Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Thơ Tranh:Vấn Vương


Thơ: Tuyết Nga
Thơ Tranh: Kim Oanh

Du Ca



Gối tay trên cỏ tôi nằm
Ngó mây phiêu lãng đang thầm lặng trôi
Cành cao chiếc lá in trời
Chao nghiêng như một vành môi trêu đùa
Bâng khuâng ngọn gió sang mùa
Tình thơ mật ngọt hương đưa thật đầy
Nắng vừa thả nửa bờ vai
Vàng phơi mấy nụ hoa cài cỏ xanh
Tôi ru tôi mộng nguyên lành
Tình em cỏ mượt miên trầm an nhiên
Đất trời xanh thẳm bình yên
Giấc mơ hoa cỏ êm đềm tiêu dao

Du Tử Huỳnh
12/11/2016

Mượn Kim


Xin em cho mượn cây kim
Để tôi khâu lại con tim ...bẽ bàng
Từ khi người bước sang ngang
Tình tôi lỗi nhịp cung đàn từ đây!
Còn đâu những phút vui say
Đêm mong ngày nhớ tháng ngày bên nhau
Ôm chi một khối tình sầu??
Mượn kim vá lại tình đầu ...vỡ tim


Song Quang

Thu Vàng Trên Lối Thơ


Anh có nghe trong mưa
Thánh thoát những giọt thừa
Ngày đầu thu cuối hạ
Tiếng buồn bên song thưa

Anh có thấy trong thu
Lá nắng rơi mịt mù
Chiều vàng pha sắc nhớ
Yêu người, yêu cả thu!

Anh có nghe trong đêm
Tiếng thời gian lặng chìm
Chiếc lá rơi rất khẽ
Tiếng tơ lòng trong em

Anh nhớ thu xưa không
Hương tình xao xuyến lòng
Thuở chung mơ cùng mộng
Trong đất trời mênh mông

Anh có thấy trong mơ
Đường tình nhện giăng tơ
Hàng thu phong vàng lá
Trải đầy trên lối thơ.


Yên Dạ Thảo
25/10/2016

Biển Ninh Chữ



Tôi trở lại biển xưa Ninh Chữ
Thăm thằng bạn lính thuở xinh trai
Lơ thơ cỏ mọc theo năm tháng
Nấm đất nghiêng theo bãi cát dài…

Nhớ hoài đụng trận làng Ninh Phước
Xe mình bị chận đánh giữa đường
May sao xe lật làm bia đạn
Ta còn bạn mất thật thê lương!

Bốn sáu năm bạn đi biệt xứ
Ta theo năm tháng sống lạc loài
Vợ bạn khóc than hay tin dữ
Ta nhói buồng tim tiếng gọi người!

Hôm nay trở lại vùng Cà Đú
Nhớ bạn dạo đàn chiếc ghi ta
“Ngày chưa nhập ngũ… “ cao giọng hát
“Đưa em về vùng cỏ bông may…”

Bạn hỡi có nghe ta khẻ gọi
Thâm sâu đáy mộ đợi ta về
Chung vui đêm nhạc sầu sâu lắng
Bỏ lúc u buồn sương khói che.

Bạn hãy yên lòng nằm an nghỉ
Ta làm bài thơ gọi nắng lên
Cho ấm mộ phần nơi hoang vắng
Và mời chung rượu nhạt hương quen!

Dương hồng Thủy

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

Tình Thơ Giao Mùa - Thơ Nhạc:Kim Oanh Thực Hiện


Tác Giả: Khánh Hà, Phương Lan, Kim Oanh, Kim Phượng,
Nguyễn Cao Khải, Cao Linh Tử, Song Quang, Mai Xuân Thanh
Thực Hiện&Thơ Tranh: Kim Oanh

Tiếng Thu

   
Tiếng Thu

Rèm ngoài xào xạc tiếng thu bay
Giường lạnh trăng loan gió thở dài .
Phòng vắng lắng lòng trong chánh niệm 
Ô hay! tiếng dế khuấy ta hoài 

Song đêm ri rỉ mãi côn trùng,
Vườn cũ quê nhà bỗng nhớ nhung 
Tiếng chó sủa trăng đầu xóm vắng.
Âm xưa khơi lại nhớ điên khùng!

Ngang trời tiếng vạc xé màn đêm 
Cây cỏ rùng mình thấm lạnh thêm 
Rào rạt gió hờn trong khóm trúc
Sương khuya rỉ rả giọt ngoài thềm 

Réo rắt một hồi bỗng lặng câm,
Gió thu, dế tối lại hoà âm 
Nhạc buồn muôn thuở thu trần thế 
Thăm thẳm bay về một chữ tâm 

Đồng hồ tích tắc suốt đêm trường
Thu đến bao lần dạ vấn vương 
Ít ngủ lại thêm sầu viễn xứ
Mái đầu mai sớm ắt thêm sương!

Mailoc
***
Nỗi Niềm Đêm Thu


Trời thu ảm đạm lá vàng bay
Ngày ngắn mà đêm lại rất dài
Hơi lạnh se se theo gió đến
Lòng riêng tràn ngập nỗi u hoài

Mây xám giăng giăng xếp trập trùng
Màn đêm buông phủ tấm màn nhung
Những vì sao lạc đi tìm bạn
Quá nhớ cho nên đã phát khùng ?

