Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Thèm


Thèm uống cà phê bên bạn bè
Những ngày tuổi trẻ với đam mê
Chạy rông con phố tìm thi hứng
Cơn gió mùa đông lạnh tái tê

Thèm uống cà phê dọc vỉa hè
Một thời tuổi dại sống thỏa thê
Vị đắng cà phê ôi chuyện nhỏ
Còn vị đắng nào hơn xa quê

Suối Dâu
06/08/13



Một Chiều Đông




Anh ơi hôm nào bên nhau
Đường xưa e thẹn đón chào
Còn nhớ mùi hôn năm nào
Nhìn qua khung cửa
Chiều đã ngả màu
Em lòng vẫn xôn xao!

Em đang đi tìm tuổi thơ
Trên con đường về mộng mơ
Mùa đông Atlanta
Đèn buông bóng mờ
Tưởng như ngày xưa
Còn anh đứng chờ
Nhưng đường Buford
vẫn mình em bơ vơ.

DTTN (Biện Công Danh)
11-12-2013

* Hình phụ bản do tác giả chụp

Amour - Tình Thương




Thơ : Thiền Sư Lương Sĩ Hằng
Nhạc : Quách Vĩnh-Thiện,
Paris le 2 mai 2002.
Tiếng hát : Mỹ Dung.
L'Amour
Poème : Thiền Sư Lương Sĩ Hằng
Musique : Quách Vĩnh-Thiện
Paris, le 2 Mai 2002.
Durant les quatre saisons aux quatre points cardinaux,
Ensemble construisons pour la progression de l'humanité.
Tous les êtres et espèces oeuvrent pour que
Nous avancions avec Dieu et Bouddha sur la voie bénie de lumière.

La loi de la cause à effet conduit l'évolution perpétuelle,
Se disputer ainsi les talents pour démontrer sa puissance et voler à son avantage
Mais se sacrifier sans rancœur ni inimitié,
Et c'est dans l'amour et la vertu que l'on sait reconnaître clairement la grâce bienfaitrice du Ciel et de la Terre.

La loi de la naissance, la transformation et la mort régit universellement,
Pour aider le bon à évoluer et l'âme à discerner le vrai du faux,
La paix apparaît et se manifeste dans toutes les contrées,
L'aurore lumineuse bénie éclot du Ciel.

Comprendre et percevoir le pur et l'impur des deux bords,
Et de manière ordonnée nous ouvrons notre cœur à la sphère spirituelle.
La vérité de Dieu est surnaturelle et infiniment profonde,
L'amour nous aide et construit notre chemin personnel d'évolution.

Le monde de Dieu et Bouddha est pur et solennel,
Dissipe les entichements et efface les antipathies selon notre propre niveau de pratique
Aussi loin et néfastes que soient les luttes et discordes,
Nous arriverons tant bien que mal à bon port.

L'être provient de Dieu,
En se conformant cherche à se rattraper dysharmonieusement.
Le monde terrestre est éclairé par Dieu,
Qui nous montre le chemin pour échapper au malheur et au danger.

Par la pratique nous résolvons nos problèmes,
Et en nous adonnant au Darma du Bouddha, notre attitude est plus bienséante qu'auparavant,
Il faut arriver à comprendre et percevoir le principe originel,
Et recevoir le bel amour de Dieu pour apprécier sa loi divine.

Naturellement nous pouvons évoluer partout,
En nous harmonisant pleinement avec les grandes montagnes et mers profondes
L'énergie a la faculté et capacité de se transformer indéfiniment,
Pour constituer le principe originel dans lequel chaque contrée y vit avec joie.

Thực Hiện: Quách Vĩnh Thiện

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Trăng Non Đầu Tháng


Một mình ngồi ngắm trăng non
Lucerne trở lạnh buồn lòn vô tâm
Hình như nỗi nhớ xa xăm
Gió chuyền lời hẹn vọng âm trở về...

Mây che khuất vẫn trăng thề
Ánh vàng vẫn toả bốn bề đậm sương
Em à em! Thương thật thương
Đôi môi, lọn tóc, con đường em đi

Thương thật thương, lựa chữ gì
Viết lời chân thật cho mi chớp buồn
Để em biết có người thương
Để người xa nhớ vọng hương sắc đời!

Đôi môi chúm chím em cười
Qua phone nghe rõ thật tươi dáng kiều
Anh yêu em, yêu thật nhiều
Tình tha thiết đó từng chiều chờ phone

Một mình ngồi ngắm trăng non
Houston thu úa buồn lòn vô tâm ...!

