Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Vân Xuyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Vân Xuyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Trời Cao Có Mắt, Tôi Tin Có Thượng Đế




Theo như thông lệ hàng ngày vợ chồng chúng tôi: Buổi sáng thức dậy, vệ sinh cá nhân, ăn điểm tâm sáng, một vài động tác thể dục dưỡng sinh khoảng từ 15 đến 30 phút ... rồi, khoảng từ 10 giờ 30 phút, chúng tôi di tản bộ một vòng qua các đường phố nơi chúng tôi đang cư ngụ
trong khoảng 30 phút rồi trở về nhà ... và bắt đầu cho một ngày sinh hoạt. (sinh hoạt nầy được tiến hành đều đặn từ thứ hai đến thứ sáu trong tuần ... hai ngày cuối tuần, thứ bảy và chủ nhật thì hoàn toàn dành cho các con, các cháu và bạn bè, anh chị em trong gia đình của vợ tôi. Tùy theo hứa hẹn, hai ngày cuối tuần sẽ dành cho ai theo lịch trình đã có ước tính trước rồi).


Hôm nay, có một sự việc đặc biệt xảy ra : Sau khi đi một vòng trở về nhà, mở thùng thơ bưu điện (như thường lệ) trước khi lên nhà riêng, căn nhà (hộ) nhỏ ở lầu 1 trong một khu chung cư có 4 căn với 2 tầng lầu mà tầng trệt (rez de chaussée) là một căn hầm (cave) chứa đồ vật dụng chung cho 4 căn nhà phía trên. Trong thùng thơ, không có thơ mà chỉ có một mảnh giấy nhỏ loại giấy quảng cáo của một ngôi nhà thờ Thiên Chúa nằm cùng đường với chung cư của chúng tôi (cách khoảng 300 mét) ... và mảnh giấy giới thiệu có nội dung như sau " Từ nay, nhà thờ sẽ tiếp nhận các quần áo cũ, nón, vớ, găng-tay, giày, dép cũ ... các vật dụng nầy sẽ được chuyển giao lại cho các cơ sở từ thiện Secours - Catholiques ".


Thực ra thì tại thành phố nơi chúng tôi cư ngụ, cũng đã có một số địa điểm tiếp nhận các vật dụng kể trên cho các cơ quan từ thiện, như so với tư gia của chúng tôi thì hơi quá xa, cho nên chúng tôi cũng ngại ngùng trong việc mang đồ vật đến đó và cũng là lý do làm cho chúng tôi luôn luôn tỏ ra rất ngại trong việc kiểm soát lại, thu xếp lại các đồ dùng cũ kỹ lâu ngày cần phải loại bỏ đang có thật nhiều trong nhà.

Nhưng bây giờ, gần cạnh bên nhà có một địa điểm thu nhận đồ đạc cũ đã làm cho chúng tôi (đúng ra là Tôi) có can đảm, có nhiều nghị lực thực hiện công việc mà từ lâu mình muốn làm nhưng chưa làm được ... và hôm nay, Tôi quyết định bắt tay ngay vào việc nầy.

Sau khi ăn cơm trưa xong, nghỉ ngơi khoảng 30 phút là Tôi bắt đầu làm việc ngay : Trong lúc dọn dẹp, sắp xếp lại các vật dụng thì tình cờ Tôi tìm thấy lại " MỘT ĐÔI GIÀY CŨ " mà cách đây hơn 10 năm, Tôi đã được người con trai tặng cho ... và đôi giày nầy đã để lại cho Tôi một DẤU ẤN KỶ NIỆM thật đặc biệt trong đời.

Nhưng có một điểm quan trọng mà Tôi muốn được xin thưa rằng : Ở trên đời nầy, không phải hoàn toàn tuyệt đối cho tất cả mọi người ... nhưng có một số người, trong cuộc đời của riêng mình, vì duyên, vì số, vì định mệnh ... đã có một số sự việc xảy đến với mình mà chính mình không thể ngờ được mà mình phải xem đó là một HUYỀN BÍ ... xin được tạm gọi đó là Ý TRỜI ... và trong số những người đó có trường hợp của cá nhân Tôi, việc đó qua MỘT ĐÔI GIẦY mà người con trai của Tôi đã tặng cho mà Tôi xin phép được kể dưới đây.

Cầm trên hai tay hai gói quà ( 1 gói nhỏ và 1 gói lớn ), đứng trước mặt cả hai vợ chồng chúng tôi, con trai của chúng tôi nói : - Thưa Ba, Mẹ, hôm nay con xin tặng Ba, Mẹ mỗi người một món quà .
Đưa gói quà nhỏ cho vợ tôi và gói quà lớn cho Tôi và con trai chúng tôi nói : - Ba, Mẹ mở ra xem đi .
Vợ của tôi mở ngay gói ra xem, đó là một chai dầu thơm.
Tôi cầm gói quà nhưng không mở ra xem mà Tôi hỏi ngay con tôi : Ba muốn biết là con tặng cho Ba món quà gì trước khi Ba mở gói quà ra xem có được không ?
Không trả lời câu hỏi của Tôi, con trai của chúng tôi trịnh trọng nói : - Thưa Ba, con có một việc muốn thưa riêng với Ba về vấn đề quà tặng, Ba có cho phép con nói, có được không Ba ?
Tôi bình thản nói : - Được, con cứ tự nhiên nói, Ba nghe .

Con trai của chúng tôi nói  - Thưa Ba, trước đây ở Việt Nam, con còn quá nhỏ, con không biết, không có nhận xét được về Ba, nhưng ở Pháp, khi con lớn lên và khi con biết suy nghĩ, nhận xét thì con thấy, Ba là một người không chú trọng, không quan tâm nhiều đến vấn đề ăn mặc, chưng diện, không chú trọng đến quần áo, giày dép, đồng hồ ... Hôm nay con xin tặng Ba một đôi giày, con không dám nói đến giá cả tiền bạc, nhưng con xin thưa, đây là một đôi giày thuộc loại tốt, đẹp và có giá trị thời trang, xin Ba nhận ... và từ nay cứ sử dụng thoải mái, đừng lo lắng, tiết kiệm, hạn chế những quà tặng mà con tặng cho Ba ... đồ dùng là để mình xử dụng, để xài ... cứ xài hàng ngày chứ không cần phải chờ đến các dịp lễ, tết ... Ba mở ra xem đôi giày đi Ba.


Tôi mở gói quà ra xem, đó là một đôi giày da hiệu J.M. Weston. Một đôi giày số 40, Tôi mang vào rất vừa vặn với đôi chân của mình. Với tôi, đó là một đôi giầy đẹp và hợp với đôi chân của mình.
Tôi nói : - Cám ơn con, Ba hài lòng với đôi giày nầy. Ba muốn bên trong của đôi giày nầy, mỗi chiếc có 1 auto-collant hình Hoa Mai để làm kỷ niệm có được không con ?
- Dạ được. - Con sẽ lo cho Ba ngay ngày mai việc nầy.

Ông bà, cha mẹ (và kể cả các anh chị em của chúng tôi trong gia đình sau nầy) theo " ĐẠO GIA TIÊN " tức là đạo thờ cúng tổ tiên ông bà.
Khi tôi còn trẻ, ở trong nhà, tôi chỉ nhìn thấy cha mẹ của chúng tôi có thiết lập một bàn thờ, trên đó có các ảnh của ông bà nội, ông ngoại của chúng tôi (là những người đã qua đời) ... và hàng năm thì có những ngày cúng giỗ và vào dịp Tết Nguyên Đán thì có cúng bái vào đêm 30 cuối năm gọi là cúng Giao Thừa và cúng thêm bốn ngày đầu năm (mùng 1, 2, 3 và 4). Ngoài ra, tôi không thấy có gì thêm.

Như trên tôi đã trình bày, gia đình của chúng tôi theo Đạo Gia Tiên, cho nên từ khi có mặt tại Pháp sau Biến Cố Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975. Tôi hoàn toàn không tham gia sinh hoạt ở các cơ sở tôn giáo như chùa, nhà thờ, giáo xứ, thánh thất, tịnh xá, đạo tràng ... mặc dù tại Pháp, các cơ sở tôn giáo đã hoạt động rất mạnh mẽ và cộng đồng người Việt Nam tham gia rất đông đảo.

Thỉnh thoảng Tôi cũng có đến các cơ sở tôn giáo kể trên (nhưng rất ít và hạn chế). Thật ra, tôi chỉ đến khi nào có dịp được các bạn bè thân hữu mời đến tham dự các buổi lễ cầu siêu, cầu nguyện, giỗ chạp của thân nhân ... Nói tóm lại, tôi là một người theo Đạo Gia Tiên chứ không phải là một người theo Đạo Phật, không phải là một Phật Tử và ngôi chùa mà tôi có dịp đến nhiều lần là CHÙA KHÁNH ANH ở thành phố BAGNEUX thuộc ngoại ô của thủ đô Ba-Lê.



Hôm nay là ngày kỷ niệm " Sinh Nhật 3 Tuổi " của một đứa cháu Ngoại Gái của chúng tôi, và buổi tiệc sinh nhật được tổ chức tại nhà của vợ chồng con gái ở một vùng ngoại ô của Ba-Lê.
Đồng thời, hôm nay, tôi cũng được mời tham dự " Buổi Cúng Đúng Một Năm " của một người bạn trong cộng đồng tại Chùa Khánh Anh ở thành phố Bagneux.


Vợ của tôi đã rời khỏi nhà từ sáng sớm cùng vợ chồng của con trai để đến thẳng nhà vợ chồng con gái cho buổi tiệc Sinh Nhật Cháu Gái ... Riêng tôi, sẽ đến sau và muộn hơn vì tôi phải đến tham dự buổi lễ tôn giáo ở chùa Khánh Anh.
Trước tiên là phải tham dự một buổi lễ tôn giáo và sau đó tham dự sinh nhựt của cháu gái cho nên hôm nay tôi ăn mặc rất trịnh trọng và mang đôi giày J.M. Weston của con trai tặng và hôm nay cũng là lần đầu tiên tôi xuất hành với đôi giày mới nầy.


Buổi lễ tôn giáo tổ chức ở chánh điện từ 11 giờ đến 12 giờ và sau đó là bữa ăn trưa chay ở dưới nhà ... Tôi chỉ xin tham dự buổi lễ ở chánh điện mà thôi.
Cũng như tất cả mọi người, trước khi bước chân lên chánh điện ở lầu 1, tôi xếp đôi giầy ở khu vực giày dép nơi cầu thang.
Buổi lễ chấm dứt, mọi người lần lượt xuống nhà để dùng cơm trưa, còn tôi thì xuống nhà lấy giày để đến nhà của vợ chồng con gái để tham dự tiệc Sinh Nhật.

Một bất hạnh đã xảy ra cho tôi : " ĐÔI GIẦY J.M. WESTON của Tôi, không cánh mà đã bay mất ".
Không tìm thấy đôi giày của mình, nhưng tôi không biết phải làm sao, chỉ biết ngồi chờ cho tất cả mọi người lấy xong giầy dép của họ và còn lại một đôi giày duy nhất không có chủ nhân nào nhận ... tôi nghĩ rằng chắc chắn CHỦ NHÂN CỦA ĐÔI GIÀY NẦY đã LẤY CẮP ĐÔI GIẦY J.M. WESTON của tôi rồi. Đây là một đôi giày không thật cũ cũng không thật mới. Tóm lại, đây chỉ là một đôi giày thuộc loại rẻ tiền và bình thường ... Tôi đành phải mang đôi giày nầy vào chân và rời khỏi chùa Khánh Anh.
 
Người đã lấy cắp đôi giày của tôi và là chủ nhân của đôi giày cũ để lại cho tôi, tôi xin phép được đặt cho ông ta tên là Lương Nhân và mang họ Bất, tức là ông BẤT LƯƠNG NHÂN.
Vừa bước chân vào nhà, con trai của tôi nhìn tôi từ đầu đến chân và ngạc nhiên hỏi : - Ba, hôm nay sinh nhật của Phương Dung, Ba ăn mặc kẻng và chiến quá mà tại sao Ba lại mang đôi giày cũ ... còn đôi giày mới con tặng cho Ba đâu, Ba lại không mang ?
Tôi buồn bã trả lời: - Ba vừa đi chùa Khánh Anh ở Bagneux và đã bị mất đôi giày mới con cho ở đó rồi và đôi giày cũ nầy là của thằng ăn cắp để lại, Ba phải đành mang vào chân để về nhà ... Xui quá !

Không tỏ vẻ buồn bực mà con trai của tôi lại vừa mĩm cười vừa nói : - Trời ơi ! ở chùa, ở chỗ từ bi, bác ái mà người ta cũng ăn cắp giày dép của nhau ...người ta không có lòng từ tâm, thiện tâm chút nào sao Ba ? Thôi, không sao đâu Ba, để tuần sau Con sẽ mua cho Ba đôi giày khác ... hôm nay, coi như Ba đã cúng dường một đôi giày.
Tôi trả lời ngay với con tôi : - Thôi con, việc đó tính sau đi ... Ba sẽ trở lại các chùa để tìm lại đôi giày của Ba. Nếu Trời Phật thương và linh thiêng thì Ba sẽ tìm lại được đôi giày của Ba.

Hàng tuần, vào hai ngày cuối tuần, tức là thứ bảy và chủ nhật, Tôi, một mình đích thân lái xe đến các chùa trong phạm vi Ba-Lê và các vùng phụ cận, quan sát các nơi để giày dép của các thiện nam tín nữ coi có đôi giày của mình không.
Mỗi lần rời khỏi nhà, lái xe đến các chùa, khi ngồi vào xe bắt đầu nổ máy lên đường, tôi luôn luôn khấn nguyện như sau :
- Kính thưa Thượng Đế, ông là Đấng Linh Thiêng, Đấng Toàn Năng, xin ông hãy giúp Con tìm lại được đôi giày của Con. Con không phải là một Phật Tử, nhưng Con nghĩ rằng, chùa là nơi tôn nghiêm, là nơi thể hiện lòng từ bi, bác ái, thiện tâm, thiện đức và Con đã đến chùa với lòng thành kính đối với Ngài và với những người quá cố. Thật sự, khi Con bị mất một đôi giày, Con không tiếc là mình bị mất một đôi giày đáng giá về tiền bạc, nhưng Con nghĩ rằng, nếu Con bị mất đôi giày ở chùa thì Ngài đã BẤT CÔNG đối với Con ... Con cầu xin Ngài hãy chứng giám cho lời cầu xin của Con và xin Ngài hãy chứng tỏ cho Con thấy được một SỨC MẠNH QUYỀN NĂNG TÔN GIÁO VÔ BIÊN của Ngài, tức là cho Con tin là có THƯỢNG ĐẾ, thưa Ngài, Ngài Thượng Đế .

Hơn 2 tháng trôi qua, tôi hoàn toàn vô vọng không tìm lại được đôi giày của mình ... vợ và các con của tôi khuyên tôi nên bỏ cuộc mà trở về với cuộc sống bình thường của mình ... nhưng tôi quyết định TIẾP TỤC TÌM KIẾM và KHÔNG BỎ CUỘC.
Tôi đã tham dự lễ an táng cho thân phụ của một người bạn thân ở nghĩa trang Thiais và hôm nay tôi được mời tham dự buổi lễ.
" Cúng Thất 49 Ngày " cho người quá cố ở chùa Khánh Anh (Bagneux).
Buổi lễ được diễn ra bình thường như hầu hết các buổi lễ khác đã được tổ chức: Lễ cúng bái ở chánh điện từ 11 giờ đến 12 giờ và sau đó là bữa ăn trưa chay ở dưới nhà.
Tôi hứa với gia đình của người bạn là tôi đến tham dự buổi lễ cúng bái chứ không ăn cơm trưa.
Lần nầy đến chùa Khánh Anh, tôi vẫn mang đôi giày cũ của ông Bất Lương Nhân và cũng khấn nguyện trong đầu là cầu mong Thượng Đế giúp cho tôi tìm lại được đôi giày đã bị mất cắp của mình.
Tôi đến cũng hơi trễ, quan sát khu vực để giày dép ... không thấy đôi giày của mình. Tôi bỏ giày ở một góc cầu thang và trèo lên chánh điện tham dự cuộc lễ bái.

Khu chánh điện đông nghẹt người, vì hôm nay có nhiều gia đình khác nhau cùng tổ chức lễ bái, cầu siêu và cúng thất do chính Hòa Thượng Thích Minh Tâm làm chủ lễ.
Phía vách sau cùng của chánh điện có một số người đứng. Còn khu vực gian giữa thì các thiện nam tín nữ ngồi, quỳ bái lạy cầu nguyện, đọc kinh.
Hầu hết mọi người, kể cả những người đang đứng đều cầm trên tay kinh, sách, nhang đèn. Tôi đứng ở cuối vách chánh điện, phía sau cùng và gần cầu thang xuống nhà, bên cạnh những người đồng hương Việt Nam hoàn toàn xa lạ không quen biết. Tôi đảo mắt nhìn vào phía trong gian giữa, thấy một vài người bạn quen, kể cả vợ chồng anh bạn thân ... họ đang hành lễ và đọc kinh trong tư thế thật nghiêm trang, mắt hướng về bàn Chư Phật cho nên họ không nhìn thấy tôi.

Vì không phải là một Phật Tử mà lại đến muộn cho nên tôi đứng trong tư thế thong thả, hai tay bỏ thòng chắp lại trước bụng.
Bất thần, có một người đàn ông, khoảng trên dưới 50 tuổi, ở khu giữa của chánh điện, từ từ bò ra phía cầu thang xuống nhà, trên tay cầm một bịch ny-lông màu xanh dương đậm ... khi đến khu vực cầu thang, ông ta đứng lên, khuôn mặt có vẻ nhăn nhó đau đớn trong tư thế thật hấp tấp, vội vã. Ông ta nhìn một lượt mọi người đang đứng ở cầu thang trong đó có tôi. Tự nhiên, ông ta nhìn ngay tôi và nói : - Anh cho tôi gửi bịch đồ, tôi đi toilette gấp, tôi sẽ trở lại ngay .
Tôi đưa tay cầm lấy bịch ny-lông, còn ông ta thì hối hả chạy đến cầu thang xuống nhà.

Hơi tò mò, tôi mở hé bịch ny-lông ra và nhìn vào bên trong ... Thật bất ngờ, tôi thấy đôi giày hiệu J.M. Weston. Tôi ngó ngay vào bên trong của một chiếc giày và thấy ngay một auto-collant Hoa Mai. Tôi giật mình ... đây đúng là đôi giầy của chính tôi. Tôi quyết định xuống cầu thang ngay, mang ngay đôi giày vào chân, thoát nhanh ra khỏi chùa, ra đường, vào xe và lái xe về nhà. Tôi đã tìm lại được đôi giày đã mất tại nơi nầy cách đây hơn 2 tháng ... và ngày hôm nay, cũng tại nơi nầy, đôi giày J.M. Weston mà con trai tôi đã tặng đang nằm lại trong đôi chân của tôi ... Quả thật THƯỢNG ĐẾ đã thương tôi và chứng giám cho lời cầu xin của tôi.

Qua sự việc tôi bị mất cắp một đôi giày và sau đó tìm lại được, tôi có những nhận xét và cảm nghĩ như sau xin phép trình bày:
* Sau khi mở bịch ny-lông và nhìn thấy ĐÚNG đôi giày của mình, vì phía bên trong của chiếc giày có vết tích đặc biệt do tôi làm dấu để kỷ niệm (Hoa-Mai). Đây là yếu tố quan trọng xác quyết cho chủ nhân của đôi giày. Có lẽ hình dấu nầy cũng tương đối đẹp đối với ông Bất Lương Nhân cho nên ông cũng giữ lại mà không xóa bỏ đi ... điều nầy may mấn cho tôi.

