Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Định Mệnh - Song Ngọc - Nhật Trường


Sáng Tác: Song Ngọc
Ca Sĩ; Nhật Trường
Thực Hiện: Đặng Hùng

Mượn

(Ảnh: Nguyễn Thành Tài)

(Gởi CTC)

Anh mượn phà Mỹ Thuận
Để sang bờ Vĩnh Long
Gặp lại em bên sông
Thỏa bao ngày mơ ước.

Mượn chuyện mình ngày trước

Trên sông chảy xuôi dòng
Đúng vào mùa nước nổi
Thả trôi mối duyên hồng.

Mượn những cánh thư xanh

Trải lòng mình nơi đó
Với bao điều ước vọng
Cho nhau cả mùa xuân.

Mượn những lời ái ân

Của một thời tuổi dại
Bây giờ cùng ôn lại
Tình ta vẫn trắng ngần.

Nợ trăm năm hẹn dần

Bao giờ ta mới trả !
Chừ, chúng mình đôi ngả
Mượn thơ để phân trần…!

Thôi ! cũng đành em nhỉ…
Mượn… nữa để mà chi
Chiều tà về sau núi
Khắc khoải những mong chờ…!

Nguyễn Thành Tài

Mối Duyên Tơ


Trai miền Tây gái miền Trung
Tâm đồng ý hợp vui chung mái nhà
Nơi anh đồng ruộng bao la
Ở em có núi Bà Nà cũng cao
Tương lai xây đắp cùng nhau
Gia đình đầm ấm ước ao đến già
Cám ơn Thượng Đế món quà
Trao ban hạnh phúc ngọc ngà cho con


Thơ & Ảnh: Huỳnh Phương Trạch
Cựu Học Sinh Kỹ Thuật Vĩnh Long


Người Đi - Người Về

Bài Xướng:


Người Đi

Người xa mù ta vẫn đây
Chiều hoang hơi lạnh sương vây trắng mờ
Trải lòng viết nốt vầng thơ
Thả theo dòng nước xuôi bờ trùng dương
Mong thuyền quay lại bến thương
Tình thi chấp bút thôi vương mắt buồn
Trang giấy nhoè nhạt lệ tuôn
Mực loang tím đẫm tim muôn vết hằn
Mỏi mòn mấy độ mùa trăng
Bài thơ dang dở nhắc rằng... Người xa...

Kim Oanh
***
Bài Họa:

Người Về...


Người về...ta vẫn còn đây!
Sân ga đã vắng,hương vây kín mờ
Chạnh lòng bởi mấy câu thơ
Người đi để lại...kia bờ đại dương
Mong vần thơ mãi đậm thương
Thì xin chắp hoạ...hết vương lệ buồn
Giấy nhoà nhạt nhẽo lời tuôn
Trang thơ mực tím, lòng muôn dấu hằn
Người về...đã mấy năm trăng?
Có còn tưởng nhớ....hay ...rằng đã quên!

Songquang
20200822

Như Hạt Ngọc Trong Veo


01.
 Dại khôn rồi cũng… chết lăn queo,
Danh lợi vàng son, nghĩ chán phèo!
Kẻ khó lỡ thời, thêm gặp khổ,
Người sang hết vận, phải lo nghèo.
Sóng trần thăm thẳm, nhiều tay lội,
Đường đạo thênh thênh, ít kẻ theo.
Thêm mối dục tình, là bể hận,
Mấy ai thoát được, nỗi sầu đeo!

02.
Sầu đeo, sầu kéo lệ trào theo,
Nào khóc chia ly, khóc đói nghèo!
Khóc cảnh đắng cay, lời thắm thiết,
Khóc đời ấm lạnh, nghĩa sơn keo.
Thương thân phiêu bạt vùi sương tuyết,
Thương kiếp trầm luân sánh bọt bèo.
Thức trắng nhiều đêm nơi đất khách,
Tâm tình than với mảnh trăng treo!

03. 
Trăng treo lờ lững giữa lưng đèo,
Chắc cũng cười vui với gió reo.
Cười bởi trần duyên đâu dễ vướng,
Vui vì nhân thế chẳng buồn đeo.
Một tuồng vinh nhục đà ra khỏi,
Hai nẻo thăng trầm chớ để gieo.
Thương kẻ trần ai chưa hiểu thấu,
Minh tâm kiến tánh quyết lòng theo!

04.
Quyết lòng theo đạo hạnh tì kheo,
Xem bả phù hoa thể bọt bèo !
Thế tục mập mờ mây xám lượn,
Đào nguyên rạng rỡ hạc vàng reo.
Mất còn đâu có – mà đem buộc,
Thua được là không – lọ phải đeo?
Sắc sắc, không không, lời pháp bảo,
Ấy kìa hạt giống phải cần gieo!

05. 
Phải cần gieo hạt giống trong veo,
Là đạo từ bi quyết phải theo.
Dù có nhọc lòng nên vững bước,
Cũng đừng nản chí phải lơi chèo.
Luân hồi muốn dứt, sầu lo cởi,
Nghiệp quả còn mang, khổ hận đeo.
Dẫu bậc đế vương, cùng sĩ thứ,
Không tu… sao thoát kiếp dâu bèo?!

06.
 Dâu bèo một kiếp, gió qua vèo,
Chiếc lá vàng khô phải rụng theo!
Tranh bá đồ vương, gieo hận oán,
Tham quyền cố vị, thắt sầu đeo.
Tiếc trang tài tuấn đời luân lạc,
Thương khách hùng anh phận đói nghèo.
Bể khổ trầm kha… là thế thế,
Con thuyền bào ảnh chẳng bờ neo!

