Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Ngọc Thuần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Ngọc Thuần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Vài Tiếng Việt Rắc Rối Giữa [D] Và [Gi] - Hà Ngọc Thuần

 

Da-Tô: viết [D] theo Đào Duy Anh. Đồng ý có Cụ Lê Ngọc Trụ, trong Chánh tả Tự Vị. phần đông chúng ta đều viết [Gi]a-Tô. Phiên âm của Jesus (Pháp và Anh).
Nhưng người ta chỉ dùng Gia-tô trong cụm từ Gia-Tô giáo hay Đạo Gia-Tô.
Người Việt học Đạo trực tiếp từ các giáo-sĩ người Tây Âu, nên ít dùng tiếng Hán Việt; Jesus dịch thẳng là Giê-Su. Cruz mới đầu dịch là câu rút, sau mới
dịch lại là thập-tự giá hoặc thánh giá. Sau này việc học giáo lý mở mang nhất là thần học, mới cần nhiều cụm từ Hán Việt.

Dác: viết [D] theo Đào Duy Anh. = sừng động vật = góc. Rhinoceros = tê dác; trigonometry = lượng dác học. Cụ Lê Ngọc Trụ không tán thành ý kiến này, và hầu hết các từ điển đều viết [Gi] như Ngũ Giác Đài = the Pentagone (tiếng Hán-Việt thêm chữ Đài). Ngũ Giác Đài( là một mục tiêu tấn công trong biến cố 11/9, nhưng không thiệt hại gì nhiều)..
Cụ Đào Duy Anh có thể đúng (?) nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ (?)

Dái: 
1. "Già dái non hột " có lẽ là già giái (= trái) non hột
2. "Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy dái đỏ hồng hồng" có lẽ là trường hợp tương tự, dái = giái ( = trái)
3. "Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét"
      chữ dái này có lẽ là một cách đọc của "vái" (?) ( = bái).

Dáng: không phải "dáng" , mà cũng không phải "giáng" mà là Ráng mới đúng, và Cụ Thiều Chửu là người duy nhất chủ trương thuyết này. Ráng là tiếng nôm, tiếng Hán dịch là "hà". Theo Cụ Thiều Chửu [Gi]áng phiên âm với nghĩa màu đỏ là bịa đặt.

Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Vương Bột)

Trong Légendes des Terres Sereines, Histoire de Từ Thức Phạm Duy Khiêm dịch Giáng Hương là l'Encens Vermeil. Vermeil = Giáng = Ráng = Mầu đỏ
Không phải là hương từ trên trời "giáng" xuống hạ giới.

Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người
(Huyền Chi/ Phạm Duy - Thuyền Viễn Xứ)

Rất tiếc là là trong Truyện Tú Uyên, cũng trong sách Legendes, Ông Phạm Duy Khiêm không dịch Giáng Kiều sang tiếng Pháp. (có thể nào dịch là Beauté vermeille ???)

Nhà thơ Pháp Victor Hugo cũng rất thích màu Ráng trời này

Seigneur préservez moi préservez ceux que j'aime
Frères parents amis et mes ennemis même
Dans le mal triomphants
De jamais voir l'été sans fleurs vermeilles
La cage sans oiseaux, la ruche sans abeilles
La maison sans enfants.

Danh: không phải "danh" mà cũng không phải "gianh" mà là "ranh " mới đúng. Đây là giả thuyết của nhà văn Việt Điểu Thái Văn Kiểm, đoán chừng sông Gianh

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời Nam
(Đằng Phương)

Khởi đầu là ranh giới Đàng Trong và Đàng Ngoài nên gọi là Sông Ranh, tiếng Hán dịch là Linh Giang (Linh là tiếng phiên âm gần đúng của Rinh = Ranh). Nguyễn Du có một bài thơ chữ hán nhan đề "Độ Linh Giang".

Với trình độ của tôi thì Cụ Thái văn Kiểm là nhà văn đáng tin cậy, nhưng thuyết Ranh Giang ít người biết hoặc nói đến, và tôi đã nhận được một ý kiến không chấp nhận thuyết này, khá cương quyết.

Dao: 
 1.Quỳnh dao

Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Nguyễn Du - Đoạn Trường Tân Thanh 143-144

Vẫn còn những người viết "quỳnh [Gi]ao" là sai (?) chính tả. Trừ trường hợp tên riêng.

2.Dao động: Là hai từ tôi gặp trong sách Vật Lý học lớp Đệt Nhất của Cụ Hoàng Cơ Nghị, dịch từ "oscillation" của Pháp, là chuyển động của một động tử trong mặt phẳng đối xứng
với một trục và giữ một khoảng cách cố định với một điểm gốc. Nôm na là chuyển động của con lắc đồng hồ. Viết [gi]iao động là sai chính tả.
Và không nên dùng lầm với náo động hay xao động., hay chấn động.

 Xin nhờ GS Huỳnh Chiếu Đẳng vốn là giáo-sư toán lý hóa giúp cho một định nghĩa ngắn gọn và đúng hơn, có tính cách khoa học hơn. Xin cảm tạ.