* Nếu như tôi ở lại chờ gặp ông Bất Lương Nhân để tranh luận về chủ nhân của dôi giày thì tôi lấy lý do gì để cho rằng đôi giày nầy là của tôi ... và nếu như ông Bất Lương Nhân lớn miệng, to tiếng cãi chày cãi cối cho rầng đôi giày nầy của ông ta trước mặt mọi người, thì chắc chắn tôi sẽ là người thua cuộc, vì khi ông Bất Lương Nhân giao bịch ny-lông nhờ tôi giữ giùm thì có những người đang đứng ở cầu thang nhìn thấy (mặc dù những người nầy không quen biết tôi và cả ông Bất Lương Nhân), nếu nhìn thấy thì chắc chắn có người sẽ đồng ý xác nhận ngay sự việc nầy.

* Việc tôi âm thầm rời khỏi chùa Khánh Anh, theo tôi, tôi đã hành động ĐÚNG, vì đối với một người tham lam, tiểu nhân thì tôi không nên hành động theo kiểu cách của MỘT NGƯỜI QUÂN TỬ.

* Tại sao ông Bất Lương Nhân không mang theo bịch ny-lông (trong đó có đôi giày) với mình vào trong toilette ?
- Có lẽ khu vực toilette không được rộng rãi, sạch sẽ ... ông Bất Lương Nhân sợ mang theo sẽ phải để bịch ny-lông dưới sàn nhà và sẽ dơ bẩn bịch ny-lông chăng ?
- Hay là ông Bất Lương Nhân đang ở trạng thái quá vội vã, cấp bách cho việc giải quyết tiểu tiện, ông Bất Lương Nhân muốn được rảnh tay mà giải quyết nhanh chóng việc tiểu tiện nầy !!!

* Tại sao ông Bất Lương Nhân không gửi bịch ny-lông nầy cho người khác mà lại gửi nó cho tôi, vì lúc bấy giờ cũng có rất nhiều người đang đứng ở khu vực cầu thang như tôi ?
Phải thành thật mà nói, lúc bấy giờ, tôi là người duy nhất đang đứng trong tư thế thoải mái, nhàn hạ, hai tay chắp lại buông thòng trước bụng, trong khi các người khác thì trên tay họ, hoặc cầm kinh, sách hoặc cầm nhang đèn, hoặc chắp tay theo kiểu trang nghiêm bái, xá trước ngực.
Tóm lại, tôi là người đáng được ông Bất Lương Nhân giao cho nhiệm vụ giữ dùm bịch ny-lông. Chắc đây ĐÚNG LÀ Ý TRỜI.

* Khi tôi vừa ra tới ngoài đường, mở cửa xe, vào xe, nổ máy, bắt đầu rồ ga chuyển bánh thì cũng là lúc tôi nghe một hồi chuông lớn và dài ở chánh điện báo hiệu buổi lễ ở chánh điện đã chấm dứt.

* Khi ông Bất Lương Nhân trở lại cầu thang và không thấy tôi, ông Bất Lương Nhân sẽ nghĩ ngay trong đầu rằng : đôi giày của mình đã bị ăn cắp bởi một thằng bất lương khốn nạn nào đó rồi ... vì có lẽ lúc bấy giờ ông ta nghĩ rằng đôi giày J.M. Weston là đôi giầy của chính ông ta. Và có lẽ, sau một phút suy nghĩ tiếp theo, ông Bất Lương Nhân sẽ suy nghĩ lại rằng " trước đây, mình đã ăn cắp đôi giày nầy của người khác và hôm nay mình bị một thằng khác nó ăn cắp theo sau đó. u cũng là số mệnh và Ý Trời ".

* Ông Bất Lương Nhân sẽ buồn bã cùng mọi người lần lượt xuống nhà lấy giày dép và chờ ăn cơm chay trưa. Nhưng trường hợp của ông ta thì phải chắc chắn ngồi chờ cho tất cả mọi người lấy đúng giầy dép của họ ... và sau cùng, đôi giày duy nhất còn lại không có chủ nhân của nó thì lúc bấy giờ ông ta mới dám đút chân vào mang ... và đây là việc mà tôi đã phải làm cách đây hơn 2 tháng ... và hôm nay tới phiên ông Bất Lương Nhân phải làm.

* Điều thú vị và bất ngờ là ông Bất Lương Nhân sẽ phải mang vào chân chính đôi giày của mình mà cách đây hơn 2 tháng mà ông ta đã để lại khi ăn cắp đôi giày của người khác, đó là đôi giày J.M. Weston của tôi. Và hôm nay, chính chủ nhân của đôi giày J.M. Weston đã lấy lại được đôi giày của ông ấy và để lại đôi giày cũ của ông Bất Lương Nhân cho ông Nhân ...ĐÚNG LÀ TRỜI CAO CÓ MẮT ... và TÔI TIN CÓ THƯỢNG ĐẾ.

* Trước khi viết câu chuyện nầy lên các trang giấy, Tôi có kể câu chuyện nầy với một vài người bạn để nghe cho vui. Có người tỏ ra tức giận và nói : Tìm lại được đôi giày của mình trong tay, sao ông không mang luôn về nhà đôi giày cũ của thằng ăn cắp cho nó đi chân không về nhà cho nó đáng đời nó.

* Tôi có thưa rằng :
- Chính tôi cố tình để lại đôi giày cũ cho chủ nhân của nó.
Chắc chắn nó sẽ không đi chân không về nhà đâu ông bà ơi ... nhà chùa tưởng nó bị người khác ăn cắp giầy, sẽ thương và tội nghiệp cho nó mượn một đôi giày khác để mang về nhà.
Riêng phần tôi, tìm lại được đôi giầy của mình là một điều may mắn, nhưng nếu tôi mang luôn đôi giầy của người khác về nhà thì tôi sẽ mang tội ăn cắp giầy của người khác. Và điều quan trọng hơn cả là nếu như ông Bất Lương Nhân (tức thằng ăn cắp) không thấy và lấy lại đôi giầy của chính mình thì nó sẽ nghĩ rằng (như tôi đã trình bày ở trên). Trước đây, nó ăn cắp một đôi giầy của một người nào đó, và bây giờ nó bị một thằng ăn cắp khác lấy đôi giày nầy tiếp theo thôi, chứ nó không nghĩ rằng chủ nhân của đôi giầy bị nó ăn cắp ... nay đã lấy lại được đúng đôi giày của mình ... Bất Lương Nhân phải hiểu và biết điều đó.

Ba-Lê, ngày 22 tháng 8 năm 2020.
* Nguyễn Vũ Huy Phong.
- Bài viết nầy cách đây hơn 10 năm tôi đã có viết ... và hôm nay xin được viết lại lần thứ hai.
(Nguyễn Văn Xuyên Chuyển)

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Những Chiếc Cà Vạt Và Những Kỷ Niệm Khó Quên Trong Đời


Kính thưa quý vị, quý thân hữu, quý anh chị bạn bè và thưa các bạn trẻ thân mến.
- Tôi nghĩ rằng : trong cuộc đời làm người, chúng ta, chắc chắn ai cũng có ít nhiều kỷ niệm khó quên trong cuộc đời của mình ... có những kỷ niệm vui và cũng có những kỷ niệm buồn. Trong những kỷ niệm vui buồn đó, có những kỷ niệm mà chúng ta sẽ nhớ hoài, khó quên và thường hay nhớ tới.

- Riêng cá nhân Tôi, tôi cũng có ít nhiều kỷ niệm vui buồn khó quên trong đời. Hôm nay, ngồi suy tư và nhớ lại những kỷ niệm vui buồn của đời mình. Tôi nhìn một tấm ảnh treo trên tường, đối diện với chiếc ghế sa-lông dài mà Tôi đang ngồi, Tôi nhìn thấy một tấm ảnh mà Tôi chụp chung với vợ của Tôi và trong tấm ảnh nầy Tôi có mang một chiếc cà-vạt (một chiếc cà-vạt bình thường trong những chiếc cà-vạt mà Tôi hiện đang có được). Tự nhiên làm Tôi nhớ lại những chiếc cà-vạt mà Tôi được nhiều người thân, quen đã tặng cho trong cuộc đời của mình ... và mỗi một chiếc cà-vạt là một kỷ niệm.

- Hiện tại, Tôi có được 67 chiếc cà-vạt, trong đó có 58 chiếc do chính Tôi đích thân bỏ tiền ra mua và 9 chiếc còn lại là được các người thân trong gia đình và các bạn bè thân quen tặng cho.

- Xin phép được thú thật : Tôi có 2 cái đam mê, đó là thích sưu tầm về CÀ-VẠT và TEM THƠ và cũng xin được phép nói thêm là hiện nay Tôi đang có trong tay hơn 10.000 con tem cũ xưa đủ loại của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có những con tem cũ của niên đại giữa năm 1800 và đầu niên đại của năm 1900. (Xin được thưa thêm, đa số là tem thơ của Việt Nam ... và quý vị bạn bè, thân hữu và đồng hương Việt Nam ở Pháp hoặc ở khắp mọi nơi trên Thế Giới thích SƯU TẦM về TEM THƠ CŨ, muốn xem, muốn thưởng lãm tem thơ cũ, xin cứ liên lạc trực tiếp với cá nhân Tôi, Tôi sẳn lòng mời đón quý vị đến tận tư gia để xem ... quý vị ở Pháp thì quá dễ dàng, còn quý vị ở các quốc gia (ngoài nước Pháp), nếu có dịp đến thăm nước Pháp thì cứ xin liên lạc trước (qua Email), Tôi sẽ hẹn và mời đón quý vị đến xem, hoàn toàn không có gì trở ngại, nhất là đối với quý vị đồng hương Việt Nam đam mê về Tem Thơ Cũ và đó cũng là một điều rất vinh dự và hân hạnh cho cá nhân Tôi.

- Riêng về những chiếc cà-vạt được tặng cho, đối với Tôi : Thật đúng là may mắn, hạnh phúc, vui sướng với những kỷ niệm khó quên trong đời. Tôi xin phép lần lượt kể lại và xin mời quý vị bỏ ra một chút ít thời giờ đọc giải trí cho vui. Chân thành cám ơn.

* KỶ NIỆM về CHIẾC CÀ-VẠT MANG SỐ 1:


- Năm 17 tuổi, Tôi thi đậu bằng cấp Tú Tài Phần Thứ Nhứt Ban B (tức là Ban Toán). Sau khi xem xong kết quả, thấy có tên của mình được thi đậu, Tôi vội vã rời Sài-Gòn trở về quê huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương (tên cũ là Thủ Dầu Một) để báo tin vui cho gia đình, nhất là đối với cha của Tôi. Ngày rời quê huyện xuống Sài-Gòn chuẩn bị cho kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhứt ... trước khi đi, cha của Tôi có gặp riêng Tôi trong thư phòng của ông (phòng làm việc tại tư gia), ông đã nghiêm mặt nói với Tôi như sau : " Ba rất tin tưởng ở con, ba nghĩ rằng kỳ thi nầy con sẽ thi đậu, mình siêng năng trong việc học hành, học hành cẩn thận đầy đủ, học đúng các bài trong chương trình cũng như làm đúng và đầy đủ các bài tập mà các thầy giảng dạy yêu cầu và cộng thêm lòng tự tin của mình thì chắc chắn mình sẽ thi đậu. Ba nghĩ con là đứa học trò như thế. Ba chúc con thi đậu, khi nào có kết quả tốt thì về cho ba má hay nghe con ".

- Tôi về đến nhà thì đã hơn 4 giờ chiều. Vừa bước vào nhà, Tôi gặp ngay cô em gái kế của tôi, em của Tôi nhìn Tôi và hỏi ngay một câu thật ngắn, gọn như sau : "Anh thi sao rồi, đậu hay rớt ? ". Tôi vui vẻ mĩm cười trả lời : " Anh đã thi đậu, ba má đâu rồi, có ở nhà không ? ". Em của Tôi trả lời : " Ba đến chơi nhà bác tư Sua, còn má thì đi đánh bài tứ sắc ở nhà bà xã Bến ". Nghe xong, Tôi nói ngay : " Em đến nhà bà xã Bến báo cho má biết là anh đã thi đậu, còn anh thì đến ngay nhà bác tư Sua báo tin cho ba biết để ba vui ... Em đi ngay đi ".

- Sau bữa cơm tối của gia đình, Tôi đến thư phòng của cha tôi để gặp cha mẹ của Tôi. Thư phòng là một gian phòng có kích thước trung bình, nằm phía bên phải của phòng khách to của gia đình. Từ cửa bước vào, phía trong cùng bên trái là một bàn làm việc với 2 chiếc ghế đẩu có lưng dựa. Phía bên phải, trong cùng, sát tường là một chiếc ghế sa-lông dài, phía trước là một cái bàn tròn với 2 chiếc ghế sa-lông đơn, nhỏ ở hai bên phải, trái.

- Tôi mở cửa bước vào thư phòng và đến đứng trước chiếc bàn tròn, đối diện với cha mẹ của Tôi, cả 2 người đang cùng ngồi trên chiếc ghế sa-lông dài sát tường. Tôi nhìn thấy trên chiếc bàn tròn có 2 gói quà được bao bọc bằng loại giấy kiếng mõng, trong và màu đỏ, cột bằng những sợi dây nơ, mõng màu vàng: một gói quà nhỏ, dẹp hình chữ nhựt và một gói quà to, hơi cao, hính khối vuông.

- Khi Tôi đến đứng ngay trước chiếc bàn tròn thì cả cha mẹ của Tôi cùng đứng dậy. Cha của Tôi cầm ngay gói quà nhỏ hình chữ nhựt, còn mẹ tôi thì vẫn đứng yên. Cha tôi nói : " Mừng cho con thi đậu Tú Tài. Ba tặng cho con một cái cà-vạt, còn mẹ thì tặng cho con một bộ quần áo mới, áo sơ-mi trắng và quần tây đen dài ".

- Cha tôi đưa gói quà nhỏ cho Tôi và liền ngay say đó thì mẹ tôi cầm gói quà to lên đưa cho Tôi và nói : " Má cũng mừng cho con thi đậu Tú Tài ". Tôi để gói quà nhỏ lên trên gói quà lớn rồi cầm bằng 2 tay ở hai đầu và nói : " Con xin cám ơn ba má đã mừng cho con thi đậu ". Sau lời cám ơn của Tôi thì cha tôi nói : " Bây giờ con đã lớn rồi, Ba tặng cho con một cái cà-vạt để con đeo cho được trang trọng ở tuổi trưởng thành. Trong những dịp lễ, Tết hay tiệc tùng thì con nhớ luôn luôn chỉnh tề và đeo cà-vạt nghe con. Ba má nghĩ rằng đây là cái cà-vạt đầu tiên trong đời của con, đánh dấu con là người lớn. Bây giờ con lên lầu, thay quần áo mới có cái cà-vạt trên cổ rồi xuống đây cho ba má nhìn con coi con ra sao ... thôi con đi đi ".

- Tôi trở lại thư phòng với bộ quần áo mới có cái cà-vạt đeo cổ. Đứng nhìn Tôi, cha mẹ tôi có vẻ thật sung sướng hài lòng. Cha tôi nói : " Đẹp lắm con, trang trọng lắm con. Đúng là bây giờ con đã lớn, đã trưởng thành rồi. Ngày mai, ba má sẽ đưa con xuống chợ Thủ và sẽ đãi con một bữa ăn ở nhà hàng Nam-Bắc-Hiệp. Bữa nay từ Sài-Gòn về chắc con đã mệt lắm rồi. Thôi con lên lầu, về phòng nghỉ ngơi đi, ngày mai mình sẽ xuống chợ Thủ ". Cha tôi đã tặng cho Tôi một chiếc Cà-Vạt và đó là " CHIẾC CÀ-VẠT ĐẦU TIÊN TRONG ĐỜI CỦA TÔI « .

* KỶ NIỆM về CHIẾC CÀ-VẠT MANG SỐ 2 :

- Lúc bấy giờ, Tôi đã hơn hai mươi tuổi, Tôi đã là một thanh niên ở tuổi trưởng thành. Khi còn trẻ, khi còn đi học ở bậc trung học, Tôi luôn luôn có một ước mơ là sau nầy sẽ được làm thầy giáo, được đi dạy học. Thi đậu xong Tú Tài Toàn Phần Ban Toán, Tôi thi vào Đại Học Sư Phạm nhưng không đậu. Tôi ghi tên theo học ở Đại Học Khoa Học. Vì thích dạy học cho nên Tôi vừa đi học vừa xin dạy học ở các trường trung học Bán Công và Tư Thục ở phạm vi tỉnh Gia-Định và tỉnh Bình-Dương.

- Tại tỉnh Bình-Dương, Tôi xin dạy Toán cho trường Trung Học Tư Thục Văn-An ở bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp (các lớp Đệ Thất, Lục, Ngũ và Tứ). Trường Văn-An là nơi mà trước đây Tôi đã từng theo học và trong thời gian học ở đây Tôi là một học sinh chăm học và nổi tiếng là một học sinh giỏi và cá nhân Tôi đã được thầy Nguyễn Văn An (1), vừa là chủ nhân vừa là hiệu trưởng của trường rất quý mến và có nhiều cảm tình ... cho nên khi Tôi đến xin dạy học ở bổn trường thì được thầy An vui lòng chấp thuận ngay.

- Tại trường Văn-An, đa số các giáo sư chính thức của trường là các thầy lớn tuổi, nổi tiếng và nhiều kinh nghiệm ở Sài-Gòn được thầy An mời lên dạy như các thầy Hoàng Xuân Việt, Thẩm Thệ Hà, Nguyễn Việt Liêm, Trần Hồng Quân, Vũ Ngọc Đại ... Riêng phần Tôi, Tôi là một Giáo Sư trẻ tuổi nhất của trường, còn đang đi học và xin được dạy thêm cho nên thầy An thu xếp cho Tôi dạy rất ít giờ và thường dạy thế khi có các thầy bất ngờ vắng mặt.

- Năm nay là niên học thứ 2 (đối với Tôi), Tôi được dạy ở trường Văn-An. Tôi phụ trách môn Toán của lớp Đệ Tứ A với tổng số 30 học sinh gồm 20 nam sinh và 10 nữ sinh. Đa số các học sinh, nam cũng như nữ đều ở vào lứa tuổi 15, 16 tuổi. Nhưng có một điều đặc biệt là trong số 10 nữ sinh, có 2 cô nữ sinh ở vào lứa tuổi 18 tuổi ... chắc là 2 cô nữ sinh đặc biệt nầy thuộc vào thành phần không chăm học, học kém và học trễ muộn.