Trăng đến ngang trời lúc nửa đêm
Gợi câu thề ước, chạnh lòng thêm
Bài thơ bỏ dở ra hiên ngóng
Giải lụa vàng mơ trải trước thềm

Côn trùng đang hát bỗng im câm
Một khoảng nhạc trầm hay lặng âm?
Tiếng quạ kêu sương buồn áo não
Như lời thổn thức ở trong tâm

Đêm thu thao thức suốt canh trường
Kỷ niệm một thời cứ mãi vương
Thu đến thu đi... mình chiếc bóng
Thương người, trăng đến mỗi đêm sương.

Phương Hà
***
Thu Cali Cũng Buồn


Thu ở Cali lá rụng bay,
Trời mưa ảm đạm suốt đêm dài.
Thân già hiu quạnh cô đơn quá,
Lẻ bóng thương ai mối cảm hoài.

Cách trở quê hương đến vạn trùng,
Con nhìn bóng mẹ vấn khăn nhung.
Giọt buồn thấm ướt xa xôi nhớ...
Bất hiếu làm sao quả bị khùng!

Mây xám mưa dầm suốt cả đêm,
Trùm chăn kín mít ngủ lâu thêm.
Mơ màng giấc mộng về quê cũ,
Chó sủa trăng thu rụng trước thềm!

Ra dấu, mĩm cười, mới biết câm,
Cung đàn muôn điệu trỗi thanh âm.
Lắng tai, khó hiểu, em buồn lắm,
Gõ mỏ trầm hương, Phật tại tâm.

Ôn cố tri tân, mới đoạn trường,
Thu buồn da diết nợ tơ vương.
Tấm thân lưu lạc người cao tuổi,
Vóc hạc nhành mai tóc điểm sương!

Mai Xuân Thanh
Ngày 07 tháng 11 năm 2016

Tiếng Thu



Rèm ngoài xào xạc tiếng thu,
Trăng tàn giường lạnh vi vu gió về.
Chiếc thân phòng vắng não nề,
Côn trùng ri rỉ tư bề quạnh hiu!

Song khuya vắng lặng tiêu điều,
Chạnh lòng quê cũ nghe nhiều xót xa.
Đầu thôn tiếng chó xa xa,
Âm xưa khơi lại quê nhà thuở nao.

Ngang trời tiếng vạc lao xao,
Cỏ cây hiu hắt nhuốm màu sương đêm.
Lào xào khóm trúc bên thềm,
Suốt đêm xào xạt như thêm mối sầu.

Bi thu ra rả canh thâu,
Hoà âm lũ dế nhạc sầu trêu ngươi.
Tình thu muôn thuở chơi vơi,
Lòng thu thắm thiết khó rời chữ tâm.

Đồng hồ tích tắc âm thầm,
Suốt đêm nhỏ giọt cho lòng vấn vương.
Nhớ quê thơ thẩn canh trường,
Hoa răm mái tóc điểm sương mất rồi.

Tiếng thu xao xuyến lòng tôi!

Đỗ Chiêu Đức
Trọng Thu 2016


Tôn Sư Trọng Đạo

(Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm trước 1975)

Dân Việt Nam có tính hiếu học và rất biết ơn người có công dạy dỗ mình. Dù chỉ học một chữ hay nửa chữ cũng mang ơn người dạy. “Nhứt tự vi sư, bán tự vi sư” người xưa thường nói. Mang ơn thầy là bổn phận của người học bởi “không thầy đố mầy làm nên”. Nhưng bổn phận này không phải chỉ là sản phẩm của lý trí thuần túy mà còn xuất phát từ một tấm lòng, một tình cảm thật sâu xa bền bỉ: sự thương mến kính trọng thầy. Bởi người làm thầy phải là người biết thương mến, lo lắng cho học trò mình, biết cách dạy dỗ, hướng dẫn cho học trò mình phát triển, tiến bộ, trở nên người tốt ở trên đời. Thầy có sứ mạng cao cả của thầy, phải ý thức được sứ mạng cao cả đó, để làm hết phận sự của thầy, làm cho thế hệ trẻ nên người. Có vậy học trò và người đời mới thương mến kính trọng thầy. Tinh thần tôn sư nói lên lòng tôn kính người thầy. Tinh thần đó luôn luôn có trong xã hội Việt Nam. Nó bao gồm sự kính trọng, lòng biết ơn và lòng thương mến của người học trò đối với thầy. Tinh thần đó bây giờ vẫn tồn tại ở nhiều người, nhưng không sâu đậm bằng ở các người xưa. Càng đi ngược về xưa chừng nào thì tinh thần đó càng sâu xa đậm đà chừng nấy. Trọng đạo là đánh giá thật cao đạo lý của thánh hiền xem như mẫu mực để người đời noi theo. Đạo lý đây là luân lý đạo đức và thánh hiền không ai khác hơn là Không Tử mà người Á Đông thường tôn sùng như bậc thánh nhân. Khổng Tử cũng là người đầu tiên làm nghề dạy học. Ngài cũng là vị thầy cao cả nhất trong xã hội Á Đông. Người đi dạy cũng như người đi học từ xưa luôn luôn xem Ngài là bậc “vạn thế sư biểu” tức là ông thầy tiêu biểu của muôn đời.

