Thứ Năm, 11 tháng 9, 2025

Thổn Thức - Nhạc & Lời: Mộc Thiêng & Tuyết Phan


Nhạc & Lời: Mộc Thiêng & Tuyết Phan

Nhớ Mẹ(1976)

 

Me ơi con viết bài thơ nhớ me
Xác thân con dù rũ chết bên đường
Xác thân con dù vùi dập ngàn phương
Cơn giông bão choàng lên cảnh vật

Me ơi dù cho gió mưa vùi dập
Dù cuộc đời bóp chết tim con
Vẫn một lòng giữ dạ sắt son
Lời của me nghìn đời ghi tạc

Me ơi dù cho thời gian phai bạc
Người mẹ hiền vẫn ở bên con
Lời me hiền là Hiếu là Trung
Con nhớ me không quên lời me dạy

Me ra đi chúng con còn vất vả
Đến hôm nay vẫn chưa được yên lành
Nhớ thương người khóe mắt long lanh
Đến lúc chết vẫn còn lo lắng

Me ơi dù muôn ngàn cay đắng
Vẫn một lòng thề với me yêu
Me hy sinh gian khổ quá nhiều
Con nhất quyết noi gương của me

Tô Đình Đài

Vu Lan Nhớ Mẹ

 

Sáu mươi năm xưa
Mẹ thăm con trong dịp lễ Vu Lan
Gặp nhau
Hai mẹ con cùng khóc
Mẹ nói:
Nhà mình "cách mạng tam thu"
Thằng Bày thôi học
Con Tám bắt ốc mò cua
Ruộng đất sạch trơn
Trâu bò gà vịt chẳng còn
Thứ gì cũng vào tay "nhà nước"

Khi chia tay
Bao nhiêu tiền
Mẹ cho con hết
Chiếc nón lá trên đầu
Mẹ cũng đội cho con

Công trường Phú Ninh
Trưa hè
Nóng
Nóng dữ lắm
Nóng thì nóng
Người bạn tù vừa khiêng sỏi vừa làm thơ:
"Trên công trường sỏi
"Điểm nào cũng nóng
''Nóng trong tim và nóng trên da
"Trên công trường sỏi
"Có những người thua cuộc
"Đứng trên quê hương mà mất quê hương
"Nếu có thương
Xin người đừng hỏi
Vì câu trả lời
Là những giọt nước mắt tuôn!!"

Mẹ ơi
Vu Lan năm nay
Con xa mẹ hơn nửa vòng trái đất
Mẹ đã lìa đời
Con phải nhận đóa hoa màu trắng
Càng buồn hơn
Ba đứa con
Cũng không được nhận đóa hoa màu hồng

Mẹ nó mất trước ngày Nội lìa đời
Bốn cha con
Là những kẻ mồ côi!!

Hoàng Long

Chơi Vơi

  

Trả ngày giọt mưa phù sinh

Trả đêm giọt nắng chung tình viễn vông
Trả đời giọt lệ hư không
Trả ta giọt máu trôi sông vô thường

Nuôi rong ruộng dưỡng rêu vườn
Gió nghiêng vành nón mưa thương che mình
Tàn chiều lỡ bước ăn xin
Cánh cò cánh én khói nhìn chân mây

Lỡ phu lỡ thợ lỡ thầy
Lỡ quê lỡ tỉnh lỡ tây lỡ tàu
Lỡ kiếp trước lỡ kiếp sau
Lỡ tái sinh lỡ chôn nhau đoạn trường

Đạn cày bom xới quê hương
Trôi sông lạc chợ tha phương trầm mình
Kinh đâu còn để cầu kinh
Vòng vo đóng cửa cực hình chân không

Con đi mẹ khóc đào sông
Nghiêng đồng đất khóc bão ngông sập trời
Ngày đen đêm trắng chơi vơi
Cùng đường níu bóng ma trơi cua còng

Gối rơm ở lỗ ăn lông
Sâu đen bọ đỏ lộn sòng hư danh
Suối khô sông cạn cũng đành
Treo giò rút ruột chim xanh bướm vàng

Bò già khóc gãy xe tang
Trâu què sợ muỗi đầu hàng thương đau
Râu dế nhũi cánh cào cào
Bay cao bay thấp xé rào tha ma

Chập chờn yểu điệu thướt tha
Lênh đênh bồng ẵm ta bà chiêm bao
Xưa người đốt đuốc tiêu dao
Nay ta đèn tắt bới đào tuổi thơ

Mưa thương dại nắng nhớ khờ
Tương cà dỗ ngọt muối chờ trăng sao
Mềm lòng trắng cháo xanh rau
Mềm môi khế ngọt mía lau dấu phèn

Mẹ về tay ấm hơi quen
Chong đèn bắt muỗi mưa đêm thở dài
Bàng hoàng hương áo khói bay
Mẹ đi gửi nắng hôn dài tóc con

Hồn Bến Tre phách Sàigòn
Vườn không nhà trống nước non gục đầu...

MD.02/24/08
LuânTâm

 

Tư Biên 思邊 Lý Bạch


Khi đọc bài thơ Tư Biên của Lý Bạch, cảm thương cho vợ các binh sĩ vào thời chiến tranh trước đây, xúc động nên dịch bài thơ này:

思邊 Tư Biên

Lý Bạch

去 年 何 時 君 別 妾
Khứ niên hà thời quân biệt thiếp
南 園 綠 草 飛 蝴 蝶
Nam viên lục thảo phi hồ điệp
今 歲 何 時 妾 憶 君
Kim tuế hà thời thiếp ức quân
西 山 白 雪 暗 秦 雲
Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân
玉 關 去 此 三 千 里
Ngọc quan khứ thử tam thiên lý
欲 寄 音 書 那 可 聞。
Dục ký âm thư na khả văn.

Dịch nghĩa:

Nhớ Biên Cương

Năm rồi ngay giờ này, chàng và thiếp rời xa nhau
Khi đó ở vườn nam, cỏ xanh biếc những cánh bướm vờn bay
Năm nay cũng vào lúc chia xa ấy thiếp nhớ tới chàng
Tuyết trắng phủ kín núi Tây. Trời Tần mây xám xịt
Ngọc Quan nơi chàng đến đó cách xa ba ngàn dặm
Muốn nhắn nhủ mấy lời, không biết chàng có nghe thấy chăng

Dịch Thơ:

Nhớ Biên Cương

Giờ này năm trước chia tay
Vườn Nam cỏ biếc bướm bay thành đàn
Năm nay thiếp lại nhớ chàng
Mây Tần xám xịt tuyết tràn núi tây
Ba ngàn dặm cách đó đây
Đôi lời gửi gắm có hay hỡi chàng.

Quên Đi
***
Nhớ Biên Cương

Vừa tròn năm đã biệt ly
Vườn Nam bướm lượn xanh rì cỏ hoang
Năm này lại tưởng nhớ chàng
Mây Tần tuyết trắng ngút ngàn non Tây
Ba ngàn dặm cách xa đây
Thư lời nhắn nhủ có hay chăng là

Kim Phượng
***

Đây là bài thất ngôn cổ thi của Thi Tiên Lý Bạch, làm vào năm Thiên Bảo thứ 2 đời Đường Huyền Tông. Bài thơ gồm có 6 câu 42 chữ, tả lại lòng tưởng nhớ của một cô phụ đất Tần (Tràng An) nhớ về vùng biên tái xa xôi, nơi mà người chinh phu chinh chiến lâu ngày vẫn chưa trở lại. Nhớ thương trong nỗi niềm tuyệt vọng vì cũng tuyệt luôn cả đường giao thông và thư tín!