- Vào khoảng hơn 2 tháng kể từ khi niên học bắt đầu, vào một ngày học thường lệ trong tuần, khi giờ học vừa chấm dứt, Tôi sửa soạn rời khỏi lớp học thì có một nữ sinh, một trong 2 cô nữ sinh 18 tuổi của lớp Đệ Tứ A của trường Văn-An, lớp học mà Tôi phụ trách môn Toán, cô nữ sinh mang tên Phạm Thị Ngọc Lan, đến ngay trước bàn viết của giáo sư, để lên bàn một gói quà nhỏ, dẹp mõng, được bao bọc bằng một tờ nhựt báo và cô tự nhiên nói với Tôi như sau : " Thầy quê ở Bến-Cát phải không thầy ? Gia đình của ba má em trước đây cũng ở Bến-Cát. Tuần rồi, em có về Bến-Cát thăm bà con. Có một người bà con của em ở Bến-Cát nói có quen biết thân tình với thầy và nhờ em mang gói quà nầy đến cho thầy ". Nói xong, cô nữ sinh vội vã bỏ đi, không cho Tôi được hỏi hay nói một lời nào ... Tôi thật chới với bất ngờ, buộc lòng phải bỏ ngay gói quà vào cặp sách và rời khỏi lớp học.

- Về nhà, Tôi mở gói quà ra xem và thấy : " có một chiếc cà-vạt đề tặng cho Tôi và một bức thư của chính cô nữ sinh tên Ngọc Lan viết cho Tôi với nội dung là những lời thú nhận tình cảm yêu thương dành cho Tôi và xin hẹn được gặp Tôi vào lúc 3 giờ chiều ngày chủ nhựt sắp tới tại nhà hàng Thắng Cảnh ở Chợ Búng ". Và hôm nay là ngày thứ sáu trong tuần.

- Lại một lần nữa, đầu óc của Tôi choáng váng bấn loạn, không thể ngờ có một cô nữ sinh quá bạo gan dám tỏ tình một cách công khai đối với thầy giáo của mình. Ngồi một lúc, lấy lại bình tĩnh và Tôi suy nghĩ rằng : " Tôi sẽ hoàn toàn im lặng, không gặp Ngọc Lan và coi như không có chuyện gì xảy ra và Tôi cứ tiếp tục dạy học bình thường ". Nhưng sau đó, Tôi suy nghĩ lại : " Không thể im lặng được, Tôi phải gặp Ngọc Lan và chính thức trình bày cho cô ta hiểu là Tôi chỉ xem cô ta là một người học trò, không có tình cảm riêng tư gì cả và khuyên cô ta nên lo học hành và đừng bao giờ nghĩ gì đến Tôi nữa
"
- Phải thành thật và công bằng mà ghi nhận rằng : " Cô nữ sinh Ngọc Lan là một cô gái rất đẹp, có khuôn mặt chữ điền, mắt to, mũi cao, miệng hình trái tim, hai hàm răng trắng đều, có làn da trắng hồng, có mái tóc dài, đẹp, có dáng, tướng vừa cao vừa cân đối ... trông có vẻ hiền hậu duyên dáng ". Nếu được chấm điểm về sắc đẹp mà Tôi là giám khảo thì Ngọc Lan ở vào điểm " Ưu Hạng ".

- Nhưng hiện tại ở vào địa vị giáo sư của Tôi và địa điểm là trường Văn-An, Tôi không thể hay nói đúng hơn Tôi không dám chấp nhận lời tỏ tình của cô nữ sinh Ngọc Lan dành cho Tôi. Nếu như Tôi chấp nhận, chuyện tình nầy được đồn đãi ra trong trường, thầy An sẽ không chấp nhận, không hài lòng và không tha thứ cho Tôi ... và Tôi cũng không muốn làm buồn lòng thầy An, một người thầy đã thương mến, tin cậy và luôn tận tình giúp đở cho Tôi.

- Hiện nay, Tôi cũng đang có nhiều người bạn gái ... và những người nầy cũng đang ở vào lứa tuổi như Tôi, tức là họ cũng đã trưởng thành. Những người nầy cũng đẹp, đã ra đời, có cuộc sống riêng tư, có nghề nghiệp ổn định ... và trong số những người nầy, theo Tôi nghĩ, có thể, cũng có người đã có nhiều tình cảm yêu thương dành cho Tôi, nhưng họ chưa chính thức tỏ tình cùng Tôi, vì họ thấy Tôi có vẻ ham vui, lơ lửng con cá vàng, không tỏ tình cùng ai. Thú thật, Tôi chưa cảm thấy mình yêu thương ai mà chỉ muốn được tự do vui chơi và xem mọi người như bạn ... vì tự cảm thấy mình còn trẻ và yêu đời bên cạnh những Người Đẹp như các cô : Anh Thư, y tá của bệnh viện Sài-Gòn, Kim Ngân, giáo viên ở tỉnh Gia-Định, Thiên Vân, nhân viên cơ quan Cords Hoa Kỳ ở tỉnh Biên Hòa, Minh Thu, thư ký đồn điền cao su Suối Tre tỉnh Long Khánh, Mộng Lành (2), nhân viên bán vé ở trường đua Ngựa vùng Phú Thọ, Sài-Gòn và …

Hình Xuyên với chiếc cà-vạt đầu tiên trong đời (Hàng đứng phía sau, góc phải).

- Nếu như Tôi gặp Ngọc Lan ở một nơi nào khác không phải là trường Văn-An và giữa Tôi và Ngọc Lan không có sự liên hệ trong tình thầy trò thì Tôi có thể quen và xem Ngọc Lan như những người bạn gái vừa kể và trong tương lai có thể trở thành một người tình.

Hình Xuyên (bên phải), trong thời gian đi dạy học, chụp cạnh ông Lê Văn Tao ở Bến Cát.

* KỶ NIỆM về CHIẾC CÀ-VẠT MANG SỐ 4:

- Trong một chuyến du lịch tại quốc gia Tây Ban Nha (Espagne), nước nầy nằm ở phía Nam của nước Pháp, có thời tiết thường nóng, ấm áp và nhiều thắng cảnh cùng các bờ biển tuyệt đẹp. Cuộc du lịch bằng xe hơi nhà loại nhỏ gồm 2 vợ chồng chúng tôi và 2 con (1 gái và 1 trai) ... Cuộc du hành gần 2000 cây số từ Ba-Lê đến tận miền Nam của đất nước Tây Ban Nha và chúng tôi cư ngụ tại nhà nghỉ mát mùa hè của cha mẹ của vợ tôi tại ngoại ô của thành phố Alicante.

- Trong chuyến du lịch nầy, thời gian 2 tuần lễ vui chơi thăm viếng lại rơi đúng vào lúc có một ngày là Ngày Sinh Nhựt thứ 40 tuổi của Tôi. Bữa tiệc sinh nhựt của Tôi được tổ chức thật đơn giản, ấm cúng bằng một bữa ăn tối tại một nhà hàng của người dân bản xứ Tây Ban Nha ... vợ và 2 con của Tôi chúc mừng cho Tôi : vợ tôi tặng 1 cái bánh sinh nhựt và 2 con thì tặng 1 chiếc cà-vạt chính gốc của xứ Tây Ban Nha và đây là chiếc cà-vạt thứ 4 mà Tôi được tặng trong đời.

* KỶ NIỆM về CHIẾC CÀ-VẠT MANG SỐ 5:

- Vào tháng 6 năm 1986, cô em gái thứ năm của Tôi cùng chồng và 2 con từ Hoa-Kỳ sang Pháp thăm gia đình chúng tôi. Một tuần lễ thăm viếng thủ đô Ba-Lê và nước Pháp và trong vòng 2 tuần lễ cùng gia đình chúng tôi thực hiện một chuyến du lịch Âu Châu qua các quốc gia Tây Âu như Lục Xâm Bảo (Luxembourg), Vương Quốc Bĩ (Belgique), Hòa Lan và Đức Quốc.

- Trong dịp nầy, em gái của Tôi có cho biết : Hồ sơ bảo lãnh cha mẹ và các em của chúng tôi từ Việt Nam sang Hoa-Kỳ theo diện ODP đã thực hiện nhiều năm rồi mà không có kết quả tốt đẹp nào và phía bên nhà Việt Nam cho biết vì hồ sơ làm từ chính quyền địa phương tại quê huyện Bến-Cát tỉnh Bình Dương nên gặp rất nhiều khó khăn mặc dù đã tốn rất nhiều tiền qua nhiều trung gian quen biết giúp đỡ cho hồ sơ xuất ngoại. Em gái của Tôi có vẻ thất vọng và hỏi phần tôi có phương cách gì không

- Giữa năm 1989, thân phụ của chúng tôi vì tuổi già sức yếu và bệnh tật nên qua đời. Đầu năm 1991, thân mẫu và 6 người em của Tôi (gồm 1 trai và 5 gái) được xuất cảnh sang Hoa-Kỳ theo diện ODP/ Sum Họp Gia Đình.

- Tháng 8 năm 1992, Tôi cùng vợ và 2 con sang Hoa-Kỳ thăm Má(4) và các em của Tôi tại tiểu bang California cùng thăm viếng bạn bè, đồng hương Việt Nam trong vòng 1 tháng. Má và các em của Tôi đã đón tiếp gia đình chúng tôi rất vui vẻ nồng hậu chân tình ... mua nhiều quà tặng của xứ Cờ Hoa tặng cho mọi người trong gia đình chúng tôi. Riêng cá nhân Tôi, ngoài những quà tặng bình thường, đặc biệt là má tôi, bà đã tặng riêng cho Tôi 2 món quà làm Tôi ngạc nhiên và sung sướng hài lòng vô cùng, đó là : " 1 chiếc Cà-Vạt với hình dạng lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ VIỆT NAM CỘNG HÒA và 1 GÓI BẠC chứa 1 TRIỆU và 200 NGÀN ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA còn mới toanh, gồm 2 loại giấy bạc 1000 đồng (màu xanh nhạt có hình Dinh Độc Lập và 3 Con Voi có người cỡi) và 500 đồng (màu đỏ có hình Dinh Độc Lập và Con Cọp).
*** Ghi Chú Thêm : (Tổng Cộng: 1 Triệu và 200.000 đồng).

Xuyên với chiếc cà-vạt thứ 5 do thân mẫu tặng cho ở Hoa Kỳ năm 1992.

- Giấy bạc 1000 đồng, gồm có 700.000 đồng với 7 xấp, mỗi xấp có 100 tờ giấy bạc 1000 đồng.
- Giấy bạc 500 đồng, gồm có 500.000 đồng với 5 xấp, mỗi xấp có 200 tờ giấy bạc 500 đồng.

* KỶ NIỆM về CHIẾC CÀ-VẠT MANG SỐ 6:

- Tại Pháp Quốc, trong sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tị Nạn Cộng Sản có rất nhiều tổ chức, hội đoàn,nhóm sinh hoạt qua nhiều mục đích khác nhau như chính trị, xã hội, từ thiện, văn hóa, văn nghệ, ái hữu , đồng hương ... chúng tôi có một Nhóm sinh hoạt nhỏ bé, hạn hẹp ít người (khoảng 30 người) mang tên Nhóm Thân Hữu Thiên Thai và tư gia của chúng tôi là địa điểm sinh hoạt của nhóm. Nhóm Thân Hữu Thiên Thai có mục đích sinh hoạt ái hữu, họp mặt, ca nhạc văn nghệ ... và đặc biệt trong nhóm có một anh bạn trẻ tên là Nguyễn Hữu Hào (5). Anh Hào có biệt tài là khiêu vũ rất đẹp cho nên mọi người trong nhóm nhờ anh Hào hướng dẫn, dạy cho mọi người học Khiêu Vũ ... và riêng anh Hào thì thường hay tham dự các chương trình ca nhạc, khiêu vũ tại các nhà hàng, phòng trà có ăn uống ca nhạc khiêu vũ tại Ba-Lê, nhất là ở quận 13 trong khu vực Cộng Đồng Á-Châu.

Xuyên với chiếc cà-vạt thứ 3 trong ngày Hôn Lễ 1.12.1968 do Hoàn Châu (Vợ) tặng.
Xuyên với chiếc cà-vạt thứ 4 do 2 Con tặng nhân Kỷ Niệm Sinh Nhật 40 tuổi.
Kỷ niệm tại Nhóm Thiên Thai, Nguyễn Hữu Hào tặng Xuyên chiếc cà-vạt mang số 5.
Từ phải sang trái: Phạm Văn Đức, Hào, Nguyễn Cao Đường (phía sau), Xuyên, Tôn Thất Phú Sĩ và Nguyễn Đình Châu.

- Như đã trình bày từ đầu : trong cuộc đời của Tôi, có tổng cộng 67 chiếc cà-vạt với 9 chiếc được tặng và 58 chiếc đích thân mua bằng tiền của mình.

* NHỮNG PHỤ CHÚ ĐẶC BIỆT:

- (1) : Thầy Nguyễn Văn An:
- Thầy Nguyễn Văn An sinh năm 1903, tổ phụ gia đình của thầy An gốc ở tổng Bình Hưng huyện Bến Cát tỉnh Thủ Dầu Một (tên mới sau nầy là tỉnh Bình Dương). Năm 1923, thầy An sang Pháp du học, năm 1926 thầy An trở về nước và làm Giáo Viên tại trường Tiểu Học Thủ Dầu Một, rồi thầy làm Thanh Tra, Hiệu Trưởng và sau cùng thầy An làm Trưởng Ty Tiểu Học tỉnh Bình Dương.
- Năm 1958, thầy An được huu trí ... nghỉ ngơi hơn 1 năm và sau đó thầy An mở một trường Trung Học Tư Thục bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp tên là trường Văn An với các lớp đệ thất, đệ lục, đệ ngũ và tứ. Thầy An vừa là Chủ Nhân vừa là Hiệu Trưởng của trường Văn An. Đồng thời trong thời gian nầy thầy An ứng cử chức vụ Nghị Viên Hội Đồng tỉnh Bình Dương ... thầy An đắc cử Nghị Viên và sau đó được bầu làm Chủ Tịch Hội Đồng tỉnh Bình Dương.

- Thầy An có 2 người con trai : người con thứ nhất là anh Nguyễn Trường Xuân, sinh năm 1930 và năm 1949, anh Xuân sang Pháp du học về ngành Âm Nhạc tại Học Viện Âm Nhạc Quốc Gia Ba-Lê. Năm 1954, anh Xuân trở về nước, dạy âm nhạc và viết sách về âm nhạc với bút hiệu là Nam Phong. Giáo Sư Nam Phong dạy nhạc và xuất bản sách về nhạc tại Sài-Gòn từ năm 1954 cho đến những năm sau nầy kể cả từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Người con thứ hai là anh Nguyễn Trung Thu sinh năm 1932, anh Thu theo học và tốt nghiệp trường Quốc Gia Sư Phạm Sài-Gòn. Anh Thu làm Giáo Viên rồi Thanh Tra và Hiệu Trưởng của trường Tiểu Học Nam Tỉnh Lỵ Bình Dương cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

- Tại tỉnh Bình Dương vào thập niên 1950, có 1 trường Trung Học Công Lập là trường Trung Học Trịnh Hoài Đức, hiệu trưởng là thầy Trương Văn Di, có các trường trung học tư thục như các trường : trường Nguyễn Trải, hiệu trưởng là thầy Nguyễn Tiên Sanh, trường Lý Thường Kiệt, sau đổi tên là trường Nghĩa Phương; hiệu trưởng là thầy Lê Bích, trườngTrí Đức, hiệu trưởng là thầy Lê Văn Ngữ ... và trường Trung Học Văn An được mở ra sau cùng so với các trường vừa kể trên. Và khi trường Văn An được thành lập thì cá nhân Tôi là một trong những học sinh của lớp Đệ Ngũ của bổn trường.

- Để kỷ niệm cho trường Văn An mới thành lập, thầy An quyết định dành một " Giải Thưởng Đặc Biệt " như sau : sau Đệ Nhất Tam Cá Nguyệt tức là sau 3 tháng đầu niên học, 4 học sinh của 4 lớp thất, lục, ngũ, tứ có số điểm trung bình cao nhất tức là được xếp hạng Thứ Nhất của lớp thì sẽ được học Miễn Phí, tức là không đóng tiền học phí cho 2 tam cá nguyệt còn lại của năm học. Riêng tại lớp Đệ Ngũ của chúng tôi, Tôi may mắn được phần thưởng nầy ... và cũng kể từ đó Tôi được thầy An chú ý đặc biệt riêng đến cá nhân tôi.

- Lớp đệ ngũ của chúng tôi có tổng cộng 40 học sinh với 18 nữ sinh và 22 nam sinh. Trong cuộc đời làm người và trong cuộc đời đi học của tôi, tôi có thể nói : đây là 1 lớp học đã để lại cho Tôi nhiều kỷ niệm đáng nhớ sâu đậm nhất mà hiện giờ (tức là khi đang ngồi viết những dòng chữ nầy), đang ở và lứa tuổi hơn 70 đang bước vào tuổi 80, tôi còn nhớ đầy đủ tên, họ của 40 học sinh của lớp học thân yêu nầy.

- Hôm nay Tôi xin phép được nhắc lại một vài sự kiện và một vài nhân vật đáng nhớ của lớp học nầy : Bọn nam sinh của chúng tôi bầu ra 4 Người Đẹp mà chúng tôi gọi là Tứ Quý, đó là " nhất Nhạn nhì Dung tam Hằng tứ Rắc " . Nhạn tức là Trần Hồng Nhạn, dáng người cao, da trắng, có khuôn mặt thật đẹp, giọng nói nhỏ nhẹ. Dung tức là Nguyễn Ngọc Dung, còn được gọi là Dung Chùa Bà, vì nhà ở gần Chùa Bà Thiên Hậu, dáng người thấp, khuôn mặt thật duyên dáng hiền lành, đặc biệt luôn luôn có nụ cười trên môi và hòa nhã với mọi người. Hằng tức là Phạm Nguyệt Hằng, là một người Việt Nam chánh tông, nhưng nhìn thoáng qua thì thấy có một khuôn mặt thật đẹp, mắt to, mũi cao của một người con gái Á - Âu, quê quán ở Bến Cỏ tức Phú Hoà Đông. Rắc tức Nguyễn Thị Rắc, một trong những nữ sinh thuộc hàng lớn tuổi của lớp học mà chúng tôi gọi là Chị Rắc, nhà ở Xóm Đạo (Thiên Chúa) ở đường Ngô Quyền, chị Rắc dáng người cao, da trắng hồng, mũi cao, hai hàm răng trắng, đều và vui cười thường xuyên ... chi Rắc thường đi cặp với chị Phùng Ngọc Hữu, nhà ở phía sau Nhà Thờ Ngã Sáu, mặt luôn luôn đỏ hồng và trên mặt có một cái bớt đen.

- Sau Biến Cố Đau Thương ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những năm sau đó : Trần Hồng Nhạn sống định cư ở Úc-Châu, nay đã qua đời (Tôi đã có nói chuyện qua điện thoại với Nhạn khi Nhạn còn sống). Nguyễn Ngọc Dung sống định cư ở Hoa Kỳ, tiểu bang California ... cá nhân Tôi có gặp Dung và gia đình nhiều lần ở Hoa Kỳ cũng như ở Pháp khi Tôi sang Mỹ thăm gia đình và khi vợ chồng Dung có dịp du lịch Âu-Châu và đặc biệt tại Ba-Lê và hiện nay chúng tôi vẫn còn liên lạc với nhau. Phạm Nguyệt Hằng và chị Nguyễn Thị Rắc thì cá nhân tôi hoàn toàn không biết tin tức. Chị Phùng Ngọc Hữu (chồng của chị Hữu là anh Mão, Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia), anh chị sống định cư tại Hoa Kỳ, tiểu bang Arkansas, Tôi đã có dịp nói chuyện với anh chị qua điện thoại.