3.Tiêu dao:Tiêu Dao Du là chương đầu của sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, tiêu cũng đọc là "phiêu" và dao cũng đọc là "diêu". Nói tiêu diêu, tiêu dao, phiêu diêu đều đúng
(nhưng không ai nóí "phiêu dao" ?).

Trong nhiều lời phân ưu chúng ta thường đọc: xin cầu nguyện hương linh được sớm tiêu diêu miền Cực Lạc. Như vậy là kiêm cả Phật giáo và Lão giáo. Theo đạo Phật thì xin cầu nguyện cho hương linh được vãng sanh nơi Cực Lạc. Theo Lão giáo thì xin cầu nguyện cho hương linh được sớm tiêu dao miền Tiên Cảnh. Xin tùy nghi lựa chọn.

Xin tạm ngừng nơi đây và xin mời Anh Em đóng góp những [D] và [Gi] Anh Em đã thấy.

Hà Ngọc Thuần
01/06/2026

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2023

Nguồn Gốc Của Viola và Violin


Kính thưa quý Anh

Tên gọi chưa được thống nhất; violon là "hồ cầm" nhưng còn dịch là "vĩ cầm",thông dụng tại Saigon.
Vĩ cầm có kích thước không thay đổi, nhưng người làm đàn (luthier tiếng Pháp) có thể làm violon với kích thước nhỏ có quy định 1/2, 1/4 cho trẻ nhỏ mới học.

Người Việt có Ông Nguyễn Chánh Tín, tức Mỹ Tín (có cửa tiệm bán sách nhạc gần Nhà Thờ Huyện Sĩ) là có nghề "luthier" (làm đàn violon) tên được ghi vào danh sách chính thức những "luthier" trên toàn cầu. Người Việt nổi tiếng nhất về vĩ cầm có lẽ là Nhạc Sĩ Đỗ Thế Phiệt. Cố nhiên là có rất nhiều danh tài khác tôi không được biết.

Viola là nhạc khí chưa được phổ thông tại Việt Nam, dường như chỉ có Nhạc Sĩ Nguyễn Quý Lãm??? sử dụng; chưa nghe thấy có tên bằng tiếng Việt; tôi có mạo muội đề-nghị (rất táo-bạo) dịch là "thứ vĩ cầm". Tuy nhiên cứ gọi là "viola", không dịch cũng không sao.

Viola thường dùng làm bè thứ 3, phía dưới bè vĩ cầm 1 và vĩ cầm 2. Thường được coi là người bạn tốt, lúc thì giúp vĩ cầm bè cao ở phía trên, lúc thì giúp cello bè trầm ở phía dưới.

Chúng ta ít có sáng tác về nhạc cổ-điển, dường như Nhạc Sĩ Văn Giảng (Ai về Sông Tương) [đã qua đời tại Melbourne] đã có soạn một "tứ tấu khúc"(quartet). Tôi chưa được coi nhưng nếu có dịp đi Melbourne sẽ nhờ bạn bè đến thăm gia đình để coi bản thảo.

Nhạc Sĩ Văn Giảng có một người con gái tốt nghiệp bác-sĩ y khoa (?).
Viola có kích thước thay đổi, người sử dụng tùy nghi chọn lựa cho vừa tầm tay.
Trong nhạc cổ điển tây phương, những bản nhạc soạn dành cho viola cũng tương đốiít có.

Hồ cầm hay (trung) hồ cầm, tiếng Pháp là violoncelle, tiếng Anh là cello, người sử dụng là "cellist" - trong y khoa người chuyên khảo về "cellule" là "cytologist" ! Cellist luôn luôn ngồi trong khi trình diễn. Tôi biết tại Anh quốc có một bác sĩ y khoa đã bỏ nghề y để trở thành full time cellist (tôi không nhớ tên ông này!) và rất thành công.

Vì kích thước lớn và có lẽ vì nhạc sĩ người Pháp ít mang theo sang Đông Dương (?),mặc dầu trên tầu thủy dư chỗ, không khó như trên máy bay ngày nay, violoncello dường như ít được biết đến tại Việt nam (??). Tại Hà Nội tôi chỉ biết có Nhạc Sĩ Nguyễn Trí Nhường sử dụng nhạc khí này. Khi Ban Gió Nam trình diễn tại Hà Nội với Nhạc Sĩ Võ Đức Thu dương cầm (piano) thì có Nhạc sĩ Nguyễn Văn Giệp vĩ cầm và Nhạc Sĩ Nguyễn Trí Nhường cello hòa tấu vài bản "tam tấu khúc" (trio) - lúc ấy tôi còn nhỏ c.1952 ?

Khi Trường Quốc Gia Âm Nhạc thành lập tại Saigon thì có một người Trung Hoa là Ông Phùng Hán Cao cộng tác về cello (?). Chắc là BS Nguyễn Đức An biết nhiều và biết rõ. BS An cũng đã học cello tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Ngoài ra có Ông Pierre Faucon, ký giả báo "Journal d'Extrême-Orient " tại Saigon cũng là cellist tài tử (amateur), thỉnh thoảng vẫn có bài báo hay phóng sự viết về âm nhạc.
Sau này tại Trung Tâm Văn Hóa (Tây) Đức (Goethe Institut) có một chuyên viên thường trình tấu nhạc violoncello, người thường có mặt là BS Lê Sỹ Quang, BS Đàm Xuân Khôi (hai bạn này đều đã qua đời) và tôi thường xuyên có mặt.