思邊                            Tư Biên

去 年 何 時 君 別 妾? Khứ niên hà thời quân biệt thiếp?
南 園 綠 草 飛 蝴 蝶. Nam viên lục thảo phi hồ điệp.
今 歲 何 時 妾 憶 君? Kim tuế hà thời thiếp ức quân?
西 山 白 雪 暗 秦 雲. Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân.
玉 關 去 此 三 千 里, Ngọc quan khứ thử tam thiên lý,
欲 寄 音 書 那 可 聞  Dục ký âm thư nả khả văn.
李白                            Lý Bạch

* Chú thích:
- HÀ THỜI 何 時 là Nghi vấn tự, có nghĩa :Khi nào, Lúc nào ?...
- NAM VIÊN 南 園 là từ phiếm chỉ, chỉ chung về các khu vườn cỏ, vườn hoa...
- LỤC THẢO PHI HỒ ĐIỆP 綠 草 飛 蝴 蝶 là Bướm bay trên thảm cỏ xanh; ý chỉ "Mùa Xuân".
- TÂY SƠN 西 山 là Núi Tây, chỉ vùng cao nguyên Thanh Tạng của nước Thổ Phồn ngày xưa, với quanh năm tuyết phủ.
- TẦN VÂN 秦 雲 là Mây ở đất Tần, Tần là đất của vùng Thiểm Tây, nơi có kinh đô Tràng An, mà cũng là nơi của người chinh phụ đang ở.
- NGỌC QUAN 玉 關 là Ngọc Môn Quan, cửa ải thông về hướng Tây bắc nằm ở biên tái tỉnh Cam Túc, là cửa ải nối liền với vùng Tây vực.
- Câu cuối : DỤC KÝ ÂM THƯ 欲 寄 音 書 là Muốn gởi thư hay nhắn tin...NẢ KHẢ VĂN 那 可 聞 là Điều đó làm sao mà nghe thấy được !? (Là Không thể có được!).

* Nghĩa Bài Thơ:

Nhớ Về Vùng Bìên Tái

Năm trước, lúc nào thì chàng rời xa thiếp ? Đó là lúc bướm trong vườn đang bay lượn trên thảm cỏ xanh ! (là mùa xuân).
Năm nay, lúc nào thì thiếp đang nhớ chàng đây ? Chính là lúc mùa đông, khi tuyết trắng ở các dãy núi tây đang che mờ cả mây của đất Tần (là đất Tràng An mà thiếp đang ở đây).
Từ đây đến Ngọc Môn Quan phải mất ba ngàn dặm đường, nên muốn nhắn tin hay gởi thư đều không thể được gì cả ! (Vì có ai đi đến đó đâu mà gửi thư hay nhắn tin ! Cho nên đành nhớ thương trong đau buồn tuyệt vọng mà thôi !).

* Diễn Nôm:

Tư Biên


Năm trước khi nào chàng biệt thiếp?
Vườn nam cỏ biếc bướm vờn bay.
Năm nay lúc nào thiếp nhớ chàng?
Núi Tây tuyết trắng mờ Tràng An.
Ngọc Môn Quan cách ba ngàn dặm,
Thư từ tin nhắn chẳng ai kham!

Lục bát:

Chia tay năm trước tiễn chàng,
Xuân tươi cỏ biếc bướm vàng lượn bay.
Năm nay đông đến nhớ ai...
Đất Tần mây phủ núi Tây lạnh lùng.
Ngọc Môn Quan cách nghìn trùng,
Tin thư vắng bặt não nùng lòng đây!

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
***
Nơi Biên Ải

Chàng Thiếp xa, giờ này năm trước
Nơi vườn Nam cỏ biếc bướm bay
Thương chàng lại nhớ năm này
Núi Tần tuyết trắng phủ đầy trời tây
Ba ngàn dặm đó đây cách biệt
Gởi đôi lời chàng biết hay chăng?

songquang
20250904
***
Nhớ Biên Cương

Nhớ chăng, chàng hỡi, lúc chia tay
Vườn cỏ xanh rờn, bướm lượn bay
Nay thiếp nhớ chàng khi tuyết phủ
Chập chùng trắng xóa đỉnh non tây
Ngọc Môn Quan cách ba ngàn dặm
Tin gởi cho chàng sao nhắn đây?

Phương Hà phỏng dịch
***
Nhớ Biên Cương

1-

Năm ngoái khi nao mình giã biệt?
Vườn nam bướm lượn cỏ xanh biếc
Năm nay đâu lúc thiếp nhớ chàng?
Núi tây tuyết trắng, xám mây Tần
Ngọc quan nơi đó xa ngàn dặm
Muốn gởi thư nhà nhận được chăng?

2-

Mùa năm trước, khi nao giã biệt?
Xuân bướm bay vườn biếc lang thang
Mùa nay, lúc thiếp nhớ chàng?
Núi tây tuyết trắng, che ngang mây Tần
Ngọc quan muôn dặm tử phần*
Tâm thư muốn gởi, khó khăn thôi đành!

Lộc Bắc
Sept25
*tử phần: ý nói quê hương
***
Tư Biên Là Nhớ Biên Cương

Bữa nay năm ngoái thiếp xa chàng
Cỏ biếc vườn Nam bướm lượn sang
Độ ấy bao năm mình có thấy
Trời Tây Tần lĩnh tuyết giăng ngang 
Ngọc Môn Quan cách ba ngàn dặm
Tin nhắn thơ từ vẫn bặt tăm…!

Mai Xuân Thanh
Silicone Valley September 05, 2025
***
Nhớ Biên Cương

Chàng và thiếp chia tay năm trước
Nơi vườn Nam cỏ mượt bướm bay
Chạnh lòng thương thiếp nhớ năm này
Mây Tần xám non tây trắng tuyết
​D​ặ​m ba ngàn cách biệt Ngọc Quan
​M​ong lờ​i thư ​thấ​u đến ta​i chàng?

Kim Oanh

Mùa Thu Tội Nghiệp


Chị Bông đi chợ Việt Nam quầy trái cây mùa nào thức ấy những loại trái cây ngon Việt Nam đã giữ chân chị lâu hơn.