Khổng Tử ra đời năm 551 trước Tây lịch. Ngài là người nước Lỗ nay thuộc vùng Sơn Đông ở phía Bắc nước Trung Hoa. Lúc mới lên ba tuổi, Khổng Tử phải chịu cảnh mồ côi cha. Đến 19 tuổi, Không Tử lập gia đình và bắt đầu đi làm việc với chức vụ khiêm nhường là “ủy lại”, là chức coi việc thóc lúa trong kho. Sau đó được đổi sang việc coi nuôi bò trong việc tế lễ. Thiên tư dạy học của Ngài bắt đầu xuất hiện khi Ngài nhận dạy riêng cho con trai của Lỗ Hầu. Lúc này Ngài mới 22 tuổi. Khổng Tử rất thích nghiên cứu học hỏi về những gì liên quan đến lễ nghi, văn hóa, lịch sử nước Tàu. Khoảng 29 tuổi Khổng Tử nhờ con của Lỗ Hầu giúp cho phương tiện để đi đến Lạc Ấp (kinh sư nhà Chu) để học hỏi. Ở đây có nhà Minh đường do triều đình thiết lập để chứa các luật lệ, thu tập những bảo vật cùng những di tích của các bậc thánh hiền đời trước (xem như văn khố và viện bảo tàng hồi đó). Ở đây Khổng Tử có cơ hội khảo cứu tường tận các nghi thức tế lễ, các thể chế nơi miếu đường và các nơi giao tế.

Sau đó Khổng Tử trở về nước Lỗ chánh thức đi vào cuộc đời dạy học. Chỉ trong thời gian ngắn tiếng tăm của Ngài được đồn đãi khắp nơi. Học trò theo học càng ngày càng đông. Năm 517 trước Tây Lịch, lúc này Ngài đã được 35 tuổi, nước Lỗ trải qua một cuộc loạn ly, Không Tử phải tản cư qua nước Tề, sống ở đây một thời gian hơn năm năm. Mãi đến năm 511 trước Tây Lịch Ngài mới trở về nước Lỗ san định sách vở, và tiếp tục dạy học. Học trò của Ngài đến từ nhiều nơi trên khắp cả nước Tàu. Một hôm, theo lời mời của vua nước Lỗ, Ngài xuất chính, giữ chức Trung Đô Tể, tức kinh thành Phủ Doản (như Đô trưởng). Ít lâu sau thăng lên chức Đại Tư Khấu (như tổng trưởng tư pháp) và sau cùng Nhiếp Chính Sự (như Thủ Tướng chính phủ). Ngài không mấy thành công trên chính trường vì chính sách cai trị của Ngài quá thiên về đạo đức (vương đạo). Lối cai trị đạo đức của Ngài chỉ có lợi cho dân mà không có lợi (vật chất) cho kẻ cầm quyền, nó không thỏa mãn được lòng tham lam, ham muốn bá quyền của các vua chúa. Ngài chỉ làm quan thời gian ngắn, rồi cùng các đệ tử đi chu du thiên hạ suốt mười mấy năm trời nhưng không tìm được nơi để thi hành vương đạo của Ngài nữa. Ngài trở về nước Lỗ lúc 68 tuổi, sống những ngày còn lại nơi quê nhà. Ngài mất năm 474 trước Tây Lịch, thọ 73 tuổi.

Ngài mất đi khiến học trò vô cùng thương tiếc. Ai cũng để tang 3 năm. Hơn 100 đệ tử làm nhà ở gần mộ Khổng Tử để ở đó cho đến ngày mãn tang. Riêng Tử Cống thì đã ở đây hơn 6 năm. Thuật lại cuộc đời Khổng Tử, Tư Mã Thiên viết: “Tôi đọc sách họ Khổng, tưởng tượng như trông thấy cách làm người của Thầy. Sang nước Lỗ xem nhà thờ Khổng Tử với nào xe, nào áo, nào đồ thờ , nào các học trò thời thường đến đó tập lễ, tôi bồi hồi ở lại không về được. Nhiều vua chúa và những người tài giỏi khi sống rất vẻ vang nhưng khi chết rồi là hết , chẳng còn gì để lại cho đời sau. Thầy Khổng Tử thì áo vải đạm bạc vậy mà khi mất đi rồi lời dạy của thầy truyền hơn 10 đời mà học giả vẫn còn tôn trọng. Từ thiên tử đến vương thần ở nơi xứ Trung Quốc này, hễ nói đến Sấm kinh đều phải lấy thầy làm đích. Thật đáng là bậc chí thánh vậy.”