Có một danh cầm của Mỹ là Gregor Piatigorsky tới Saigon trình diễn cello, và đã có một bài của Luật Sư Trần Thanh Hiệp ghi nhận và ca ngợi: "Tiếp Nhận Piatigorsky".

Sau này cello trở nên phổ thông hơn tại Âu Châu và Mỹ Châu, với rất nhiều tài năng mới.
Bác Sĩ Nguyễn Mạnh Tiến cư ngụ tại Sydney có 3 cháu gái đều học cello. Vì ở xa nên tôi không biết rõ. [Chị Nguyễn Mạnh Tiến tốt nghiệp Dương cầm tại Saigon].

BS Nguyễn Thượng Vũ nói tới người cellist giữ đàn kẹp giữa hai chân, có lẽ giống như thời trước người ta vẫn có "viola da gamba" (?). gamba (hoặc giamba là chữ jambe của Pháp).

Đại hồ cầm, tiếng Pháp contre-basse tiếng Anh "bass" hay "contrabass" thì lớn hết cỡ nhưng lại được biết đến tại Việt Nam và có khá nhiều người sử-dụng. Tiếng đàn trầm, dùng thay cho tiếng trống để giữ nhịp. Có thể dùng ngón tay để nhấn dây đàn, nhưng cũng có thể dùng "archet".

Người sử dụng thường thường là đứng, nhưng cũng có khi ngồi ghế đặc biệt rất cao.
Bản nhạc dành cho contrabass trong nhạc cổ điển thì có rất ít, gần như là một thứ "curiosity" (?).

Thân kính

Hà Ngọc Thuần QYHD13
Brisbane 11 July 2023

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

Vọng Mỹ Nhân Hề Thiên Nhất Phương


Bác Sĩ Trần Xuân Dũng, Y sĩ Thiếu tá, nhà thơ nhà văn nhà báo nhà nhiếp ảnh, mới gửi tới tôi cuốn sách "Mỹ Nhân Tự Cổ Như Danh Tướng" tiểu thuyết dã sử, sách dày 124 trang, Tập San Y Sĩ Hội Y Sĩ Việt nam tại Canada phát hành. 3è Trimestre 2021 đệ tam tam cá nguyệt nghĩa là tháng 7 tháng 8 và tháng 9, không ghi rõ ngày.

Đây là tác phẩm cuối cùng của BS Hoàng Ngọc Khôi (Hoàng Xuân Thảo) trước khi tạm biệt, với Lời Bàn của (BS) Nguyễn Thanh Bình, Thơ Cảm Đề của BS Trần Xuân Dũng, Bìa (BS) Mùi Quý Bồng, Minh Họa của (BS) Mùi Quý Bồng, (BS) Lê Thành Ý (Liza).
Trong Lời Cảm Tạ của (BS) Thân Trọng An, Tập San Y Sĩ trân trọng đa tạ sự đóng góp quý báu của BS Mùi Quý Bồng Houston Texas BS Lê Thành ý Montreal BS Đặng Ngọc Thuận Montreal, BS Trần Văn Tích Đức Quốc Học Giả Phí Minh Tâm Hoa Kỳ và BS Hoàng Minh Giám Hoa Kỳ.
Toàn cuốn sách in trên papier glacé glossy paper giấy láng.

Cuốn sách này nằm trên mức hiểu biết của tôi về nghệ thuật, ở trên trình độ của tôi về thưởng ngoạn.
Xin gửi tới Anh Em hình bìa sách của Bác Sĩ Mùi Quý Bồng, họa sĩ, thi sĩ... gọi là một chút quà chia sẻ
cho nhau.

Và thành kính tưởng nhớ tới Anh Linh của Niên Trưởng Hoàng Ngọc Khôi.
Mỹ nhân không phải là Marilyn Monroe của Mỹ hay Brigitte Bardot của Pháp, cũng không phải là Lăng Ba Lâm Đại của Hương Cảng, mà là Đặng Thị Huệ cô hái chè trở thành Tuyên Phi của Chúa Trịnh Sâm.
Kết cục bi thảm không thành chuyện Cinderella trong cổ-tích, cũng không thành chuyện cô hàng bán hoa trở thành (My) Fair Lady. Mà là những cái chết, cái chết của rất nhiều người và sự cáo chung của triều-đại.
Vua Lê Chúa Trịnh. Có phải đó là một phần nào tâm sự của tác-giả Hoàng Xuân Thảo?

Xin thành-thật cám ơn Bạn Trần Xuân Dũng, Melbourne. và
Xin trân trọng giới-thiệu để Anh Em tìm đọc.

Mỹ Nhân Tự Cổ Như Danh Tướng / Hoàng Xuân Thảo

BS Hà Ngọc Thuần QYHD13
Brisbane Úc Châu 11/09/2021