Chị thấy một cô gái trẻ mặc váy ngắn áo hở cổ mát mẻ đang săm soi chọn mít, người cha gìa đứng bên chiếc xe chợ kiên nhẫn chờ đợi. Cuối cùng cô gái chỉ vào một qủa mít to và người cha khệ nệ vần trái mít ra sát bìa quày đề dễ dàng bê đặt xuống xe.
Chị Bông thấy tội nghiệp ông gìa ghê chắc con gái ăn mặc đẹp điệu đàng không dám bê qủa mít sợ bẩn tay bẩn áo.
Chị Bông đến gần và nhìn ông già ái ngại khi ông đang hì hục đẩy qủa mít vào góc xe cho gọn. Cô gái như hiểu được ý chị nàng cười cười giải thích:
- Cô ơi…chồng em đấy.
Và nàng liến thoắng:
- Anh ấy muốn làm bất cứ gì có thể để giúp vợ. Em sang Mỹ 2 năm mà vẫn thèm đủ thứ trái cây Việt Nam. Này nhé, nhãn, vải, chôm chôm đắt mấy chồng em cũng mua, hôm nay thì em thèm mít nên mua hẳn một qủa to về bổ ăn dần cho đã đời cô ạ…

Chị Bông ngượng ngùng vì đã hiểu lầm nhưng cô gái vẫn hồn nhiên nói tiếp:
- Khi còn ở Việt nam thì em có thèm gì món mít, em muốn ăn gì chả có. Bao nhiêu thứ trái cây ngon trái cây qúy chất đầy trong tủ lạnh ấy chứ.
Ông chồng quay mặt đi chỗ khác làm như không nghe thấy cô vợ trẻ nói gì.
Chị Bông nghĩ thầm chắc cô gái là con nhà giàu đã quen hưởng đầy đủ vật chất sung sướng lấy ông gìa để sang Mỹ và lần hồi sẽ bảo lãnh cả nhà sang đây, chiến thuật đi định cư nước ngoài tuy chậm mà chắc.
Ông gìa dù đã nhuộm đen nốt mấy sợi tóc le que còn lại trên cái đầu hói, dù diện quần jean áo thun cho ra vẻ trẻ trung cũng không thể nào xứng tầm bên cô vợ trẻ này. Ông tuổi chắc 70 còn nàng chưa đến 30.

Chị ngẩn ngơ nhìn theo đôi vợ chồng đũa lệch khi ông chồng già đẩy chiếc xe chợ đi theo cô vợ trẻ tung tăng váy áo đi trước. Nhìn cảnh này ai mà chẳng nghĩ là cô gái dẫn bố gìa đi chợ cho vui.
Chị Bông về đến nhà không thấy chồng đâu, anh Bông đang ngoài vườn, cây lê qủa chín bị sóc gặm hay chim mổ rơi rụng xuống đất anh đang nhặt bỏ vào bao rác, chị Bông chưa kịp kể cho chồng nghe chuyện ngoài chợ thì anh đã than thở:
- Mùa Thu về ai mộng mơ với lá Thu rơi còn tôi chỉ lo quét lá, lá càng rơi tôi càng chán.
- Anh đừng có kể công, hôm nay em đi chợ thấy một ông gìa chiều vợ lắm, ông vác một qủa mít to nặng cho vợ mà chẳng than thở gì.
- Thì bà vợ gìa của ông ấy yếu đuối …
- Trái lại, nàng là một cô vợ mạnh khỏe và rất trẻ đẹp .
Anh Bông lẩm bẩm:
- Nếu thế thì vác cả tạ gạo cũng vui vẻ chứ đừng nói bê qủa mít.
- Ý anh muốn nói là những bà vợ gìa và xấu như tôi thì chẳng cần giúp, cứ mặc kệ cho đáng đời hả? hả?
Anh Bông gỡ gạc:
- Bà gìa cũng có gía trị của bà, tôi đang dọn vườn cho bà đây nè.
…………………
Buổi chiều chị Bông nhận được một cú phone:
- A lô, tôi muốn hỏi thuê căn nhà đường Naomi Lane còn trống không ạ?
Chị Bông đáp:
- Vâng, chị muốn thuê nhà hả, nhà đang sẵn sàng để dọn vào.
- Chị cho vợ chồng em cái hẹn chiều mai xem nhà.

Chiều hôm sau chị Bông đến địa chỉ căn nhà mà chị đã cắm bảng cho thuê, khi khách đến chị Bông nhận ra cô gái trẻ mua mít trong chợ mà chị đã gặp . Hôm nay nàng lại diện một cái váy khác tươi trẻ và nhí nhảnh hơn cả hôm đi chợ.
Cô gái cũng nhận ra chị Bông ngay, nàng ngạc nhiên:
- Ối giời ôi, lại là cô mà em đã gặp ở chợ hôm qua lúc em mua qủa mít.
Nàng lại hồn nhiên kể:
- Chồng em đã bổ qủa mít ra. Ngon lắm cơ, anh ấy gỡ từng múi mít cho em ăn .

Bổ được qủa mít to và bóc ra từng múi đã là công việc chẳng hứng thú gì với người phụ nữ, vừa tỉ mỉ vừa dơ tay, nếu không khéo thì nhựa mít dính tay thế mà ông già này phải bổ qủa mít to tướng. Lấy vợ trẻ vợ đẹp thì phải chiều cho ra dáng đàn ông chứ chẳng lẽ ông rên hự hự và thều thào rằng:” Em ơi, anh không đủ sức cầm con dao phay bổ qủa mít cho em đâu”.

Chị Bông nghĩ thế và mỉm cười, cô nàng cao hứng khoe thêm:
- Chồng em giỏi lắm, còn nấu cơm rửa bát cho em nữa cơ. Thương anh qúa, cuối tuần nào em cũng đòi đi ăn nhà hàng để anh ấy ….được nghỉ ngơi.
Rồi nàng quay ra nói với chồng:
- Đúng là chúng mình có duyên với cô đây anh nhỉ ? À, cô ơi em xin giới thiệu em là Mộng Châu, chồng em là Tín.
- Còn tôi là Bông. Mời anh Tín và cô Mộng Châu vào xem nhà.
Ông Tín ngắm nghía bao quát xung quanh căn nhà và nói với cô vợ :
- Cảnh đẹp đấy, căn nhà nằm dưới những tàn cây cao. Bây giờ là mùa Thu lá đang đổi màu. Mai kia mùa Thu chín là sẽ vàng rực cả cây và rơi rụng càng thơ mộng em ạ. Chúng mình sẽ ngồi dưới gốc cây này uống trà và tận hưởng mùa Thu em nhé.

Cô Mộng Châu chẳng thèm để ý gì đến cảm xúc sung sướng của ông chồng gìa vừa vẽ ra hình ảnh hai vợ chồng hạnh phúc và thơ mộng với cảnh Thu, nàng vén váy bước vào trong căn nhà cũ kỹ và chê, cố tình cho chị Bông nghe từng lời rõ ràng:
- Nước Mỹ nổi tiếng giàu có văn minh mà nhà cửa không đẹp bằng ở Việt Nam. Nhà em ở trước kia là nhà mấy tấm, cổng to lớn cho xe ô tô chạy vào cơ, vườn cây hoa lá đẹp như trong phim truyện cơ…
Ông Tín ngượng ngùng ngắt lời vợ:
- Em kể chuyện nhà to nhà đẹp ra đây làm gì…
Chị Bông nghĩ thầm mình đã đoán không sai, cô tiểu thư này từng ở nhà cao cửa rộng, vật chất ê hề, chịu lấy ông chồng già hoặc vì ăn chơi qúa độ nên cha mẹ “tống cổ” đi Mỹ cho khuất mắt, hoặc vì mục đích đi Mỹ đổi đời cho bản thân và cả gia đình sau này. Tâm lý của cô con gái nhà giàu ở Việt Nam sang Mỹ bỗng phải sống trong điều kiện tài chính hạn hẹp thời gian đầu thường bị “sốc” và thất vọng như thế.
Chị Bông nói:
- Nhà này tuy cũ nhưng sạch sẽ gọn gàng em ạ, lại là căn nhà cuối đường riêng tư với cây cao bóng mát mùa hè, với lá vàng ngập sân mùa Thu ai cũng thích, người thuê trước vì lý do công ăn việc làm họ mới phải dọn di thôi. Em mà không thuê là có người khác thuê ngay.
Ông Tín thì thầm năn nỉ vợ:
- Em đồng ý nhé. Các căn nhà khác còn cũ hơn, xấu hơn mà chắc gì được chỗ đẹp như thế này.
Cô Mộng Châu ngẫm nghĩ, chắc biết khả năng ông chồng gìa chỉ có bấy nhiêu nên nàng đồng ý và không kêu ca gì nữa.
Cuối tuần vợ chồng ông Tín dọn vào nhà.
Ông Tín kê một bộ bàn ghế bên hông nhà dưới tàn cây rủ lá. Chị Bông đã tưởng tượng ra có những buổi chiều Thu mát mẻ hai vợ chồng ông Tín ra đây ngồi cùng uống trà, cùng ngắm lá Thu rơi mà vui lây.

