Norman O. Wahlstrom kết nối Thế chiến II với sự kiện ngày 11 tháng 9 theo một cách khác. Ông không thiệt mạng trong các cuộc tấn công, nhưng vợ và con gái ông lại nằm trong số những người đã khuất vào ngày hôm đó.
Wahlstrom tốt nghiệp Đại học Bang Utah vào năm 1939 và gia nhập lực lượng hàng không quân đội với tư cách là học viên phi công vào tháng 12 năm 1940. Ông đã hoàn thành khóa huấn luyện bay cơ bản tại Randolph Field và khóa huấn luyện bay nâng cao tại Kelly Field, bang Texas. Quá trình huấn luyện đòi hỏi nhiều giờ bay theo đội hình cũng như thực hành kỹ năng dẫn đường cả ngày lẫn đêm. Vào tháng 2 năm 1942, Wahlstrom chính thức nhận huy hiệu phi công và bắt đầu sự nghiệp của mình trong ngành hàng không quân đội.
Norman O. Wahlstrom. Bức ảnh được cho là chụp vào tháng 6 năm 1945 tại Borneo. Ảnh qua Fold3, FindAGrave.com.
Wahlstrom tiếp tục thực hiện các phi vụ tác chiến trên máy bay B-24 Liberator tại chiến trường Thái Bình Dương. Sau đó, ông đảm nhận vai trò chỉ huy Phi đội Ném bom số 72 thuộc Nhóm Ném bom số 5, Không quân số 13. Trong thời gian phục vụ quân ngũ, ông đã được trao tặng Huy chương Không quân kèm theo biểu tượng "Oak Leaf Cluster" (nhánh sồi), ghi nhận việc ông được trao tặng huân chương này lần thứ hai. Ông sống sót qua chiến tranh và tiếp tục phục vụ đất nước trong những năm sau đó. Sự nghiệp quân sự của ông trải dài qua Thế chiến II, Chiến dịch Tiếp vận Hàng không Berlin và Chiến tranh Triều Tiên.
Sau Thế chiến II, Wahlstrom xây dựng gia đình và phát triển sự nghiệp, đưa ông rời xa khu vực Thái Bình Dương. Ông kết hôn với bà Mary Alice Sheehan vào năm 1950 và cùng nhau vun đắp tổ ấm gia đình. Ông giải ngũ khỏi Không quân với cấp bậc Đại tá vào năm 1968, sau đó quay lại Đại học Utah State; tại đây, ông lấy bằng cử nhân kinh doanh ở tuổi 50 và đảm nhiệm vị trí Giám đốc phụ trách các vấn đề Cựu chiến binh của trường. Là một thành viên tích cực của cộng đồng, ông đã phục vụ hai nhiệm kỳ tại Hạ viện bang Utah và sáu năm trong Hội đồng Thành phố Logan, Utah.
Mary Alice Sheehan Wahlstrom (left). Photo via FindAGrave.com. Carolyn Anne Beug (right). Photo via FindAGrave.com
Vợ ông, bà Mary Alice, đã 78 tuổi khi cùng con gái Carolyn Beug bước lên chuyến bay số hiệu 11 của hãng American Airlines. Carolyn, 48 tuổi, từng làm việc trong ngành giải trí và là mẹ của ba người con. Hai người phụ nữ đã đến miền Đông để giúp cặp con gái sinh đôi của Carolyn ổn định cuộc sống khi bắt đầu theo học tại Trường Thiết kế Rhode Island (Rhode Island School of Design). Họ đang trên đường trở về California khi lên chuyến bay số 11 tại Sân bay Quốc tế Logan ở Boston.
Lúc 8 giờ 46 phút sáng, chuyến bay số 11 đã đâm vào Tháp Bắc. Người đàn ông từng thực hiện các phi vụ chiến đấu trên khắp Thái Bình Dương trong Thế chiến II giờ đây phải đối mặt với nỗi đau mất vợ và con gái trong một cuộc tấn công nhắm vào nước Mỹ, gần sáu thập kỷ sau khi ông lần đầu ra trận.
Bia mộ tưởng niệm Norman Oliver Wahlstrom, Mary Alice Wahlstrom và Carolyn Beug. Ảnh qua Pershelle Rohrer, FindAGr
Ông Wahlstrom cùng những người con còn lại vẫn luôn tưởng nhớ Mary Alice và Carolyn. Năm 2002, con trai ông đã rước đuốc Olympic tại Utah để tri ân họ. Trong một buổi lễ vinh danh tại Quốc hội cùng năm đó, Mary Alice được nhắc đến như một thành viên tích cực của cộng đồng; bà là người đam mê du lịch, biết chơi đàn piano và từng tham gia hoạt động tình nguyện tại Temple Square ở thành phố Salt Lake, bang Utah. Ông Wahlstrom qua đời năm 2006 ở tuổi 88 và được an táng với đầy đủ nghi thức quân sự, nằm cạnh Mary Alice và Carolyn.
4/- John Talignani
John Talignani đã sống một cuộc đời gắn bó sâu sắc với gia đình và cộng đồng tại New York – nơi ông dành phần lớn quãng đời trưởng thành của mình. Sinh ra tại Ý, ông lớn lên ở Brooklyn và trở thành một người đàn ông hết lòng vì gia đình, dành trọn tình cảm cho người vợ quá cố cùng ba người con riêng của bà. Ông từng làm chủ một chiếc xe taxi và một tiệm bánh pizza, trước khi dành 20 năm làm nhân viên pha chế và phục vụ tại chuỗi nhà hàng Palm ở Manhattan. Sau khi nghỉ hưu, ông chuyển đến sống tại Staten Island; tại đây, ông tận hưởng khoảng thời gian bên gia đình và dành sự quan tâm đặc biệt cho đội bóng chày yêu thích của mình – New York Mets.