Khổng Tử là một nhà giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại không phải chỉ riêng của Trung Hoa mà còn của cả thế giới loài người. Nhờ Khổng Tử địa vị của ông thầy được người đời xưa nâng cao, hơn cả địa vị của ông cha, chỉ đứng sau địa vị của ông vua. Câu “Quân, Sư, Phụ” cho biết sau ông vua là đến ông thầy rồi sau ông thấy mới đến ông cha. Người làm cha cũng có công dưỡng dục, dạy dỗ con cái, nhưng trong xã hội người dạy con mình nhiều nhất, người có công vun xới vườn kiến thúc và đạo đức của con mình, chính là ông thầy của nó. Làm cho một người non dại trở thành một người trưởng thành có kiến thức, có đạo đức, có khả năng, có đời sống xứng đáng với ý nghĩa cao đẹp của con người, đó là công lao to lớn của ông thầy, của người biết mang trong người cái trọng trách “hối nhân bất quyện” (dạy người không biết mệt). Khổng Tử là người ý thức rõ cái sứ mạng, cái thiên chức cao quý đó của một lương sư. Hậu thế tôn sùng Ngài như bậc thầy của muôn đời, bậc “Vạn Thế Sư Biểu” bởi chủ trương, đường lối, mục tiêu, phương pháp giáo dục của Ngài chứa đựng nhiều giá trị mà người đời sau phải công nhận, đề cao và học hỏi.

Quan trọng nhất là “đạo” (tức con đường hay hướng đi) của Ngài. Ở đây ta cứ hiểu là đạo Nho hay đạo Khổng, bao gồm những tư tưởng hay triết lý căn bản mà Đức Khổng Tử đã tổng hợp và phát huy để dẫn dắt con người đi đến nơi toàn thiện (bằng cách tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ). Đạo của Ngài là đạo của người quân tử, đạo của bậc đại nhân (đại học chi đạo), lấy chữ nhân làm đầu, xem con người và xã hội là cứu cánh. Từ mấy trăm năm trước Tây Lịch cho đến những ngày gần đây đạo của Ngài vẫn được mạnh mẽ lưu truyền trong các xã hội Á Đông. Ở đâu còn có sự giáo dục chân chính, còn có những người tận tâm dạy dỗ (những lương sư), còn có những người muốn học thật sự để nên người thì ở đó lòng tôn sư trọng đạo vẫn còn được duy trì.

Ngày nay trước sự bành trướng của duy vật vô thần chủ nghĩa, tính “linh ư vạn vật” của con người bị phủ nhận, giáo dục trở thành chợ buôn bán, phẩm chất tụt hậu, thầy không còn đủ điều kiện để làm thầy, học trò không còn cơ hội để học làm người, đạo đức suy đồi, xã hội trụy lạc đổ vỡ, lòng người hoang mang, tinh thần tôn sư trọng đạo hơn bao giờ hết, cần phải được phục hồi, truyền thống tốt đẹp đã có cần được chấn hưng để những thế hệ sau này còn có cơ xây dựng lại tinh thần nhân bản, dân tộc, khai phóng rất cần cho việc hiện đại hóa và phát triển quốc gia trong những thập niên tới.

(*) Hội Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation chủ trương phục hồi truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam. Hằng năm hội tổ chức bốn ngày lễ nói lên lòng nhớ ơn của người Việt Nam đối với cha mẹ (Ngày Nhớ Ơn Cha Mẹ), đối với quốc gia và thành hoàng bổn cảnh (Ngày Cúng Kỳ Yên), đối với các anh hùng vị quốc vong thân (Ngày Vía Đức Tả Quân và các anh hùng liệt sĩ), và đối với thầy 

(Ngày Tôn Sư Trọng Đạo).
Nguyễn Thanh Liêm

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

The Old Teacher - Ông Giáo Già


This poem is dedicated to all of my former teachers, who died for the sake of education. 
Dear teachers, you were the unknown heroes, who silently built our Homeland, VietNam, with multiple difficulties, bitterness and hardship in the thunder of cannons and bomb blast. Your pure faith was recognized by God. Rest in peace! Dear teachers!.
Pham Dinh Lan

Every evening when the sunlight faded,
The old teacher walked slowly to the school gate.
The gate was closed.
He sighed with disappointment in contemplating
The mossy walls surrounding the school.

The cicada’s songs reminded him
Of mixed memories,
Of the old days’ mutual respect
Between teachers and students.
Many memories have been carved
On the old trunks of the flamboyants (1)
Many teachers got old.
Many young generations were gone.

The old school and the flamboyants have existed.
The teacher was at the windy sunset of his age.
He found joys through some vague memories
To forget all of his heart- broken life.

Some of his old students died,
Some were alive.
Some had resounding reputation;
Some had their wandering life
Like the yellow leaves scattered in the wind.
They missed the ferry boat
Due to their dusty and stormy life.

The yellow leaves fell.
The fall came then left.
The frosty winter came then flew by.

One evening, the urban and rural residents
Learned the old teacher said good- bye to the world.
He left silently in a quiet night.
The dead leaf left the root of worries.

The flamboyants bloom, welcoming the Summer.
The old school no longer sees the old teacher
Every evening when the bell resounds from the pagoda.
The thick curtain of darkness covers the mossy school.