07.
Chẳng bờ neo, cũng chẳng bờ neo,
Dồn dập từng cơn sóng bủa vèo!
Chìm nổi lênh đênh, tình vắng ngắt,
Mất còn lơ láo, cảnh đìu hiu.
Cung đàn Tư Mã, chùng tay phím,
Chén rượu Đình Hoa, đẫm mái chèo.
Phấn sáp Đài Chương, lầu gác ngọc,
Điêu tàn như thể hạt sương gieo!

08. 
Hạt sương gieo tợ chỉ mành treo,
Một thoáng rồi tan, mộng nát theo!
Tài hạng Trương Nghi còn sợ khổ,
Giỏi tay Hàn Tín vẫn lo nghèo.
Đâu bằng an lạc thung thăng bước,
Há để trầm tư nhũng nhẵng đeo.
Cội phúc… do lòng tôn đạo pháp,
Tâm thành như hạt ngọc trong veo!

09. 
Trong veo hạt ngọc, phải cần gieo,
Mãi mãi giồi trau, cố gắng theo !
Dù lúc mưa chan, không hối tiếc,
Hoặc khi nắng gội, chớ eo xèo.
Phải tu nghiệp đức đừng rơi lại,
Tránh để tình si cứ bám theo.
Luôn nhớ chữ tâm nào phải Phật,
Quên Tâm quên Phật mới trong veo!

10.
Trong veo… là chỗ chẳng gì đeo,
Hạt bụi trần ai mất chỗ theo!
Lưu luyến, luyến lưu, cười nghiệp dứt,
Ngộ mê, mê ngộ, lựa đường gieo.
Nhớ chi cố sự, say hồ rượu,
Quên cả tiền duyên, quẳng mái chèo.
Cuộc thế vần xoay, trời định sẵn,
Dại khôn rồi cũng chết lăn queo!


Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân


Nay Và Xưa


Nói chuyện ngày nay ai cũng biết, vì nó đập vào mắt mỗi ngày! Thế thì nói chuyện xưa thích thú hơn (!). Người ta muốn biết chuyện xưa nó ra làm sao?

Hồi xưa tôi đã từng đi xe thổ mộ từ Phú Nhuận đi Chợ Lớn! Nghe tiếng chuông gọi khách, thích thú lắm! Người ta đi chợ rau vào khoảng Thuận Kiều. Cái chợ này gọi là Chợ Rẫy. Cả khu chung quanh này cũng gọi chợ rẫy. Sau này bệnh viện do Nhật Bản viện trợ, Lớn nhất, kỹ thuật cao nhất cũng được mang tên Chợ Rẫy!
Người mua rau muốn biết chuyện xa hơn: Cái Cộ! Cái Cộ là cái xe không bánh!!! trượt trên bùn lầy hay vùng nước cạn. Nhưng ngày nay nào ai biết cái Đồng Ông Cộ nó nằm ở chỗ nào? Chỉ biết là đa số nó chở hàng từ Bắc xuống Nam, nó nuôi dưỡng nhiều người chở hàng chớ bộ!

Ôi ! Những vườn rau, vườn khoai, vườn lài... chết tiệt hết rồi (!) Ngày nay người ta chở rau từ Đà Lạt và nơi xa về Sài Gòn. Ôi những cảnh cũ người xưa biến mất rồi! Ngày nay người ta ngồi ở nhà, phôn một cái là có đủ thứ, nhớ chuyện xưa ... mà chi.. no béo gì!!!

Ôi! Sài gòn người ta nhớ đù thứ! Ngồi đâu cũng thấy nhớ! Ngồi ở Catina nhớ cà phê ở Vườn Hoa Chi Lăng! Ngồi ở Thương Xá Tax ngắm Sài Gòn thì thấy nhớ... nhớ gì đâu. Nhưng nhiều người văn minh hơn(?) thích ngồi ở quán cao tầng hơn! Ngồi ở quán cao mấy chục tầng thì chẳng thấy cái Tương Xá Tax. Cũng chẳng ai nhắc tới Givral! Brodart! Passage Eden!

Bây giờ siêu thị mọc lên khắp nơi, nhưng tôi nhớ và thích những món hàng mua ở Eden năm xưa.
Nhớ hồi xưa tôi ở học gần trường đua Phú Thọ, cái sân cỏ rộng mênh mông của nó hôm nào mưa thì có hàng vạn con ễnh ương kêu điếc tai, không ngủ được. Bây giờ các ông lớn chia da xẻ thịt, nghĩ mà thương cho cái sân cỏ. Bây giờ giầu lên (?) có ông Mỹ nói Việt Nam phát triển Thần Kỳ (?) Nhưng lại có ông Mỹ nói Việt Nam theo chủ nghĩa Tư Bản sauvage. Bây giờ thay đổi nhiều lắm! Nhưng tôi vẫn nhớ chuyện xưa, nhất là thân phận sinh viên nghèo.

Gác trọ về khuya cơn gió lùa
Trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa

Nghĩ lại thì thấy nó thơ mộng ... nhưng mà ... nhưng mà: Thơ mộng trên mây

Ôi! Trái đất quay đến chóng mặt Bây giờ chẳng thiếu thứ gì, nhưng tôi thấy nhớ... nhớ... thiếu những món xưa, người xưa, cảnh xưa!!! ... dù xưa nó cũng có cái gì chẳng hay ho cho lắm: Đại Thế Giới!!! Đại Thế Giới làm người ta tan cửa nát nhà... mà có người ca tụng đấy! Có những cái xưa mà nay tôi không biết nó bị phá hay hô biến: Hồ Bơi! Hồ Catinat thì sinh viên thích! Hồ An Đông thì người ta chê dơ vì các cô gái Tầu đem con ghẻ Tầu xuống đó(?) Hồ Chi Lănh ở trên con đường lớn, khá đẹp và rông rãi, đắc địa! Buổi tối mà có mưa rơi... rồi các cụ già(có những cụ nổi tiếng như: Phan Thê Roanh, Đông Hồ ... ) mướn một nàng ca kỹ xưa ngâm thơ Tỳ Bà Hành... thì tuyệt cú mèo, buồn thúi ruột. Nhưng có một hồ bơi khiến các chàng bàn tán ... rôm rả! Đó là hồ bơi của trường Trung học Gia Long. Hồ do ông Phó Tổng Thống tài trợ! Nhưng ông Tướng Hào hoa này chỉ chứng tỏ mình chịu chơi, chứ ổng không có thì giờ tới ngắm cá nàng ... Tắm!!!