***

Mùa Thu lá đổi màu làm đẹp cả khu phố, toàn những cây phong từ đời nào to cao sừng sững, nhất là con đường Naomi có ngôi nhà của vợ chồng ông Tín đang ở. Có lẽ nơi đây khi xưa là một rừng phong trước khi rừng được xẻ ra xây cất thành những khu nhà ở.

Từ đầu đường đến cuối đường hai hàng cây chụm đầu vào nhau, chỉ thấy thấp thoáng trời xanh qua kẽ lá.
Mỗi khi gío nhẹ lá phong thoảng rơi vài chiếc, nhưng khi gió mạnh thì nhiều chiếc lá phong cùng lả tả rơi xuống bay bay trong gió thành những vũ điệu uyển chuyển tuyệt vời.
Chị Bông đến nhà vợ chồng ông Tín để thu tiền thuê nhà, họ gọi chị mấy ngày trước nhưng chị bận rộn, hôm nay sẵn đi công việc khác gần đây nên chị ghé vào .
Chiều thứ bảy chắc sẽ có đủ mặt hai vợ chồng ở nhà, chị vừa thu tiền vừa thăm hỏi xã giao đồng hương luôn thể..

Chị Bông gõ cửa, khi cánh cửa mở ra thoáng nhìn bên trong chị Bông đã nhận ra cảnh bàn tiệc vừa tàn, đồ ăn thức uống, bát đĩa, ly chén, khăn giấy, vỏ chai, lon nước còn bừa bộn trên chiếc bàn dài và rộng được kê ra từ hai chiếc bàn nhỏ nối lại.
Ông Tín đang bận thu dọn bàn tiệc này, ông hơi lúng túng nhưng vẫn lịch sự mời chị Bông vào nhà để ông lấy tiền trả.
Chỉ có mình ông Tín ở nhà, ông chán nản chẳng cần dấu diếm:
- Chúng tôi vừa có tiệc sinh nhật Mộng Châu, cô ấy và bạn bè của cô ấy ăn xong lại kéo nhau đi đến địa điểm vui chơi nào đó. Tôi …ở nhà dọn dẹp, đi theo làm gì cho thêm mệt thân mà chẳng thích hợp với mình.
Lấy tiền xong, chị Bông định ra về nhưng ông Tín dường như qúa cô độc và cần có người để trút nỗi lòng nên níu kéo khách ở lại:
- Chị Bông không bận gì thì cứ ngồi chơi trong khi tôi vừa dọn dẹp vừa kể chuyện. Đã lâu rồi tôi chưa biết tâm sự cùng ai…
- Chuyện cô Mộng Châu, vợ ông?
- Vâng, niềm vui và nỗi buồn của tôi là nàng. Chị đã gặp chúng tôi vài lần, hôm nay chị trông thấy cảnh này chắc cũng đoán ra phần nào, biết đâu nay mai chị sẽ nhìn hoặc nghe thấy những cảnh tương tự thì chị sẽ không thắc mắc hay ngạc nhiên gì nữa.
Chị Bông tò mò ngồi lại một góc bàn lắng nghe ông Tín kể:
- Tôi góa vợ cách đây mấy năm, ba đứa con ở xa đều muốn tôi về ở với chúng. Nhưng vốn tính ăn chơi bay bướm từ thời trai trẻ, buồn tình vì cô đơn và bỗng dưng được tự do thảnh thơi làm lại cuộc đời tôi cao hứng muốn cưới vợ trẻ đẹp. Loại gái trẻ đẹp chịu lấy những ông già đáng tuổi cha tuổi chú như tôi thì chỉ có ở Việt Nam và đầy trên mạng. Tôi đã tìm được Mộng Châu một cách dễ dàng nhanh chóng.
Ông Tín thở dài :
- Tôi đánh đổi tất cả những tình cảm yêu thương của con cháu vì nàng. Các con tôi đã phản đối đã buồn giận, các thân nhân họ hàng đã khuyên can, nhưng tôi bất chấp hết.
Chị Bông cảm thông:
- Tôi thấy ông luôn tỏ ra thương yêu và chiều chuộng nàng bằng tất cả tấm lòng chân thật, chắc nàng cũng hiểu điều đó.
- Vâng, nhưng tất cả những thương yêu chiều chuộng ấy không thể biến một ông chồng gìa thành chàng trai trẻ cho xứng với nàng được. Mộng Châu đang bắt đầu chán chường tôi rồi, thậm chí nàng coi thường tôi cứ ngang nhiên vui chơi với bạn bè trang lứa, nếu tôi không tự ái chia tay thì cũng có lúc nàng sẽ thẳng thắn nói chia tay.
- Rồi ông tính sao?
Ông Tín rầu rầu:
- Chắc ngày ấy không xa đâu vì Mộng Châu đã có thẻ xanh rồi. Tôi lại trở về cuộc sống độc thân.
Chị Bông nói đùa cho ông Tín bớt buồn:
- Nhưng chắc ông không lập lại lần nữa tìm cô tiểu thư con nhà giàu Mộng Châu thứ hai đâu nhỉ…
Ông Tín bỗng bật cười ha hả làm chị Bông ngạc nhiên tưởng mình đã nói gì sai trái:
- Chị vừa bảo gì? Cô Mộng Châu tiểu thư con nhà giàu??
- Chứ còn ai nữa, cô ấy đã mấy lần khoe cuộc sống giàu sang trước đây ở Việt Nam.
Ông Tín cười cho đã đời xong mới nói:
- Mộng Châu chỉ là biệt hiệu, tên thật của nàng là Nguyễn Thị Chuông..
Chị Bông ngạc nhiên:
- Nhưng gia đình cô ấy giàu có thì cái tên có ảnh hưởng gì đâu ?
- Ai bảo chị là nhà cô ấy giàu có? Cô ấy…
Chị Bông sốt ruột tranh lời:
- Cô ấy khoe ngày ở Việt Nam từ cái tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp trái cây ngon đến ngôi biệt thự to lớn mấy tầng, xe ô tô có thể chạy vào tận trong sân…
- Đúng là Mộng Châu từng ở trong biệt thự cao sang, trong nhà có tủ lạnh lúc nào cũng đầy thứ ngon vật lạ. Nhưng vấn đề là cô Mộng Châu tức cô Nguyễn thị Chuông không phải là cô tiểu thư con ông bà chủ, mà chỉ là con sen, là đứa ở đợ mà thôi, gia phả nhà nàng ba đời bần cố nông vì thế nên cô Chuông đã lên mạng tìm bạn bốn phương để đổi đời và đã đạt ước mơ sang Mỹ như chị đã thấy rồi đó.
Chị Bông chưa hết ngỡ ngàng:
- Thì ra thế, cô ấy cứ nói kiểu nửa vời làm tôi tưởng lầm. Gái Bắc kỳ khéo léo thật, tôi cũng là Bắc kỳ mà còn thua xa.
- Tôi biết rõ hoàn cảnh nàng, một ông già như tôi cưới được vợ trẻ đẹp là qúa đủ rồi, sang Mỹ ai biết nàng từng là con sen con ở. Tưởng nàng sẽ mang ơn tôi và an phận sống bên tôi lâu dài…