- Riêng phía nam sinh, chúng tôi không chính thức bầu ra Võ Lâm Ngũ Bá hay Tứ Đại Anh Hùng như Nhóm Tứ Quý của nữ sinh. Thằng Ngô Văn On (quê quán ở tỉnh Bình Long), nó ngồi cùng bàn và ngồi giữa Tôi và thằng Dương Quang Thọ, nó nói: 2 thằng tụi bây có thấy không, lớp học tụi mình có 3 thằng Thầy Đời và 1 thằng Mặt Thẹo Bắn Chim cũng đủ làm cho lớp học náo loạn rồi ... đúng là Tứ Quái như thằng Ngọc thầy chùa, thằng Sơn triết gia, thằng Thành thi sĩ và thằng Trí mặt thẹo. Lời của thằng On được anh em nam sinh nháo nháo la hét nhất Ngọc nhì Sơn, tam Thành tứ Trí.

- Ngọc tức là Nguyễn Văn Ngọc, tướng người nhỏ con, thấp, ăn mặc bảnh bao, áo luôn luôn bỏ trong quần, tóc luôn luôn bôi dầu brillantine hiệu 3 số 5 và chải kiểu 7&3 ... mở miệng ra là nói về phật pháp, nói về ngũ giới cấm, tứ diệu đế, bát chánh đạo.

Xuyên khi còn đi học Đại Học và khi đi dạy học thì Hút Thuốc Là và Để Râu.

- Sơn tức là Từ Trọng Sơn, quê ở quận Lái Thiêu, gia đình có một tiệm ăn rất lớn ở khu vực chợ Lái Thiêu tên là Như Lan (tên của chị thằng Sơn). Thằng Sơn ăn mặc có vẻ bụi đời, luôn luôn đem các danh ngôn, tư tưởng, các lời khuyên dạy trong các sách Đắc Nhân Tâm ra thuyết giảng, khuyên dạy anh em trong lớp học.
- Thành tức là Nguyễn Văn Thành, quê ở Bà-Lụa, luôn luôn mặc áo sơ-mi trắng, trên túi áo có hình vẽ hoặc một đóa hoa, hoặc một con thuyền, hoặc một con chim hoặc hình một người con gái mặc áo dài với mái tóc thề ... thằng nầy lúc nào cũng đem các bài thơ ra bình luận nhất là những bài thơ tiền chiến.
- Trong những giờ giải lao của các buổi học, có 3 nhóm tụ 3 nơi nghe 3 thằng Ngọc, Sơn ,Thành thuyết giảng. Riêng thằng Trí, trên má phải có một vết sẹo to, dài cho nên anh em gọi nó là Trí Thẹo ... thằng Trí Thẹo, ít nói, lầm lì, nhưng nó có biệt tài, nó mua các giấy đủ các màu như trắng, đỏ, xanh, đen, vàng ... nó tự cắt và xếp thành những con chim nhỏ rất đẹp, nó ngồi ở cuối lớp học, nó phóng mấy con chim nhỏ bay tung tăng trong lớp trông rất đẹp và có lúc bay trên đầu các nữ sinh ... và nó nhiều lần bị thầy An bắt gặp và đem lên văn phòng hiệu trưởng xử phạt.

- Nhà của thằng Trí ở xã Thới Hòa quận Bến Cát. Gia đình giàu có, nhà ngói, gạch to gồm 3 gian rộng lớn ... nhà trồng nhiều cây ăn trái như mãng cầu, dừa,thơm, vú sữa ... nuôi nhiều gia súc như heo, gà, vịt và có nhiều đất ruộng nuôi trâu cày. Hàng ngày thằng Trí đạp xe đạp đi học và đi về trong ngày, nó xử dụng chiếc xe đạp hiệu Peugeot bằng nhôm của Pháp. Trong lớp học thằng Trí nó thân vói Tôi nhất, thường vào những chiều thứ sáu cuối tuần, nó chở Tôi về ghé nhà nó chơi, ăn uống và sau đó gia đình nó cho Tôi trái cây đủ loại rồi Tôi chia tay tiếp tục đón xe đò về Bến Cát.

- Có lần thằng Trí nó tâm sự với Tôi như sau : " Xuyên nè, Tao học hành bết quá, chắc sau nầy về nhà nối nghiệp ba má Tao lo việc cày ruộng chăn nuôi, trồng trọt cây trái qua ngày, tụi bây, mấy thằng học giỏi chắc là phải làm quan làm tướng ... sau nầy mầy tính làm gì hả Xuyên ? ". Tôi mĩm cười trả lời thằng Trí : " Má của Tao nói, gia đình của tao làm ăn buôn bán, giàu có, có tiền có bạc nhiều nhưng cực thân và mệt nhọc lo nghĩ nhiều lắm, má của tao muốn anh em tụi tao sau nầy làm Thầy Giáo, Cô Giáo cho được nhàn thân và tao cũng mong muốn làm thầy giáo sau nầy ".

- Sau nầy, thằng Ngọc nó trốn lính, nó vào tu ở chùa Hội Khánh và có pháp danh là Đại Đức Thích Tuệ Minh và nó đã viên tịch trước năm 1975 và được an táng, chôn phía sau chùa Hội Khánh. Thằng Sơn thì được miễn đi lính vì là con trai út và là con trai duy nhất trong một gia đình có cha mẹ trên 60 tuổi và có toàn là các chị gái, nó làm chủ tiệm ăn Mỹ Lan ở Lái Thiêu của gia đình. Thằng Thành thì đi theo Việt Cộng, làm Trưởng Ban KinhTài ở vùng Bà-Lụa, Phú Văn và đã bị lực lượng Thám Sát của tỉnh Bình Dương bắn chết ở phía sau Thánh Thất Cao Đài ở Phú Văn. Thằng Trí Thẹo đi theo Việt Cộng làm Trưởng Ban Biệt Động Ám Sát ở vùng Bến Cát, Bến Súc, Dầu Tiếng và bị chết trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 ở xã An Điền quận Bến Cát. Thằng Ngô Văn On là Trung Sĩ làm việc ở Phòng 2 tiểu khu Bình Dương ... ngày 30 tháng 4 năm 1975, nó cùng 4 người lính cùng làm việc với nó ở phòng 2, cùng tự sát tập thể bằng lựu đạn. Thằng Dương Quang Thọ là Trung Sĩ Hải Quân, nó có 2 người anh ruột là Thiếu Úy Biệt Động Quân Dương Văn Hồng và Hải Quân Trung Tá Dương Quang Sang ... Hiện nay, thằng Thọ là chủ nhân một cơ sở sản xuắt các nệm cao su bọc các yên xe gắn máy 2 bánh tại Thị Xã Thủ Dầu Một.

- Năm học lớp Đệ Ngũ của trường Trung Học Văn An, Tôi là một học sinh siêng năng chăm chỉ cho nên được thầy An chú ý đặc biệt. Có lẽ thầy An cũng muốn tạo thêm danh tiếng cho trường Văn An, thầy An khuyên Tôi cố gắng học thêm và thi nhảy bằng cấp Trung Học Đệ Nhất Cấp từ lớp Đệ Ngũ của trường. Thầy An nhờ các thầy dạy thêm các môn chính (Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ) riêng cho cá nhân Tôi và đồng thời thầy An âm thầm cho Tôi tiền riêng để mua sách về tự học thêm và biểu anh Nguyễn Trường Xuân tức Nhạc Sĩ Nam Phong về Sài-Gòn lo giấy tờ, học bạ cho Tôi thi nhảy bầng Trung Học Đệ Nhất Cấp và năm đó Tôi thi đậu và đậu với hạng Bình Thứ ... thầy An rất vui mừng và hãnh diện.

- Tôi từ Sài-Gòn về ngay trường Văn An báo tin vui cho thầy An biết tin Tôi đã thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp hạng Bình Thứ. Thầy An rất xúc động vui mừng, ra lệnh cho ông Tư, thư ký của trường báo tin vui cho toàn thể các lớp biết và ngay sau đó thầy An đưa Tôi đi ăn ở Nhà Hàng sang trọng Nam Bắc Hiệp ở trung tâm tỉnh Bình Dương.
- Một tuần lễ sau đó thầy An gặp lại Tôi và thầy hỏi Tôi một câu như sau : " Xuyên này, thầy thấy con là một học sanh thông minh và siêng năng, thầy thấy hiện nay đang có đà thuận lợi, con có dám niên học tới, con nhảy thẳng luôn vào lớp Đệ Nhị và thi ngay luôn Tú Tài 1 được không. Nếu con đồng ý, trong mấy tháng hè, thầy biểu thằng Xuân đưa con xuống Sài-Gòn ghi tên cho con học thêm Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ để chuẩn bị cho học lớp Đệ Nhị sắp tới và thằng Xuân sẽ thay mặt thầy ở Sài-Gòn lo việc ăn ở và mọi chi phí học hành của con ... con về thưa lại cho ba má con biết rồi xuống cho thầy biết để thầy tính nghe con. Tôi nghiêm trang lễ phép trả lời thầy An : "Dạ thưa thầy, con cám ơn thằy đã thương con và giúp đở con. Con xin hứa làm theo lời dạy của thầy và sẽ cố gắng học hành như mong ước của thầy. Con sẽ thưa lại với ba má con về ý muốn của thầy và con nghĩ rằng chắc chắn ba má con sẽ vui mừng về việc nầy ".

- Sau đó, Tôi thi đậu liên tiếp 2 bằng Tú Tài 1 và Tú Tài 2 và thi và Đại Học Sư Phạm nhưng bị rớt. Tôi ghi tên học Đại Học Khoa Học Sài-Gòn và đồng thời xin dạy học thêm môn Toán cho các trường trung học tư thục và bán công trong phạm vi tỉnh Gia-Định và tỉnh Bình Đương, bậc trung học đệ nhất cấp với các lớp thất, lục, ngũ, tứ ... và Tôi được thầy An cho dạy thêm ở trường Trung Học Văn An.

Hình của gia đình Xuyên với Vợ là Hoàn Châu và 2 Con là Trang Đài (gái) + Quân Trường (trai).

(2). NGUYỄN THỊ MỘNG LÀNH, nhân viên bán vé của Trường Đua Ngựa Phú Thọ, Sài-Gòn :
- Hồi còn trẻ (khoảng 16, 17 tuổi), Tôi thích đi xem xi-nê, đặc biệt là các phim có cao-bồi cỡi ngựa, bắn súng và nhìn những vó ngựa vượt rất nhanh trên các sa-mạc ... và từ đó, Tôi có ước mơ là muốn được nhìn tận mắt, trực tiếp những con ngựa thật ngoài đời chạy thật nhanh. Nhưng khi lên theo học ở bậc đại học và bắt đầu đi dạy học thêm thì Tôi lại ít có dịp xem xi-nê và các phim cao-bồi cỡi ngựa.
- Có một lần cuối tuần rỗi rảnh, Tôi đến thăm một anh bạn đồng nghiệp cùng dạy học với Tôi ở Bình Dương và nhà gia đình của anh bạn này ở cư xá Lê Đại Hành nằm đối diện với Trường Đua Ngựa Phú Thọ. Tự nhiên, anh bạn nầy đề nghị rủ Tôi đi xem đua ngựa ở trường Đua Ngựa Phú Thọ, Tôi đồng ý ngay và đó cũng là lần đầu tiên trong đời Tôi có dịp trực tiếp tận mắt nhìn thấy những con ngựa có người cỡi chạy nhanh nhiều vòng trên sân cỏ. Và cũng từ đó Tôi thích được xem ngựa chạy đua và đã có nhiều lần tự dộng một mình mua vé vào xem ngựa đua ở trường Đua Ngựa Phú Thọ.

- Và tại trường Đua Ngựa Phú Thọ, Tôi hân hạnh quen được một Người Đẹp tên là Mộng Lành. Cô Mộng Lành là một nhân viên bán vé ở đây. Xin phép được thưa trước là chỉ mua vé vào xem ngựa chạy đua chứ không mua vé " cá độ " ăn thua qua các độ đua ăn thua bằng tiền. Cô Mộng Lành là một trong số những nhân viên ở quầy bán vé, nhưng Tôi chỉ chọn cô để mua vé mỗi khi Tôi đến đây ... cô Mộng Lành tướng người cao lớn, đẫy đà và có một khuôn mặt rất đẹp, nhìn thấy có vẻ hiền lành, nói chuyện nhỏ nhẹ, thành thật cùng một chút âm hưởng của miền quê miệt vườn.

- Như đã nói, Tôi luôn luôn chọn ghi-sê của cô Mộng Lành để mua vé và thỉnh thoảng trao đổi một vài câu nói vui đùa qua lại và cô Mộng Lành lúc nào cũng vui-vẻ tiếp chuyện với Tôi ... riêng Tôi, Tôi cảm thấy quý mến cô Mộng Lành và Tôi nghĩ thầm trong bụng mình là chắc cô Mộng Lành cũng có cảm tình đặc biệt với Tôi.

- Kể từ lúc nầy Tôi và cô Mộng Lành trở thành một đôi bạn thân thiết, Tôi gọi cô Mộng Lành bằng tên " Mộng Lành " và Mộng Lành gọi Tôi bằng " Anh ". Có một lần, sau khi mua vé xong thì Tôi mĩm cười nói với Mộng Lành : " Mộng Lành này, bữa nay có tuy-dô nào ngon và chắc ăn chỉ cho Tôi một độ coi, Tôi kiếm chút đỉnh tiền, Tôi sẽ mời Mộng Lành đi Vũng Tàu tấm biển và ăn tôm, cua, sò, cá một bữa cho ngon đã đời coi Mộng Lành ". Mộng Lành nhìn Tôi một lúc rồi nghiêm giọng nói : " Thôi, thôi, anh đừng có rớ vào mấy cái vụ nầy, mấy người làm việc ở đây, dính Cá Độ đến cuối tháng không còn một đồng lương bỏ túi. Chút nữa tui mời anh đi ăn hủ tiếu Nam Vang ở Chợ Thiếc, khỏi đi Vũng Tàu cho xa xôi và tốn tiền. Thôi anh vô coi ngựa chạy đua đi rồi chút nữa tụi mình đi ăn hủ tiếu Nam Vang ".

- Tôi và Mộng Lành đến ăn trưa ở một quán ăn ở Chợ Thiếc, còn có tên là Chợ Phó Cơ Điều vì chợ nằm trên đường Phó Cơ Điều. Trong dịp nầy, Mộng Lành tâm sự về cuộc đời của mình với Tôi, đại khái như sau : " Mộng Lành quê ở Mỹ Tho, là chị cả trong một gia đình đông anh chị em, theo học trường tư thục ở Mỹ Tho, đậu được bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, lên Sài-Gòn tiếp tục việc học, ở trọ nhà của một người cậu ruột ở đường Sư Vạn Hạnh, thi rớt bằng Tú Tài 1 đến hai lần, bỏ học, được người cậu xin cho vào làm nhân viên bán vé ở trường Đua Ngựa Phú Thọ vì ông cậu có nuôi ngựa đua và có quen biết lớn với Ban Điều Hành của trường Đua Ngựa Phú Thọ. Ăn trưa xong, Tôi gọi phổ-ky đến để trả tiền nhưng Mộng Lành đã âm thầm đến thanh toán tại quầy tính tiền và nói với Tôi là hôm nay do Mộng Lành mời. Tôi cám ơn Mộng Lành, chia tay và hẹn gặp lại.

- Một tuần lễ tiếp theo sau đó, trong một ngày thường trong tuần (không phải là những ngày cuối tuần), Mộng Lành có ngày nghỉ làm và Tôi không có giờ học và giờ dạy ... Tôi mời Mộng Lành cùng đi đến Bình Dương, quê nhà Tôi để ăn món ăn đặc sản là Bánh Bèo Bì ở Chợ Búng và dạo chơi, ăn trái cây ở vùng Cầu Ngang. Sau khi ăn bánh bèo bì ở quán Mỹ Liên xong, chúng tôi dạo chơi ở vườn cây Cầu Ngang. Cùng ngồi dưới các gốc cây, ăn trái cây và vui đùa nói chuyện. Tự nhiên, Mộng Lành nghiêm giọng nói với Tôi như sau : " Anh Xuyên, Mộng Lành thú thật là Mộng Lành thương yêu Anh, Anh có đồng ý cưới Mộng Lành làm vợ không, cho Mộng Lành biết ý kiến của Anh. Mộng Lành hứa sẽ là một người vợ tốt và mang hạnh phúc gia đình đến cho Anh ". Tôi giật mình chới với khi nghe Mộng Lành nói với Tôi câu nầy, tôi lấy lại bình tỉnh, giả bộ vừa cười vừa nói với Mộng Lành nhưng trong lòng cảm thấy xót xa : " Trời ơi ! Mộng Lành, bà nói thiệt hay bà nói giỡn chơi với tôi đây bà ? ". Mộng Lành nghiêm giọng nói thật nhỏ với vẻ xúc động và như muốn khóc : " Anh Xuyên, Mộng Lành nói thật đó, định nói với anh từ lâu nhưng chưa có dịp, hôm nay xin nói thật và muốn biết ý của anh ".

- Thú thật Tôi rất xúc động và không bao giờ dám nghĩ là có chuyện xảy ra như hôm nay, Tôi nói với Mộng Lành trong một tâm trạng thật buồn như sau : " Mộng Lành, thật sự Tôi không bao giờ nghĩ rằng Mộng Lành đã yêu thương Tôi. Tôi xin cám ơn những chân tình mà Mộng Lành đã dành cho Tôi, nhưng Tôi nghĩ rằng Tôi chưa bao giờ dám nghĩ tới chuyện mình sẽ cưới vợ, sẽ lập gia đình trong lúc nầy. Tôi vừa đi học vừa đi dạy thêm, cuộc đời của Tôi bấp bênh lắm, hiện tại Tôi còn phải xin tiền của cha mẹ để tiêu xài. Xin Mộng Lành hãy xem tôi như là một người bạn, đây là câu trả lời của Tôi, Tôi thành thật xin lỗi Mộng Lành. Thôi bây giờ tiếp tục ăn hết phần trái cây nầy rồi thu xếp trở về Sài-Gòn vì trời cũng đã về chiều rồi ".

- Sau lần đi chơi với Mộng Lành ở Bình Dương, Tôi không trở lại trường Đua Ngựa Phú Thọ nữa và cũng không gặp lại Mộng Lành nữa ...Đất nước Việt Nam trải qua không biết bao nhiêu biến cố. Tôi bị động viên và Lính, Tôi có vợ có con ... Việt Nam qua Một Cuộc Đổi Đời Tang Thương với Ngày Uất Hận 30 Tháng 4 Năm 1975 và hàng năm, hàng chục năm tiếp theo sau đó …


Xuyên với chiếc Cà-Vạt mang số 8 của 2 Cháu Ngoại Gái tặng nhân Kỷ Niệm 51 năm ngày Thành Hôn.
( 01.12. 1968 - 01.12. 2019 ).

- Năm 2000 từ Hoa Kỳ, Tuấn, em trai Út của Tôi, gọi điện thoại sang Pháp thăm Tôi, như thường lệ vẫn thường gọi thăm, nhưng lần nầy, Tuấn nói chuyện rất ngắn, rồi nói ngay : " Anh Hai, có một người đang ở nhà của Em, đang ngồi cạnh Em và nói là có quen với Anh, quen từ lâu lắm rồi từ hồi thập niên 1960, chị ấy mới quen với Em hơn một tuần lễ nay, đây anh Hai nói chuyện với chị ấy "
- Tôi vừa nói a-lô qua máy điện thoại thì đầu máy bên kia phát lên giọng nói đàn bà : " Chào anh, anh Xuyên đó hả, tui là Mộng Lành đây, bán vé ở trường đua ngựa Phú Thọ Sài-Gòn, anh có còn nhớ tui không ?". Tôi giật mình chới với như tẩu hỏa nhập ma, định thần một chút rồi Tôi trả lời : " Dạ, dạ nhớ chứ, nhớ chứ, mất tin tức nhau mấy chục năm rồi, Mộng Lành qua Mỹ đã lâu chưa ? ".