 

 


Chân Diện Mục


Thục Đạo Nan 蜀道難 - Lý Bạch


Nguyên tác        Dịch âm

蜀道難              Thục Đạo Nan


噫吁戲                      Y hu hy!
危乎高哉                   Nguy hồ cao tai!
蜀道之難                   Thục đạo chi nan
難於上青天                Nan ư thượng thanh thiên!
蠶叢及魚鳧                Tàm Tùng cập Ngư Phù
開國何茫然                 Khai quốc hà mang nhiên
爾來四萬八千歲         Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế
不與秦塞通人煙         Thủy dữ Tần tái thông nhân yên
西當太白有鳥道         Tây đương Thái Bạch hữu điểu đạo
可以橫絕峨眉巔         Khả dĩ hoành tuyệt Nga Mi điên
地崩山摧壯士死         Địa băng sơn tồi tráng sĩ tử
然後天梯石棧方鉤連 Nhiên hậu thiên thế thạch sạn phương câu liên
上有六龍回日之高標 Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu
下有衝波逆折之回川 Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên
黃鶴之飛尚不得過     Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc
猿猱欲度愁攀援         Viên nhu dục độ sầu phan viên
青泥何盤盤                 Thanh Nê hà bàn bàn!
百步九折縈巖巒         Bách bộ cửu chiết oanh nham loan
捫參歷井仰脅息         Môn Sâm, lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức
以手撫膺坐長歎         Dĩ thủ vũ ưng tọa trường than
問君西遊何時還         Vấn quân tây du hà thì hoàn?
畏途巉巖不可攀         Úy đồ sầm nham bất khả phan
但見悲鳥號古木         Đản kiến bi điểu hiệu cổ mộc
雄飛雌從繞林間         Hùng phi tòng thư nhiễu lâm gian
又聞子規啼夜月        Hựu văn tử qui đề dạ nguyệt
愁空山                        Sầu không sơn
蜀道之難                    Thục đạo chi nan
難於上青天                Nan ư thượng thanh thiên
使人聽此凋朱顏        Sử nhân thính thử điêu chu nhan
連峯去天不盈尺        Liên phong khứ thiên bất doanh xích
枯松倒掛倚絕壁        Khô tùng đảo quải ỷ tuyệt bích
飛湍瀑流爭喧豗        Phi suyền bộc lưu tranh huyên hôi
砅厓轉石萬壑雷        Phanh nhai chuyển thạch vạn hác lôi
其險也如此                Kỳ hiểm dã nhược thử!
嗟爾遠道之人            Ta nhĩ viễn đạo chi nhân
胡為乎來哉                Hồ vi hồ lai tai!
劍閣崢嶸而崔嵬        Kiếm các tranh vanh nhi thôi ngôi
一夫當關                    Nhất phu đương quan
萬夫莫開                    Vạn phu mạc khai.
所守或匪親                Sở thủ hoặc phi thân
化為狼與豺                Hoá vi lang dữ sài!
朝避猛虎                    Triêu tị mãnh hổ
夕避長蛇                    Tịch tị trường xà
磨牙吮血                    Ma nha duyện huyết
殺人如麻                    Sát nhân như ma
錦城雖云樂                Cẩm thành tuy vân lạc
不如早還家                Bất như tảo hoàn gia
蜀道之難                    Thục đạo chi nan
難於上青天                Nan ư thượng thanh thiên
側身西望長咨嗟        Trắc thân tây vọng trường tư ta

Lý Bạch
***
Chú giải

(Năm 732) Thục: tên nước cũ thời Xuân Thu, nay là tỉnh Tứ Xuyên.
Y, Hi, Hu: tiếng than. 之 chi: trợ từ giữa câu. Tàm Tùng và Ngư Phù: 2 vua sáng lập nước Thục. Cập: với, và. Hà?: sao? Mang nhiên: mờ mịt. Nhĩ: trợ từ dứt câu: vậy, như thế. Lai: lại. Thủy: mới bắt đầu. Tái: cửa ải. Nhân yên: chỗ có người ở, có khói. Điểu đạo: đường nhỏ hẹp (như vừa đủ cho chim đi). Đương: đương thời. Tuyệt: rất. Hoành: ngang. Điên: ngọn, đỉnh núi. Nga mi: tên núi đất Thục (Tứ Xuyên ngày nay). Tồi: bẻ gẫy. Sạn: cầu treo bằng gỗ. Câu: móc, lưỡi câu. Hồi: về, cong queo. Cao tiêu: cái nêu cao. Chiết: bẻ, gẫy. Xung: xông ra, sấn thẳng lên. Phan: kéo lại, vin trèo. Viên: vin, kéo, dắt. Thanh Nê: tên núi ở Thiểm Tây. Bàn bàn: quanh co. Oanh: quay vòng quanh. Nham: đá núi. Loan: chỗ núi quanh co. Lịch: trải qua. Sâm, Tỉnh: 2 ngôi sao trong nhị thập bát tú. Ngưỡng: ngẩng nhìn. Dĩ: dùng, lấy. Phủ: vỗ về, thoa bóp. Ưng: ngực. Úy: sợ. Đồ: đường đi. Sàm nham: núi đá hiểm trở. Hào: kêu khóc. Nhiễu: vòng quanh. Tử qui: tên gọi chim đỗ quyên. Sử: sai khiến. Điêu: héo rụng. suy bại. Chu: sắc đỏ. Phong: chỏm núi. Doanh: đầy đủ. Xích: thước đo.*Liên phong khứ thiên bất doanh xích: những ngọn núi liền nhau cách trời không đầy thước. Câu dịch dùng 6 chữ vần trắc để tả độ cao này. Đảo: xô đổ. Quải: treo lên, đeo ở mình. Tuyết bích: sườn núi cao, dốc. Suyền: nước chảy mau. Bộc: nước trên núi chảy xuống suối. Huyên hôi: ầm ỹ. Phanh: đập vào, công kích. Nhai: sườn núi. Hác: khe. Lôi: sấm. Nhược: như bằng. (nhược sử như thử: bằng khiến như thế). Dã: vậy. Ta: than thở. Kiếm Các: dẫy núi ở Tứ Xuyên có nhiều ngọn cao, hiểm trở. Tranh vanh: chót vót. Thôi ngôi: núi đá lẫn đất cao ngất. Sở: nơi, xứ sở. Thủ: coi giữ. Phi: không. Sài lang: chó sói. Tị: tránh. Ma: mài. Duyện huyết: hút máu. Ma: cây gai. Vân: nói rằng. Trắc thân: nghiêng mình. Tư ta: than thở.