(1) Flamboyant (French): flame tree; royal poinciana (English); scientific name: Delonix regia, Family: Caesalpiniaceae

DAVID LAN PHAM, F.A.B.I. 
*** 
Cùng Bạn,
Đọc bài thơ tiếng Anh của bạn Phạm Đình Lân tôi vô cùng cảm khái, xin chuyển đến các bạn già bài thoát dịch sang tiếng Việt của tôi cho một phút tưởng niệm đến Ngày Nhà Giáo hôm nay.
Thân
Lộc

Ông Giáo Già 

Cứ mỗi chiều nắng tà vương vấn,
Ông Giáo Già thơ thẩn gậy lần 
Cổng trường đã đóng âm thầm
Lặng nhìn trường sở vách dầm rêu phong 

Tiếng ve sầu mênh mang gợi nhớ 
Kỷ niệm về trăm mối ngổn ngang
Ngày xưa ,ngày ấy rộn ràng
Thầy trò tương kính lòng tràn mến thương 

Gốc phượng già còn vương dấu vết,
Cái tình xưa hằn nét chưa phai 
Thầy cô sương điểm tóc mai
Tuổi xanh từng lớp nắm tay ra trường 

Cây phượng xưa mái trường còn đấy,
Ông giáo già đã thấy tuổi thu 
Vui theo kỷ niệm mịt mù
Để quên cuộc sống dãi dầu lòng đau:

Biết bao trò đã vào lòng đất 
Bao nhiêu thằng lây lất vô danh 
Nhiều em lừng lẫy tiếng tâm
Nhiều em cuộc sống âm thầm ai hay 

Như lá vàng, bay bay trong gió,
Lỡ chuyến đò thương khó vai mang 
Cuộc đời cát bụi gió vàng
Bao nhiêu trong cảnh lầm than tủi hờn 

Lá vàng rơi từng cơn theo gió
Rồi thu đi lá bỏ cành không 
Lạnh về tuyết trắng mênh mông 
Đồng hoang hiu quạnh đông sang lạnh lùng!

Một chiều đông cả vùng được biết,
Ông giáo già vĩnh biệt dương gian 
Phố phường thôn xóm bàng hoàng 
Người đi lặng lẽ lòng trần sạch trơn 

Phượng vẫn nở chập chờn hè đón 
Ngôi trường xưa đâu bóng Giáo Già?
Chuông chiều xa vắng ngân nga 
Màn đêm dầy đặc xót xa mái trường!!

Mailoc thoát dịch
Cali 11-20-16

Ánh Đèn Màu (Charlie Chaplin - Lời Việt Nguyễn Xuân Mỹ) - Vân Anh



Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây...


Trên đây là hai câu đầu tiên trong bài hát Ánh Đèn Mầu, lời Việt đặt theo nhạc phẩm nổi tiếng của Vua Hề Charlot, Charlie Chaplin.

Vài hàng về Vua Hề Charlot, người nổi danh khắp thế giới về những phim câm hài hước. Charles Spencer Chaplin (1889-1977) sinh trưởng trong nghèo đói tại Anh Quốc, nối nghiệp bố mẹ làm người hát dạo, rồi sau dần trở thành diễn viên hài hước. Nhân qua thăm Hoa Kỳ năm 1913, ông được mời đóng phim và về sau vừa là tài tử chính cũng tự trở thành đạo diễn những tác phẩm điện ảnh, nhất là những phim hài hước và câm. Những phim nổi tiếng của Vua Hề Charlot là A Woman of Paris (1923), The Gold Rush (1925), The Circus (1928), City Lights (1931), Modern Times (1936) và The Great Dictator (1940).

Limelight (1952) là phim cuối cùng Charlot thực hiện tại Hoa Kỳ.
Vì có nhiều chuyện lộn xộn trong đời sống riêng tư về ái tình và hôn nhân, ông bị nhiều người ghét. Với chủ trương công bằng xã hội, lại thêm chuyện không chịu nhập quốc tịch Hoa Kỳ, ông bị “chụp mũ” là ...  CS  và không được phép nhập cảnh vào Hoa Kỳ nữa. Vì vậy, từ 1953, Charlie Chaplin sinh sống tại Switzerland.

Đến mãi 20 năm sau, Charlie Chapplin trở về Hoa Kỳ để nhận những vinh quang lớn nhất của sự nghiệp điện ảnh. Năm 1972, ông được trao giải thưởng đặc biệt của Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Năm 1973, phim Limelight đã được trao giải Oscar (Academy Award). Năm 1975, ông được Nữ Hoàng Anh phong tước Hiệp Sĩ (Knight). Vua Hề Charlot qua đời năm 1977.

Vài nét về tác phẩm điện ảnh Limelight.

Đây không phải là phim câm và cũng không phải là phim hài hước hoàn toàn. Limelight là phim có tiếng nói nổi tiếng nhất của Charlie Chaplin. Limelight là một phim rất cảm động và buồn. Trong phim, Charlie Chaplin đóng vai một ca sĩ hài hước về ... chiều, thất bại vì tài năng đã đến lúc tàn tạ. Người nghệ sĩ đã diễu... dở, nghĩa là không còn làm khán giả cười được nữa. Nhưng người ca sĩ già đã cứu sống một nữ diễn viên chuyên vũ ballet. Cô vũ nữ trẻ này cũng vì thất bại đã nản chán và tự tử. Và cũng nhờ ông hướng dẫn, cô gái cuối cùng đã thành công rực rỡ trên sân khấu.