- Mộng Lành không trả lời câu hỏi của Tôi mà chỉ nói : " Chuyện của anh và gia đình anh thì tui đã biết hết cả rồi, em Tuấn đã có kể cho tui nghe rồi. Còn chuyện của tui dài dòng lắm, khi nào có dịp qua Mỹ gặp lại tui sẽ kể hết cho anh nghe. Bà xã của anh có đang ngồi ở bên cạnh anh đó không, cho tui gởi lời chào và chúc sức khỏe bà ấy nhen. Bữa nay được nói chuyện với anh là coi như đã biết tin là vui rồi ... đến chơi nhà Tuấn từ sáng đến giờ. Thôi bây giờ tui trao máy lại cho Tuấn, tui về. Hẹn sẽ gặp lại ở Mỹ. See you again ! ".

- Theo lời Tuấn cho Tôi biết : Cách đây hơn một tuần, vợ chồng Tuấn và 2 con đến tham dự một buổi sinh hoạt Phật Giáo tại Học Viện Phật Giáo Quốc Tế ở thành phố North-Hill.Tại đây, Tuấn có dịp tiếp chuyện với một số đồng hương Việt Nam, lời qua tiếng lại rồi quen nhau thì có một bà Việt Nam hỏi Tuấn ở Việt Nam quê quán gốc thuộc tỉnh nào. Tuấn trả lời là ở quận Bến Cát tỉnh Bình Dương. Bà nầy hỏi ngay Tuấn : " Em ở quận Bến Cát tỉnh Bình Dương, em có biết, trước đây, có một ông giáo sư tên là Nguyễn Vân Xuyên không? ". Tuấn vui mừng trả lời ngay : " Chị ơi ! người đó là anh Hai, anh ruột của em đó chị ơi ! Gia đình của anh Hai của em đang ở bên Pháp ". Rồi bà Việt Nam nầy cũng vui mừng nói với Tuấn là bà quen với Tôi và bà tên là Mộng Lành, hiện đang sống ở thành phố North-Hill.

- Sau đó thì gia đình Tuấn và bà Mộng Lành quen nhau và trở thành thân thiết. Bà Mộng Lành mời vợ chồng Tuấn đến nhà chơi và cũng đến thăm gia đình Tuấn, thăm các em và thăm cả mẹ của chúng tôi ( đang ở chung với vợ chồng của một cô em gái của tôi) ở Los-Angeles. Và Tuấn cũng cho tôi biết thêm : Hiện tại bà Mộng Lành là một chủ nhân lớn của một hệ thống kinh doanh Bất Động Sản ở tiểu bang California ... một cơ sở chính bề thế ở North-Hill do bà Mộng Lành điều hành và có thêm 4 cơ sở phụ ở một số thành phố ở Nam California do các em ruột của bà Mộng Lành điều hành dưới sự chỉ huy tổng quát của bà Mộng Lành.

- Tôi có mặt tại Hoa Kỳ, tiểu bang California để thăm mẹ và gia đình các em của tôi cũng như thăm bạn bè, đồng hương Bình Dương và những bạn Lính ngày xưa ... và Tôi gặp lại Mộng Lành. Mộng Lành kể cho Tôi biết như sau : Sau bữa đi chơi với Tôi ở Bình Dương, Mộng Lành trở về Sài-Gòn và tiếp tục làm việc ở trường Đua Ngựa Phú Thọ. Không thấy tôi trở lại trường Đua Ngựa nữa ... và từ đó, tôi được xem như " biệt vô âm tín " đối với Mộng Lành. Một năm sau, Mộng Lành nghỉ việc ở trường Đua Ngựa, ghi tên học Anh Văn và làm việc cho một cơ quan của Mỹ tại Sài-Gòn trực thuộc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Mộng Lành thành hôn với một nhân viên người Mỹ cùng làm việc tại đây rồi sau đó Mộng Lành theo người chồng nầy đi Mỹ năm 1970 và sống định cư tại tiểu bang Florida.

- Tại tiểu bang Floria, cha mẹ chồng của Mộng Lành là chủ nhân của một cơ sở chế biến và sản xuắt các thức ăn cho gia súc và vợ chồng của Mộng Lành cũng làm việc ở đây và hai người không có con. Đầu tháng 4 năm 1975, vợ chồng Mộng Lành về Việt Nam thu xếp cho gia đình đi Mỹ nhưng chỉ có 4 người em (2 trai và 2 gái) ra đi còn cha mẹ và 1 cô em gái út không chịu đi và tiếp tục sống ở Mỹ Tho. Mộng Lành chung sống với người chồng Mỹ đầu tiên được 15 năm thì người chồng nầy bị bệnh ung thư phổi qua đời vì ông chồng hút thuốc rất nhiều ... và cùng năm nầy thì cha mẹ của Mộng Lành cũng qua đời ở Mỹ Tho.

- Hai năm sau (sau cái chết của người chồng đầu tiên), Mộng Lành thành hôn lần thứ hai cũng là người Mỹ. Ông chồng nầy lớn hơn Mộng Lành 15 tuổi, ông là chủ nhân lớn của một đại công ty trong ngành xây dựng và Bất Động Sản và Mộng Lành cũng chuyển sang làm việc trong lãnh vực Bất Động Sản với người chồng thứ hai nầy. Mộng Lành chung sống với ông chồng nầy, không có con, khoảng gần 10 năm thì ông chồng nầy qua đời đột ngột vì bệnh tim. Đầu năm 2000, Mộng Lành đời cư đến tiểu bang California và tiếp tục kinh doanh trong ngành Bất Động Sản.

- Từ ngày Tôi có mặt ở Hoa Kỳ và gặp lại Mộng Lành thì sự liên lạc giao thiệp qua lại giữa Mộng Lành và gia đình của các em và mẹ của chúng tôi trở nên thân thiết gắn bó. Mộng Lành đã giúp đỡ, hướng dẫn rất nhiều cho gia đình của các em của Tôi trong việc mua bán nhà cửa cũng như các việc làm khác trong việc thu nhập với những kết quả tốt đẹp về tài chánh. Đặc biệt riêng đối với mẹ của chúng tôi, Mộng Lành rất kính mến bà, thường xuyên đến thăm và biếu tặng quà cáp vào các dịp lễ, Tết. Có lần, mẹ của chúng tôi đã tâm sự riêng với cá nhân Tôi, bà cho biết Mộng Lành đã có lần nói với bà như sau : " Bác có biết không, con với anh Xuyên không có duyên nợ với nhau. Con thương anh Xuyên nhưng không được làm vợ của ảnh để được làm con dâu của Bác. Lúc con quen, con thương ảnh, tụi con đã hơn hai mươi tuổi, đã trưởng thành mà con thấy ảnh còn ham vui, lơi khơi không chửng chạc, không nghĩ gì đến chuyện vợ chồng. Bây giờ Bác cho phép con làm con gái của bác, ba má của con cũng đã mất hết rồi. Từ nay, Bác và các em cần gì cứ cho con biết con sẳn lòng giúp những gì con có thể làm được, đừng ngại gì nhen Bác ".

- Đầu năm 2015, thân mẫu của chúng tôi qua đời tại Hoa Kỳ. Khi còn sống, Bà có một ước nguyện là khi Bà qua đồi, các con đưa nguyên quan tài trong đó có thân xác của Bà về Việt Nam và an táng tại quê quận Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương và yêu cầu nắp quan tài có thể mở ra để các con, cháu và các thân bằng quyến thuộc tại Việt Nam có thể nhìn được mặt và cầm được tay của Bà một lần cuối trước khi Bà được an giấc ngàn thu. Các em của Tôi ở Hoa Kỳ đã làm đúng ước nguyện của Bà. Cơ quan Mai Táng Vụ mang tên Thiên Môn tại Hoa Kỳ và cơ quan đại diện tại Việt Nam đã đảm trách hoàn thành một cách tốt đẹp công việc nầy cho gia đình chúng tôi tại Hoa Kỳ cũng như tại Việt Nam.


- Gia đình của các em Tôi từ Hoa Kỳ gồm 1 trai và 5 gái và Tôi từ Ba-Lê, một mình cùng về Việt Nam để tổ chức lễ an táng cho thân mẫu của chúng tôi. Vợ của Tôi phải ở lại Pháp để đưa rước việc học hành của các cháu nội, ngoại và phụ giúp việc ẩm thực cho gia đình các con. Đặc biệt là Mộng Lành cũng để tang cho mẹ của chúng tôi và cùng tháp tùng về Việt Nam dự tang lễ của Bà.

- Sau tang lễ của mẹ chúng tôi, Mộng Lành về quê Mỹ Tho để thăm lại gia đình của cô em út và các họ hàng thân thuộc, Mộng Lành có mời Tôi cùng đi về quê của Mộng Lành như Tôi từ chối vì phải trở về Pháp ngay vì chuyện gia đình và hẹn sẽ gặp lại nhau tại Hoa Kỳ trong thời gian tới.
- Đầu năm 2016, Tôi có mặt tại Hoa Kỳ để tham dự Lẽ Giỗ đầu tiên (1năm) của thân mẫu chúng tôi. Vào dịp nầy, Tôi gặp lại Mộng Lành ... và trong một bữa ăn thân mật tại một nhà hàng Trung Hoa ở Los Angles chỉ có riêng Tôi và Mộng Lành. Tôi vừa cười vừa vui vẻ nói với Mộng Lành : " Bà Mộng Lành này, bà đang là một người đàn bà giàu có, tiền rừng bạc biển, danh tiếng quyền lực, nhà cao cửa rộng, xe đẹp ... ông chồng thứ nhì đã qua đời hơn 15 năm rồi, chẳng lẽ tiếp tục làm góa phụ nam xương sao ? ".
- Mộng Lành không trả lời câu hỏ của Tôi mà nói với một vẻ mặt thật buồn : " Anh Xuyên, từ lúc gặp lại anh, tui luôn luôn tự nghĩ rằng : nếu ngày xưa anh đồng ý lấy tui làm vợ thì chắc cuộc đời của tui sẽ không làm góa phụ như hôm nay, cuộc đời tình ái của tui không được may mắn tốt đẹp chút nào ". Tôi cười to và nói với Mộng Lành : " Trời ơi ! Tôi mà vô tay của bà thì tôi đã ra người thiên cổ rồi. Lúc đó Tôi ham vui và còn nhỏ dại, không ưng thuận lời cầu hôn của bà nên mới còn sống tới ngày hôm nay. Ngày xưa, xin thú thật, Tôi quý mến bà chứ không nghĩ gì thêm, coi bà như bạn. Nhưng từ khi gặp lại bà và khi nghe bà kể bà có 2 đời chồng và cả 2 ông đều chết. Tôi nhìn bà, Tôi bắt đầu quan sát bà thật kỹ và linh tính cho Tôi thấy hình như ở bà có một sự đãi ngộ về tiền tài nhưng bạc đãi về tình duyên. Xin lỗi bà, Tôi nói thật ra cho bà nghe xin bà đừng giận, ai mà tiếp tục vào tay bà nữa thì cũng chỉ là Hai Chiều Ly Biệt và Âm Dương Cách Trở mà thôi ".

- Mộng Lành có vẻ tức giận nói ngay với Tôi : " Ông Xuyên, ông nói thiệt hay nói giỡn đó. Năm rồi, sau đám tang của má ông, tui về Mỹ Tho và tình cờ gặp lại một người bạn học cũ ngày xưa, cũng vào tuổi vừa hơn 70 như tui, vợ chết, các con đã lớn, an bề gia thất. Chúng tui nói chuyện, tiếp xúc qua lại thấy rất hạp tính với nhau và chúng tui có ý định sẽ tái hôn trong năm nay đó. Anh ấy đang là chủ nhân của một trại nuôi tôm, cá ở Mỹ Tho. Tui nghĩ, tui có 1 rồi 2 đời chồng thì cũng có thể có 3 chứ, chẳng lễ tui đầu hàng định mệnh hay sao, ông Xuyên, ông nghĩ sao nếu tui tiếp tục tái hôn lần thứ 3 nầy ?".

- Tôi trả lời Mộng Lành : " Chuyện vợ chồng, chuyện tái hôn, tái giá là chuyện của bà, Tôi không phải là thầy tướng số nhưng Tôi đã quan sát, đã nhìn kỹ bà, linh tính báo cho Tôi thấy bà là người không được tốt về tình duyên ... nhưng, thôi, bà cứ thực hiện ước muốn của bà đi, bà không có mất gì đâu, bà đang 70 tuổi và hơn vài tuổi thì có già muộn gì đâu ... cứ tiến hành đi bà ".

- Tháng 7 năm 2016, Tuấn từ Hoa Kỳ gọi điện thoại báo tin cho Tôi biết : vợ chồng Tuấn vừa từ Việt Nam trở về Mỹ sau khi tham dự xong đám cưới của Mộng Lành cùng một đại gia Việt Nam ở Mỹ Tho và Tuấn cũng cho biết thêm là Mộng Lành đang dự trù về Mỹ lại sẽ thu xếp giao việc kinh doanh tại Mỹ lại cho các em và Mộng Lành sẽ về Việt Nam sinh sống, hùn vốn trong việc kinh doanh ở Việt Nam với người chồng thứ 3 nầy vào đầu năm 2017.

- Sau khi nghe Tuấn nói việc tái hôn của Mộng Lành, tôi hoàn toàn im lặng không nói gì mà chỉ hỏi thăm về chuyện gia đình của chúng tôi. Thấy Tôi không nói gì về Mộng Lành, Tuấn cũng không dám bàn thêm. Vào tháng 10 năm 2016, Mộng Lành từ Hoa Kỳ gọi điện thoại chính thức báo tin cho Tôi biết là đã thành hôn tại Việt Nam cùng người bạn học cũ mà Mộng Lành đã có lần nói đến người nầy và anh nầy tên là Tùng. Và Tôi có lời chúc mừng cho Mộng Lành và nghiêm giọng nói : " Bà Mộng Lành, Tôi hy vọng là tôi đã có cái nhìn hoàn toàn sai về bà đối với chuyện tái hôn của bà. Xin chúc bà luôn luôn được Hạnh Phúc như mong ước của bà ".

- Ngày 15 tháng 11 năm 2016, Tuấn từ Hoa Kỳ gọi điện thoại báo tin cho Tôi biết : " Anh Hai, chị Mộng Lành vừa điện thoại báo cho em biết, anh Tùng, chồng của chị Mộng Lành vừa qua đời ở Việt Nam vì tai nạn xe. Chị Mộng Lành đang thu xếp về Việt Nam ngay để lo việc an táng cho anh Tùng. Anh Hai, em thấy tội nghiệp cho chị Mộng Lành quá, có chồng lần thứ 3 mà cũng không được yên ". Tôi mĩm cười trả lời Tuấn : (Xin lỗi) ĐM ! Tội nghiệp cái đ. gì. Tại không chịu nghe lời của tao đó mầy ơi, mầy ráng tội nghiệp cho bà ấy đi, xong đám tang bà ấy về lại Mỹ cho mầy vài ngàn đô xài chơi. Mầy khuyên bà ấy kỳ tới muốn lấy chồng nữa thì về Kampuchea mà lấy chồng, mấy thằng Miên, tụi nó có bùa Cà-Tha, tụi nó không chết đâu.

- Mộng Lành trở lại Hoa Kỳ và quyết định ngưng việc kinh doanh. Thiết lập bàn thờ Phật và tu tại gia. Thỉnh thoảng đi chùa dâng hoa cúng Phật, chi tặng tiền bạc, ký tên Sổ Vàng để nhận lời cám ơn của các sư, thầy và gửi tiền về Việt Nam làm việc từ thiện ... và Mộng Lành hoàn toàn không liên lạc với Tôi và Tôi cũng không dám liên lạc với Mộng Lành. Tháng 8 năm 1017, lại cũng Tuấn, thằng em trai út của Tôi, người được bà Mộng Lành rất quý mến và giúp đỡ tận tình về tiền bạc (theo lời nó nói với Tôi), vừa khóc sướt mướt trong lời nói nghẹn ngào báo tin cho Tôi : " Anh Hai, chị Mộng Lành vừa mới qua đời đột ngột vì bệnh tim. Tội nghiệp chị Mộng Lành quá ! Một con người nhân ái, giúp người mà luôn luôn gặp Đại Nạn «

- Một người Con Gái đã từng yêu thương Tôi, một Người Bạn mà Tôi luôn luôn quý mến, một người Đàn Bà đã mang danh giàu sang, đầy danh vọng có nhiều tiền của trong kinh doanh ... nhưng tiếc thay là một người đàn bà hoàn toàn Bất Hạnh về Tình Cảm. Người đàn bà mà Tôi đã quen biết đó đã thực sự qua đời. Một Nén Hương tưởng niệm và một Lời Cầu Nguyện cho người quá cố được Bình An nơi cõi vĩnh hằng.

- Tôi có nói với Tuấn, em trai út của Tôi: " Tuấn này, thượng đế, định mệnh đã không cho bà Mộng Lành làm Chị Hai, Chị Dâu của Em, nhưng bà Mộng Lành đã trở thành một đại ân nhân của Em. Trên cõi đời nầy, làm người sinh ra, có 4 thứ mà ai cũng mong ước mình có được ... là hoàn toàn hạnh phúc trong cuộc sống tình cảm, có được mọi người kính trọng, ngưỡng mộ và tiền rừng bạc biển, nhà cao cửa rộng, xe đẹp ... đó là TÌNH, TIỀN, QUYỀN, DANH. Trong 4 thứ nầy, bà Mộng Lành đã có được 3 thứ, chỉ còn 1 thứ mà bà Mộng Lành không có được , đó là TÌNH. Nhưng xét cho cùng, bà Mộng Lành cũng là một người có được may mắn hơn nhiều người. Tuấn ơi ! bà Mộng Lành là người mà Em phải thọ ơn, Em hãy cầu nguyện cho bà và anh Hai của Em đã không có Tiền, không có Quyền, không có Danh, nhưng anh Hai đã may mắn không trở thành Chồng của bà Mộng Lành, đó là Tình đó Tuấn ơi ! Xin Mầy hãy mừng dùm cho Tao. Bà Mộng Lành đã cho tao Tình nhưng tao từ chối không dám nhận, bà Mộng Lành đã cho mầy nhiều Tiền, mầy luôn luôn nhận đầy đủ ... Ba Má của tụi mình có tất cả 11 người con với 6 gái và 5 trai. Trong 5 thằng con trai của Ba Má, có 2 thằng, Tao là con trưởng, Mầy là con út. Tao nghĩ, không biết có Đúng không, đây là 2 thằng con trai được nhiều may mắn nhất . Đó là phước đức và hồng ân mà Thượng Đế đã ban cho gia đình mình đó Tuấn ơi ! ". Kỳ tới, Anh Chị Hai qua Mỹ thăm các em, Tuấn nhớ đài thọ mua vé máy bay cho anh chị ... anh chị Hai có một đời sống thật bình thường ở Pháp mà thôi. Cám ơn vợ chồng Tuấn trước thật nhiều.