Ông Tín quay ra than van:
- Chắc kiếp trước tôi mắc nợ nàng chị Bông ạ, ngày vợ tôi còn sống bà ấy yêu thương săn sóc tôi từng bữa cơm từng giấc ngủ. Lấy Mộng Châu thì ngược lại tôi phải chiều chuộng hầu hạ nàng từng tí một mà nàng chưa vừa lòng. Các con tôi đã đoán trước điều này thế mà tôi cứ đâm đầu vào, không ngờ tình yêu ở tuổi gìa cũng đam mê, bồng bột mù quáng không thua gì tuổi trẻ. Tôi buồn lắm mà chẳng biết nói cùng ai, con cháu còn đây, thân nhân còn đấy nhưng tôi mặt mũi nào tâm sự với họ. Hôm nay được dịp nói với chị tôi thấy vơi nhẹ lòng.

Chị Bông an ủi:
- Thôi, ông Tìn đừng buồn, coi như ông làm phước cưú nhân độ thế, mở hé cánh cửa cho đại gia đình bần cố nông cô Nguyễn Thị Chuông sẽ được đổi đời để thế hệ sau khá hơn.
Chị Bông chào ông Tín ra về, ông gìa lù khù lại lúi húi đứng trong bếp rửa tiếp đống bát dĩa cao chất ngất mà nếu ở với con cháu thì công việc này không phải của ông.
Chị Bông bước ra ngoài, mùa Thu vẫn rực rỡ ngoài sân.
Chị Bông thấy bộ bàn ghế bên hông nhà phủ đầy lá phong rơi, có lẽ cả tháng nay vợ chồng ông Tín không hề ra đây ngồi hay quét dọn.
Cô Mộng Châu trẻ trung phơi phới yêu đời và đua đòi kia làm sao hiểu được thú vui của tuổi gìa, ngồi hàng giờ bên ông chồng gìa cùng uống trà và ngắm lá Thu rơi cho được.

Tội nghiệp mùa Thu làm đẹp cho đời, cho mọi người nhưng ở góc phố này, góc đường này, nơi lá vàng nhiều nhất, đẹp nhất thì mùa Thu lại bị bỏ quên hững hờ.
Tội nghiệp ông Tín ở cái tuổi mùa Thu cuộc đời đáng lẽ ông sẽ được an hưởng tuổi gìa bên con cháu hay nếu cho đời bớt lẻ loi thì tìm người bạn cùng trang lứa. Ham gì niềm vui ngắn ngủi bên cuộc tình so le để phải nghe tiếng dèm pha của người đời và ngậm đắng nuốt cay như thế này.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

Tình Tôi Trao Em - Nhạc: Nguyễn Văn Thành - Trình Bày: An Minh


Nhạc: Nguyễn Văn Thành
Trình Bày: An Minh

Mẹ Tôi



Mưa rơi hiu hắt giọt buồn,
Mưa xuyên áo vải, mưa tuôn vào lòng.
Chiều mưa quê mẹ ngóng trông,
Bao năm xa cách chỉ mong ngày về.
Mẹ ơi! Từ lúc xa quê,
Con đi chinh chiến ít về ghé thăm.
Mỗi lần Tết đến đầu năm,
Con thương nhớ Mẹ, xa xăm lệ nhòa.
Nửa đời phiêu bạt quan hà,
Hành trang mang nặng dáng bà năm xưa.
Mái tranh trước gió đong đưa,
Mẹ ngồi khâu áo, sớm trưa nhọc nhằn.
Nay con tóc bạc hoa râm,
Lòng đau nhớ Mẹ âm thầm khôn nguôi.
Quê hương mây trắng lưng đồi,
Bóng người tần tảo một đời vì con.
Cúi xin ngọn gió hoàng hôn,
Nhắn lời con gửi tới nguồn yêu thương.
Mẹ là ánh sáng soi đường,
Mẹ là quê mẹ, tình thương vẹn toàn.

Trần Đại Bản

Bụi Chuối Hàng Cau


Hàng cau bụi chuối lũy tre
Dừa xanh khói tỏa hàng me sân trường
Biết bao hình ảnh thân thương
Một thời tuổi ngọc vấn vương về chiều
Bờ sông gió lộng thả diều
Cồn xanh cò trắng dập dìu lượn quanh
Dòng sông uốn lượn trong xanh
Cánh đồng bát ngát bức tranh êm đềm
Quê hương là khúc ruột mềm
Niềm thương nỗi nhớ ngày đêm mong chờ
Mong cho ngày phất ngọn cờ
Nêu cao Chính Nghĩa hẹn giờ phục hưng
Dẹp loài Quỷ Đỏ thú rừng
Cờ Vàng phất phới chào mừng Tự Do
Toàn dân Việt sống ấm no
Vui ngày khai mở cơ đồ nước Nam.....!


Ngư Sĩ

Già Nua



Yếu đuối già nua, khó kể chi,
Nói năng đứt khoảng, dễ quên thì.
Bạn bè xa vắng, không còn gặp.
Áo mũ tủ đầy, mặc mấy khi.
Rộng rãi vườn sân cho cỏ mọc,
Xe còn chạy tốt, ít thường đi,
Nhớ thương quê tổ, thôi thăm viếng.
Con cháu riêng đời, mãi cách ly.

Nhật Quang Phi Hồ
(Sep 25)


Phật Tử

 

Được sinh ra làm người
Là một điều rất quí
Nếu phải làm ngã quỉ
Thật khổ sở vô vàn
Tâm thức thì mơ màng
Thân lạnh lẽo đói khát
Sanh ra nhằm súc sinh
Ngày chỉ biết nuôi mình
Làm sao mà tu tập
Còn chịu khổ dao đâm
Sinh làm người năng ghi nhớ:
Tránh điều một : tà dâm
Điều hai không sát sinh
Điều ba không trộm cướp
Hàng ngày tu thân mình
Nếu phải phạm sát sinh
Khi ra tay giết vật
Nhớ phát lòng Từ Bi
Cầu cho chúng thoát đi
Siêu về miền Cực lạc.
Gieo nhân nào, quả nấy
Người nào thường sát sinh,
Hay trộm cắp, tà dâm
Sẽ khiến mình sinh nhằm
Làm súc sinh, ngã quỉ.
Một ngày cũng ra đi
Do nghiệp duyên đã tạo:
Nếu tích luỹ công đức
Ta tránh được tai ương
Còn được nhiều hạnh phúc.
Phật chỉ ở bên ta
Để chỉ đường thóat ra
Ta không biết khi nào
Là lúc sẽ phải đi
Chớ chậm trễ làm gì
Còn trẻ hay đã già
Từng phút từng sát na
Ta để giành công đức.