Về Ánh Đèn Mầu.

Có nhiều lầm lẫn cần minh xác.
Thứ nhất limelight không có nghĩa là ánh đèn mầu. Limelight thật ra là ánh sáng của ngọn đèn tròn trắng sáng, tuy có thể nhìn thấy một chút sắc xanh trong rất nhạt, ngày xưa người ta thường hay dùng để chiếu lên sân khấu và ngày nay tuy cũng còn dùng nhưng ít hơn trước.

Nhiều người tưởng tên Anh Văn nguyên thủy của bài hát Ánh Đèn Mầu là Limelight. Thật ra, tuy là bài hát chính trong phim Limelight, nhưng nhạc phẩm này, do Charlie Chaplin viết nhạc và Geoff Parsons cùng John Turner viết lời, khởi đầu tên là Terry's Theme và rồi về sau Charlot đặt là Eternally (dịch sát nghĩa là Vĩnh Viễn hay Mãi Mãi). 

Về các nhân vật đặt lời Việt cho bài nhac.

Nhiều người tưởng lời Việt của bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy đặt đầu tiên. Tuy Phạm Duy năm 1973 có đặt lời cho bài hát với tựa đề Ánh Đèn Sân Khấu do nhà xuất bản Bút Nhạc ở Saigon ấn hành. Nhưng thật ra Nguyễn Xuân Mỹ, là người đầu tiên đặt lời Việt cho bài hát và có tên Ánh Đèn Mầu, do nhà xuất bản An Phú phát hành năm 1955. Trước Phạm Duy và sau Nguyễn Xuân Mỹ còn có Nguyễn Huy Hiển và Anh Hoa cũng có đặt lời Việt cho bản nhac. Bài của Anh Hoa có tựa là Tình Tôi. Sau 1975, ở Hoa Kỳ, Phạm Duy lại đặt thêm một lời khác lấy đề tựa là Đời Ca Nhi. Chắc chắn còn có ít ra là vài người khác nữa, kể cả ca sĩ Thanh Lan cũng có đặt lời Việt cho bản nhạc.


ÁNH ĐÈN MẦU
(Eternally)

Nhạc: Charlie Chaplin
English lyricists: Geoff Parsons and John Turner
Lời Việt: Nguyễn Xuân Mỹ

3/4 Boston
Sol Trưởng:

I’ll be loving you eternally
with a love that true eternally
From the start with-in my heart, it seems I’ve always know
the sun would shine, when you were mine a-lone

I’ll be loving you eternally
There’ll be no one new, my dear for me
Tho’ the sky should fall, remember I shall always be
Forever true and loving you eternally

Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây
Cùng bên ánh mầu sắc lạc lõng trong tiếng đàn hát đêm khuya
Rồi bao nếp răn về với tháng năm đời quên lãng rồi

Buồn trong tiếng nhạc lắng cho đời mê say
Cười trong ánh đèn sáng cho người mua vui
Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn
Chìm theo bóng đen, người ta lãng quên bẽ bàng

Sol Thứ (đoạn này không thấy có lời Anh):

Giờ đây vắng tan rồi
Khách ra về
Ôi ánh đèn
Nhìn cảnh vắng hoang tàn kiếp con ve khi cuối mùa
Nào đâu phút huy hoàng
Phút say sưa theo tiếng đàn vui ca

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ánh Đèn Mầu (Eternally): nhạc Charlie Chaplin, lời Việt Nguyễn Xuân Mỹ
G.P. số 3453/BTTCH/BC3/XB
2. Limelight, Charlie Chaplin Centennial Collection, CBS-Fox VHS Video
3. Chaplin, directed by Richard Attenborough, Avid Home Entertainment VHS Video
4. The Software Toolworks, Multimedia Encyclopedia, Version 1 PB

Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California USA
Thực Hiện Youtube Hoàng Khai Nhan 

Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Trường Trung Học Kiến Phong


Kính Thầy và các Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn

Hôm nay là ngày Tỉnh Đồng Tháp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Trung học Kiến Phong 19/11/1956 - 2016 Và tiếp theo là ngày Nhà giáo 20/11 hằng năm của Việt Nam.

Trân trọng chúc Thầy Nguyễn Hữu Lộc, Thầy Nguyễn Khắc Trí, Thầy Danh Hữu ..., Chị Phương Hà, Chị Kim Phượng, Chị Hải Vân, Anh Đỗ Chiêu Đức, Anh Huỳnh Hữu Đức ..., ... và các anh chị khác có từng đi dạy học một ngày 20/11 tràn ngập niềm vui và hành phúc.