Xuyên với chiếc Cà-Vạt mang số 9 của 2 cháu Nội (trai) tặng nhân Kỷ Niệm 51 năm ngày Thành Hôn.
(01.12.1968 - 01.12.2019)
(4). Gia đình của chúng tôi (đặc biệt bà Ngoại và Cha Mẹ) tại quận Bến Cát tỉnh Bình Dương:
- Vào cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950, tại quê quận Bến Cát, bà Ngoại của chúng tôi chính thức giao lại việc kinh doanh thương mại của gia đình cho Mẹ của chúng tôi. Trước đây, bà Ngoại là chủ nhân của các cơ sở kinh doanh thương mại và kể từ nay thì Mẹ của chúng tôi là Tân Chủ Nhân, tiếp tục điều hành mọi việc để bà Ngoại nghỉ ngơi dưởng già ... các cơ sở kinh doanh thương mại gồm có : 1 cửa hàng bán gạo và bán vải tại chợ Bến Cát, 1 lò gạch ở xã Thới Hòa, 1 lò đường ở ấp Cầu Quan xã Mỹ Phước, 1 nhà máy xay lúa ở xã An Điền.

- Công việc kinh doanh do Mẹ của chúng tôi tiếp tục điều hành đã tiến triển tốt đẹp và thuận lợi như trước đây. Nhưng đến đầu thập niên 1960 tức là khoảng 10 năm sau thì quê quận Bến Cát không còn được hoàn toàn an ninh ổn định như trước nữa và chiiến tranh bắt đầu xảy ra. Được phép của bà Ngoại, mẹ của chúng tôi quyết định ngưng mọi thương mại kinh doanh tại Bến Cát mà chuyển hướng kinh doanh xuống Sài-Gòn qua các lãnh vực Ngân Hàng và Bất Động Sản trong đó có sự hùn vốn kinh doanh của một số người Trung Hoa là những người có nhiều quen biết tin cậy với Cha của chúng tôi.

- Khoảng cuối tháng 3 năm 1975, em gái của Tôi từ Hoa Kỳ về Việt Nam thăm gia đình và thu xếp cho gia đình trong việc rời khỏi Việt Nam sang Mỹ nếu tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam tức Việt Nam Cộng Hòa có những biến động bất lợi. Cha mẹ của chúng tôi đưa cho em gái của tôi một số tiền Việt Nam Cộng Hòa khoảng 6 triệu bạc để đổi ta ngoại tệ (đô-la Mỹ) để mang sang nước ngoài khi em gái của tôi trở lại Hoa Kỳ. Em gái của tôi đã có chồng và sang Mỹ từ cuối năm 1973 và hiện đang sống định cư tại Mỹ.

- Em gái của tôi chỉ đổi được khoảng hơn 4 triệu và còn lại 1 triệu 200 ngàn (VNCH) không đổi được hết và cuối cùng em gái của tôi mang luôn hết số tiền nầy sang Hoa Kỳ. Năm 1991, khi Mẹ và các em của tôi được sang Mỹ theo diện ODP/Sum Họp Gia Đình do em gái của tôi bảo lãnh. Gặp lại Mẹ của chúng tôi, em của tôi giao lại số tiền 1 triệu 200 ngàn đồng tiền Việt Nam Cộng Hoà còn mới toanh cho Mẹ của chúng tôi ... năm 1992 khi Tôi sang Hoa Kỳ thăm Mẹ và các em thì Mẹ của chúng tôi tặng hết lại số tiền nầy cho Tôi và Tôi mang về Pháp để iàm kỷ niệm.

- Ở Pháp, cá nhân Tôi đã có dịp tặng cho một số quý vị đồng Hương Việt Nam, quý anh chị bạn bè thân hữu và quý bạn trẻ những tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa còn mới toanh nầy ... đó chính là những số tiền trong số 1 triệu 200 ngàn đồng mà Mẹ của chúng tôi đã tặng cho Tôi tại Hoa Kỳ.

(5). Vũ Sư Nguyễn Hữu Hào, một con người tài hoa:
- Qua phần chính của bài viết nầy, chúng tôi có giới thiệu đến Vũ Sư Nguyễn Hữu Hào, người đoạt giải " Thi Khiêu Vũ Đẹp điệu BE-BOB năm 2001 " do Nhà Hàng Asia-Palace (quận 13) tổ chức và Vũ Sư Nguyễn Hữu Hào có tặng cho Tôi một chiếc Cà-Vạt thật đẹp, phần thưởng mà anh Hào nhận được trong số những phần thưởng do nhà hàng tặng. Tôi thành thật cám ơn anh Hào.
- Qua sự giới thiệu của một người bạn ở Việt Nam, anh Hào về Việt Nam để gặp một Người Đẹp là chủ nhân của một cửa hàng bán mỹ phẩm ở Sài-Gòn tên là Hoàng Thị Tuyết Vân. Người Đẹp Tuyết Vân sẽ đích thân lái xe ra tận phi trường Tân Sơn Nhất đón anh Hào và mời anh Hào đi ăn ngay 1 bữa ăn rồi sau đó mới đưa anh Hào về với gia đình. Để tạo sự ngạc nhiên cho Tuyết Vân, trước khi lên đường về Việt Nam, trong 1 buổi sinh hoạt của Nhóm Thân Hữu Thiên Thai, nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ đã làm cho anh Hào 2 câu thơ để tặng cho Người Đẹp Tuyết Vân khi gặp mặt và 2 câu thơ nầy đã làm cho Tuyết Vân rất hài lòng và xúc động.

- Sau hơn 1 tháng về thăm quê hương Việt Nam, anh Hào gặp và quen Hoàng Thị Tuyết Vân ... rồi 2 người trở thành 1 đôi bạn thân ái, 1 cặp tình nhân đầy lãng mạn với ước mơ trở thành chồng vợ và họ đã hứa hẹn cho những ngày tháng sắp tới khi anh Hào trở về Ba-Lê, Kinh Thành Ánh Sáng. Nhưng định mệnh đã khắc nghiệt oan khiên dành cho họ ... Tuyết Vân đã qua đời vì bệnh tim khoảng hơn 1 tháng sau đó sau khi 2 người chia tay và ước mộng không thành.
- Từ đó, anh Hào sống trong đau buồn, thương tiếc xót xa ... người lúc nào cũng nửa mơ nửa tỉnh và năm 2009, anh Hào lâm vào một cơn bệnh ngặt nghèo quái ác mang tên Sclérose en plaque rồi 1 năm sau tức năm 2010 anh Hào qua đời trong sự thương tiếc của nhiều người trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Pháp, đặc biệt là Nhóm Thân Hữu Thiên Thai. Hơn 10 năm sau, dịch bệnh Covid 19 hoành hành mãnh liệt tại Pháp, vào năm 2020, nhà thơ Tôn Thắt Phú Sĩ, một thành viên của Nhóm Thân Hữu Thiên Thai qua đời bởi cơn bệnh nầy.
- Nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ là 1 người bạn thân của cá nhân Tôi, anh là Hải Quân Thiếu Tá của Quân Chủng Hải Quân/ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp khóa 15 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang/QL/VNCH.
- Chúng tôi cầu mong rằng : Hoàng Thị Tuyết Vân, Nguyễn Hữu Hào và Tôn Thất Phú Sĩ được an giấc ngàn thu nơi cõi vĩnh hằng.

Xuyên (đứng giữa) với chiếc Cà-Vạt của Hội Cựu Chiến Binh Nhảy Dù Việt Nam Âu-Châu.
(Bên phải của Xuyên là Bác Sĩ Hoàng Cơ Lân và bên trái là BS Trần Đức Tường)

Nguyễn Vân Xuyên

Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2023

Lịch Sử Về Sự Hiện Diện Của Người Việt Nam Tại Pháp

 

Kính thưa quý vị.
Hiện nay tại quốc nội, dân số Việt Nam vào khoảng 100 triệu người và tại hải ngoại, khắp 5 châu, số người Việt Nam đang sống định cư khoảng hơn 4 triệu người.
Hiện tại, chúng ta đang sống định cư tại Pháp và được biết số người Việt Nam tại Pháp khoảng hơn 300.000 người.
Nước Pháp là một quốc gia lâu đời có nhiều liên hệ đến Việt Nam... và dĩ nhiên sự hiện diện của người Pháp tại Việt Nam cũng có một lịch sử lâu đời với nhiều lý do đặc biệt và biến chuyển khác nhau. Và từ đó, sự hiện diện của người Việt Nam tại Pháp cũng có một lịch sử đặc biệt với những biến chuyển qua các thời điểm khác nhau.
Hôm nay, chúng tôi xin được tìm hiểu, thu thập các tài liệu liên quan đến "LỊCH SỬ VỀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TẠI PHÁP " để cống hiến cùng quý vị.

Kính thưa quý vị.

Mục đích của bài viết nhỏ bé nầy là ước mong để chúng ta, những người Việt Nam đang sinh sống tại hải ngoại ( đặc biệt tại Pháp ), kể cả những thế hệ trẻ được sinh ra và lớn lên tại hải ngoại cùng tìm hiểu về những người Việt Nam chúng ta đã ra đi, đến Pháp và đã sinh sống ra sao từ những người đầu tiên cho đến những người đến sau nầy như hiện nay.
Chúng tôi cũng xin phép được thưa trước rằng : " Giới hạn của bài viết nầy chỉ được đề cập đến những người Việt Nam đầu tiên đến Pháp cho đến thời điểm của Biến Cố Lịch Sử Đau Thương ngày 30.04.1975 ".
Từ sau Biến Cố Lịch Sử 30.04.1975, đã có rất nhiều sách báo, tài liệu ( Việt Ngữ lẫn Ngoại Ngữ ) nói rất nhiều về sự hiện diện của người Việt Nam tại Pháp... Sau nầy, nếu có điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện cho phép, chúng tôi sẽ cố gắng thu thập tài liệu để thực hiện tiếp theo về Sự Hiện Diện Của Người Việt Nam Tại Pháp từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Kính thưa quý vị.
Vì là một bài viết được thực hiện với sự thu thặp các tư liệu khác nhau qua những dữ kiện lịch sử khác nhau cùng sự nỗ lực cố gắng trong khả năng hạn hẹp của người viết, chúng tôi nghĩ rằng không sao tránh được những khiếm khuyết sai sót... chúng tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp quý báu và những sự chỉ giáo chân tình của các bậc trưởng thượng, quý anh chị và quý bạn.
Nhân dịp nầy, chúng tôi cũng xin phép tất cả các tác giả, các tạp chí, các báo chí, cơ quan, hội đoàn... có những bài viết có liên quan đến chủ đề của bài viết của chúng tôi mà chúng tôi xin được tham khảo và trích đăng. Chúng tôi xin thành thật xin lỗi và xin cám ơn trước đối với tất cả mọi quý vị.
Xin trân trọng kính chào.

*Ghi Chú Đặc Biệt: Bài viết nầy hoàn toàn không có mục đích Ca Tụng hay Vinh Danh bất cứ cá nhân hay tổ chức nào của người Việt Nam tại Pháp. Nếu có cá nhân hay tổ chức nào được đề cập nhiều hay được nhấn mạnh, nhắc nhở tới là vì những nhân vật, tổ chức nầy qua những việc làm tại Pháp đã có nhiều ảnh hưởng đến đất nước Việt Nam chúng ta trên nhiều phương diện khác nhau. Xin kính cáo và khẳng định mục tiêu của bài viết nầy cùng quý vị.
***
Kính thưa quý vị.

Bài viết nầy đã được Hội Văn Hóa và Nghệ Thuật Á Châu & Ban Tài Liệu Việt Ngữ cho đăng vào năm 2010. Mỗi lần thu thập được các tài liệu có liên quan đến chủ đề của bài viết thì chúng tôi bổ túc và biên soạn lại để phổ biến.
Và hôm nay chúng tôi xin hân hạnh được phổ biến thêm một lần nữa vì cũng có thêm được một số tài liệu liên quan đến đến chủ đề của bài viết nầy.
Xin trân trọng kính chào quý vị.

Ba-Lê ngày 21 tháng 6 snăm 2023.
NGUYỄN VÂN XUYÊN.
***

CÁC SÁCH, BÁ0, TÀI LIỆU và CƠ QUAN THAM KHẢO:

1). Việt Sử Toàn Thư. ( Sử Gia Phạm Văn Sơn ).
2). Việt Nam Sử Lược. ( Học Giả, Sử Gia Trần Trọng Kim ).
3). Tường Trình Về Đàng Trong 1645.
( Bản ngoại ngữ của Alexandre De Rhode & Hồng Nhuệ dịch ).
4). Để Hiểu Lịch Sử Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam đầu thế kỷ 17.
( Nguyễn Khắc Xuyên ).
5). Các Websites : Nam Kỳ Lục Tỉnh, Chim Việt Cành Nam, Văn Nghệ Biển Khơi, DCVOnline.net. ...
6). Người Công Giáo Việt Nam tại Pháp 1975 - 2005.
( SH. Trần Công Lao ).
7). Université Paris 7 Denis Diderot. ( UFR Asie Orientale ).
8). Cité Nationale de L' Histoire de L' Immigration.
9). Bulletin de L' ANAI.
10). Le Paris Asie: 150 ans de présence Asiatique dans la Capitale.
( Pascal Blanchard + Eric Dero ).

Hiện nay số người Việt Nam ( được xem như đã có gốc quốc tịch Việt Nam ) đang sinh sống định cư tại Pháp là khoảng 300.000 người. Tại thủ đô Ba-Lê và vùng phụ cận ( gọi là vùng Ile De France ) có vào khoảng hơn 100.000 người và phần còn lại thì sống định cư tại hầu hết mọi nơi trên đất Pháp, phần lớn tập trung tại các thành phố lớn của nước Pháp như Marseille, Lyon, Toulouse, Bordeaux, Nantes, Lille, Rennes...

Ai là người Việt Nam đầu tiên đã đặt chân đến nước Pháp... và sau đó những người Việt Nam khác đã lần lượt đến Pháp như thế nào?

Trước tiên, xin phép được đề cập một cách tổng quát về sự hiện diện của người Âu châu ( trong đó có người Pháp ) đã có mặt tại Việt Nam qua các thời gian khác nhau như sau:

- Từ thời Hậu Lê, khởi đầu bằng Lê Thái Tổ ( 1428 - 1433 ) và lúc bấy giờ vào năm 1428 từ Chiêm Thành đã có người Tây Dương ( tức là người Âu Châu ) là Giám Mục Đốc Chính tên là GiaCôBa lén lút vào vùng biển thuộc lãnh thổ nước Việt Nam ta để vẽ bản đồ gửi về cho Đức Giáo Hoàng...
- Rồi đến năm 1533 lại có Giám Mục Ingatiô lén lút vào truyền giáo ở làng Ninh Cường huyện Nam Chân thuộc miền Bắc nước Việt Nam của chúng ta... Rồi kể từ đó thì có những nhà truyền giáo cũng như thương buôn lần lượt đến nước ta từ Bắc Hà cũng như Nam Hà mà sử sách còn gọi là Đàng Ngoài và Đàng Trong.

- Căn cứ theo các sử liệu còn ghi lại thì chúng ta có thể xác định rằng : " Những người Âu Châu đầu tiên, trong đó có người Pháp, mà khởi thủy đa số là các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo rồi đến các thương buôn đã có mặt ở nước ta vào đầu thế kỷ 15 ( tức là vào khoảng năm 1428 ), rồi đến thế kỷ 16, 17, 18 và cho đến giữa thế kỷ thế 19, vào năm 1858, người Pháp công khai tấn công và xâm lược đất nước Việt Nam...

Người viết xin xin được ghi nhận một số thời điểm tổng quát như sau:

- 1428: Giám Mục Đốc Chính Gia Cô Ba từ Chiêm Thành lén lút và vùng biển Việt Nam.
- 1533: Giáo Sĩ Ingatiô ( YNêKhu ) đến Đàng Ngoài để giảng đạo.
- 1614: Giáo Sĩ Jean De La Croix đến Việt Nam.
- 1615: Giáo Sĩ Buzomi ( người Ý ) thuộc dòng Tên tới Đàng Ngoài.
- 1616: Giáo Sĩ André Fernandes ( người Bồ Đào Nha ) tới Việt Nam.
- 1617: Hai Giáo Sĩ Francesco De Pina và Francisco Barreto ( cả hai đều là người Bồ Đào Nha ) tới Đàng Trong của Việt Nam.
- 1618: Giáo Sĩ Cristophoro Bori ( người Bồ Đào Nha ) và Marquez ( người Bồ Đào Nha lai Nhật Bổn ) đến Việt Nam.
- 1624: Giáo Sĩ Alexandre De Rhodes ( người Pháp ) đến Đàng Trong của Việt Nam.
- 1625: Giáo Sĩ Cadière đến Việt Nam.
- 1626: Hai Giáo Sĩ Baldinotti và Giuliô tới Đàng Ngoài.
- 1629: Giáo Sĩ Gaspar d' Amaral tới Đàng Ngoài.
- 1631: Hai Giáo Sĩ Cardim và Antonia De Fonte tới Đàng Ngoài.
- 1632: Giáo Sĩ Jêrónimo Majórica tới Đàng Ngoài.
- 1640: Giáo Sĩ De Mattos tới Đàng Trong
- 1646: Hai Giáo Sĩ Metello Saccano và Balthasar Caldera tới Đàng Ngoài.
- 1658: Giáo Sĩ Tissanier tới Đàng Ngoài.
- 1666: Thương buôn François Caran ( người Pháp ) tới Đàng Trong.
- 1678: Thương buôn Boureau Deslandes ( người Pháp ) tới Đàng Ngoài.
- 1682: Hai Giám Mục Metellopolis và Lanneau tới Huế gặp Chúa Hiền
- 1684: Thương buôn Chappelier ( người Pháp ) tới Đàng Ngoài.
- 1686: Thương buôn Verret ( người Pháp ) đến vùng Côn-Lôn thuộc Đàng Trong.
- 1721: Hai thương buôn người Pháp tên là Renault và De La Baume đến Đàng Ngoài.
- 1737: Thương buôn Dumas ( người Pháp ) đến Đàng Ngoài.
- 1748: Thương buôn Dumont ( người Pháp ) đến Đàng Trong.
- 1749: Thương buôn Pierre Le Poivre ( người Pháp ) đến Đàng Ngoài.
- 1753: Thương buôn Prolais - Leroux ( người Pháp ) đến Côn - Lôn thuộc Đàng Trong.
- 1767: Giáo Sĩ Pierre Pigneaux tức Bá Đa Lộc đến Đàng Trong.

* Ghi Chú Đặc Biệt: 

Người có công đầu trong việc sáng chế CHỮ QUỐC NGỮ là LINH MỤC FRANCESCO DE PINA ( 1585 - 1625 ), một Giáo Sĩ Dòng Tên, người Bồ Đào Nha ( Portugese ), đến Đàng Trong năm 1617, từ trần vì bị đắm thuyền ở Đà Nẵng năm 1625. Ông là người đầu tiên nói thạo và giảng đạo bằng tiếng Việt. Hợp tác với nhiều người và đặc biệt nhờ sự giúp đỡ của một thanh niên Việt Nam có tên đạo là Phê - Rô... Và trong số các học viên học tiếng Việt với Linh Mục Francesco De Pina có một người về sau nổi tiếng tên là Alexandre De Rhodes ( 1593 - 1660 ). Giáo Sĩ Alexandre De Rhodes đến Hội An năm 1624. Alexandre De Rhodes còn học tiếng Việt với nhiều người địa phương, trong đó có một thiếu niên Việt Nam 13 tuổi rắt thông minh tên là Phan An và sau đó Phan An được Alexandre De Rhodes nhận làm con nuôi, cho theo đạo Thiên Chúa và trở thành Thầy Giảng Đạo tên Raphael Rhodes. Năm 1645 Alexandre De Rhodes bị trục xuất ra khỏi Đàng Ngoài và ông đén Macao.