Đơì sống vốn vô thường
Phật tìm ra chân tướng
Truyền dạy cả chúng sinh
Hãy để cả đ
ời mình 
Học hỏi và tư duy
Phật, Đạo, Pháp và Tăng
Phật chính là trí tuệ
Pháp là đường đến đạo
Đạo pháp rất sâu sa
Nghe Pháp rồi tư duy
Chớ ra mặt khinh khi
Tưởng mình đà nắm Pháp
Ta học Pháp vơí Tăng
Tăng với Phật là một
Phật vẫn ở bên mình
Ta chỉ vì vô minh
Không nhìn ra được Phật.
Tán dường công đức Phật
Xin phát tâm Từ Bi,
Cầu xin cho Trí huệ
Bát nhã ba la mật,
Thấy được sắc là không
Ba bước ngày tu tập
Bước một: đơì bể khổ
Bước hai: thoát sanh tử
Bước ba: ta thành Phật.
Vị tha và giác ngộ
Biết mình ta biết người
Bồ đề tâm,
Bồ tát đạo
Chính là năng lực cao
Của một người Phật tử

Nhân ngày nghe sư Tây Tạng giảng kinh
(vừa nghe giảng vừa ghi lại theo
lối văn vần theo lời thông dịch)

Năm 2007
Sao Khuê

Một Giấc Chiêm Bao

  
(Đặng Trung Đức và PTAN dưới căn hầm đại đội – 1966)

Mùa hè Bắc Âu khá đẹp, đầu tháng sáu trời về đêm vẫn còn se lạnh. Cái lạnh tựa như Đà Lạt ngày nào, thường gây chút xao xuyến, nhớ nhung nhưng cũng dễ đưa người ta vào giấc ngủ. Tôi có thói quen đi ngủ muộn và ngủ khá ngon giấc, ít khi mộng mị, vậy mà khuya hôm nay tôi có một giấc mơ khá dài. Không nhớ dài bao lâu, nhưng nó gói ghém gần cả đời lính của mình, với đủ những khuôn mặt đồng đội, huynh đệ suốt một thời trận mạc. Tôi cũng không giật mình tỉnh mộng như các lần chiêm bao trước. Giấc mơ kết thúc yên ả như tôi vừa xem xong một cuốn phim tình cảm với buồn vui lẫn lộn. Thức dậy, nằm trằn trọc, mơ màng giữa mộng và thực rồi miên man hồi tưởng cả một thời quá khứ, dù hiểm nguy gian khổ, nhưng lại là quãng đời đẹp đẽ nhất của riêng mình.

Người đã bất chợt bước vào giấc mơ và mang theo cho tôi cả một thời quá khứ ấy là Đặng Trung Đức. Anh đã tử trận tại khu vực Ngô Trang, phía Bắc thành phố Kontum trong trận chiến mùa Hè 1972,

Cả một đời binh nghiệp của tôi gần như gắn liền với anh Đức, luôn ở bên anh và thay thế các chức vụ của anh . Khi mãn khóa 18 Thủ Đức, tôi được bổ nhậm về trình diện đơn vị thì gặp anh, và hai anh em ở cùng đại đội 3. Đức tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, ra trường về đơn vị trước tôi khoảng 5 tháng. Anh làm Trung đội trưởng Trung đội 1 còn tôi, Trung đội trưởng Trung đội 3. Gần một năm sau Đức sang làm đại đội trưởng Đại Đội 1 thay anh Trung Úy Khóa 16 VB bị trọng thương chuyển về đơn vị khác. Mấy tháng sau tôi may mắn được thăng cấp trung úy nhiệm chức và cũng lên làm đại đội trưởng Đại Đội 3. Sau đó vài tháng Đức được điều về làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn rồi chính tôi lại thay thế anh trong chức vụ này để anh về làm Trưởng ban 3 Trung Đoàn. Và sau này, có một thời gian khá dài hai anh em cùng làm việc tại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, khi tôi về đảm trách một phần hành khác. Đầu năm 1971, khi anh ra nắm tiểu đoàn, tôi lại có thời gian thay anh kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban 3 Trung Đoàn. Chúng tôi cùng một đơn vị từ lúc mới ra trường, luôn sống gần nhau cho tới khi anh hy sinh. Rất thân tình, xem nhau như anh em, mặc dù anh cũng trạc tuổi tôi.

Trong giấc mơ, Đức đến thăm tôi trên một đỉnh đồi, nơi đơn vị đóng quân. Mặc quân phục, tay cầm khẩu M-18, nhưng không mang cấp bậc. Vẫn trẻ trung hào khí, nhưng không còn cái vui vẻ, dí dỏm ngày nào. Nét mặt đượm buồn. Đức hỏi thăm tôi từng người, những anh em cùng đơn vị cũ. Có điều lạ là không thấy anh nhắc những người đã mất. Khi tôi hỏi về anh Võ Anh Tài, các bạn Trần Công Lâm, Đỗ Bê, Dương Đình Chính, Đức bảo là họ cùng đang chiến đấu với anh. Nhưng những người bạn này, cũng là những tiểu đoàn trưởng, đã chết tại chiến trường Kontum, trước và sau ngày Đức hy sinh.

Trong giấc mơ, tôi cũng mơ hồ là Đức đã qua đời từ lâu rồi, nên e dè hỏi, nhưng Đức bảo anh vẫn còn sống và luôn ở bên cạnh bạn bè đồng đội đây thôi. Đức tâm sự thật nhiều, kể cả chuyện riêng, chuyện gia đình lẫn chuyện nhà binh, đơn vị. Tôi cũng kể lẫn lộn chuyện tù đày, vượt biên, từng khốn cùng sống chết, cứ như từ kiếp trước. Đức cũng không thắc mắc, nắm tay tôi sụt sùi. Khác hẳn với những giấc chiêm bao khác, thường thì tôi giật mình tỉnh giấc, nhưng hôm nay, khi Đức chia tay từ giã, bước xuống triền đồi, tôi vẫn nhìn theo cho tới khi hình bóng anh biến mất sau một đám cây bên tảng đá…

Tỉnh giấc, tôi vẫn nằm yên, như để cố níu giữ giấc mơ và nhất là hình bóng của Đức. Đã từ khá lâu rồi, thỉnh thoảng tôi có thoáng hình dung tới Đức, đặc biệt mỗi khi nhắc lại chuyện cũ với anh em cùng đơn vị, nhưng hôm nay, bất ngờ tôi đã “gặp” lại anh và ngồi bên nhau rất lâu, cho tôi cái cảm giác là anh vẫn còn sống ở đâu đó, bất chợt tìm tới thăm mình. Tôi vẫn cứ nằm khá lâu trên giường, nhắm mắt nghĩ tới Đức, nhớ lại tất cả những gì biết về anh, hình dung từng cử chỉ của anh. Một hành động như là không để cho anh thực sự biến mất.

Đức sinh ra ở Đà Nẵng. Cha anh là người Quảng Nam, nhưng anh không hề có trong tâm trí hình ảnh của ông, vì khi anh mới lên ba thì ông đã (biến) mất. Mẹ là người Huế. Anh lớn lên trong vòng tay của mẹ. Bà khổ sở tảo tần để nuôi anh ăn học. Người mẹ cô đơn, nhỏ nhắn, nghèo khó ấy lại là cái bóng chở che anh cả một quãng đời cho đến khi anh vào lính. Cũng chính cái nghèo khó ấy mà cuộc hôn nhân của anh đã gặp rất nhiều khó khăn trắc trở, bởi người yêu (sau này là vợ anh) là thứ nữ của một gia đình thế giá, giàu có thuộc hoàng tộc triều Nguyễn. Cuộc hôn nhân tưởng đã không thành, nếu không có sự chở che hỗ trợ hết lòng của Kim Oanh, một cô bạn thân của hai người, sau này cũng là cô phù dâu và là người bạn thân thiết nhất của vợ chồng Đức. Đám cưới vội vàng, đơn giản diễn ra ngay sau ngày anh tốt nghiệp từ Trường Võ Bị.