Dịch nghĩa

Ôi, Nguy tai!
Nguy hiểm thay, cao thay!
Đường Thục đi khó, khó hơn lên trời xanh.
Các vua Tàm Tùng và Ngư Phù
Mở nước bao la khổ nhọc biết bao!
Từ đó đến nay, đã bốn vạn tám nghìn năm,
Mới thông suốt từ ải Tần đến chỗ có khói (nơi có người ở)
Phía tây là núi Thái Bạch có đường hẹp chỉ đủ cho chim đi,
Vắt ngang đến tận đỉnh núi Nga Mi.
Đất lở, núi sập, tráng sĩ chết,
Rồi mới có thang trời, đường đá móc nối liền nhau.
Phía trên có ngọn núi cao giống như sáu rồng lượn quanh mặt trời.
Phía dưới có dòng sông uốn khúc sóng xô ngược dòng nước chảy.
Hạc vàng còn không bay qua được;
Vượn khỉ muốn vượt qua, cũng buồn bực vịn để tới, leo trèo mà sang.
Rặng núi Thanh Nê khuất khúc biết bao!
Cứ trăm bước lại có chín khúc quặt vòng quanh núi non hiểm trở.
Đứng trên cao, ngẩng trông nín thở, tưởng chừng như mó được sao Sâm, sao Tỉnh (sao Hôm sao Mai),
Đưa tay vỗ bụng, ngồi than thở hoài.
Hỏi ông bạn đang đi về phía Tây, bao giờ mới về?
Đường đi cheo leo, nguy hiểm, không với tới được.
Chỉ nghe thấy tiếng chim kêu đau thương trong hàng cây cổ thụ,
Con trống bay theo con mái, lượn quanh trong rừng.
Lại nghe thấy tiếng chim tử qui (dịch là con cuốc) kêu dưới bóng trăng đêm, buồn trong núi vắng.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Khiến người ta nghe nói đến cảnh đó, phải héo hắt vẻ mặt trẻ trung.
Các ngọn núi liền nhau, cách trời không đầy một thước.
Cây thông khô vắt vẻo tựa vào vách đá cao ngất.
Nước bay, thác chảy ầm ầm.
Đập vào sườn núi, rung động đá, muôn khe suối vang như sấm.
Đường Thục hiểm trở là như thế!
Thương thay cho những người đi đường xa,
Tại sao mà đến đây?
Miền Kiếm Các cheo leo, chót vót!
Chỉ một người canh giữ ải,
Đến muôn người cũng không qua nổi.
Những lính giữ ải hoặc là người không thân (với bạn),
Đều có thể biến thành lang sói.
(Những người đi đường thì) ban sáng phải lánh cọp dữ,
Buổi tối phải tránh rắn dài;
Bọn chúng mài nanh, hút máu,
Giết hại người nhiều như cây gai.
Thành Cẩm Quan tuy vui (đối với mình),
Nhưng sao bằng sớm trở về nhà.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Nghiêng mình trông sang phía tây, than thở hoài.

(Năm 732)
Thục là tên nước cũ thời Xuân Thu, nay là tỉnh Tứ Xuyên.

Dịch thơ:

Đường Thục Khó

Ôi nguy tai!
Cao thay! Hãi kinh!
Đường Thục đi khó,
Khó hơn lên trời xanh!
Từ Ngư Phù, Tàm Tùng,
Mở nước non gian khổ,
Qua bốn vạn tám ngàn năm ròng,
Nối ải Tần giao thông xóm nhỏ.
Xưa Thái Bạch phía tây hiểm trở,
Vượt Nga Mi hẻm núi chơi vơi.
Bao tráng sĩ chết vì đá lở,
Để ngày nay nối thành sạn đạo thang trời.
Trên, dẫy núi cao như sáu rồng chầu nhật,
Dưới, một dòng quanh co nước giật sóng xô.
Bay qua hạc vàng còn chóng mặt,
Muốn sang buồn nhọc vượn vịn trèo.
Thanh Nê đá cheo leo,
Trăm bước đi cong queo chín chỗ.
Sao Sâm sao Tỉnh với tay khều.
Nhìn lên vỗ bụng ngồi than khổ.
Hỏi anh sang Thục bao giờ về?
Đường núi chênh vênh thấy mà ghê.
Chim trống, mái, rượt quanh rừng rậm,
Đậu cành cổ thụ kêu thảm thê.
Nghe cuốc kêu thâu đêm trăng tỏ.
Núi buồn tênh.
Đường Thục đi khó,
Khó hơn lên trời xanh.
Ai nghe cũng mặt nhăn mày ngược.
Núi sát núi cách trời nửa thước*.
Thông khô vắt vẻo ngả sườn non.
Thác bay suối chạy đua nhau tuôn,
Quật trên đá ầm ầm như sấm.
Đường hiểm nguy biết mấy!
Thương viễn khách xa xăm,
Tới đây làm chi vậy!
Ngặt nghèo Kiếm Các rặng cao thâm.
Một lính giữ ải quan,**
Vạn người qua không nổi.**
Lính hoặc kẻ không thân,
Đều biến thành chó sói.
Sáng tránh hổ gầm,
Chiều lo rắn đói,
Lũ qủy sát nhân,
Ăn tươi nuốt vội.
Cẩm thành tuy yên thân,
Về nhà vui gấp bội.
Đường Thục khó khăn,
Khó hơn lên trời xanh.
Hướng về tây nghiêng mình than mãi!