***
Bây giờ xin phép được trở lại chủ đề chính của bài viết: LỊCH SỬ VỀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TẠI PHÁP.

A). NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN ĐẾN NƯỚC PHÁP:

Người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến nước Pháp là ông Phan An vào năm 1649 cùng với Giáo Sĩ Alexandre De Rhodes. Ông Phan An sinh năm 1611 tại Hội An ( miền Trung Việt Nam ). Năm 1624, giáo sĩ Alexandre De Rhodes đến Việt Nam giảng đạo và nhận ông Phan An làm con nuôi ( sau vài tháng đặt chân đến Việt Nam ). Giáo Sĩ Alexandre De Rhodes nhận ông Phan An theo đạo Thiên Chúa, cho học đạo rồi dạy cho trở thành Thầy Giảng Đạo. Khi được nhận làm con nuôi thì lúc bấy giờ ông Phan An được 13 tuổi và là một thiếu niên rất thông minh. Năm 1645, Giáo Sĩ Alexandre De Rhodes bị trục xuất khỏi Việt Nam và giáo sĩ mang theo ông Phan An đến Ma - Cao. Năm 1649, giáo sĩ Alexandre De Rhodes trở về Pháp và cũng có cả ông Phan An. Ở Pháp được một năm và năm sau tức là năm 1650 cả hai người cùng đến La - Mã ( Ý Đại Lợi ). Năm 1653, ông Phan An trở về Việt Nam và mất năm 1668 ( lúc 57 tuổi ). ( Đây là ghi theo gia phả của ông Phan Xuân, con cháu nhiều đời trong gia đình của ông Phan An ở Đà - Nẵng ).

B). CÁC PHÁI ĐOÀN và MỘT SỐ CÁ NHÂN TIÊU BIỂU:

- 1787: Phái Đoàn Hoàng Tử Cảnh ( với sự hướng dẫn của giáo sĩ Pierre Pigneaux tức Giáo Sĩ Bá Đa Lộc ). Phái đoàn nầy ngoài Hoàng Tử Cảnh còn có thêm các ông Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm, Trần Văn Học, bà Đặng Thị Sen và nhiều người khác nữa... ( xin xem chi tiết ở phần Các Sự Kiện và Nhân Vật Đáng Chú Ý ).
- 1794: Các ông Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính. Vào năm 1793, năm Quý Sửu, niên hiệu Cảnh Thịnh 1, tháng 10 năm 1793, hai giám mục người Việt Nam thuộc Dòng Tên tại địa phận Nam Chân của Việt Nam là Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính sang Pháp rồi sang Ý để khiếu nại với Đức Giáo Hoàng về việc xóa tên Dòng Tên. Đầu tiên họ đến Ma - Cao, sau đó đi bằng đường thủy trong vòng 6 tháng mới đến được Pháp và ngày 8 tháng 4 năm 1794 họ đặt chân đến nước Pháp.
- 1863: Phái Đoàn Phan Thanh Giản. Phái đoàn do ông Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp, ngoài ra còn có thêm các ông Phạm Phú Thứ, Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Văn Chất, Trương Vĩnh Ký và nhiều người khác nữa...( Xin xem thêm chi tiết ở phía sau ).
- 1867: Ông Nguyễn Trường Tộ.
- 1889: Các ông Nguyễn Miên Triên và Bùi An Niên.
- 1893: Các ông Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo và...
- 1898: Các ông Thân Trọng Huề, Lê Văn Chính, Lê Văn Miên và...
- 1899: Vua Hàm Nghi.
- 1908: Các ông Phan Văn Trường, Nguyễn Thúc Quýnh và...
- 1909: Các ông Nguyễn Khắc Vệ, Nguyễn Bá Luận, Lê Công Sủng, Lê Công Phước ( con trai của ông Lê Công Sủng, sau nầy là Bạch Công Tử ở Việt Nam ), Trương Vĩnh Hằng ( con trai của ông Trương Vĩnh Tống và cũng là cháu nội của ông Trương Vĩnh Ký ), Trần Lâm Đặng, Hoàng Tích Chu, Đinh Mạnh Triết, Đặng Phục Thông và...
- 1910: Ông Nguyễn Thế Truyền.
- 1911: Các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Dật, Trần Xuân Hồ, Phạm Phú Khai, Nguyễn An Ninh, Bùi Kỹ, Bùi Thiện Cơ, Phan Kế Toại, Trương Như Đính, Nguyễn Tất Thành ( sau nầy có tên là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh... ) và...
- 1913: Các ông Trần Lê Luật, Nguyễn Duy Hinh ( Đốc Phủ Kiểng ) và...
- 1915: Cô Hoàng Thị Quế, còn có tên là Thế ( con gái của ông Hoàng Hoa Thám, mệnh danh là Hùm Xám Yên Thái trong thời gian chống Pháp ở Việt Nam ) và...
- 1916: Vua Thành Thái và Vua Duy Tân ( có thêm vợ của vua Duy Tân là bà Mai Thị Vàng, nhưng một thời gian ngắn thì bà Vàng xin được trở về lại Việt Nam và được chấp thuận ), các ông Nguyễn Thế Tắc, Nguyễn Thế Thu và...
- 1917: Ông Nguyễn Thế Song, ông Trần Văn Đôn sinh ra tại Pháp ( sau nầy là Trung Tướng Trần Văn Đôn trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ) và...
- 1918: Ông Trần Văn Chương và…

C). THỜI KỲ ĐỆ NHẤT THẾ CHIẾN ( 1914 - 1918 ):

Lúc đầu,tổng số người bị bắt đưa đi Pháp trong diện đi quân dịch cho Pháp thuộc các tỉnh muền Nam Việt Nam ( Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hòa, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một,Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Sóc Trăng, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên ) là 8850 người và được phân chia ra như sau : 2000 người lính Pháo Thủ, 3250 người giúp việc Quân Y, 250 người lo về Quân Nhu, Tiếp Liệu, 3000 người thợ không chuyên môn ( ONS ) và 50 người làm Thông Dịch Viên.

Sau đó, trong thời gian Đệ Nhất Thế Chiến, chính quyền bảo hộ tại Việt Nam đã gửi đi qua Pháp nhiều người Việt Nam qua nhiều lần, tổng cộng khoảng trên, dưới 100.000 người, trong đó có 2 đợt quan trọng và nhiều người là 43.000 người và 56.000 người và trong cuộc chiến tranh nầy đã có khoảng hơn 10.000 người đã chết và được an táng nhiều nơi trên nước Pháp... đặc biệt, tại Nghĩa Trang Nogent Sur Marne thuộc ngoại ô của thủ đô Paris có an táng cho 1123 người và được cải táng nhiều lần. Và hiện nay ( năm 2020 ) tại nghĩa trang nầy còn có một ngôi mồ chôn tập thể hơn 100 hài cốt của người Việt Nam đã tử trận trong cuộc Chiến Tranh Đệ Nhất Thế Chiến tại Pháp. Và cũng hiện nay, HỘI CỰU CHIẾN BINH NHẢY DÙ ÂU CHÂU của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, phối hợp cùng một số tổ chức, hội đoàn, cá nhân trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tự Do tại Pháp... thiết lập một ĐÀI TƯỢNG NIỆM với hình tượng TIẾC THƯƠNG cùng LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ tung bay thường xuyên tại nghĩa trang nầy... và hàng năm, vào tháng 11 Dương Lịch có tổ chức một ngày VINH DANH, TƯỞNG NIỆM các Chiến Sĩ Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa... cùng các tiền nhân Việt Nam ( trong ngôi mộ tập thể hơn 100 hài cốt của người Việt Nam)... ngày đó được trang trọng gọi là NGÀY GIỔ LÍNH. Phải thành thật công nhận, có được NGÀY GIỔ LÍNH hàng năm (từ gần 20 năm nay ) là công lao to lớn của HỘI CỰU CHIẾN BINH NHẢY DÙ ÂU CHÂU QL/VNCH. ... mà phải ghi nhận sự hy sinh của các Niên Trưởng, Chiến Hữu, Thân Hữu sau đây : Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân, Đại Tá Trần Đình Vỵ, các Bác Sĩ Trần Đức Tường, Phạm Tu Chính, Phan Khắc Tường, Lê Quang Thuận, Tạ Thanh Minh và nhiều bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ khác nữa ( trong tập thể Nha, Y, Dược Sĩ tại Pháp )... các chiến hữu như Thiếu Tá Lâm Văn Rớt, Đại Úy Trần Hoàng Lộc ( đương nhiệm Hội Trưởng Hội Cựu Chiến Binh Nhảy Dù Âu Châu QL/VNCH ), các chiến hữu Đặng Vũ Lợi ( Thiếu Tá Hải Quân, Hội Trưởng Hội Hải Quân & Hàng Hải VNCH tại Pháp ), Phan Văn Song, Vũ Hữu Thành, Cao Tấn Lộc, Lê Ngọc Khoa, Đặng Vy Khanh, Nguyễn Long Diên... cùng nhiều chiến hữu QL/VNCH khác nữa và cùng sự tiếp tay của quý thân hữu trong đại gia đình QL/VNCH như các anh chị Phê+Thu Vân, anh chị Đỗ Văn Soạn+Hương Liên, chị Tường Oanh, anh chị Felix Thanh Ginet, anh Nguyễn Văn Đông (Phóng Viên đài TH/9 VNCH )... và nhiều người khác nữa...
...................................................................
Xin được trở lại chủ đề: LỊCH SỬ VỀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TẠI PHÁP.
Về phía Công Giáo, có một người mang cấp bậc Thượng Sĩ tên là Đỗ Văn Khánh.
Về phía Phật Giáo, có một nhà sư tên là Nhan Lại ( cũng có tên là Nhan Hồi ) tại vùng Fréjus. Tại Fréjus, sau nầy, có một cái am và sau đó thành một cái chùa tên là Chùa Hồng Liên.

D). TỪ SAU ĐỆ NHẤT THẾ CHIẾN CHO ĐẾN ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN:

- 1919: Các ông Trần Văn Chỉ, Diệp Văn Kỳ ( con của ông Diệp Văn Cương ), Lê Công Phước ( lần thứ 2 ), Trần Trinh Quy, cũng là Huy ( tức là Công Tử Bạc Liêu hay là Hắc Công Tử ), Nguyển Duy Tiên ( tức là Ba Tiên, Công Tử Bến Tre, con trai của ông Phủ Kiểng Nguyễn Duy Hinh ), và...
- 1920: Các ông Nguyễn An Ninh ( lần thứ 2 ), Đặng Văn Thu, Phan Khắc Sửu, và...
- 1921: Các ông Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Thượng Khoa, Nguyễn Hữu Thọ, bà Henriette Bùi Quang Chiêu ( con gái của ông Bùi Quang Chiêu ), và...
- 1922: Vua Khải Định, Thái Tử Vĩnh Thụy ( tức Vua Bảo Đại sau nầy ), các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Mạnh Hà, Lê Như Lâm, Nguyễn Duy Quang ( con trai của ông Phủ Kiểng Nguyễn Duy Hinh và ông Nguyễn Duy Quang là Đại Sứ của Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp sau cùng cho đến này 30.4.1975), Võ Văn Vân ( quê ở Thủ Dầu Một, sau nầy là chủ nhân nhà thuốc Võ Văn Vân ở Việt Nam), Văn Võ Vân ( quê ở Bến Tre, chủ nhân hãng Xà Bông Võ Văn ở Bến Tre sau nầy ), Hoàng Thân Vĩnh Cẩn, và…
- 1923: Các ông Nguyễn Thế Rục, Hoàng Văn Bích, và...
- 1924: Các ông Bùi Quang Giụ, Vi Văn Lê ( con trai của Tổng Đốc Vi Văn Định ), Vũ Liên, Nguyễn La Chánh, Lý Bình Huê Phan Văn Chánh, và...
- 1926: Cô Nguyễn Hữu Thị Lan ( tức Nam Phương Hoàng Hậu sau nầy ), các ông Tạ Thu Thâu, Trần Văn Ân, Bùi Công Trừng, Nguyễ Thế Thạch, Đặng Đình Thọ, Huỳnh Văn Phương, Hồ Hữu Tường, và...
- 1927: Các ông Ngô Đình Thục, Nguyễn Tường Tam ( tức nhà văn Nhất Linh ), và...
- 1930: Các ông Ngô Đình Nhu, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Phạm Duy Khiêm, và...
Điểm đặc biệt cần ghi chú là giữa 2 trận Thế Chiến 1 và 2, ngoài những số người do chính phủ bảo hộ tại Việt Nam gửi đi Pháp để bù đắp cho sự thiếu hụt công nhân trong các ngành nghề tại Pháp vào khoảng hơn 20.000 người, thì chính phủ bảo hộ Việt Nam còn cho khoảng hơn 1500 du học sinh xuất ngoặi du học tự túc, phần đông là các con của những người giàu có và những người làm công chức cho Pháp... trong đó có các ông Nguyễn Hữu Giải, Hồ Văn Kỳ Trân ( con trai của ông Hồ Biểu Chánh ), bà Liễu Thị Cẩm Hường ( con gái của ông bà bá hộ Liễu Văn Ngạc ở Tổng Bình Hưng, huyện Bến Cát tỉnh Thủ Dầu Một ), và... Riêng ông Nguyễn Hữu Giải, là con trai của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài, là một người học rất giỏi, đổ đạt cao, nhưng bị chết một cách bất ngờ, đáng nghi ngờ trước ngày hồi hương về Việt Nam.
- 1931: Gánh hát Huỳnh Kỳ của Lê Công Phước sang Pháp trình diễn có Lê Công Phước ( lần thứ 3 ) cùng một số nghệ sĩ như Bảy Nhiêu, Năm Phỉ, Năm Châu, Phùng Há và một số người thuộc nhân viên của đoàn hát.
- 1935: Các ông Trần Văn Thân, Đinh Văn Cam, Nguyễn Văn Tốt ( cả 3 ông là người ở Tổng Bình Hưng, huyện Bến Cát tỉnh Thủ Dầu Một và ông Nguyễn Văn Tốt là thân phụ sau nầy của người viết bài nầy ), ông Ngô Đình Luyện, và...
- 1937: Ông Lê Văn Thới ( sau nầy là Giáo Sư Lê Văn Thới, Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn ) , và...
- 1940: Ông Lê Bá Đảng ( sau nầy là một Họa Sĩ ), và...

E). THỜI KỲ ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN ( 1939 -1945 ):

Số người Việt Nam bị đưa sang Pháp ( trong diện bị cưởng bách ) trong trận Đệ Nhị Thế Chiến là 19.272 người, những người nầy đi trên 15 chuyến tàu khởi hành từ các cảng Sài Gòn, Hải Phòng và Đà Nẳng. Chuyến tàu thứ nhất rời Bến Sáu Kho, Hải Phòng ngày 20 tháng 10 năm 1939 và chuyến tàu cuối cùng cũng từ Hải Phòng vào ngày 6 tháng 6 năm 1940.
Khi đến Marseille, họ được tập hợp thành các đơn vị gọi là " Cơ " ( mỗi Cơ là 250 người ). Và cứ 10 Cơ là thành một " Đạo ", đặt dưới quyền chỉ huy của người Pháp. Có tất cả 74 Cơ nhưng rút gọn thành 5 Đạo tại các vùng Lodève, Bergerac, Sorgue, Toulouse, Marseille và làm việc trong các xưởng chế tạo thuốc súng hay các vật liệu xăy cất, hoặc làm việc ( công nhân ) tại các nhà ga xe lửa hay các sân bay.
Mỗi ngày, mỗi người được lãnh 15 Francs để tiêu vặt, còn tiền lương thì bị giử lại, khi nào trở về lại Việt Nam thì mới được lảnh số tiền lương nầy... Ngoài ra, họ còn được phát, mơ õi người : 1 áo tơi, 1 bộ quần áo nỉ dầy, 1 bộ quần áo v6i để đi chơi, 1 bộ quần áo xanh để làm việc, 2 áo le, 2 áo lót, 2 quần xọt ngắn và 3 đôi vớ len.

Tháng 6 năm 1940, Pháp đầu hàng Đức phải ký Hiệp Định Đình Chiến ( Armistice ), thì có 4426 người Việt Nam được xuống tàu trở về Việt Nam. Nhưng chẳng may, đường biển bị Hải Quân Anh Quốc ngăn chận và phong tỏa cho nên họ bị đưa tới đảo Madagasca, đảo Réunion và vùng Nam Phi mà không về được quê nhà Việt Nam.
Những người còn lại tại Pháp, trong khi chờ đợi hồi hương nhưng cuối cùng cũng không được trở về lại Việt Nam mà Bộ Thuộc Địa và sở MIO của Pháp đã ký giao kèo với các tư nhân hoặc với các chủ hảng để gửi họ đi làm công nhân về nhiều thứ việc làm trên khắp nước Pháp, kể cả việc làm cho Đức và đặc biệt có một số lớn được gửi đến vùng Camargue để khai thác việc trồng lúa và một số được đưa đi làm công việc xây dựng các công thự phòng thủ dọc bờ biển Địa Trung Hải.
Đầu tháng 1 năm 1950, sau nhiều đợt xuống tàu hồi hương về Việt Nam, số 19.272 người Việt Nam được đưa sang Pháp trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến còn lại hơn 3000 người tại Pháp và tất cả họ đều chính thức làm đơn xin ở lại Pháp.
Và trong năm 1943, có một ông Linh Mục Công Giáo tên là Cao Văn Luận đến Pháp và ở lại Pháp trong một thời gian và sinh hoạt với Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Pháp trong thời gian nầy.

F). TỪ SAU ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN CHO ĐẾN HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954:

Trong thời kỳ nầy, ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam, một số người Pháp ( công chức hay binh lính trong Quân Đội Viễn Chinh Pháp ) có vợ, con Việt Nam ( các con lai 2 dòng máu ) đã mang gia đình về Pháp, do đó có được những người Việt Nam sang Pháp trong diện nầy. Đồng thời, những gia đình Việt Nam giàu có hoặc có quyền thế cũng luôn luôn tìm cách cho con cái hoặc người thân thuộc trong gia đình sang Pháp để du học hoặc sinh sống để trốn lính, trốn chiến tranh đang xảy ra tại Việt Nam.