Thy Lan Thảo


Hạt Mưa Và Nỗi Nhớ - Thơ Kim Oanh - Hương Nam Diễn Ngâm

      Kỷ niệm của một thời để yêu và đáng nhớ. 
      Tặng Nàng Tống Phước Hiệp đường Gia Long,Chàng Kỹ Thuật đường Nguyễn Huệ Vĩnh Long.
      Ngày xưa và mãi mãi...



Hỡi người Kỹ Thuật áo xanh!
Nhớ chăng vạt nắng vàng hanh trưa hè
Râm ran tiếng hát của ve
Ấm lòng những buổi trời se lạnh về

Người đi còn nhớ đường quê
Gia Long, Nguyễn Huệ lời thề năm xưa
Tan trường hai đứa đội mưa
Hạt thương, hạt nhớ, hạt thưa, hạt đầy

Em không giữ trọn đôi tay
Hạt rơi trong gió theo mây khuất ngàn
Người ơi! Tình không viên mãn
Hãy để lời yêu thanh thản trong tâm!

Những đêm nỗi nhớ âm thầm
Xoay theo chiếc bánh lăn trầm thời gian
Nhớ nhung dưới ánh trăng tàn
Tan theo sương lạnh xuôi ngàn về khơi!!!

Thơ: Kim Oanh (Cựu học sinh Tống Phước Hiệp Vĩnh Long)
Diễn Ngâm: Hương Nam (Cựu học sinh Kỹ Thuật Thủ Đức)
Hình ảnh:1/ Tống Phước Hiệp - Lớp 10A4 Niên khóa 1973-1974
               2/ Kỹ Thuật - Lớp 12E Niên khóa 1974-1975

Trang Tình Sử




Tình đã chết, ta đi vào câm lặng
Thời gian trôi như bóng hạc bay qua
Em an vui trong nhung gấm lụa là
Anh tung cánh trên vùng trời cao rộng

Tình sống lại, không còn chôn kín nữa
Dĩ vãng buồn thôi khép lại sau ta
Anh thênh thang hạ cánh đỉnh tháp ngà
Em đón đợi đôi vòng tay rộng mở

Nhưng giờ đây giữa đêm Hè lộng gió
Chuyện tình buồn trở lại xé tim ta
Anh ra đi biền biệt ở phương nào
Em nhỏ lệ trên từng trang tình sử.*


* Lời ru ca bốn mùa trong tình sử/ H.N.T.
ChinhNguyen/H.N.T.
2012-13


Mắt Em Trong




   (Cảm tác từ Lạc Dòng của Lê Kim Hiệp)

Mắt em trong như mảnh trời xanh biếc
Anh, cánh diều lơ lững giữa từng không
Một chớp mắt đủ cành xiêu cánh mỏi
Bay một đời chưa khỏi mắt em trong

Lê Kim Thành

Thơ Tranh: Nợ Đời


Thơ & Thơ Tranh; Kim Quang

Tôi Là Con Thắm, Con Bà Tư Bánh Tằm…

      Chẳng biết chính xác từ khi nào, tôi bắt đầu mắc cỡ khi nghe người ta gọi mình là “con Thắm, con Bà Tư bánh tằm”. Năm đó tôi học lớp 8 trường xã, đã có mấy thằng bạn trong lớp để ý và bạn bè ghép đôi. Tôi nói với má: “Từ giờ trở đi, má đừng bán ở trường con nữa, tụi bạn cứ ghẹo con hoài”. Nghe tôi nói vậy, mặt má buồn hiu: “Vậy rồi con ăn cái gì?”. Thường ngày má vẫn để dành cho tôi một dĩa bánh thật đầy, giờ ra chơi tôi sẽ chạy ù ra ăn. Hôm nào ngán thì tôi xin tiền má để mua bánh mì hay bánh lọt mặn. “Bánh của má có nước cốt dừa, ngán muốn chết. Thôi, con không ăn nữa đâu”  -tôi vùng vằng.
     Không bán ở trường, má tôi phải đẩy xe bánh tằm qua tận bên xóm Nhà Thờ rất xa. Tuy vậy có nhiều hôm bán ế, má ăn bánh tằm, nhường cơm cho anh em tôi. Anh hai thương má, cũng nhất quyết đòi ăn bánh tằm. Còn tôi thì vừa nhìn đĩa bánh, vừa lắc đầu rùng mình: “Con thấy bánh tằm là ngán tới óc o”.