Mùa hè năm 2008
Con Cò


* Bài dịch dùng 6 chữ vần trắc (trong 7 chữ của một câu thất) để dịch độ cao chót vót gần tới trời của rặng núi.
** Bài dịch phải thêm 1 chữ (5 chữ thay vì 4) trong hai câu này cho rõ nghĩa.

Lời bàn của Con Cò:
Bài thơ độc đáo này đã khắc phục sự khô khan của thơ tả cảnh để̀ tả, một cách vô cùng hấp dẫn, con đường sạn đạo nối Trung nguyên với đất Thục.
- Có gần 50 câu tả cảnh tuyệt tác (bài dịch giữ nguyên thể cổ phong, giữ nguyên số câu và số chữ trong mỗi câu ngoại trừ hai câu 38**, 39**).
- Tiểu sử, cái hùng vĩ và cái chênh vênh, hiểm trở của con đường đã được tả thật tỉ mỉ bằng thơ.
- Những chỗ mà các câu từ 9 chữ giảm dần xuống 3 chữ rồi lại tăng dần lên 7 chữ giống như những chỗ thắt ngẵng của hẻm núi.
- Những đoạn đường quanh co, khúc khuỷu, gập ghềnh đã được diễn tả bằng nhịp điệu của vần thơ, phối hợp với từ ngữ tương đương, là một thách thức vô củng khó khăn cho người dịch.
- Trong loại thơ tả chân của thế giới, chưa thấy ai táo bạo như Lý Bạch. Muốn tả núi cao, ông dùng thái độ rụt rè của chim hạc (loại chim thường bay cao trên 9 từng mây): 黃鶴之飛尚不得過 Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc (dịch thoát là: Hạc vàng bay qua còn chóng mặt). Thấy chưa đủ cao, ông còn bồi thêm một câu thậm xưng: 捫參歷井仰脅息 Môn Sâm, lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức (dịch thoát là: Sao Sâm sao Tỉnh với tay khều). Vẫn chưa hài lòng, ông còn lấy thước đo Trời: 連峯去天不盈尺 Liên phong khứ thiên bất doanh xích (dịch thoát là: Núi sát núi cách Trời nửa thước).
- Tả mức hiểm trở của quan ải, ông chỉ dùng hai câu tổng cộng 8 chữ: 一夫 當關 Nhất phu đương quan 萬夫莫開 Vạn phu mạc khai. (bài dịch phải dùng 10 chữ để dịch thoát: Một lính giữ ải quan, Vạn người qua không nổi ).
- Những nguy hiểm bất chợt do thú dữ như hùm beo, rắn độc cũng được nhắc tới. Con người sống ở đó, kể cả lính canh gác, nếu không phải là thân nhân của bạn, đều có thể biến thành chó sói để hại bạn.
- Một câu hỏi giản dị nêu lên bởi họ Lý như câu 問君西遊何時還 Vấn quân tây du hà thì hoàn? (dịch thoát là: Hỏi anh sang Thục bao giờ về?) cũng chứa đựng nhiều ẩn ý của họ Lý (anh sang Thục, có lẽ vì công việc chứ chả điên rồ mà đi ngắm cảnh ở con đường gian nguy này, vậy thì nghỉ ngơi cho lại sức rồi về cho sớm nhé!….).
Một văn hào Tây phương đã nhận xét rằng con đường sạn đạo trong thơ của Lý Bạch ấn tượng hơn con đường sạn đạo được tả trong những áng văn xuôi.
***
Bài Thục Lộ Nan của Lý Bạch trên 50 câu là một tuyệt tác tả cảnh, được công nhận trong Đường Thi Tam Bách Thú của Hàn Đường Tuế Sĩ. Tôi gởi bản dịch ra Anh ngữ của Witter Bynner để quý anh chị tham khảo thêm.

Hard Roads In Shu by Li Bai


Translation by Witter Bynner (1920)