 (Vơ chồng Đức trong ngày cưới)

Với những đức tính từ khi còn là một Hướng Đạo Sinh đến khi được tôi luyện từ ngôi trường Võ Bị, Đức sớm tìm được thiện cảm và trở thành rể quý của gia đình vợ sau này. Nghe nói, khi biết tin Đức bị thương nhẹ mấy lần, ông bà nhạc lo lắng lắm. Do quen biết nhiều, ông bà có ý định lo cho Đức về nắm cái quận nào đó ở Bình Định. Ngày Đức mất, ông bà đã khóc hết nước mắt và nhận lo việc an táng Đức ở gần gia đình ông, trong thành phố Qui Nhơn. Đức được chôn cất ở Nghĩa trang Phật Giáo, Khu Gành Ráng, một vị trí khá đẹp, xa xa có mộ phần của nhà thơ Hàn Mặc Tử.

Ông bà đưa chị Đức và hai con sang Pháp từ năm 1979, nhưng chị Đức mất sớm do một chứng bệnh nan y. Sau khi chị mất, ông bà quyết định ăn chay trường, tu tại gia và cũng mất khoảng hơn mười năm sau đó. Hai con của anh chị Đức, một trai một gái. Ngày Đức mất, cháu trai mới lên bốn và cháu gái chưa tròn một tuổi, chưa biết mặt cha. Hai cháu vẫn sống ở Pháp, thỉnh thoảng có liên lạc với chúng tôi để hỏi về người cha qua cố. Cô bạn thân, từng hết lòng giúp vợ chồng Đức trong cuộc hôn nhân, đang sống ở Houston, vẫn liên lạc thường xuyên với hai cháu như một bà mẹ đỡ đầu, và thỉnh thoảng về Việt Nam thăm và sửa sang mộ phần của Đức. Riêng bà cụ, mẹ của Đức cũng đã qui tiên sau vài năm được hai con của anh chị Đức bảo lãnh sang Pháp. Đặc biệt ông cụ thân sinh của Đức, không hề chết như anh đã nghĩ. Ông bỏ gia đình theo Việt Minh từ thời Cách Mạng Mùa Thu, rồi ở lại miền Bắc lập gia đình khác. Năm 1976, ông về Nam, sau khi đã “phục viên”, có gặp lại mẹ cùng vợ con của Đức và đến thắp hương trên mộ Đức. Không hiểu khi ấy ông nghĩ gì khi đứa con trai mà ông đành lòng bỏ rơi từ tấm bé để theo đuổi một lý tưởng huyễn hoặc, đã bị giết bởi bàn tay các đồng chí của chính ông. Ông cũng đã qua đời không lâu sau đó.

(Chị bạn Kim Oanh bên mộ của Đức)

Tôi lập gia đình sau Đức khoảng hai năm. Và gần như suốt thời gian tôi quen biết với bà xã tôi, Đức cũng thường ở bên cạnh chúng tôi, nên càng gần gũi thân tình. Sau này, vợ con tôi vẫn luôn ở cạnh vợ con Đức, từ những lúc còn phải đi thuê cho đến khi được cấp nhà trong khu cư xá sĩ quan. Chúng tôi thân thiết chẳng khác anh em trong nhà. Tính tình của Đức rất thẳng thắn, nhưng luôn vui vẻ, thân thiện giúp đỡ mọi người. Trong đơn vị, từ cấp chỉ huy đến thuộc cấp ai cũng quí mến.

Hai ngày trước khi Đức hy sinh, khi tiểu đoàn anh tạm nghỉ quân hai bên Quộc Lộ 14 và tình hình tương đối yên tĩnh, tôi bay theo chiếc C&C mang cho anh mấy thùng lựu đạn, 20 khẩu M-72 theo yêu cầu của anh, và đặc biệt là một phóng đồ hành quân để đơn vị anh chuyển sang vùng hoạt động mới. Anh vào một tần số riêng, căn dặn tôi và cả anh phi công bay thật thấp và theo hướng chỉ dẫn của anh để tránh đạn phòng không của địch. Tôi bảo có mang quà riêng cho anh (một chai rượu lễ của vị linh mục người Pháp biếu tôi khi đến thăm ông ở Tòa Giám Mục Kontum, nơi đơn vị tôi đã giải tỏa hơn một tháng trước đó). Khi trực thăng vừa đáp xuống, anh chạy đến chỉ để kịp bắt tay tôi, nhận bản phóng đồ và chai rượu. Không ngờ đó là lần cuối cùng chúng tôi còn nhìn thấy nhau, trong vội vã.

Trước đó, là cái chết đau đớn của anh Võ Anh Tài, niên trưởng Khóa 16 Võ Bị của Đức, người cùng quê với vợ tôi, và trong cư xá anh chị ở giữa nhà chúng tôi và anh chị Đức, nên cũng khá thân tình. Anh bị mìn, mất cả hai chân khi cùng tiểu đoàn vượt qua hàng rào phòng thủ để tái chiếm khu Bệnh Viện 2 Dã Chiến.

Sau anh Đức, thêm một người bạn thân thiết của tôi cũng hy sinh. Trần Công Lâm, thằng bạn cùng khóa Thủ Đức, cùng trung đội sinh viên sĩ quan, nó nằm giường trên, tôi giường dưới, mãn khóa rủ nhau cùng về một đơn vị. Trước khi nắm tiểu đoàn, Lâm là đại đội trưởng Trinh Sát nổi tiếng cả Quân Đoàn. Sau ngày anh Đức và Lâm mất, hầu hết những sĩ quan cũ cũng đều bị thương hay thuyên chuyển đi đơn vị mới, tôi có cảm giác thật buồn và khá cô đơn.

Đơn vị chúng tôi đã viết thêm một trang sử oai hùng cho QLVNCH khi tạo những chiến thắng lẫy lừng để giữ vững Kontum trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa và những năm gay go sau đó, nhưng cũng đã phải trả một cái giá không hề nhỏ khi nhiều đồng đội, bạn bè thân thiết của tôi đã nằm xuống ở chiến trường.

Đã quá mệt mỏi, cùng với sự thiếu hụt vũ khí, đạn dược, do bị cắt giảm tối đa từ phía người bạn lớn đồng minh bội phản, kèm theo sự kém tài thiếu đức của một vài vị tư lệnh, đã đưa đến việc thất thủ nhanh chóng Buôn Mê Thuột, tan hàng bi thảm trên Tỉnh Lộ 7 B để rồi kết thúc một cách đớn đau tức tưởi cho cả một Quân Lực hùng mạnh và nền Cộng Hòa tự do nhân bản, chỉ đúng 50 ngày sau đó!

Đơn vị tôi cũng đã tan tác theo cùng vận nước.