Lúc này em đang bận nên không có họa thơ trong Vườn Ta. Nhưng hôm nay nhân kỷ niệm này gửi đến Quý Thần Cô và ACE 2 bài thơ dưới đây, mời xem và chia sẻ

Bài 1: Kỷ niệm 60 năm thành lập trường Trung Học Kiến Phong
           Trung Học Kiến Phong 60 Năm

Vòng quay một quãng sáu mươi năm
Lối cũ xuê xoang rạng rỡ nằm
Đã vắng hàng cây già phượng vĩ
Không còn dãy mái ngói trung tâm

Sân trường hạn hẹp nền chia lẻ
Lớp học khang trang tiếng mộ thầm
Tên cũ Kiến Phong giờ xóa mất
Chạnh lòng giây phút hướng xa xăm

Nguyễn Đắc Thắng
20161120
***
Bài 2: Chào Mừng Ngày Nhà Giáo 20/11
           Trang Giáo Án  

Lần tay nắn nót chữ ngay dòng
Kiến thức không lường sự đếm đong
Lớp bụi thời gian dày bụi phấn
Từng trang giấy tập trắng trang lòng
Dành trao lý tưởng gìn nhân bản
Kiến tạo hành trình dệt ước mong
Giáo án hằng niên nguồn khát vọng
Niềm tin phép nhiệm diễn xoay vòng!

MT
20161120

Vẫy Chào Ngày Nhà Giáo ( 20.11. 2016 )



Ngày Nhà Giáo đến rộn vui
Sao nghe đôi chút ngậm ngùi lãng du
Hay là mái tóc bạc phơ
Còn mong đến lớp để chờ xanh ra

Hay là nhớ tháng ngày qua
Tiếng cười trong lớp trổ hoa trong lòng
Chút gì như nhớ như mong
Như cơn gió mát xoay vòng lớp thương 

Chút gì như bụi phấn vương
Rơi trên mái tóc vẽ đường phấn đưa
Bảng xanh, xanh mãi đến giờ
Bóng trò non trẻ ngây thơ mãi còn

Mấy năm mài đũng quần mòn
Các em giờ đã lớn khôn, hơn thầy
Thương sao lễ độ vòng tay
Gặp thầy cô quí như ngày xa xưa

Thời gian mòn gót nắng mưa
Vẫn còn nhẹ tiếng dạ thưa ngọt ngào
Những lần họp mặt xôn xao
Vẫn như đến lớp ngày nào đó thôi

Ngày Nhà Giáo đến môi cười
Gặp nhau trao gửi bao lời mến thân
Bóng trường về gọi ân cần
Cõi lòng rộn chim ngân dạt dào
Ngày Nhà Giáo đến vẫy chào

Tay cầm nỗi nhớ khát khao tới trường

Trầm Vân

Ngày Nhà Giáo Việt Nam


Khai tâm mở trí trẻ khơi dòng,
Học hỏi theo thầy tính, toán, đong.
Nhìn tấm bảng đen đầy vết phấn,
Xem bài chữ viết phải cho thông.
Ôn thi đọc thạo làm căn bản,
Hiểu biết tận tường ý mẹ mong.
Cha nhắc, Thầy Cô, ngày kỷ niệm:
Hai mươi, Mười một, thuộc nằm lòng (1)

Mai Xuân Thanh
Ngày 19 tháng 11 năm 2016
(1) Ngày 20 tháng 11 là Ngày Nhà Giáo Việt Nam

Tống Hữu Định (1869 – 1932)

(Đường Tống Hữu Định - Quân 2 - Sàigòn)

Ông Tống Hữu Định, nhân sĩ, văn nghệ sĩ, bút hiệu là Tịnh Trai – người có công trong việc bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc của tỉnh và của Nam Bộ. Ông xuất thân trong gia đình quan lại, là cháu cùng họ Quốc Công Tống Phước Hiệp. Ông sinh năm 1869, tại làng Long Châu. Bản thân làm chức Phó Tổng Bình Long (Vĩnh Long) và là con thứ mười hai, nên ông còn được gọi là thầy Phó Mười Hai.

Cha là Tống Hữu Diên, người thôn Tân Giai, tỉnh Vĩnh Long, có chí lớn, thường xuyên tham gia việc quân rất khẳng khái. Khi giặc Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, ông trở về nhà, lấy việc nhân nghĩa dạy con cái, sống cần kiệm. Có thể coi đó là một người trung hiếu, đức hạnh, giàu có, đầy đủ. Lúc về già, dân hai thôn Tân Long cử ông làm Hương Cả. 

Mẹ là Dương Thị Thái, người siêng năng, cần kiệm, tần tảo nuôi con, giúp chồng làm nên sự nghiệp. 
Anh là Tống Hữu Trung, làm Chánh tổng huyện Bình An, sau thăng Tri huyện hàm, nổi tiếng thanh liêm và giàu lòng bác ái. 
Ông Tống Hữu Định lớn lên, thừa hưởng sự nghiệp của cha và anh, được rước thầy về nhà dạy học. Ông giỏi cả chữ Nho và chữ Pháp, tính tình cương trực, yêu nghệ thuật và thích tổ chức hoạt động văn hóa dân gian. Vì ông là một người hào phóng, giao thiệp rộng và thuộc gia đình danh tiếng, nên được đề cử làm Phó Tổng Bình Long. 