Oh, but it is high and very dangerous!
Such travelling is harder than scaling the blue sky.
...Until two rulers of this region
Pushed their way through in the misty ages,
Forty-eight thousand years had passed
With nobody arriving across the Qin border.
And the Great White Mountain, westward, still has only a bird's path
Up to the summit of Emei Peak --
Which was broken once by an earthquake and there were brave men lost,
Just finishing the stone rungs of their ladder toward heaven.
...High, as on a tall flag, six dragons drive the sun,
While the river, far below, lashes its twisted course.
Such height would be hard going for even a yellow crane,
So pity the poor monkeys who have only paws to use.
The Mountain of Green Clay is formed of many circles-
Each hundred steps, we have to turn nine turns among its mound --
Panting, we brush Orion and pass the Well Star,
Then, holding our chests with our hands and sinking to the ground with a groan,
We wonder if this westward trail will never have an end.
The formidable path ahead grows darker, darker still,
With nothing heard but the call of birds hemmed in by the ancient forest,
Male birds smoothly wheeling, following the females;
And there come to us the melancholy voices of the cuckoos
Out on the empty mountain, under the lonely moon....
Such travelling is harder than scaling the blue sky.
Even to hear of it turns the cheek pale,
With the highest crag barely a foot below heaven.
Dry pines hang, head down, from the face of the cliffs,
And a thousand plunging cataracts outroar one another
And send through ten thousand valleys a thunder of spinning stones.
With all this danger upon danger,
Why do people come here who live at a safe distance?
...Though Dagger-Tower Pass be firm and grim,
And while one man guards it
Ten thousand cannot force it,
What if he be not loyal,
But a wolf toward his fellows?
...There are ravenous tigers to fear in the day
And venomous reptiles in the night
With their teeth and their fangs ready
To cut people down like hemp.
Though the City of Silk be delectable, I would rather turn home quickly.
Such travelling is harder than scaling the blue sky....
But I still face westward with a dreary moan.

Phí Minh Tâm

***

Đường Thục Khó

Y hu hy, cao thay nguy hiểm
Đường Thục khó, khó lên trời xanh
Tàm Tùng, Ngư Phù liêt oanh
Dựng nước tự thuở mông mênh dáng hình

Mất bốn vạn tám nghìn năm lẻ
Mới qua Tần, vắng vẻ khói im
Phía tây Thái Bạch đường chim
Vắt ngang đỉnh núi như tìm Nga My

Tráng sĩ chết, đất di non lở
Tiếp thang trời, núi vỡ móc liền
Sáu rồng chầu nguyêt bên trên
Sóng xô phía dưới ngược triền uốn cong

Hạc vàng bay còn không thể vượt
Khỉ vượn rên tay buốt vin trèo
Thanh Nê một dãy cheo leo
Đường đi quanh quẹo bước theo núi vòng

Sao Tĩnh, Sâm nhìn không dám thở
Vỗ bụng hờ than nhỏ nhiều khi
Bạn Tây du, lúc nao về?
Đường nguy, hiểm trở chẳng hề dễ leo

Nghe chim khóc, buồn theo cổ thụ
Trống mái bay, rộn phủ cánh rừng
Tử quy kêu nguyệt rưng rưng
Núi buồn vắng vẻ thê lương não nề

Đường Thục khó, hơn về trời thẳm
Khiến người nghe lệ thảm dung nhan
Núi, trời cách một tấc gang
Thông khô vắt vẻo dựa ngang đá bừa

Nước thác đổ tranh đua huyên náo
Dập sườn non, đá đảo, khe vang
Đường hiểm trở, khổ đoạn tràng
Thương người phiêu bạt quan san bao ngày

Tại sao lại đến đây
Kiếm Các núi ngất mây
Một người canh giữ ải
Muôn người vượt khó thay
Gặp kẻ không nhân ái
Sài lang thú tính bày
Sáng lánh xa mãnh hổ
Chiều né gặp rắn dài
Thường mài nanh hút máu
Giết người cây dầu gai
Dù Cẩm thành vui thú
Sao bằng về nhà ngay

Đường Thục khó, khó hơn trời thẳm
Luôn thở than, nghiêng nhắm về Tây!

Lộc Bắc

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

Nơi Đâu Hạnh Phúc - Sáng Tác & Tiếng hát Diệu Hương

Nỗi Lòng Mưa Phùn


Hạnh phúc sáng mưa phùn rơi nhẹ
Nghe khung trời nói chuyên gái trai
Những năm xưa rong bước đường dài
Anh lính cũ quen người con gái

Đường đất đỏ hai người song bước
Lấm tấm bùn hạt ướt chân son
Chở che nhau trời còn ghen tức
Đẹp cảnh người nô nức kề vai

Vài thông cạnh vô tình nghe được
Đôi tim non hồi hộp vượt qua
Cung điệu cuối đơm hoa nụ nở
Báo mưa phùn nhắm mắt làm ngơ

Tình yêu mới gây hoài nỗi nhớ
Mênh mông buồn vui lẫn ngày thơ
Tuy đường nhỏ mộng mơ tha thiết
Kiệt tác đời trai gái song đôi

Nhớ chuyện xưa tim vẫn bồi hồi
Ngôi nhà ước sơn màu thánh thiện
Dìu nhau về cùng chuyển bậc cung
Tâm đầu ý chung lòng theo nhịp!

Kiếp tơ tầm mưa sáng mình ta
Dầm lang thang đến tận chiều tà!

Pleiku 31-7-2011
Lê Kim Hiệp

Chạm Đông


Mưa thu bay trên tàn cây thưa lá
Em mùa thu tóc xõa vai gầy
Gom vạt nắng ủ lấy lòng thương nhớ
Chia nỗi niềm theo vạn ngả chân mây

Mưa thu về nước sông màu vo gạo
Làm đỏ tròng con mắt cá linh non
Em con gái mắt tròn xoe dí dỏm
Làm tim anh thổn thức mấy năm tròn

Quê anh chỉ có hai mùa mưa nắng
Nên thu về thiếu hẳn lá vàng bay
Mưa có lúc rỉ rả hoài không dứt
Thấm dần trong nỗi nhớ len say

Sáng nay nghe gió may qua cửa
Mới biết rằng đông đã đến rồi
Mấy chục năm chờ em chẳng được
Đông về bầu bạn với hư không.


Bằng Bùi Nguyên

Muộn Màng



(Để nhớ Marie Thérèse Nguyễn Thị Bạch Yến R)

Em theo mây gió về đâu 
Hành trang tôi nặng thêm sầu chia phôi 
Vòng tay chưa ấm tình đôi 
Đã ngoài mấy cõi xa xôi ngàn trùng 
Em theo mây khói vô cùng 
Tôi còn luân lạc trong vùng bể dâu 
Buồn theo nước chảy qua cầu 
Cánh buồm tiếc mãi giang đầu bến xa 
Em thành hương quyện thiên tòa 
Trong tôi nến đổ, giọt nhòa đường mơ 
Tử sinh chia cách đôi bờ 
Vàng theo hồn úa tình thơ trong đời 
Cung sầu vọng tiếng đầy vơi 
Lạc loài trái mộng, tả tơi hoa lòng
Em theo mây gió phiêu bồng
Nhớ Em, nhớ quá nụ hồng trong sương
Nhớ tay đan lối giáo đường
Lời kinh là tiếng yêu thương nồng nàn
Nhớ tà áo quyện thời gian
Cho đêm yên giấc, ngày mang tình đầy
Bây giờ nắng úa trên tay
Vầng trăng cổ đại cũng gầy bóng hoa
Em miên viễn tận trời xa
Nhớ Em, tôi dạo tình ca muộn màng.


Huy Văn

Đưa Thu Vào Mộng

Trăng trắng ngà, giữa ngàn sao lấp lánh,
Sương mơ màng, trên đỉnh núi xa xa
Cúc nở nụ cười chúm chím vàng hoa
Tường vi đỏ, như môi cô hàng xóm.

Nắng hồng trên cỏ, chớp lia đom đóm,
Ấy là Thu!… Thu đã tới trước nhà!
Chào đón Nàng, có giọng hát sơn ca
Đàn bướm nhỏ, bay chập chờn khiêu vũ.

Cả rừng phong, áo muôn mầu quyến rũ,
Liễu nghiêng đầu, hong mái tóc xanh lơ
Mây lưng trời, bỗng dừng lại ngẩn ngơ
Gió mơn trớn đa tình hôn trên má.

Chao ôi! Thu dịu hiền… yêu Thu quá!
Một trời Thu… hay tất cả là Thơ?
Ánh trăng thanh, nhuộm vũ trụ huyền mơ
Đêm buông xuống, Thu đưa ta vào mộng.

Đành đã biết, Thu ôm tròn lẽ sống,
Nhưng xá gì… lá rụng với mây bay!
"Thu ẩm hoàng hoa tửu" (*) ngất ngây say
Há phải đợi Đông về ngâm Bạch Tuyết!

Rót tự trái tim, những dòng trác tuyệt,
Đưa Tình Thu, lên Cung Nguyệt mơ màng
Xa chốn trần ai, ô nhiễm, hỗn mang
Thu nhập hồn Thơ… lênh đênh Trời Mộng!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia.

Ấp Ủ Bên Lòng

Xướng:

Ấp Ủ Bên Lòng

Nhớ lắm ngày xưa chuyện gấm nhung
Chia tay hồi ấy hẹn trùng phùng
Chân trời én liệng người bôn tẩu
Cuối đất chim kêu kẻ kiếm lùng
Khắc khoải cô đơn sầu chẳng dứt
Bồn chồn trống vắng nhớ khôn chùng
Ai ơi từ dạo ly hương đó
Ấp ủ bên lòng buổi hẹn chung.


Tha Nhân
***

Họa:

Biết Đến Bao Giờ

Đành đoạn rời xa mái tóc nhung
Nếu còn duyên nợ sẽ tương phùng
Chia ly phận bạc hoài thương nhớ
Đoàn tụ thân côi khỏi lạnh lùng
Nhớ thuở kề vai say nắng trải
Bây giờ lẻ bóng ngắm tơ chùng
Sầu dâng hận tủi theo năm tháng
Biết đến bao giờ hạnh phúc chung???


Lâm Hoài Vũ
01/10/2020


Những Kẻ Cướp Thiên Đường

n

Sáng sớm hôm nay, khi còn đang yên giấc, một tiếng hét rầm trời đánh thức hai thân già. Mở choàng mắt, tôi thấy phòng vẫn tối om. Ánh bình minh còn đang lưu luyến đó đây trên mặt địa cầu, chưa lóe qua khung cửa. Ngày mới có hứa hẹn bất ngờ, vì tiếng la tiếng hét từ bên kia đường bắt đầu sao quá sớm.

Chúng tôi ngao ngán. Muốn ngủ thêm cũng không được nữa, vì những tiếng la kèm với những câu hét khó hiểu liên tiếp vang lên, dồn dập như có ai đấm thùm thụp vào tim, vào óc! Trời ạ. Người đâu mà có hai lá phổi lớn thế. Căn phòng ngủ này, nằm phía sau căn nhà chánh và con lộ mấy chục thước mà còn nghe rõ như ai cắm cái loa phóng thanh sát tai. Khi nào sửa sang xong, dọn sang đó, làm sao chịu cho thấu? 

Tôi nằm đó, trong trí nở bừng một bức tranh toàn xám. Mới đầu chỉ nhiễu vài giọt, rồi dần dần chúng loang dần thành vũng nước, men theo phiến đá, đổ xuống thành thác, rồi thành một dòng sông trôi ra biển lớn, bao phủ mọi sự bằng rặt một màu xám. Đủ sắc thái của màu xám. Không màu hồng của mây. Không màu xanh của lá, mặc dù “Thiên đường hạ giới” này có vô số lá. Không cả màu đại dương. Tôi cố hình dung tìm về những bức tranh đủ màu tươi thắm chàng và tôi đã phác họa, rồi tô, rồi vẽ, khi mua được căn nhà này, sau hơn bốn năm tìm kiếm, mà vô ích. Ai đã đốt chúng thành tro. 

Giờ, sau khi dọn vào đây gần một năm, chúng tôi đã khám phá ra điều gì? Thấy gì?

Chúng tôi khám phá ra rằng luật lệ đặt ra để làm cho người đời chế diễu. Vì những luật như cấm bắn súng trong khu dân cư; cấm đốt cây đốt, cấm săn heo rừng, khi gần khu gia cư … vẫn vi phạm hàng tuần, hàng tháng. Đã bao lần chúng tôi ngồi trong nhà nghe tiếng súng mà run, mà lo lắng không biết bị đạn lạc lúc nào? Đã bao lần phải đóng hết cửa lại, bật quạt hút khói tối đa để đỡ hít khói từ ngoài vào lồng phổi phần nào? Có gọi cảnh sát thì cũng huề tiền, vì họ là những người thân, người quen của người vi luật.

Chúng tôi thấy cái “nền văn hóa” bên thiên đàng hạ giới này là một nền văn hóa chỉ biết có mình, một nền văn hóa thủ thân, một nền văn hóa “chúng mình/chúng nó”, một nền văn hóa dồn người mới tới vào chân tường qua các thói quen lạ đời của những “ma cũ” hoặc của những người có nơi này là quê hương. Một nền văn hóa khác hẳn những gì du khách chứng kiến. Chúng tôi thế đó, không chịu thì dọn đi. Biết vậy sao dọn sang đây làm gì? Lỗi tại ai, khi không chịu tìm hiểu kỹ lưỡng trước khi chọn nơi này để về hưu? 

Tôi khám phá ra rằng dù cho người chủ chó có tỏ thái độ phục thiện trước mắt mình, để rồi sau đó, không làm gì khác như đã hứa. Chó vẫn sủa. Tôi khám phá ra rằng, khi xin người đàn ông vặn nhỏ volume của máy và của miệng, người này hết lời xin lỗi. Rồi sau đó, mọi sự trở lại như cũ. Tôi khám phá ra rằng sau khi nói chuyện với chủ chó không xong, chúng tôi bỏ bóp bụng bỏ ra năm ngàn đô la để nhờ luật sư can thiệp, hy vọng có những ngày, những đêm an hưởng “thiên đàng”. Tôi khám phá ra rằng sau khi gửi cho mỗi chủ chó một lá thư, luật sư báo cho biết họ đã dùng hết tiền chúng tôi đã gửi (và có thể còn nợ họ cả ngàn nữa), mặc dù luật sư không giúp giải quyết được gì. Chó khắp nơi vẫn sủa. Sủa ngày, sủa đêm. Nếu muốn tiếp tục thì cần bỏ thêm tiền vào quỹ của họ! Thất vọng, nhưng chúng tôi phải ngừng việc kiện tụng, vì không biết ai sẽ bảo đảm văn phòng luật sư này sẽ bắt buộc hai người chủ chó ác tâm sẽ cộng tác để huấn luyện chó của họ, hầu chúng tôi tìm được bằng an trong tâm hồn? 

Chỉ có một điều hay trong cái khổ nạn này là từ khi sa thải người luật sư, những sinh hoạt của chàng của tôi không phải bị đứt quãng nữa, vì mỗi khi chó sủa, phải ghi xuống ngày giờ chó sủa, sủa bao lâu, chó nhà nào, phía sau nhà, phía trước nhà, bên phải hay bên trái, vì luật sư muốn có bằng chứng, nếu sau này phải ra tòa.

Bây giờ, sau gần một năm dọn vào xóm này, chúng tôi trực diện thêm hai vấn đề mới. Người đàn ông bên kia đường bị bệnh tâm thần, la hét bất kể giờ giấc; và gần một chục chiếc xe mô tô đủ loại phân khối chạy lên, chạy xuống con đường, với ống pô xả tối đa, rú ga đinh tai, nhức óc.

Có ai ngờ. Khi đi coi căn nhà cũ kỹ này hai, ba lần, chúng tôi không hề nghe tiếng người hét. Chúng tôi không hề biết có 16 con chó chung quanh nhà. Chúng tôi không hề biết có những chiếc xe mô tô chạy lên, chạy xuống bẩy tám lần. Có những cuối tuần họ họp nhau lại, gần chục chiếc. Chúng tôi đâu ngờ đã sa vào một ổ kiến lửa. Một rừng u minh. Một vùng đầm lầy, không biết bao giờ mới thoát khỏi.

Tháng trước, có người bạn gọi hỏi thăm vì muốn dọn sang thiên đàng hạ giới để sống những ngày an nhàn còn lại. Tôi không giấu giếm, kể hết. Tôi khuyên bạn nên đọc “giữa những hàng chữ” những cuốn sách nói về việc chuẩn bị khi dọn sang đây. Vì không một nơi nào trong ba, bốn cuốn sách chúng tôi tìm mua và đọc khi còn ở Cali đã hoàn toàn nói hết mọi sự về bộ mặt thật của hàng xóm bên này! Tôi nói thêm là khi đã đọc hết, hiểu hết và chấp nhận hết, và nếu có khả năng mua ít nhất sáu mẫu đất, và có thể tập cho mình, khi sang bên này, chỉ ngước nhìn bầu trời xanh mây trắng, chỉ luyện tai nghe tiếng chim hót trên cành, thì bạn có thể ở chung với những kẻ ngang nhiên cướp thiên đường, cướp đi sự bằng an trong tâm hồn, sự tươi vui trên ánh mắt hay sự yên ắng của một thiên đường đúng nghĩa, thì xin cứ tự nhiên.

Dù sao tôi mong rằng những gì xẩy ra cho phần đông các bạn và của hai đứa chúng tôi không phải là mẫu số chung cho tất cả các xóm làng bên thiên đường hạ giới này, hầu những gì viết về nước Mỹ tử tế vẫn còn là thật.

Khổng Thị Thanh Hương