Tại Pháp, riêng đối với Công Giáo, từ năm 1946, người ta ghi nhận tại Paris đã có thành lập Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam ( Fédération Catholique Vietnamienne ). Theo nhân chứng là Linh Mục Cao Văn Luận cho biết rằng : " Hai người dẫn khởi hoạt động với chức vụ Chủ Tịch và Tổng Thư Ký của tổ chức nầy là các ông Trần Hữu Phương và Trương Công Cừu ( sau nầy có một thời gian làm Bộ Trưởng Ngoại Giao trong thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ). Tổ chức nầy gồm có các bộ phận thợ thuyền, phụ nữ, sinh viên... đặt dưới sự trợ giúp tinh thần của một Tổng Tuyên Úy Việt Nam và có trụ sở ở số 36 bis, boulevard Raspail, quận 7 Paris ( mua năm 1946 nhờ Đức Cha Henri Chapponli giúp đỡ ). Cha Tuyên Úy đầu tiên là Cha Trần Văn Hiến Minh.
Đồng thời ở các tỉnh miền Nam nước Pháp, nơi có đông người Việt Nam cư ngụ và vào thời điểm nầy, cũng bắt đầu có các hội Công Giáo Việt Nam thành hình. Thế rồi với danh nghĩa trung tâm lâm thời, Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Paris mời gọi tập họp 30 đại biểu giáo dân các vùng Paris, Lyon,Grenoble, La Roche Sur Foron, Arles, Tagascon, Bergerac, Sorgues, Mazargues, Toulouse... về họp đại hội tại khu Saint Cyprien ở Toulouse trong 2 ngày 31.03 và 01.04.1946 để chính thức thành lập 
Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp và đại hội mời đích danh các vị linh mục có tên sau đây làm 
Tuyên Úy cho các vùng như sau đây:

- Vùng Mazargues và Tagascon : Linh Mục ( LM ) Trần Văn Thiện.
- Vùng Paris, Privas, Grenoble, Moulin, Villebranne : LM. Cao Văn Luận.
- Vùng Carcasonne và Toulouse : LM. Nguyễn Ngọc Quang.
- Vùng Agen và Albi : LM. Hoàng Mạnh Hiền.
- Vùng Bergerac và Bordeaux : LM. Đinh Văn Hưởng.
Và từ năm 1946, có sự hiện diện tại Pháp của một số người Việt Nam như sau :
- 1946: Ông Trương Văn Quýnh, ông bà Nguyễn Duy Tài, và...
-1947: Bà Dương Quỳnh Hoa, các ông Hà Văn Trí ( quê ở Thủ Dầu Một ), ông Trần Kinh Luân ( quê ở Tây Ninh ), cô Nguyễn Thị Tuyết Mai ( con gái của ông bà Nguyễn Duy Tài sinh ra tại Pháp vào nâm 1947 nầy ), và...
- 1948: Các ông Dương Ngọc Lắm, Đỗ Cao Minh, Nguyễn Minh Châu, Trần Văn Trị, Bùi Hữu Nhơn, Vũ Quốc Thúc, Phan Văn Tạo, Lâm Văn Phát, Nguyễn Khánh, Cao Hảo Hớn, Trương Như Tảng, Nguyễn Trường Xuân ( tức nhạc sĩ Nam Phong sau nầy ở Việt Nam, và...
- 1949: Các ông Đỗ Cao Trí, Vĩnh Lộc, Nguyễn Văn Thiệu, Tôn Thất Đính, Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Chuân, Trần Văn Hổ, Lê Huy Luận, Âu Trường Thanh, Trần Bích Lan, Lê Quang Thuận, Nguyễn Xuân Thu, Trần Bích Lan ( tức thi sĩ Nguyên Sa sau nầy ), và...
- 1950: Các ông Ngô Đình Diệm ( lần thứ 1 ), Lê Trung Trực, Lê Mộng Nguyên ( Giáo Sư, Nhạc Sĩ, tác giả nhạc phẩm Trăng Mờ Bên Suối.)
- 1951: Các ông Ngô Đình Thục ( lần thứ 2 ), Võ Văn Hải, Trần Văn Tuyên, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Trọng Thi ( Kỷ Sư Informatiques rất nổi tiếng sau nầy tại Pháp và Hoa Kỳ ), và...
- 1952: Các ông Dương Văn Minh, Linh Quang Viên, Vương Văn Đông, Phạm Xuân Chiểu, gia đình ông Thủ Tướng Trần Văn Hữu, và...
- 1953: Các ông Ngô Đình Diệm ( lần thứ 2 ), Nguyễn Hồng Đài, Bồ Đại Kỳ, Đặng Cao Thăng, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Trương Quang Ân, Tôn Thất Thiện, Bùi Kiến Thành ( con trai của bác sĩ Bùi Kiến Tín ), Cao Văn Luận ( lần thứ 2 ), Lê Trạch Lựu ( nhạc sĩ, tác giả nhạc phẩm Em Tôi ), và…

G). TỪ SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 CHO ĐẾN BIẾN CỐ 30.4.1975:

Từ sau Hiệp Định Genève 1954 và người Pháp chuẩn bị rút khỏi Việt Nam, những người Việt Nam có liên hệ với Pháp gặp rất nhiều khó khăn, nên một số đông những người Việt Nam có quốc tịch Pháp, hoặc lai Pháp hay lấy chồng Pháp đã gấp rút lên đường đi sang Pháp.
Phần lớn khi đến Pháp họ được chính quyền Pháp cho định cư tại vùng Eure và Seine Maritime. Đặc biệt ở Noyant, một địa điểm nằm trên đường Moulin đi Montluçon thuộc tỉnh Allier, chính quyền Pháp đã biến khu nhà thợ mõ ( Coron ) do người Ba Lan xử dụng từ năm 1921 mà nay đã bỏ hoang từ lâu, thành ra "Làng Việt Nam " để đón những người Việt Nam đến từ Việt Nam : Từ những gia đình đầu tiên đến Noyant vào sáng ngày 29 tháng 10 năm 1955 cho đến cuối năm ấy, người ta ghi nhận là 700 người ( trong đó có gia đình ông bà Guyot Georges cùng 3 con và hiện nay gia đình ông bà Guyot Georges đang sinh sống tại thành phố Bondoufle thuộc vùng 91 ).

- 1955: Gia đình ông cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, các ông Lê Văn Viễn ( thường được gọi là Bảy Viễn ), Nguyễn Văn Hinh ( lần thứ 2 ), Lai Văn Sang, Lai Hữu Tài, gia đình ông bà Nguyễn Ước Lễ ( cựu Tổng Đốc Sơn Tây, Bắc Việt Nam ), bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm ( sau nầy là bà Dược Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Trâm, vợ của Bác Sĩ Lê Quang Thuận ), và...
- 1956: Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lúc người Pháp phải rời khỏi mièn Nam Việt Nam, toán lính Pháp cuối cùng rời khỏi Nam Việt Nam vào tháng 7 năm 1956, số người Việt Nam đến Làng Việt Nam ở Noyant lại càng đông hơn nữa. Đa số những người đến đều khai là Công Giáo chỉ một số ít là Phật Giáo và đạo Gia Tiên.
Tổng số người Việt Nam ở làng Noyant vào thời điểm cuối năm 1965 là khoảng 3000 người, kể từ đợt đầu tiên vào năm 1955, kế tiếp 1956 và những năm sau đó cho đến cuối năm 1965. Và đến ngày 01 tháng 06 năm 1966 thì trung tâm Noyant đóng cử hẳn và không nhận nữa những người Việt Nam có liên hệ với Pháp được xem trên danh nghĩa hồi hương trở về Pháp.
Ở Noyant có một linh mục người Pháp tên là Benay ngay từ năm 1955 và thỉnh thoảng có một linh mục Việt Nam là linh mục Trần Thanh Giản ( mà đa số những người Việt Nam thường gọi một cách thân thiện là Cha Giản ) từ Paris đến thăm các bổn đạo Công Giáo Việt Nam ở các vùng Cannes, Nice, Toulon, Marseille và cũng có ghé thăm Làng Việt Nam tại Noyant.

Bắt đầu từ năm 1962, Làng Việt Nam Noyant có cha Nguyễn Văn Long về làm Tuyên Úy. Ngoài Noyant ra, còn vài trung tâm tiếp đón người Việt Nam khác như ở Sainte Livrade, Bias ( Lot et Garonne), Le Vzeant ( Vienne ) và Saint Laurent d ' Ars ( Gironde ). Ba trung tâm sau vào năm 1962 đã giải tán người Việt Nam, nhường chỗ cho người Harkis.
Tại Sainte Livrade, từ năm 1956 có một linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris đến làm Tuyên Úy, đó là Cha Jean - Marie Viry ( thường được gọi là Cố Vị ), trước đây ông làm Tuyên Úy cho quân đội Pháp ở Việt Nam, ông vừ từ Việt Nam về Pháp,ông đến làm Tuyên Úy giúp cho gần 2000 giáo hữu Việt Nam tại Sainte Livrade và Bias.

Từ sau tháng 11 năm 1963, sau cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và sự cáo chung nền Đệ Nhất Cộng Hòa và nhất là sau Cuộc Chỉnh Lý vào năm 1964 của Tướng Nguyễn Khánh... trong thời gian nầy đã diễn ra làn sóng sinh viên miền Nam Việt Nam qua Pháp du học rất đông ( đây là con cái của những người giàu có, những vị tướng tá, công chức cao cấp của chính quyền miền Nam Việt Nam thời bấy giờ).
Theo nghiên cứu của ông Jean Hugues: " Từ năm 1963 đến 1970, những sinh viên Việt Nam du học tại Pháp, sau khi đổ đạt thì 80% đã ở lại Pháp không trở về lại Việt Nam, phần đông là giới Y - Khoa. Ông Hugues còn cho biết thêm, tại Pháp lúc bấy giờ, khi ra trường ngành Y Khoa, cứ 15 bác sĩ ra trường thường có một bác sĩ là người Việt Nam... Thật đúng là VẺ VANG DÂN VIỆT ( đân Việt của Miền Nam Việt Nam tức là VIỆT NAM CỘNG HÒA với lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ thân yêu... ).
***
* Phần Ghi Chú Đặc Biệt: CÁC SỰ KIỆN và CÁC NHÂN VẬT ĐƯỢC GHI NHẬN CÓ NHIỀU DẤU ẤN ĐẶC BIỆT:

1). Ông PHAN AN là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến nước Pháp vào năm 1649. ( Đã trình bày ở phần trước ).

2). Phái Đoàn của HOÀNG TỬ CẢNH:
Tuân lệnh Vua Cha, Hoàng Tử Cảnh vào cuối năm 1784 ( tức tháng 11 năm Giáp Thìn, đã cùng Bá Đa Lộc ( tức Pigneau De Béhaine ) và 2 cận thận người Việt Nam là Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm và một số người Việt Nam khác trong phái đoàn lên đường sang Pháp.
Tới thàng 2 xuân Ất Tỵ ( 1785 ), họ tới Pondichéry, một thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ và dừng lại đây một thời gian vì khi đó ở Pháp đang xảy ra những bién cố chính trị bất ổn.
Tới tháng 6 năm Bính Ngọ ( 1786 ), phái đoàn nầy đã theo chién thuyền Aréthuse nhắm hướng đến thẳng Pháp..
Phái đoàn Hoàng Tử Cảnh đến Paris vào tháng 2 năm Đinh Mùi ( 1787 ). Triều đình Pháp dùng Vương Lễ đối đãi với Hoàng Tử Cảnh.
Ngày 5 tháng 5 năm 1787, Hoàng Tử Cảnh vào triều kiến ở điện Versailles và khá được sủng ái vì vẻ bề ngoài khôi ngô tuấn tú ( lúc bấy giờ Hoàng Tử Cảnh được 7 tuổi ).
Ở Paris, Bá Đa Lộc đã thue người hầu chải tóc cho Hoàng Hậu Marie Antoinette tên là Léonard đích thân trực tiếp đến sửa tóc và trang điẻm cho Hoàng Tử Cảnh và Léo nard đã bỏ khăn nhiểu thay bằng khăn lih đỏ thắt múi do chính Léonard vẽ kiểu. Bá Đa Lộc còn yêu cầu mang cho Hoàng Tử Cảnh một bộ y phục kiểu Pháp pha Á Đông, bỏ áo dài quần lụa và rồi thuê một họa sĩ tên là Maupérin vẽ chân dung Hoàng Tử Cảnh mặc áo đỏ, đi hia đỏ, tay phải đặt lên một cái mu, đầu quấn khăn Léonard. Bức tranh vẽ nầy được trưng bày ở Viện Hàn Lâm Hội Họa và Đieu Khắc của Pháp năm 1791, sau đó Hội Truyền Giáo Nước Ngoài ở Paris lư u giữ.
Được biết rằng ngày 28 tháng 11 năm 1787, Bá Đa Lộc ( được xem như thay mặt cho Hoàng Tử Cảnh qua sự ủy thác của Nguyễn Ánh ) và Bá Tước De Montmorin, ngoại trưởng của chính phủ Pháp, ký Hiệp Ước Versaillles : " Đổi lấy viện trợ quân sự của Pháp để chống lại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh nhường cho Pháp Tourane, Poulo Condor và cho Pháp giử độc quyền thương mại ". Lúc đầu, De Montmorin không muốn Pháp giúp nhưng Bá Đa Lộc đã thuyết phục rằng nước Nam giàu tài nguyên, nếu Pháp không chiếm đoạt, sẽ có các nước khác như Anh hay Bồ Đào Nha sẽ nhảy vào tranh lấy cho nên Pháp đã ưng thuận theo Hiệp Ước Versailles và Vua Louis 16 đã ban riêng cho Bá Đa Lộc một số tiền khá lớn ".
Tháng 12 năm 1787, phái đoàn Hoàng Tử Cảnh lên đường trở về Việt Nam,Bá Tước De Montmorin, ngoại trưởng Pháp gửi Bá Tước De Conway theo phái đoàn để lo toan việc hổ trợ của Pháp như đã hứa theo Hiệp Ước Versailles.
Tháng 5 năm 1788, phái đoàn về đến Pondichéry, Bá Tước De Conway, có lẽ vì ghen với địa vị của Bá Đa Lộc, không chịu hợp tác và giúp đở như lời căn dặn của Bá Tước De Montmorin. Bá Đa Lộc rất tức giận, sẵn đã có tiền của Vua Louis 16 ban cho, liền xuất ra chiêu mộ binh sĩ và trang bị chiến thuyền Méduse đưa về nước Nam.
Ngày 15 tháng 6 năm 1789 ( năm Kỷ Dậu ), phái đoàn lại khởi hành về nước trên tàu Méduse.
Ngày 24 tháng 6 năm 1789, phái đoàn về tới Nam Kỳ.
Những người Việt Nam trong phái đoàn Hoàng Tử Cảnh, ngoài 2 ông Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm là các quan của triều đình, còn có các ông Trần Văn Học, Lê Đức Hạnh, bà Đặng Thị Sen và một số người khác nữa.

- BÁ ĐA LỘC: Ông có tên là Pigneau De Béhaine, sinh năm 1741 tại Origny en Thiérache vùng Aisne của nước Pháp. Hoàn tất việc học ở Paris và sau đó vào Chủng Viện Hội Truyền Giáo Nước Ngoài ( Société Des Missions Étrangères ). Nhà truyền giáo trẻ tuổi nầy rời Lorient ( Pháp ) năm 1765 và đến vùng đất Hà Tiên ( Việt Nam ) vào năm 1767, được bổ nhiệm vào Chủng Viện ở đây và trở thành Cha Cả vào năm 1769. Bá Đa Lộc gặp Nguyễn Ánh vào năm 1775 và đã liên tục, có khi trục tiếp, có khi gián tiếp làm việc với Nguyễn Ánh trong vòng 24 năm.
Bá Đa Lộc qua đời vào ngày 9 tháng 10 năm 1799 tại Bình Định, linh cửu được đưa về Sài Gòn và được an táng trong khu vực Chí Hòa và chính Nguyễn Ánh đã chủ tọa Lễ An Táng cho Bá Đa Lộc theo Nghi Thức Hoàng Tộc và khu vực mộ địa của Bá Đa Lộc sau nầy được xây dựng thành lăng mà người Việt Nam gọi là Lăng Cha Cả. Trước năm 1975, tại miền Nam Việt Nam, Lăng Cha Cả tọa lạc tại Ngã Tư Bảy Hiền của thủ đô Sài Gòn.
- PHẠM VĂN NHÂN: là dòng dõi thế gia, đã theo phò Nguyễn Ánh, ra trận lập công to, làm quan đến chức Chưởng Cơ Thần Sách cai quản tướng sĩ đến 5 đồn.
- NGUYỄN VĂN LIÊM: theo phò Nguyễn Ánh, làm quan đến chức Thuộc Nội Cai Cơ trông coi thị vệ ở Long Diên.
- TRẦN VĂN HỌC: sinh năm 1750 tại huyện Bình Dương thuộc Gia Định Thành. Thuở nhỏ, ông theo học đạo Thiên Chúa với giáo sĩ Bá Đa Lộc và năm 1782, ông được Bá Đa Lộc giới thiệu với Nguyễn Ánh.
Nhận thấy ông Học là người có học cho nên Nguyễn Ánh đề cử cho tháp tùng theo phái đoàn Hoàng Tử Cảnh với tư cách một thành viên chính thức đặc trách về Lịch Sử và Địa Lý.
Năm 1790, ông Học là người Việt Nam đầu tiên tự tay đo đạc, lập bản đồ quy hoạch thành Gia Định, trù liệu mở các con đường trong thành. Ông Học cũng là người vẽ bản đồ của thành phố Mỹ Tho năm 1792.
Năm 1821, Vua Minh Mạng sai ông Học vẽ bản đồ quy hoạch lại các trấn thuộc Gia Định Thành, đường sá cho giáp tới biên giới Chân Lập và năm 1823 thì ông Học qua đời.
- LÊ ĐỨC HẠNH: sinh năm 1764 tại huyện Bình Dương thuộc Gia Định Thành, ông là em vợ của ông Trần Văn Học, cũng theo học đạo Thiên Chúa với Bá Đa Lộc và được giới thiệu với Nguyễn Ánh cùng thời với ông Trần Văn Học.
Ông Lê Đức Hạnh có tướng mạo cao ráo, trắng trẻo, đẹp trai và đặc biệt rất khéo tay trong việc may mặc quần áo và hớt tóc, chải tóc, trang điểm sắc đẹp... Ông Hạnh được đề cử theo phái đoàn Hoàng Tử Cảnh và có trách nhiệm lo việc quần áo, trang điểm và chải tóc cho Hoàng Tử Cảnh.
Trong thời gian phái đoàn Hoàng Tử Cảnh ở Pháp, ông Hạnh lo việc quần áo và trang điểm cho Hoàng Tử Cảnh cho nên ông Hạnh đã gặp được ông Léonard cũng được mời đặc biệt lo quần áo và trang điiểm cho Hoàng Tử Cảnh. Nhận thấy Ông Hạnh có tướng mạo đẹp và khéo tay, ông Léonard muốn giữ ông Hạnh ở lại Pháp và nhận làm con nuôi... và đã được Bá Đa Lộc chấp thuận. Sau khi nhận ông Hạnh làm con, đọc và phát âm tên ông Hạnh xong thì ông Léonard đặt cho ông Hạnh một cái tên và họ theo tiếng Pháp như sau: LEDUC Henri ( phỏng theo tên, họ LE DUC HANH ).
Và theo lời ông Trần Văn Học kể lại sau nầy rằng : ( ông Hạnh ở lại Pháp và sau đó liên lạc với gia đình ông bà Trần Văn Học ): Ông Lê Đức Hạnh mà sau nầy là LEDUC HENRI, ở lại Pháp, có vợ người Pháp và cũng có con, cháu nối tiếp sau nầy theo dòng họ LEDUC.

* LỜI BÀN RIÊNG của NGƯỜI VIẾT: Hiện nay, tại Pháp có dòng họ LEDUC, như vậy, có thể có những người Pháp thuộc dòng họ LEDUC chính thống của người Pháp. Và cũng có thể có những người thuộc dòng họ LEDUC xuất phát từ người Việt Nam mang tên gốc Lê Đức Hạnh mà tên Pháp là LEDUC HENRI đã được ông Léonard đặt cho... Có thể lắm thay !!!

Nguyễn Vân Xuyên