Theo kịch sĩ Duy Lân: ông là một danh sĩ tài hoa vốn dòng dõi một công thần nhà Nguyễn - Ngài Tống Phước Hiệp, thần hoàng bổn tỉnh - người có công trùng tu tôn tạo Văn Thánh miếu mà cũng là người đã nâng đỡ chu toàn nền cổ nhạc Long Hồ được vang danh thuở ấy. 
Trong tài liệu “Năm mươi năm cải lương” của Vương Hồng Sến do Nam Chi xuất bản, Sài Gòn 1968, có nhắc đến ông Tống Hữu Định: “Ông còn nổi tiếng là người ăn chơi bực nhất đất Vĩnh Long vào những năm 1915 - 1920. Lúc sanh tiền, thầy hay tổ chức đờn ca, tiệc tùng, đá gà, bài bạc, làm thi, đủ thứ… ”. 
Hồi đó, các tỉnh Nam bộ có phong trào ca nhạc tài tử, trong những cuộc hội hè, đám tiệc, vui chơi, thường có những tay đàn và những giọng ca các bài bản cổ nhạc hòa hợp giúp vui cả đêm hoặc từ đêm này sang đêm khác. Bấy giờ, nói đến tên ông Tống Hữu Định, trong giới ca nhạc tài tử ai cũng biết. Ông là người có sáng kiến sanh điệu ca ra bộ, mở đầu cho nghệ thuật sân khấu cải lương.

(Sân khấu cải lương xưa)

Khoảng đầu năm 1916, trong một buổi đờn ca tại nhà ông, bài ca Tứ đại oán “Bùi Kiệm thi rớt trở về” được trình diễn bằng hình thức ca ra bộ (vừa ca vừa ra bộ). Ba người thủ vai : Bùi Ông, Bùi Kiệm, Kiều Nguyệt Nga (cô Ba Định trong vai Nguyệt Nga, ông Giáo Du trong vai Bùi Ông và ông giáo Diệp Minh trong vai Bùi Kiệm). 
Sau đó, điệu ca ra bộ được hoàn chỉnh và theo bài báo ông Nguyễn Văn Hanh viết trên “La Déppêche d’Indochine” số 2739 ngày 21/9/1937 cho biết : “Lần thứ nhứt diễn tuồng hát cải lương tại nhà thầy Phó Mười Hai (Vũng Liêm) là ngày 15/11/1918, kế đó đi diễn nơi Sa Đéc và Vũng Liêm… ”. 

Phong cách trình diễn có điệu bộ bài bản hệ thống theo tuồng tích, có bố cục cảnh trí đã hình thành sân khấu cải lương, đáp ứng được yêu cầu vừa nghe, vừa xem ngày càng thu hút khán thính giả và lan rộng ra các tỉnh đồng bằng. 
Nghệ thuật sân khấu cải lương xuất hiện từ đó – một hiện tượng cải cách tân kỳ trong giới ca nhạc tài tử, trong đó có phần đóng góp rất lớn của ông.


Ông Tống Hữu Định chẳng những nổi tiếng là người hào hoa, phong nhã, hiếu khách, say mê nghệ thuật đàn ca, có sáng kiến mở đầu cho nghệ thuật sân khấu cải lương, ông còn có công đứng ra vận động trùng tu, tôn tạo Văn Thánh miếu Vĩnh Long (năm 1901 - 1902). Thấy cảnh Văn Thánh miếu lúc bấy giờ điêu tàn, nóc dột, vách hư, cỏ mọc hoang phế vì xây cất đã lâu đời, ông động lòng làm bài thơ để động viên mọi người: 

Chùa hư, miếu dột dạ nào yên 
Trời đất hay chăng chút nghĩa thiền 
Trong điện vuông tròn con bóng dọi 
Ngoài hiên to nhỏ ngút mây chuyền. 

Dấu xưa nhìn đó lòng thêm tủi 
Tích cũ thấy đây dạ lại phiền 
Biển hoạn đua bơi tài mấy kẻ 
Nỡ nào ngơ lấp, mắt tai riêng! 

Kết quả cuộc vận động quyên tiền được số bạc 23.000 đồng trong lúc thời giá lúa một, hai cắc một giạ. Ông đã quan tâm trông nom, đôn đốc tiến hành công việc một cách chu đáo. Ngôi đền Văn Thánh miếu được trùng tu, tôn tạo lại khang trang, làm tăng vẻ cổ kính, tôn nghiêm của một di tích lịch sử văn hóa. 

Ông Tống Hữu Định là một nhân sĩ, đồng thời là một nghệ sĩ và là một nhà thơ đã có công trong việc bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc của tỉnh nhà nói riêng và của Nam Bộ nói chung. Công ơn ấy, những người đi sau còn nhắc mãi tên ông, còn khắc rõ trong bia đá trên lối vào Văn Thánh Miếu.

Theo Việt Chung – Sách Nhân vật chí tỉnh Vĩnh Long
(Tống Ngọc Nhan sưu tầm)

***
Lời Giới Thiệu: 

Cựu Học Sinh Tống Ngọc NhanTống Ngọc Nhan là cháu nội của Ông Tống Hữu Định,
Tống Ngọc Nhan là Cựu nữ học sinh lớp 6/7, Trường Trung Học Tống Phước Hiệp, 
Niên khóa 1973 -1974 Vĩnh Long, Việt Nam.