Như nhạn lạc bầy giữa cơn giông bão, kẻ bị bắt hay chết bỏ thây trên đường hành quân “triệt thoái”, người bị giam cầm khốn cùng trong các trại tù giữa rừng thiêng nước độc. Trong một vài trại tù xa xôi tận núi rừng Việt Bắc, tôi may mắn được gặp lại vài anh em, trong cảnh sa cơ vẫn giữ trọn tình huynh đệ. Người nào may mắn có vợ con còn bươn chải làm ăn, thường được thăm nuôi, chia sẻ đùm bọc những đứa kém may mắn. Khi ấy, cha tôi bị chết trong một trại tù khác trong Nam, vợ con nheo nhóc, nên được chị vợ một anh bạn cùng đơn vị, mỗi khi thăm chồng thì thăm cả tôi với quà cáp tiền bạc như nhau, giúp tôi lấy lại sức lực sau những lần bị bệnh kiết lỵ, đứng không vững. Tình cảm ấy thực sự đã làm tôi xúc động.

Ra hải ngoại, tìm gặp thăm nhau. Thỉnh thoảng, nhân các ngày nghỉ lễ, hoặc có dịp con cháu làm đám cưới, bọn tôi hú nhau kéo về họp mặt, tổ chức thắp hương tưởng niệm các đồng đội đã ra đi, góp tay giúp đỡ những anh em bị thương tật hay sống khốn khổ ở quê nhà. Nhưng rồi những cuộc hẹn cũng thưa dần, bởi tuổi tác ngày thêm lớn. Đa phần đều trên dưới 80. Một số bị bệnh hoạn hay ra đi sớm. Chỉ thỉnh thoảng hỏi thăm nhau qua điện thoại, nhưng hiếm khi còn nghe được tiếng cười, bởi cái buồn nó vẫn còn mênh mang đâu đó. Cũng có bất đồng giữa vài người bởi không cùng một cái nhìn, đặc biệt về chuyện chính trị tại Hoa Kỳ, từ khi có ông D. Trump xuất hiện cùng các sự kiện MAGA và BLM, nhưng anh em nhắc bảo nhau rồi đâu cũng vào đấy. Cũng may, những người từng sống chết bên nhau vẫn còn trọng cái tình! Có thằng bạn cùng đơn vị và cũng cùng Khóa 18 Thủ Đức với tôi và Trần Công Lâm, từng làm tiểu đoàn trưởng, một thời đánh đấm ở Kontum. Trong lúc còn trong tù thì ở nhà vợ treo cổ quyên sinh. Sang Mỹ, muốn quên đời nên đem hết tâm trí, thì giờ vào việc học, có Master Of Psychology. Thành đạt nhưng vẫn buồn đời, thường than vãn, “tao tiếc là đã không được chết tại chiến trường như anh Tài, như anh Đức, như Lâm.” Một hôm, nói dối gia đình đi thuê khách sạn rồi ở đó bắn vào đầu tự vẫn, sau khi bình tĩnh ngồi viết mấy lá thư để lại cho bạn bè, bảo “đi trước để mở đường và chuẩn bị bãi đáp cho anh em.” Đọc thư của nó do Cảnh sát trao lại, bọn tôi lặng người nhưng không khóc được. Có lẽ chẳng ai còn nước mắt.

Sau đúng năm mươi năm dâu biển, Đức đã từ một cõi xa xăm nào đó theo giấc mơ về ghé thăm tôi. Nửa thế kỷ có thể không dài hay ngắn lắm tùy theo quan niệm nhân sinh của mỗi con người, nhưng trong quãng thời gian ấy thế hệ chúng tôi lại có quá nhiều đổi thay, thăng trầm và mất mát. Vinh nhục đã trải, đớn đau cũng đã có lúc cùng cực. Nhưng có lẽ không có cái đau đớn tủi nhục nào hơn là sự bất lực trước món nợ máu xương của đồng đội bạn bè, nợ lời thề ngày nào đã từng quỳ gối đưa tay dõng dạc hô to trên vũ đình trường giữa hồn thiêng sông núi.

Với những thân tình thiết tha ngày cũ tuy có đượm buồn trong ánh mắt, tôi nghĩ là Đức không hề trách tôi. Nhưng khi anh bước ra khỏi giấc mơ, tôi vẫn có cảm giác xấu hổ, như còn mắc nợ anh điều gì không trả được. Cũng như cái chết oan khuất của cha tôi trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, khi đã gần tuổi 70, để mỗi lần thắp hương trước bàn thờ trong ngày giỗ ông, tôi không giấu được nghẹn ngào. Thấy mình hèn mọn, tệ bạc quá, và ngượng ngùng khi nhớ tới những lời to lớn từng hô hào trước mặt bè bạn, vợ con ngày nào khi bước chân xuống thuyền bỏ nước ra đi. Nước mắt bỗng trào ra.

Vết thương cũ trong lòng dường như vừa mới nhói đau trở lại. Tôi ngồi dậy, lau nước mắt, viết vội những dòng này, không phải để giãi bày với Đặng Trung Đức mà để tự xoa dịu, chữa thẹn cho chính mình. Tôi bỗng nhớ tới bài thơ của thi sĩ Cao Tần đã viết từ những ngày thật xa xưa, tháng 3 năm 1977, với cái tựa và cũng là câu kết mà tôi rất tâm đắc, cho dù có chút xót xa: “Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”(*)

Phạm Tín An Ninh


Thứ Ba, 9 tháng 9, 2025

Cõi Thiền - Thơ: Trần Văn Khang - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Minh Đạt


Thơ: Trần Văn Khang
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Minh Đạt

Tạ Ơn Mẹ

 
( Ảnh: Kim Trúc)

Tạ Ơn MẹNgôi nhà vắng lặng buồn thiu
Con sông man mác ráng chiều mang mang
Đò còn neo đợi ngoài vàm
Mẹ không xuống chợ bán hàng nữa sao!

Hàng cau đầu ngỏ xôn xao
Sao Mẹ không hái buồng nào vậy ta!
Cau chín trái bóng mượt mà
Cơi trầu đợi mẹ lá đà héo hon

Con mực nằm đó mõi mòn
Mẹ ra chợ tỉnh hay còn đi đâu
Không ai vuốt tóc xoa đầu
Cụp đuôi tiu nghểu lâu lâu ngáp dài

Ngoài hiên thềm đá buồn tênh
Mẹ không ngồi đó mình ên mỗi chiều
Chờ con dáng nhỏ liêu xiêu
Nó đi viễn xứ bao nhiêu năm rồi!

Ngọn dừa nghiêng bóng chiều rơi
Soi trên sông nhỏ theo thời gian qua
Mẹ giờ Cực Lạc là nhà
Non cao mẹ ở hương hoa ngạt ngào

Gió đưa hương bưởi hương cau
Con gởi theo gió lời chào kính yêu
Vu Lan con nhớ mẹ nhiều
Tạ ơn mẹ - tạ ơn mẹ … là điều con muốn thưa

Kim Trúc

Cô Dung Passed Away!

Môt thời đã qua, người đã mất
Bóng chiều đi xa khuất sau đồi
Thời gian đi mãi không thôi
Trong ta còn nỗi ngậm ngùi tiếc thương
Bao kỷ niệm sân trường in bóng
Thời vàng son trường Tống lưu danh
Nhưng rồi thế cuộc mong manh
Người đi kẻ ở thôi đành từ ly.


Daniel Bien
8/6/2017 (5.30pm 7/6/17 giờ Cali)
* Cô Võ Thị Ngọc Dung
Cưụ Hiệu Trưởng trường Tống Phước Hiệp Vĩnh Long