John Talignani. Photo via U.S. National Park Service
Thẻ đăng ký nghĩa vụ quân sự John Talignani.Chiến tranh Thế giới II
Talignani cũng là một cựu quân nhân Lục quân từng phục vụ trong thời kỳ Thế chiến II. Ông thực hiện nghĩa vụ quân sự vào giai đoạn quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh, thay vì tham gia trực tiếp vào các hoạt động tác chiến trong cuộc chiến. Ông thuộc thế hệ nhập ngũ vào những năm quanh thời điểm diễn ra chiến tranh và đã phục vụ tại nước ngoài khi lực lượng Mỹ thực hiện việc chiếm đóng và tái thiết Nhật Bản sau khi giao tranh kết thúc.
Ở tuổi 74, Talignani vẫn luôn dành trọn tình cảm và sự quan tâm cho gia đình. Ông lên chuyến bay số hiệu 93 của hãng United Airlines tại Sân bay Quốc tế Newark vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 để đến California. Con trai riêng của vợ ông đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn ô tô khi đang đi hưởng tuần trăng mật, còn con dâu ông thì bị thương nặng. Talignani thực hiện chuyến đi này để ở bên gia đình trong khoảng thời gian vô cùng khó khăn đó.
Chuyến bay 93 khởi hành từ Newark lúc 8:42 sáng để đến San Francisco. Đến 9:28 sáng, những kẻ không tặc đã chiếm quyền kiểm soát máy bay. Hành khách và phi hành đoàn bắt đầu biết tin về các vụ tấn công thông qua các cuộc gọi điện thoại. Khi nhận ra những kẻ không tặc định biến chiếc máy bay của họ thành một vũ khí khác, các hành khách đã quyết định chống trả. Vào khoảng 9:57 sáng, họ bắt đầu nỗ lực giành lại quyền kiểm soát máy bay; sáu phút sau, chuyến bay 93 rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania. Talignani là một trong số 40 hành khách và thành viên phi hành đoàn thiệt mạng trên chuyến bay này.
Talignani đã dành những năm tháng nghỉ hưu bên những người thân yêu, tận hưởng thời gian cùng gia đình và theo dõi đội bóng chày New York Mets. Vào ngày 11 tháng 9, ông lên chuyến bay 93 đến California để thực hiện thêm một hành động thể hiện tình cảm dành cho gia đình. Ông đã không bao giờ đến được nơi đó.
TƯỞNG NHỚ HỌ
Những người đàn ông này đã sống những cuộc đời rất khác nhau sau Thế chiến II, nhưng mỗi người đều mang theo những trải nghiệm của thời kỳ đó vào các thập kỷ tiếp theo. Đến tháng 9 năm 2001, họ không còn là những quân nhân trẻ tuổi nữa. Họ là những người chồng, người cha, linh mục, chuyên gia, người đã nghỉ hưu và là thành viên tích cực trong cộng đồng của mình. Cuộc đời họ vẫn tiếp diễn rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc.
Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện của họ mang đến một góc nhìn khác để tưởng nhớ ngày 11 tháng 9. 2.977 người thiệt mạng vào ngày hôm đó không chỉ đơn thuần là những cái tên hay những con số. Họ là những cá nhân có gia đình, sự nghiệp, ký ức và những câu chuyện cuộc đời bắt đầu từ rất lâu trước khi các vụ tấn công xảy ra. Với một số người, lịch sử đó bao gồm cả việc đáp lại lời kêu gọi phục vụ đất nước trong Thế chiến II.
Nhiều người Mỹ trẻ tuổi khác cũng sẽ đáp lại lời kêu gọi phục vụ trong những năm và thập kỷ sau các vụ tấn công này.
World War II draft card for John Talignani. Photo from Fold3, via National Archives
World War II draft card for John Tal
Những lá cờ Mỹ được đặt tại hồ nước thuộc Tháp Nam (South Tower Pool) – gần Khu tưởng niệm và Bảo tàng 9/11 – để tưởng nhớ các nạn nhân của vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, trong khuôn khổ sự kiện Duyệt binh Hải quân Quốc tế 250 tại Thành phố New York vào ngày 6 tháng 7 năm 2026. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Chuyên gia Truyền thông Đại chúng (Cấp bậc Thủy thủ) thực hiện -
Tại Bảo tàng Chiến tranh Thế giới thứ hai Quốc gia, việc tưởng niệm ngày kỷ niệm 11 tháng 9 có nghĩa là tưởng nhớ tất cả những người đã thiệt mạng vào ngày hôm đó và ghi nhận những câu chuyện khác nhau mà họ mang theo.
Bằng cách kể lại câu chuyện của những người đã sống sót qua một khoảnh khắc định mệnh trong lịch sử nước Mỹ và bị mất đi trong một khoảnh khắc khác, chúng ta giúp bảo tồn những trải nghiệm cá nhân đằng sau những sự kiện đã thay đổi quốc gia.
Trách nhiệm của chúng ta không chỉ là ghi nhớ cách họ đã hy sinh, mà còn là ghi nhớ họ là ai.
Mong rằng chúng ta sẽ không bao giờ quên.
Google Dịch
Sưu tầm & Biên Soạn: Thái Lan









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét