Thứ Hai, 7 tháng 10, 2019

Chốn Thần Tiên




Bài ớng:
Chốn Thần Tiên

Bát ngát rừng phong nhuộm sắc vàng
Cho hồn lữ khách rộn miên man
Suối reo bạc phủ thâu trần tục
Cây trải huỳnh pha ngợp thế gian
Mới biết cảnh thu nguồn Hạ Giới
Là vài rơi rớt của Thiên Đàng
Dụ chiêu nhân loại hồi đầu ngạn
Về chốn thần tiên hưởng phước nhàn

Phương Hoa 
Sep 25th 2019
***
Các Bài Họa:

Thu Diễm L

Hồn lơ lửng gởi ánh chiều vàng
Cánh lá thay màu đẹp đắm mang
Cửa động thần tiên vời cõi thế
Non bồng tuyệt sắc nhuộm trần gian
Vườn Thu diễm lệ chào muôn lối
Cảnh mộng xôn xao mở khắp đàng
Mắt thả mơ màng nghiêng bút vẫy
Bâng khuâng lắng đọng phút an nhàn

Minh Thuý (Thành Nội)
9/27/2019
***
Tâm Thu

Mây chen vần vũ lối thu vàng
Tiết bão lũ chà đến dã man
Khốn quẫn luôn về cùng cõi tục
Tiêu điều mãi ở với trần gian
Ví mà hạnh phúc đi muôn nẻo
Thì hẵn an vui đến mọi đàng
Cho dẫu gặp mùa thường khắc nghiệt
Gìn tâm yên tĩnh mới thanh nhàn

Như Thị
***
1) Cầu Nhàn

Tâm tịnh nghe thu lắng dạ vàng
Cho lòng nguôi vợi chuyện lan man
Tấm thân ký thác nơi trần tục
Nghiệp phận nổi nênh chốn thế gian
Rạn gót phong sương vương rệ cỏ
Mòn chân lữ thứ lụn ven đàng
Quá giang vật lộn lầy giông tố
Niệm thức cầu an -một chữ NHÀN.
30-9-2019


2) Đ
ợi Nhàn
(Gửi hiền huynh -Trần Như Tùng)

Chờ được "TRỜI,"...mình đã "hóa vàng"
Đời người cơ cực vốn tràn man...
Thân cò, kiếp vạc, ...quen lam lũ
Thịt bắp, vai u, ...kỵ dối gian
Đã rỗng niêu treo thôi mộng khá...
Đâu dư bạc xả để mơ đàng...
Gom thu vàng lá vùi chân ruộng
Gác cẳng nghêu ngao...cố...đợi nhàn.

01-9-2019
Nguyễn Huy Khôi
***
Đẹp Tựa Thiên Đàng


Mênh mông rực rỡ sắc cầu vàng,
Vạn vật chan hòa bóng thoáng man.
Diễm lệ nét thiên nhiên phủ chốn,
Đê mê dạ khách lạc trần gian.
Thu về hoa thoát hương phơi thắm,
Nắng chiếu ngàn tia đẹp ngút đàng.
Ngây ngất đê mê đưa mắt thả,
Thần tiên tận hưởng phút thanh nhàn.

Hồ Nguyễn

(30-9-2019)
***
Chiều Thu

Dõi ngắm cành khô biệt lá vàng!
Thu chờ gió nhẹ thổi mơn man
Vầng mây êm ả trôi chầm chậm
Khung cảnh yên bình ngại dối gian
Khách lạ trên thuyền mong cặp bến
Bạn thân cùng lớp bảo lên đàng
Trà sen vị ướp lòng thanh thản
Cảm tạ trời trao cuộc sống nhàn.

Như Thu
9/30/2019
***
Thu cảnh
(Xin phép họa hoá vận)

Trập trùng đồi núi nhuộm Thu Vàng
Trang trại mênh mông hưởng lúc nhàn
Xào xạc thông reo hoà suối nước
Rì rào tiếng gió quyện không gian
Cặp nai âu yếm vùng tiên cảnh
Đôi sóc du dương chốn địa đàng
Dõi mắt trông theo bầy hạc trắng
Bay về biển rộng, cõi man man...

Thanh Hoà
***
Hương Của Thu


Thu về bàng bạc khắp không gian
Tỉnh lặng rừng phong trải lá vàng
Sáng sớm mịt mờ sương lãng đãng
Chiều tà xào xạc gió mơn man
Khiến lòng tưởng suối nơi trần tục
Gợi dạ mơ mây chốn địa đàng
Ngây ngất trời xanh màu ngọc bích
Tâm hồn du khách cảm thanh nhàn

songquang

20190930
***
Nhàn Hạ Tuổi Thu

Về thăm quê cũ nắng hoe vàng
Ra ngắm vườn xưa cỏ dại man
Dưỡng tánh tu tâm đời thế tục
Làm lành lánh dữ cõi nhân gian
Tâm hồn trinh bạch mơ Tiên Cảnh
Thể lực bình an mộng Địa Đàng
Tựa cửa nhìn trăng trời mát dịu
Gia đình ấm cúng cảnh thanh nhàn...

Mai Xuân Thanh
Ngày 30/09/2019
***
Nét Thu

Trông vời cảnh sắc bóng thu vàng
Lòng bỗng ưu phiền dạ nặng mang
Nưả thế kỷ qua hờn cố quốc
Một bầy tham nhũng với cường gian
Ai người tri kỷ hằng mong mỏi
Đồng điệu tương phùng chốn ngoại đàng
Xướng hoạ thơ văn chung góp bút
Cùng nhau diễn tả nét thu vàng.

Uyên Quang  
30-9-2019

***
Thu Lang Thang


Cây lá chen xanh với úa vàng
Rì rào gợi nhớ gió mơn man
Đường tình hẹn giữ hồn trinh bạch
Gót lữ phai thề bụi dối gian
Hụt hững sau lưng bờ vực thẳm
Mông lung trước mặt ngã ba đàng
Mơ hồ sương khói chiều thu lộng
Mở cửa mời trăng viết chữ Nhàn.

Lý Đức Quỳnh
1/10/2019
***
Về Nguồn

Có lúc bâng khuâng hỏi tuổi vàng
Trên đường thiên lý, nghĩ lan man
Sầu vơi vét cạn hồ xa xót
Tình muộn còn thêm chút dối gian
Trở lại nguồn xưa tìm một lối
Đành thôi nẻo cũ rẽ đôi đàng
Bao năm mây trắng vờn quanh tóc
Sao vẫn chờ nhau đợi bước nhàn ...

Hawthorne 1 - 10 - 2019
Cao Mỵ Nhân 
***
Để Được Nhàn

Đã đến ngày vui khoác áo vàng
Tưng bừng lễ hội kéo man man
Vạn hình rực rỡ tươi non nước
Muôn bóng lung linh đẹp cõi gian
Đã hiểu trần đời, miền đất hứa
Thì lên tiên cảnh, chốn gia đàng
Hỡi ai còn quá nhiều dâu bể
Hãy đón thiền vào để được nhàn

PhượngHồng
***
Thu Nên Thơ

Bên đồi lả tả lá thâm vàng
Khách ngắm khơi niềm ý phú mang.
Bướm lượn vòng thơ, lưu mộng thế
Phiến thay huỳnh phiến, níu trần gian.
Lá phong ướm đỏ màn vương giả
Cảnh sắc tạo nên quả địa đàng.
Là đổi cho đời theo thánh thiện
Tâm tư cởi mở vận thanh nhàn.

Đặng Xuân Linh
***

Thu Chờ

Man mác thu buông chiếc lá vàng
Từng cơn gió mát nhẹ mơn man
Tình xa lòng ước tròn đôi bóng
Nhà vắng bụi loang khắp mấy gian
Gieo nhớ tiếng chim rơi cạnh suối
Xòe thương hoa cúc ngóng bên đàng
Vắng người năm tháng sầu vời vợi
Ly rượu chờ ai chẳng thấy nhàn

Trầm Vân
***
Cảm Thu


Có những chiều Thu ngập lá vàng
Heo may thoang thoảng dạ lan man
Khói sương lảng đãng màu xơ xác
Nhân thế muộn phiền sắc dối gian
Phiêu bạt cuối đời riêng một lối
Phong trần giữa kiếp rẽ đôi đàng
Trời mây man mác tô màu nhạt
Nhắp chén quỳnh hoa tận hưởng nhàn.

Toronto 1/10/2019
Nguyên Trần

Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Cựu Giáo Sư Bùi Văn Bửu - Trường Tống Phước Hiệp Vĩnh Long


Phương Pháp Ngăn Ngừa Unh Thư Vú


Ung thư vú là loại ung thư thông thường nhất trong giới phụ nữ ở Úc.

NGUYÊN NHÂN UNG THƯ VÚ:

1- Tuổi

Đa số phụ nữ bị ung thư vú sau 50 tuổi, khoảng 30% ung thư xảy ra ở độ tuổi 40-50, 6% dưới 40 tuổi và chỉ 1% dưới 30 tuổi.

2- Di truyền

Đa số những trường hợp ung thư ngực xảy ra ngẫu nhiên. Tuy nhiên 1- 5% người bị ung thư vú do di truyền. Các khoa học gia đã khám phá ra gene gây nên ung thư vú là gene BRCA1, BRCA2.

Nguy cơ bị ung thư vú sẽ cao hơn nếu trong gia đình có quan hệ huyết thống gần nhất (mẹ, chị, em) với người bệnh, và nguy cơ đó sẽ thấp hơn nếu chỉ là họ hàng xa (cô, dì). Nguy cơ sẽ càng cao hơn nếu có nhiều người trong gia đình cùng bị ung thư vú và bệnh nhân phát bệnh khi tuổi dưới 50.

Ung thư buồng trứng cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư vú.

3- Những nhóm người sau đây có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn người thường:

– Những người trước đó đã bị ung thư vú hay có tiền sử những bệnh liên quan tới vú
– Không có con
– Có con trễ (sau 30 tuổi)
– Có kinh sớm (trước 12 tuổi)
– Tắt kinh trễ
– Những người mãn kinh dùng thuốc hormone
– Người quá cân
– Uống rượu nhiều

Phương pháp ngăn ngừa ung thư vú:

Phụ nữ cần phải tự khám vú thường (thời gian khám tốt nhất là 1- 2 tuần sau khi có kinh) để phát hiện những khối u cứng lạ ở ngực hay là ở nách. Đặc biệt nên để ý những thay đổi nơi da vú (da bị đỏ hay có vẻ trũng như quả cam), đầu vú bị thụt vào trong, đầu vú tiết ra chất nhờn hay là máu. Thường khối u ung thư vú không đau. Nếu ung thư vú lan ra phổi hay xương, bệnh nhân có thể bị khó thở, phổi có thể bị nước, ̣dau xương, giảm cân, ói mửa.

Cần gặp bác sĩ sớm nếu phát hiện những thay đổi nói trên.

Phụ nữ trên 50 tuổi và không bị nguy cơ ung thư vú kể trên cần làm mammogram hai năm/lần. Nếu có nhiều hơn một người họ hàng gần bị ung thư trước 50 tuổi, bị ung thư vú hay có tiền sử những bệnh liên quan tới vú, hoặc có nhiều người trong gia đình bị ung thư vú, ung thư buồng trứng và mang gene ung thư vú như RCA1, BRCA2 thì cần làm mammmogram sớm và thường xuyên hơn.

– Những người dưới 40 tuổi không nên làm mammogram ngoại trừ khi bị những triệu chứng kể trên hay thuộc về những nhóm người có nguy cơ bị ung thư ngực cao.

– Có nhiều loại ung thư vú phát hiện được nhờ mammogram nhưng không thể phát hiện được khi siêu âm.Vì vậy cần làm cả hai để có kết quả chính xác. Có thể dùng MRI để hiểu rõ thêm về kích thước ung thư và tìm bất cứ dạng ung thư nào khác tại vú.

– Sinh thiết là cách duy nhất để biết chắc chắn bạn có bị ung thư hay không. Có nhiều dạng sinh thiết, cho nên, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa nếu bạn muốn làm sinh thiết để phát hiện sớm bệnh ung thư vú. Nếu nghi ngờ bị ung thư vú, người bệnh vẫn có thể sinh thiết khối u vú mặc dù siêu âm/mammogram âm tính.

Bác Sĩ NCT
Tháng 09/2019

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

Hương Thu - Thơ Ngô Văn Giai - Nhạc Huy Phước




Thơ: Ngô Văn Giai 
Nhạc: Huy Phước

Khổ Hạnh



Sáng nay em ngẫm nghĩ
Muốn sống đời khổ hạnh
Muốn buông bỏ tất cả
Xa lánh chỗ ta bà

Nhưng em cũng biết mà
Thật ra khó lắm nha
Làm sao em có thể,
Thoát khỏi đời nhiêu khê?

Em có nhiều đam mê
Còn đắm tham vật chất
Dễ gì em bỏ, vất
Sân si còn chất ngất!

Có bỏ được thơ không?
Thơ tình yêu bềnh bồng
Có bỏ được tình yêu?
Tình muôn mầu, muôn điệu

Vẫn còn thích ánh nhìn
Vẫn còn thích nụ cười
Khi anh nhìn âu yếm,
cười với em thật tươi!

Làm sao mà buông bỏ?
Khi em nhìn cọng cỏ
Cỏ lung lay trước gió
Cũng làm em mê say

Sao có thể bỏ anh,
để thật sự tu hành?
Anh một mình trơ trọi
Có buồn lắm không anh?

Muốn sống đời khổ hạnh
Nghĩ đến anh, đành thôi!
Chúa Phật dạy thương người
Nghe theo, em thương anh

Vì không thể bỏ anh
Mộng… khổ hạnh tan tành!

Như Nguyệt
2 tháng 8, 2019

Trao Gởi Đôi Vần Thơ



Vần thơ trìu mến gởi về nhau
Mộng đã tàn phai tóc nhạt màu
Theo bóng thời gian vàng nỗi nhớ
Thuở nào xuân sắc chóng qua mau

Bài thơ thương cảm nỗi buồn vương
Đêm lạnh vườn thanh tẫm giọt sương
Thao thức suy tư hồn nhỏ lệ
Trao niềm tâm sự kiếp tha hương

Đôi dòng lưu luyến nhớ người xưa
Hình bóng cố nhân vọng tiếng mưa
Đôi mắt xa vời chờ đợi mãi
Nghìn trùng ly biệt biết sao vừa

Mỗi ngày mong nhận một bài thơ
Dù chỉ đôi câu chợt ngẩn ngơ
Người ấy vẫn còn mơ mộng lắm
Ngắm làn mây trắng ước vu vơ


27/3/19

Đỗ Thị Minh Giang

Điểm Trang


(Tranh - Mùi Quý Bồng)

Đề Thơ:
Điểm Trang

Soi gương, làm dáng, chiếc trâm cài
Áo đỏ ngày nào ta có đôi
Trùng dương xa cách anh còn nhớ
Em vẫn điểm trang đợi mãi ai.

Mùi Quý Bồng
***
Dịch Thơ:

Anh Ngữ


Holding a mirror, I tidy up my hair with a brooch
wearing the red dress of the days we were a couple
Please remember even as the oceans keep us apart
I shall make myself up waiting for your long return.

Pháp Ngữ

Le miroir en main, j'épingle la broche dans ma coiffure
portant la robe rouge du temps nous étions encore un couple
Souviens-toi, quoique des grands océans nous séparent
en continu de ton absence je me maquillerai jusqu'à ton retour.

Đặng Vũ Vương
***
Trâm Cài

Cố nhân lược giắt với hoa cài
Trâm ngoại cho em lúc sánh đôi
Quỷ Bái bày thêm lòng hãy nhớ
Vành dây, áo đỏ chích cho ai?

Lộc Bắc
*** 
1/
Tóc nhung trâm ngọc nhẹ cài
Em choàng áo thắm nhớ ngày sánh đôi
Trùng dương cách trở xa xôi
Mình ngưng trang điểm, bồi hồi đợi ai

2/
Aux cheveux, d'une épingle de jade me parant
J'enfile la robe pourpre des temps qu'on est ensemble
Aujourd'hui, le grand océan nous séparant
Le maquillage fait, je ne cesse de t'attendre

Đinh Đại Kha
***
Nịnh vợ

Môi tim má ửng ngọc thoa cài
Mắt liễu mày tằm mũi sóng đôi
Tứ đại mỹ nhân* còn kém sắc
Thoáng nhìn đã biết nàng là ai.

Phí Minh Tâm
*Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa là: Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền và Dương Quý Phi. Sắc đẹp của các nàng theo thứ tự làm cá lặn (trầm ngư 沉鱼), chim sa (lạc nhạn 落雁), nguyệt thẹn (bế nguyệt 閉月) và hoa nhường (tu hoa 羞花).

***
Áo Hồng

Soi gương nhìn chót xuân thì
Em ngắm nhan sắc trước khi động phòng
Thật hồi hộp lúc đợi mong
Chỉ trong khoảnh khắc ngập lòng bướm ong

Đồ Cóc
***

Tuổi Cài Trâm

Ngây thơ em xõa tóc thề
Trở thành thiếu phụ vụng về cài trâm
Soi gương lòng những rối thầm...
Chẳng biết ai đó có trầm trồ khen!

Kim Oanh
***
Vợ Lính HQ / VNCH
(Thân tặng anh Khôi và anh Nhiếp.)

Người đẹp áo đỏ môi xinh,
Cài trâm mái tóc dọn mình đón anh
Trở về sau chuyến hải hành
Tầu vào cặp bến Cam Ranh đại kỳ*
Vợ chồng ríu rít như ri **

Nguyễn Tích Lai

*(Từ của HQ: đại kỳ* = tu bổ, sửa chữa)
**Chim ri

***
Khi xem bức tranh ÁO ĐỎ này, tôi không thể không liên tưởng tới bốn câu thơ Đường của Vương Xương Linh:

"Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thượng thuý lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu "

Ngắm bức tranh, khu vườn vừa mở ngõ
Đưa tôi về dòng thơ cổ Đường thi
Dáng kiêu sa thanh thoát thưở xuân thì
Nghiêng vai mỏng, nét trang đài mộng mị

Giữa nắng Hạ, Nàng rực tà áo đỏ
Chốn thư phòng, trang điểm lại dung nhan
Tóc vấn cao, trâm e ấp cài ngang
Hồn Quá Khứ, soi mình trong gương cổ


Phạm Oanh 
***
Nghiêng nhẹ bờ vai, mắt ngước cao.
Tay thuôn cài nhẹ trâm ngang đầu.
Dịu dàng soi dáng bên gương nhỏ.
Điểm trang đôi má phấn ngọt ngào.

Dáng em kiều mỵ đủ ngất ngây.
Điểm trang thêm chút càng thêm hay,
Kìa máu trong anh chợt tan vỡ.
Thấm đỏ đôi tay - họa ảnh này.
 

Mùi Quý Dân 
***
Dấu yêu gương lược tần ngần 
Tay măng búp nở mỗi lần điểm trang
Em ngồi nghiêng, nắng soi vàng 

Trái tim anh gọi, tiếng đàn thoáng bay... 

Đĩnh Nguyễn 

Tiếng Việt Thời LM De Rhodes: Các Từ Chỉ Màu Sắc Như 'Mùi Xanh, Sắc Xanh, Sắc Biếc'


Phần này bàn về các từ chỉ màu xanh như xanh, thanh và biếc vào thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến thế kỉ XX. Ít người biết xanh cũng gắn liền với nền thi ca Việt Nam qua truyện Kiều: hai nhân vật chính là Thúy Kiều và Thúy Vân. Tên gọi Thúy 翠 nghĩa là màu xanh lục, một tên thường đặt cho phái nữ. 

Từ ‘xanh’ hiện nay lại mang thêm một nghĩa thời thượng và đặc biệt liên hệ đến môi trường sạch (không ô nhiễm, không bị đen[1]), khác xa với nét nghĩa nguyên thủy và cơ bản của xanh từ thời cổ đại. Đảng Xanh (Green party/A) cũng xuất hiện ở các nước tân tiến với đại học xanh, kỹ nghệ xanh, môn hóa học xanh (Green chemistry) và phong trào "ngày chủ nhật xanh" vào năm nay (2019) ở VN. Bài này giới hạn vào các nét nghĩa của xanh/thanh, đặc biệt là cách dùng mắt xanh trong tiếng Việt. Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đôn Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn books.google.fr . Các chữ viết tắt khác là SSS (Sách Sổ Sang Chép Các Việc), NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), BK (Bắc Kinh). Trang hay cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Dấu hoa thị * là dạng âm cổ phục nguyên (reconstructed sound). Không nên lầm số phụ chú và số chỉ thanh điệu đứng sau một âm tiết. 

Theo lịch sử con người thì mắt thường có màu nâu, sau đó mới bắt đầu có mắt xanh[2] (blue eye/A) và di truyền cho đến ngày nay. Thế giới có khoảng 8% dân số có mắt xanh, nhưng ở vài địa phương bên Âu châu thì phần trăm này có thể lên đến 80%. 

Trong tiếng Việt, mắt xanh có phải chỉ con mắt màu xanh (hay "mắt xanh mũi lõ") như người phương Tây đã bàn đến ở trên? Ngôn ngữ và thi ca Việt Nam có những câu dùng mắt xanh một cách lãng mạn và tích cực, thí dụ như câu 2181/2182 trong truyện Kiều 

闭𥹰𦖑㗂𦟐桃
Bấy lâu nghe tiếng má đào
眜撑拯底埃𠓨固空
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không 

Hay "ông ấy là người có mắt xanh, đã phát hiện và nâng đỡ nhiều nhà khoa học trẻ.","Lọt vào mắt xanh." … cũng như các bài thơ đã phổ nhạc như Chiều tím hay Tự Tình Dưới Hoa[3] của thi sĩ Đinh Hùng (khoảng giữa thập niên 1950 khi ông di cư vào Nam): 

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng: 
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, 
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng. …v.v… 

Như vậy, mắt xanh thật sự có nghĩa là gì - ta hãy đi ngược dòng thời gian để tìm hiểu cho thêm chính xác cách dùng mắt xanh và các từ liên hệ. 

1. Từ thời VBL, LM de Rhodes (1651) đã nhận ra xanh có những nét nghĩa khác nhau như (a) xanh lá cây (viridis/L ~ green/A ~ vert/P) (b) yên lặng (không có gió bão) - VBL cho thí dụ là "blời xanh xanh[4] (trời xanh xanh)" (c) xanh là đen - VBL ghi thí dụ như "râu xanh, taóc (tóc) xanh" - để ý VBL trang 821 lại ghi thứ tự chữ ngược[5] là "xanh tóc" (capillus niger/L ~ tóc màu đen) và VBL trang 644 ghi "xanh râu" (barba nigra/L ~ râu màu đen) (d) xanh là gầy guộc/ốm yếu (xanh xao) - VBL cho thí dụ là "xanh mặt" 

VBL trang 883 
VBL trang 882 

Điều đáng chú ý là các LM Béhaine/Taberd (1772/1773-1838) từng ghi xanh và thanh có cùng một nghĩa (viridis/L) hay là xanh lá cây tuy cách kí âm (chữ Nôm) khác nhau: xanh[6] ghi là 𣛟 so với thanh 青. Tiếng La Tinh viridis lại có gốc là động từ vireo (“to be verdant, to sprout” ~ mọc lên - cho ra dạng vert/P là xanh lục), do đó màu xanh lá cây có liên hệ trực tiếp với cây cối khi vừa mọc lên. Điều này tương ứng với cách gọi xanh trong tiếng Việt (và Hán), cũng liên hệ đến sanh (sinh): Thích Danh 釋名 (khoảng 200 SCN) ghi青, 生也, 象 物之生時色也 thanh, sanh dã, tượng vật chi sanh/sinh thì sắc dã (hàm ý màu xanh là của cỏ cây mọc vào mùa xuân) - xem thêm chi tiết trong mục về chữ thanh/xanh phần sau.. Như vậy cũng giống như quá trình hình thành chữ green (Anh) là xanh, có nguồn gốc là *gʰreh (sinh ra, mọc ra) - từ Middle English grene < Old English grēne < Proto-Germanic *grōniz (so với tiếng West Frisian grien, Hà-Lan groen, Low German grön, green, greun, German grün, Swedish grön, Danish và Norwegian Nynorsk grøn, Norwegian Bokmål grønn), gốc của các dạng trên là động từ tiền Ấn-Âu Proto-Indo-European *gʰreh₁- (“to grow” ~ mọc lên). 

Thời VBL đã có phân biệt các màu (mùi) xanh (lá cây) và biếc (xanh da trời): trang 35/VBL ghi sắc biếc (color celestis/L ~ màu của bầu trời/NCT). So sánh các cách dùng trong câu 22a, Cư Trần Lạc Đạo Phú của vua Trần Nhân Tông (1258-1308) "Chơi nước biếc, ẩn non xanh", trang 15a Quốc Âm Thi Tập/Ức Trai Di Tập của Nguyễn Trãi (1380-1442) "Con mắt hòa xanh đầu dễ bạc, lưng khôn uốn, lộc nên từ" ... Rõ ràng là thời VBL và trước đó, tiếng Việt đã có khả năng phân biệt hai màu xanh (lá cây, xanh lục) và biếc (xanh da trời, xanh lam). Tuy nhiên, cách dùng "trời xanh xanh"/VBL cũng cho thấy khả năng lẫn lộn giữa hai màu này vào thời LM de Rhodes cho đến thời LM Béhaine/Taberd (ghi xanh và thanh với cùng một nghĩa là viridis/L) và cho đến ngày nay[7]. Để chỉ trời xanh, các từ HV có thể là thanh thiên 天 ~ bích không 碧空 ~ 蒼旻/苍旻 thương mân ~ 蒼天/苍天 thương thiên ~ huyền thiên 玄天 ~ 青霄 thanh tiêu ~ 青冥 thanh minh 青 [8] ... Trong đó, các từ thanh/bích và huyền đều có khả năng ghép với mắt để cho ra dạng mắt xanh, mắt biếc và mắt huyền để chỉ mắt đen - thời VBL chỉ ghi cách dùng mắt xanh mà thôi và không thấy ghi từ huyền. 

Hiện tượng lẫn lộn các màu xanh - xanh lá cây/lục, xanh da trời/xanh lam, xanh đậm - thật ra không chỉ xẩy ra trong tiếng Việt, nhưng cũng hiện diện trong các ngôn ngữ khác trên thế giới như tiếng Nhật, Thái, Hàn, Lakota Sioux (dùng một từ để chỉ xanh lá cây/green và xanh da trời/blue) ...v.v... Một cách giải thích khuynh hướng lẫn lộn trên là tế bào cảm giác màu xanh lá cây/lục và màu xanh lam có mức hấp thụ hay phản ứng (response) nằm xa nhau, nên mắt người phân biệt về các màu xanh không tốt (hay độ chính xác của phân màu nhỏ). Còn tế bào cảm giác màu đỏ và màu xanh lá cây có mức hấp thụ rất gần nhau (do đó độ chính xác khi phân màu rất cao) nên vậy mắt người phân biệt được rất nhiều màu nằm giữa màu đỏ và xanh lá cây. Thí dụ như 7 màu cơ bản của cầu vồng đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm và tím: giữa đỏ và lục có màu cam và vàng, không có màu cơ bản nào giữa lục (xanh lá cây) và lam (xanh da trời). Biểu đồ phản ứng tương đối (Relative Response) của mắt bên so với độ dài sóng (Wavelength) dưới trích từ trang unm.edu


Trở lại với nét nghĩa "đen" của xanh đã được ghi trong VBL, đây không phải là ngẫu nhiên mà LM de Rhodes đã nhận ra - dù ông rất có thể không biết đến điển tích và các nét nghĩa cổ hơn của thanh/xanh từ tài liệu Hán cổ như các chi tiết trình bày trong phần sau. 

2. Các nét nghĩa của thanh/xanh 

2.1 Chữ thanh 青 𤯞 chỉ màu xanh lá cây (thanh mẫu thanh 清 vận mẫu thanh 青 bình thanh, khai khẩu tứ đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết 倉經切, 音鶄 thương kinh thiết, âm thanh/tinh (TVGT, ĐV, QV, TV, LT, TG 字鑑, LTCN 六書正𨫠).

TVGT ghi 从生丹 tùng sanh đan (cho thấy liên hệ đến sanh/sinh), cũng như Thích Danh (còn gọi là Nhĩ Nhã 爾雅) 釋名 ghi 靑,生也 thanh, sanh/sinh dã.

千定反 thiên định phản (LKTG): để ý vần -inh (như thinh so với vần -anh trong dạng thanh)

子零反 tử linh phản (ThVn 釋文)
子丁切 tử đinh thiết (NT, LT)
子丁反 tử đinh phản (ThVa 釋文)
子丁切 tử đinh thiết (TV, VH, TTTH)
千定切 thiên định thiết (TTTH)
TNAV ghi vận bộ 庚青 canh thanh (dương bình)

CV ghi cùng vần/bình thanh 清 請 圊 青 鯖 (thanh tình/thỉnh chinh)
CV cũng ghi cùng vần/bình thanh 精 菁 青 旌 旍 晶 蜻 鶄 睛 (tinh thanh tình)

七情切 thất tình thiết (CV, TVi) - TVi ghi âm thanh 音清子盈切 tử doanh thiết (CV, TVi) - TVi ghi âm tinh 音精七星切,音清 thất tinh thiết, âm thanh/thinh (CTT) ..v.v...

Giọng BK bây giờ là qīng jīng so với giọng Quảng Đông cing1 ceng1 và các giọng Mân Nam 客家话:[梅县腔] ciang1 [海陆丰腔] ciang1 [东莞腔] ziang1 [台湾四县腔] ciang1 [宝安腔] ciang1 [陆丰腔] ciang1 [客语拼音字汇] qiang1 qiang4, giọng Mân Nam/Đài Loan là chheN1, tiếng Nhật sei shou và tiếng Hàn cheng.

Dựa vào các phương ngữ và phiên thiết, một âm cổ phục nguyên của thanh là *shleːŋ mà tiếng Việt cò bảo lưu dạng xanh (tiếng Sách là sɛŋ, tiếng Mường Bi là xanh). Nghĩa cổ nhất của thanh là xanh lá cây[9] (phù hợp với cách ghi nhận của Thích Danh/Nhĩ Nhã), như theo Tuân Tử (316 TCN? – 237 TCN?) 荀子: Thanh thủ chi ư lam, nhi thanh ư lam 青取之於藍, 而青於藍 - màu xanh từ cỏ lam mà đậm hơn cỏ lam (Khuyến học 勸學). Nét nghĩa màu xanh lá cây phù hợp với các dạng khắc/vẽ cổ đại của chữ thanh: tượng hình cây cỏ mọc trên một cái giếng nước (井 tỉnh) - xem các hình bên dưới về quá trình hình thành chữ thanh, có thể tham khảo thêm chi tiết trên trang này chẳng hạn hanziyuan.net
Sau thời VBL, LM Taberd (1838, sđd) còn ghi serenum/L là "trời thanh" (trời chẳng có mây, trời lặng), và viridis/L là xanh (da trời). LM Génibrel (1898, trang 859 sđd) sau đó cũng ghi thức xanh[10] là couleur verte (xanh lá cây), thức thanh là couleur bleue và thức đen là couleur noire. VBL cũng ghi biếc là xanh da trời (sắc biếc ~ color celestis/L - VBL trang 35). LM Béhaine/Taberd thì ghi biếc là bích HV 碧 (caeruleus[11]/L ~ xanh da trời). Như vậy là vào thời VBL, tiếng Việt đã dùng hai từ xanh (lá cây) và biếc[12] (xanh da trời) để phân biệt hai màu khác nhau này. Tới thời LM Génibrel (1898, sđd) cũng còn ghi hai cách dùng thanh cân (khăn búi tóc màu xanh lá cây - coiffure de couleur bleue) và bích cân (khăn búi tóc màu xanh da trời - coffure de couleur verte). Tuy nhiên vấn đề trở nên phức tạp hơn khi thanh cũng có nghĩa là lặng yên, còn đọc là thinh và viết bằng bộ thủy hợp với chữ thanh hài thanh 清. VBL trang 767 ghi các thí dụ như thinh trời (trời không có gió, yên lặng), thinh biển (biển không động, biển lặng hay không có sóng). Chính nét nghĩa "lặng" (VBL) cho ta cơ sở giải thích cách dùng "làm thinh[13]" (giữ yên lặng - VBL trang 767) với nghĩa tương tự trong tiếng Việt hiện đại. Đây là một chủ đề thú vị cần bàn sâu thêm, nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này. Một nghĩa cổ nữa của thanh là đen mà rất ít người biết đến. 

2.2 Thanh nghĩa là màu xanh da trời[14]/xanh nước biển 

Hồng Phạm Ngũ Hành Truyện (Lưu Hướng viết vào thời Tây Hán) ghi 時則有青眚青祥. thì tắc hữu thanh sản thanh tường. TVGT giải thích 青,東方色也 thanh, đông phương sắc dã. Điều này cho thấy thanh đã chỉ hai màu xanh lá cây và xanh lam (xanh nước biển, xanh lơ, xanh da trời) trong các tài liệu Hán cổ.

2.3 Thanh/xanh là màu đen - mắt xanh 

Sau nghĩa màu xanh, thanh còn có nghĩa là màu đen[15] như thanh ngưu 青牛 con bò đen, thanh hồ 青狐 (con cáo đen), thanh bố 青布 vải đen, thanh y 青衣 áo đen - thanh y nhân 青衣人 chỉ người giúp việc (sai vặt), xưa thường mặc vải đen … Theo Tấn Thư (năm 648), quyển 49, truyện viết về Nguyễn Tịch 阮籍 (210-263) - một nhà thơ và nhạc sĩ nổi tiếng vào thời Đông Hán, cũng là một trong Trúc Lâm Thất Hiền (bảy nhà văn/học giả thời Hán ở rừng túc). Tương truyền khi mẹ Nguyễn Tịch mất, bạn bè thân như Kê Khang đến thăm (đem theo rượu) nên ông rất thích thú - điều này thể hiện trên nét mặt của ông qua mắt xanh hay lộ tròng mắt đen (thanh nhãn 青眼, còn gọi là thanh mục 青目, thanh lãi 青睞). Khi tiếp người ông không ưa thì nhìn nghiêng và để lộ tròng mắt trắng (bạch nhãn 白眼). Cách dùng thanh nhãn (mắt xanh) còn thấy vào thời Đường, như qua thơ của Đỗ Phủ (712-770) trong Đoản Ca Hành: trọng tuyên lâu đầu xuân sắc thâm,thanh nhãn cao ca vọng ngô tử; hay thời Tống trong thơ của Hoàng Đinh Kiên (1045-1105): chu huyền dĩ vi giai nhân tuyệt, thanh nhãn liêu nhân mĩ tửu hoành. Nhà văn Bồ Tùng Linh (1640-1715) trong truyện "Liêu Trai Chí Dị - Tửu cuồng"cũng dùng thanh nhãn: cổ trọng ấp tạo mạo nhân,thả chúc thanh nhãn…v.v… Mắt xanh cũng hiện diện trong VBL sau 16 thế kỉ để chỉ mắt đen, và cho đến ngày nay với nghĩa đã mở rộng (thay đổi) tuy vẫn còn mang tính tích cực (so với mắt trắng/trắng mắt mang tính tiêu cực).

2.4 Mắt xanh chỉ bạn thân

Nghĩa đen của mắt xanh (mắt đen) đã mở rộng để chỉ bạn bè thân thiết như trong thơ của Quyền Đức Dư (759-818): khách sầu thanh nhãn biệt, gia hỉ ngọc nhân quy ("Tống Lô Bình - sự vụ châu tỉnh cận"); Nhà sử học Tư Mã Quang (1019–1086) thơ: hô nhân thủ thứ cụ bôi bà, thanh nhãn tương phùng hỉ vô cực…v.v… 

2.5 Mắt xanh chỉ thời niên thiếu 

Thanh/xanh còn mở rộng nghĩa để chỉ tuổi trẻ như thanh niên 青年, thanh xuân 青春, mắt xanh. Nhà thơ đời Đường Trương Hỗ (785—849) từng dùng mắt xanh để chỉ thời niên thiếu: tương phùng thanh nhãn nhật,tương thán bạch đầu thì ("Hỉ Vương Tử Tái - thoại cựu"). 

2.6 Cách dùng mắt xanh trong tiếng Việt hiện đại 

Màu xanh thường tiêu biểu cho hình ảnh thoải mái, yên bình và tích cực như trời xanh, tóc xanh, cây xanh, non xanh, mây xanh ... Nghĩa mở rộng và tích cực của mắt xanh (thanh nhãn) là để thể hiện sự ưng ý (vừa lòng, hàm ý khen) như cách nhìn của nữ giới đối với nam giới (truyện Kiều, câu 2182 đã trích ở phần trên). Ngoài ra, mắt xanh còn chỉ sự phát hiện nhân tài như như trong cách nói[16] "ông ấy là người có mắt xanh, đã phát hiện và nâng đỡ nhiều nhà khoa học trẻ". Ca dao tục ngữ cũng nêu cao tính tích cực của mắt đen so với mắt trắng 

Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa than …
Con lợn mắt trắng thì nuôi
Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi …
Những người mắt trắng môi thâm 
Trai thì trộm cắp gái dâm cướp chồng[17] ...v.v... 

3. Cơ sở giải thích sinh vật của điển tích ‘mắt xanh’ 

Tương tự như nguồn gốc của chữ xanh - từ cây cối lúc mọc hay sanh ra, dù là tiếng Anh/Pháp hay Hán - mắt xanh (mắt đen) cũng có thể giải thích qua cấu trúc của con mắt con người. Đồng tử (pupil/A), lỗ tròn bên trong mống mắt, có khả năng thay đổi kích thước tùy theo mức độ ánh sáng của môi trường và trạng thái (tinh thần và thể chất) của cá nhân. Hình sau trích từ trang idesign.vn


Xem lại điển tích về Nguyễn Tịch có mắt xanh và mắt trắng, khi ông thích và chú ý đến người nào (hay sự vật gì) thì đồng tử của ông mở rộng để tiếp nhận ánh sáng vào mắt nhiều hơn, và để ông nhìn thấy nhiều chi tiết mà mình muốn nhìn hơn. Chính sự nở ra (dilation) của đồng tử làm cho mống mắt trở nên đen hơn bình thường và từ đó ta có cách dùng mắt xanh (thanh nhãn ~ mắt đen) để chỉ sự ưng ý hay tích cực. Ngược lại với trường hợp mắt xanh, khi không muốn "nhìn ai" thì đồng tử nhỏ lại và làm cho màu mống mắt nhạt đi hay trở thành "mắt trắng" hơn so với bình thường. Bạn đọc có thể xem chi tiết về hoạt động giãn nở của đồng tử mắt tùy theo cường độ ánh sáng trên youtube trang này chẳng hạn google.com hay trang youtube.com …v.v… 

Tóm lại, mùi xanh/mắt xanh (VBL) cho thấy tiếng Việt vẫn còn bảo lưu dạng cổ xanh của thanh và có khuynh hướng dùng thanh để chỉ màu xanh da trời so với xanh chỉ màu xanh lá cây. Điều này phù hợp với quá trình cấu tạo chữ thanh, một màu liên hệ đến giai đoạn cây cối vừa mọc ra (sanh ra - xanh tươi). Tiếng Trung (Hoa) hiện đại ít dùng từ thanh/xanh[18] so với lam (xanh da trời) và lục (xanh lá cây). Vào thời LM de Rhodes cho đến thời LM Béhaine/Taberd, tiếng Việt đã dùng biếc (sắc biếc/VBL) để chỉ màu xanh da trời so với xanh (mùi xanh/VBL) chỉ màu xanh lá cây. Tuy nhiên, biếc sau này lại dùng để chỉ cây cối xanh sẫm (truyện Kiều[19]) và không thông dụng như xanh và do đó tạo ra sự pha trộn (dùng chung) của hai màu xanh như trong tiếng Việt hiện đại. Vấn đề trở nên thú vị khi thanh hay thinh có nghĩa là trong (lặng yên, bộ thủy hợp với chữ thanh biểu âm), làm cách dùng trời xanh hay trời thanh có phần giống nhau, đặc biệt là khi trời trong (không mây) thì cũng là lúc trời có màu xanh tự nhiên - hai hiện tượng này luôn đi đôi với nhau. Thanh còn có nghĩa là màu đen, dẫn đến cách dùng thanh nhãn (‘mắt xanh’ thật ra là 'mắt đen') thể hiện sự vui lòng hay ưng thuận. Nét nghĩa này có thể giải thích bằng sự nở ra (mở rộng kích thước) của đồng tử con mắt khi muốn quan sát điều mình thích thú hay khi mình chú ý đến ai[20]. Màu xanh lá cây còn được dùng trong bảng Swadesh (Swadesh list) để so sánh liên hệ giữa các ngôn ngữ vì các từ chỉ màu xanh thường được dùng khá ổn định[21] (không vay mượn trừ khi trong cùng một họ ngôn ngữ). Tính chất ổn định thấp của chữ thanh (xanh) còn thấy trong cách dùng thanh lâu 青樓: thời cổ đại chỉ cung điện của vua chúa hay các bậc quyền quý, nhưng từ thời Đường Tống lại có nghĩa là kĩ viện[22]. Hi vọng người đọc thấy thích thú/quan tâm với các gợi ý của bài này và sẽ tìm hiểu sâu xa hơn về tiếng Việt phong phú của chúng ta, cũng như khám phá thêm những hiện tượng ngôn ngữ thú vị dựa vào các tiến bộ khoa học cận đại. 

4. Tài liệu tham khảo chính và phê bình thêm 

1) Đào Duy Anh (1974) "Từ điển truyện Kiều" NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội). 
2) Gabriel Aubaret (1867) "Vocabulaire français-annamite & annamite-français & grammaire" in năm 1867, viết xong năm 1863. Sĩ quan hải quân Aubaret thông thạo chữ Nho và chữ quốc ngữ. 
3) Pigneau de Béhaine (1772/1773) - Bá Đa Lộc Bỉ Nhu "Dictionarium Annamitico-Latinum" Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999). 
(1774/Quảng Đông - Địa phận Đàng Trong tái bản năm 1837) "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" 聖教要理國語 viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa. Y Doãn Ninh/Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải, La Vang Tùng Thư xuất bản (Mỹ).
4) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" Tome I, II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d'Adran (SaiGon). 
5) J. F. M. Génibrel (1898) "Dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon). 
(1906) "Petit dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon). 
6) Nguyễn Quang Hồng (2015) "Tự điển chữ Nôm dẫn giải" Tập 1 và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội). 
7) Nguyễn Hồng (1959) "Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam - Quyển 1 - Các Thừa Sai dòng Tên 1615 - 1665" NXB Hiện Tại (Sài Gòn). 
8) Trương Vĩnh Ký J.B.P. (1884, 1920) "Petit dictionnaire francais annamite" Imprimerie de l'union Nguyễn Văn Của (SAIGON) 
9) Lý Lạc Nghị (1997/1998) "Tìm về cội nguồn chữ Hán" Jim Waters biên soạn, GS Trần Nghĩa/Vương Lộc hiệu đính - NXB Thế Giới (1998, Hà Nội). 
10) Alexandre de Rhodes (1651) "Phép Giảng Tám Ngày" - Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên. 
(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991). 
“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?). 
"Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646" dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994). 
11) Jean Louis Taberd (1838) - tên Việt là cố Từ - "Dictionarium Annamitico-Latinum" Serampore (Bengale). 
12) Nguyễn Cung Thông (2016) "Cách nói xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài ... thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)" có thể xem toàn bài trang này chimvie3.free
(2016) "Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min ... Tiếng Việt thời LM de Rhodes" - có thể xem toàn bài trang này chimvie3.free.fr
(2018) "Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - Kinh Lạy Cha (phần 5A)" có thể xem toàn bài trên trang nghiencuulichsu.com hay facebook.com ...v.v... 
(2018) "Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - Kinh Lạy Cha (phần 5B)" có thể xem toàn bài trên vandoanviet.blogspot.com …v.v… 
13) Tuệ Tâm (2018) "Màu xanh – Màu sắc tượng trưng cho hy vọng của phương Đông" bài viết đăng trên mạng Tinh Hoa trang tinhhoa.net
14) Pierre-Gabriel Vallot (1898) "Dictionnaire franco-tonkinois illustré" NXB F.H. Schneider (Hà Nội). 

Nguyễn Cung Thông 

[1] Tại sao lại không dùng môi trường trong/sạch, trắng hay các màu khác mà lại mà lại dùng màu xanh lá cây? 
[2] Theo một báo cáo khoa học gần đây từ đại học Copenhagen (2008) cho thấy đầu tiên có một người (ancestor - ông bà/tổ tiên) có mắt xanh cách đây khoảng 6 đến 10 ngàn năm. Đây là do sự đột biến gene (genetic mutation) - xem toàn bài trang này chẳng hạn sciencedaily ...v.v... 
[3] Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc (1957) qua tựa đề "Mộng dưới hoa" rất nổi tiếng về sau. Có một số tài liệu ghi câu thơ thứ ba là "Mắt xanh là bóng dừa hoang dại". 
[4] Theo cấu trúc Việt ngữ thì xanh xanh là hơi xanh, có lẽ "trời xanh xanh" (VBL) là trời thanh (trong) xanh vì thanh vẫn có thể hoán chuyển cho xanh. Quá trình biến đổi từ phụ âm xát/đầu lưỡi thành phụ âm tắc/đầu lưỡi chưa hoàn toàn chấm dứt vào thời LM de Rhodes sang An Nam: thí dụ như vi sang vẫn có thể dùng vi thang, lơ xơ ~ lơ thơ, Thuận (Thŏận) Hóa ~ Sinua, nguyệt sa (nguyệt thoa). 
[5] Điều này cho thấy khả năng tính từ có thể đứng trước danh từ vào thời VBL như cả trong các cách dùng cả lòng (tiếng Việt bây giờ là lớn gan), cả tiếng (tiếng Việt bây giờ là lớn tiếng), cả sáng, cả bụng, cả gan, cả giận, cả lời (tiếng Việt bây giờ là nhiều lời), cả sức … Thành ngữ tiếng Việt vẫn bảo lưu nét nghĩa cả (lớn): cả gan, cả ăn cả ỉa, cả mô là đồ làm biếng, cả vú lấp miệng em, cả lưng rộng háng, cả hơi lớn tiếng …v.v… 
[6] Xanh có các dạng chữ Nôm dùng bộ mộc 𣛟 (có lý hơn vì liên hệ đến cây cối), chữ thanh 青 hay sau này lại dùng bộ thủ 撑, chữ sanh/sinh 生, chữ sanh/sinh biểu âm hợp với chữ thanh biểu ý ...v.v... 
[7] Có thể tiếng La Tinh không có từ đặc biệt chỉ màu xanh da trời (so với viridis ~ xanh lá cây) nên tiếng Pháp dùng từ bleu, tiếng Ý blu có gốc Germanic - tiếng Tây-Ban-Nha và Bồ-Đào-Nha lại dùng azul có gốc Ả-Rập. Tiếng Pháp bleu nhập vào tiếng Anh để cho ra dạng blue. 
[8] Minh bộ mịch 冥 là tối tăm, thăm thẳm (như bầu trời cao xa) - không nên lầm với Thanh Minh (tết) 清明 với minh bộ nhật 明 lại có nghĩa là vào khoảng thời gian ngày mùng 4 đến ngày mùng 6 tháng 4 hàng năm. 
[9] Còn gọi là xanh lá cam theo Aubaret, P.G. Vallot hay Génibrel (sđd). 
[10] ĐNQATV (Tome II) trang 370 ghi màu thanh là màu xanh, sắc thanh là sắc xanh. 
[11] caeruleus là chữ ghép từ caelum (bầu trời) hợp với hậu tố -uleus (làm nhỏ lại). Caeruleus có các nghĩa (a) thuộc về biển (b) thuộc về trời (c) liên hệ đến sông hay thần sông (d) màu đậm (xanh đậm) (e) tối tăm, ảm đạm 
[12] Học giả Mao Hoảng 毛晃 (thời Tống) ghi rõ nghĩa của biếc là 深靑色 thâm thanh sắc (màu xanh đậm ~ xanh da trời). Vốn từ HV còn có các từ lam 藍, thương 蒼 chỉ màu xanh thẫm. Lục 綠 là màu xanh (lá cây). Các từ biếc, lam, lục thường dùng chung với xanh trong tiếng Việt để chỉ nghĩa rõ hơn như xanh lam, xanh biếc, xanh lục ... Các từ ghép khác cho rõ nghĩa hơn (Taberd/1838) là xanh lè, xanh lẻo, xanh dờn dờn, xanh nghịt nghịt ... 
[13] LM Béhaine/Taberd (17172/1773-1838) lại ghi thinh chữ Nôm là thanh 聲 bộ nhĩ. Điều này dẫn đến các cách giải thích khác nhau về nguồn gốc cách dùng "làm thinh". GS Trần Quốc Vượng đề nghị “làm thinh” nói lên Phật tính trong tiếng Việt, cũng như áo ấm và áo lạnh, đánh bại và đánh thắng (Trong Cõi) …v.v… 
[14] Aubaret (1867, sđd) ghi là sắc da trời, xanh da trời, màu xanh da trời (bleu/P). 
[15] Theo "Từ nguyên" Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh (2004). Các nghĩa khác của thanh như địa danh, họ của người TQ, vỏ cây tre không nằm trong phạm vi của bài viết này. Cách dùng mắt xanh (thanh nhãn) tương tự như mây xanh (thanh vân 青雲) với nghĩa không hẳn liên hệ đến màu xanh (như trong ngôn ngữ hiện đại). 
[16] Trích từ bài viết "Mắt xanh là gì?" của Phạm Tuấn Vũ - đăng trên trang mạng Bình Định on line (26/5/2018). 
[17] Các câu ca dao này có thể thay đổi trong dân gian như "ví chẳng hại chồng thì cũng hại con", tuy nhiên vẫn mang hàm ý chính là chê bai (tiêu cực). 
[18] Vấn đề trở nên phức tạp khi âm *xanh thời xưa cũng từng chỉ màu đỏ như chữ hiếm thanh 綪 (tần số dùng 93 trên 238569519) cùng cách đọc với thanh (xanh) 倉經切,音靑 thương kinh thiết, âm thanh (TV). Chữ hiếm xanh/sanh/trinh 赬 䞓 𧹙 浾 泟 cũng có nghĩa là màu đỏ. Đây là các chủ đề cần được tra cứu sâu xa hơn để hiểu rõ hơn các cách dùng đặc biệt trên. 
[19] Truyện Kiều dùng thanh (xanh) 2 lần, xanh 12 lần, biếc 4 lần, lục (xanh lá cây) 3 lần. Trời xanh (dùng 1 lần): trời xanh quen thói má hồnng đáng ghen (câu 6). Mắt xanh xuất hiện 1 lần trong truyện Kiều. 
[20] Cũng như máy ảnh (camera) cần ánh sáng để chụp hình cho rõ, mắt người dựa vào kích thước của đồng tử để nhìn thấy chi tiết hơn. Đồng tử của mắt sẽ mở rộng khi phải tập trung (não bộ) để giải quyết vấn đề, hay khi đối diện một trường hợp hiểm nghèo (đồng tử mở lớn ra để cho thấy chi tiết hơn) và khi dùng một số chất kích thích như cocaine, amphetamine ... 
[21] Xanh/thanh hiện diện trong tiếng Việt và tiếng Hán cho thấy nhà ngôn ngữ Morris Swadesh không thật sự chính xác khi dùng từ chỉ màu xanh cho bảng so sánh gồm 100 từ (1971). Cũng như tiếng Tagalog (ở Phi-Luật-Tân) dùng từ asul chỉ màu xanh da trời và berde chỉ màu xanh lá cây (mượn từ tiếng Tây-Ban-Nha azul và verde) dù đã có từ bugháw và lunti(án) từ xa xưa. Nghiên cứu của Eric W. Holman và đồng nghiệp gần đây (2008) cho thấy mức ổn định (stability) của từ xanh lá cây (green/A) là 21.1% so với từ chỉ con chí (louse/A) 42.8% và số 2 (two/A) 39.8%. Thí dụ như bảng so sánh Leipzig–Jakarta (2009) không có từ chỉ màu xanh (blue, green) nhưng có từ chỉ màu đen (black/A) và đỏ (red/A) như trong bảng Swadesh. 
[22] Kỹ viện là chỗ các kỹ nữ tá túc (nhà chứa, nhà thổ, lầu xanh ~ thanh lâu). Đây cũng là nghĩa hiện đại của lầu xanh. Trong truyện Kiều, lầu xanh xuất hiện 8 lần so với thanh lâu 1 lần: Lầu xanh có mụ Tú Bà (câu 809). 
[23]Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne(Úc)
email nguyencungthong@yahoo.com

Nguyễn Cung Thông


Serenity - Instrumental Music - Nguyễn Đức Tri Tâm


Sáng Tác, Hòa Âm & Đàn:  Nguyễn Đức Tri Tâm




Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2019

Một Lần Nào Cho Tôi Gặp lại Em - Sáng Tác Vũ Thành An - Thái Hòa


Sáng Tác: Vũ Thành An
Ca Sĩ: Trần Thái Hòa
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình


Thu Công Viên Kỷ Niệm



Bước chân nào, đưa em về lối cũ
Kỷ niệm về, thu hoang lạnh anh ơi
Vắng nhau rồi, nhìn đâu cũng lệ rơi
Công viên đó, nơi chúng mình hò hẹn

Trời đã không cho đôi mình trọn vẹn
Nữa đường tình, thôi đành hẹn kiếp sau
Thu công viên Em cô lẻ lao đao
Chân lạc lối, đường xưa sao cứ đến!

Đêm hờn tủi chập chờn như ánh nến
Nữa trăng côi chênh chếch nặng niềm riêng
Chiều mình em thì thầm giữa công viên
Xưa hò hẹn, giờ muộn phiền trăn trở

Khi đã yêu tưởng tình ta muôn thuở
Mỹ mãn một đời ai ngở lìa tan
Nữa chừng xuân hoa tươi lại sớm tàn
Ôm gối chiếc ngỡ ngàng thực hay mộng! 

Trúc Lan KTP
09-19

Cầu Sông Thơ Mộng



Nàng tế nhị và bao dung quá đỗi
Tôi với nàng hò hẹn tối tôi qua
Đường không gần nhưng nào có bao xa
Dẫu dông bão đôi ta vui mở hội

Thơ trăng nước đầu nguồn tuôn như xối
Nàng làm thơ nghe nhức nhối con tim
Đã bao năm cùng thúc hối đi tìm
Người yêu hỡi trên đồi sim biêng biếc

Em kiều mộng trên dòng sông nuối tiếc
Hai đứa ta mở tiệc hội trăng rằm
Em yêu anh như thuở mới mười lăm
Tình trong trắng sợi tơ tằm óng ả

Yêu biết mấy hỡi nàng thơ sáng cả
Đau thương nhiều như thể cá cắn câu
Anh hẹn em kể chuyện suốt đêm thâu
Đến sáng bạch ra về xe lạc lối

Riêng thư pháp nàng thơ tôi viết vội
Nét trang đài còn nhức nhối ngàn sau
Mệnh hệ nào thề sống chết có nhau
Mình hai đứa tay đan tay vào mộng…

Hồ Công Tâm
March 19th 2019

Thu Ly Hương




Bài ớng:
Thu Ly Hươnng

Một bến sông quê nửa kiếp người
Nửa đời đất khách nỗi buồn tơi
Mỗi lần Thu đến lòng se thắt
Mấy độ Hè đi dạ rối bời
Chạnh nhớ người đi về cuối biển
Ngùi thương kẻ ở tận chân trời
Mái đầu bạc trắng ly hương khách
Thoáng chút heo may thấm lạnh rồi!

songquang
20190927
***
Bài Họa:
Tuổi Thu

Ô hay! Lữ thứ nửa đời người
Một kiếp phong trần cánh tả tơi.
Đất mới lạnh lùng sầu chất ngất
Quê xưa êm ấm nhớ tơi bời.
Rì rào sóng biển đùa trên cát
Lặng lẽ trăng khuya rụng cuối trời.
Năm tháng theo về đầu bạc trắng
Ly hương thấm thía, tuổi thu rồi!

Mailoc
9-27-19
***
Ngày Thu Khắc Khoải


Miền quê một kiếp lả thân người
Vọng mãi trong lòng giấc tả tơi
Nẻo hứa say hồn luôn nghiệt ngã
Đường nhen thử lượt cũng tơi bời
Thương vùng đất khổ tràn mê ngự
Cảm khúc ca buồn nhiễm dạo khơi
Những khoản đời vui còn được mấy
Ngầm đau cuộc thế chửa xoay thời .

Mai Thắng
190929
***
Khách Ly Hương

Heo may trở lạnh biết chăng người
Những chiếc lá vàng rụng tả tơi
Đất khách thu về sao quạnh vắng
Lòng riêng đêm tới rối bời bời
Mây thu vần vũ nơi đầu ngõ
Viễn khách vời trông tận cuối trời
Năm tháng ly hương dòng lệ sót
Thà như ai đấy lãng quên rồi

Kim Phượng

Ngăn Ngừa Ung Thư Ruột Già


Ung thư ruột già là một trong những ung thư thường gặp. Trong giai đoạn đầu, những người bị ung thư ruột già có thể không có triệu chứng gì.
Triệu chứng của ung thư ruột già:


Máu trong phân (máu có thể đỏ đậm và hòa lẫn với phân), đau bụng, táo bón hoặc là đi cầu chảy), mắc cầu nhưng đi xong cảm giác vẫn còn muốn đi nữa, sụt cân, mệt mỏi do thiếu máu.

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột già:

1- Tuổi

Xác suất ung thư ruột già tăng theo tuổi. Trên 50 tuổi, 1trong 300 người sẽ bị ung thư ruột già. Trên 60 tuổi, 1 trong 100 người sẽ bị ung thư ruột già.

2- Gia đình có người bị ung thư ruột già

Nguy cơ bị ung thư ruột già tùy theo quan hệ huyết thống trong gia đình và số tuổi của người trong gia đình bị ung thư ruột. Nếu người bị ung thư là ba, mẹ, anh, chị, em thì xác suất người trong gia đình bị ung thư ruột già sẽ cao hơn. Cũng vậy, xác suất người thân trong gia đình bị ung thư ruột già sẽ cao hơn nếu như đã có người trong gia đình bị ung thư ruột già trước ̀50 tuổi

3- Polyp đại trực tràng:


Polyp là một khối u tăng trưởng bên trong ruột già. Nếu để lâu, polyp có thể trở thành ung thư. Vì vậy, ai bị polyp cần phải soi ruột và lấy polyp ra mỗi 2-5 năm tùy theo polyp lớn hay nhỏ, nhiều hay ít và độ ác tính của polyp.

3- Những ai bị bệnh viêm ruột như Ulcerative Colitis hay Crohn có nguy cơ bị ung thư ruột nhiều hơn những người bình thường, nên cần được theo dõi và soi ruột thường để được phát hiện sớm.

4- Thức ăn

Ăn nhiều đồ mỡ, thịt, uống rượu nhiều và hút thuốc dễ dẫn tới ung thư ruột già.

Nên:

KIÊN ĂN ĐỒ MỠ, THỊT VÀ TRÁNH ĂN THỨC ĂN NHIỀU CALORIE,

BỚT UỐNG RƯỢU, HÚT THUỐC VÀ NĂNG TẬP THỂ THAO,

NÊN ĂN THỨC ĂN CÓ NHIỀU CHẤT BÃ,

UỐNG CALCIUM 1000-1200 MG/NGÀY CÓ THỂ GIẢM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ RUỘT GIÀ.

Một số thuốc như ASPIRIN, NSAIDS (Nurofen, Brufen), COX 2 INHIBITOR

(Celecoxib, meloxicam), THUỐC HORMONE CHO NHỮNG NGƯỜI MÃN KINH) có thể giảm nguy cơ bị ung thư ruột già. Có thể uống aspirin 100 mg-300 mg mỗi ngày nếu nguy cơ bị ung thư cao và không bị loét bao tử, chảy máu đường ruột v.v. Nên gặp bác sĩ để được hướng dẫn về việc uống thuốc ngừa ung thư ruột già.

5- Những bệnh di truyền ruột bị nhiều bị nhiều polyp:

Một trong những bệnh di truyền này là Familial Adenomatous Polyposis.

Người bị bệnh di truyền này bị rất nhiều polyp trong ruột già khi còn rất trẻ. Các em cần được gặp bác sĩ khoảng 12-15 tuổi để được theo dõi và soi ruột.

Phương pháp ngăn ngừa ung thư ruột già:

1- Áp dụng những điều trong mục thứ 4 viết ở trên.

2- Nếu có người trong gia đình bị ung thư ruột già cần soi ruột lúc 50 tuổi hay là 10 năm trước tuổi người trong nhà đã chẩn đoán bị ung thư ruột. Ví dụ nếu người nhà bị ung thư ruột lúc 53 tuổi, con cái hay anh chị em của người đó cần được soi ruột lúc 43 tuổi. Nếu soi ruột bình thường, người nhà nên được soi ruột mỗi 5 năm nếu không có triệu chứng gì, hay là soi ruột sớm hơn nếu bị polyp.

3- Cần gặp bác sĩ khám sớm nếu bị những triệu chứng ung thư ruột già kể trên NHẤT LÀ KHI BỊ CHẢY MÁU ĐƯỜNG RUỘT.

4– Nếu không có triệu chứng gì, có thể thử máu vi thể trong trong phân (FOBT) mỗi 2 năm. Thử máu vi thể trong trong phân để xem coi trong phân có máu không. Có nhiều lý do trong phân có máu nên thử máu vi thể trong trong phân dương tính không có nghĩa là người thử bị ung thư ruột già. Nếu thử dương tính, cần phải soi ruột.

Bác sĩ NCT
Melbourne, 30/8/2019