     Má không nói gì, chỉ lẳng lặng chan nước mắm, lùa vội mấy cọng bánh tằm rồi đi dọn dẹp, ngâm bột, khìa thịt, xắt bì… Anh hai lườm tôi: “Mày ngán thì tao không biết ngán chắc? Nói mà không sợ má buồn. Đồ dở hơi”. Tôi sửng cồ: “Ngán thì nói ngán, mắc gì không được nói? Anh mới là đồ dở hơi!”. Tôi nói vậy rồi bưng chén cơm bỏ ra hàng ba.
      Ba mất khi tôi mới 2 tuổi. Nhà nội nghèo nên má dắt anh em tôi trôi dạt từ Châu Đốc xuống Bạc Liêu. Má học được cách làm món bánh tằm bì và nuôi anh em tôi khôn lớn bằng thứ bánh đơn sơ ấy. Tôi nhớ có lần má nói: “Tụi con ráng học để sau này có cái nghề mà sống sung sướng tấm thân. Thấy con ông Ba không? Toàn kỹ sư, bác sĩ…”. Anh hai thương má nên học rất giỏi, năm nào cũng lãnh thưởng. Còn tôi thì thất thường, lúc được lúc không. Thế nhưng học xong lớp 12, anh hai nhất quyết nghỉ học, trốn ra thị xã đi làm phụ hồ để kiếm tiền phụ má. Biết tin, má giận lắm.

       Một bữa, tôi chuẩn bị đi học thì má bảo: “Cơm nước má nấu sẵn rồi, đi học về thì dọn ăn rồi học bài. Má đi kiếm anh hai”. Nói rồi má tất tả xách cái nón lá đi bộ ra chợ để đón xe lên thị xã. Tôi thắc mắc không biết làm sao mà má tìm được anh hai giữa nơi đông đúc, xô bồ ấy nhưng không kịp hỏi. Tôi không ngờ đó là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy cái dáng tảo tần của má. Chuyến xe lam về thị xã hôm ấy bị lật vì chở quá đông. Trong số 2 người bị thương nặng nhất và không qua khỏi có má tôi. Hôm đó, tôi chờ tới chiều, tới tối mà không thấy má về, trong bụng đã lo. Tới khuya thì anh hai đưa má về. Có nhiều người quen ở xã cùng đi với anh. Khi biết má gặp nạn và không trở về nữa, tôi đã ngất đi. Còn anh hai tôi thì mắt đỏ ngầu dù tôi không hề thấy anh khóc.

       Lo cho má xong xuôi, một bữa tôi đi học về không thấy anh hai đâu thì cuống cuồng đi tìm. Với tôi bây giờ, nỗi sợ hãi lớn nhất là anh hai lại bỏ đi. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Tôi tìm thấy anh hai đang gục đầu trên mộ má. Anh khóc thành tiếng, khóc rất to. Tôi cũng vậy. Vừa khóc anh vừa nói, giọng khàn đặc: “Tại anh, mà má mới chết”. Tôi không biết nói gì nhưng trong bụng cũng thầm trách anh. Giá như anh đừng nghỉ học trốn ra thị xã thì má đâu có đi tìm để rồi không về nữa…
      Mấy hôm sau, anh hai tôi dựng cái chòi nhỏ ở chợ xã. Anh lần mò bắt chước má làm bánh tằm bì để bán. Bánh anh hai làm lúc đầu không ngon lắm, nhưng bà con thương nên rất đắt hàng. Dần dần, tay nghề của anh được nâng lên. Khi tôi học cấp ba, rồi lên Cần Thơ học đại học, thì anh cũng ra thị xã mở quán bánh tằm bì. Rồi anh cưới vợ. Lâu lâu anh lại làm bánh tằm bì mang lên ký túc xá cho tôi đãi bạn bè. Từ khi má mất, đĩa bánh tằm bì nào của tôi cũng chan đầy nước mắt…

     Tôi đã đi nhiều nơi, chỗ nào có bánh tằm bì tôi cũng ăn thử để so sánh với bánh của má và anh hai. Thật tình, tôi không thấy ai làm bánh ngon như má. Bánh tằm của má làm bằng bột gạo. Hồi trước anh hai chuyên trị bị má bắt xay bột. Tôi nhớ má cột cái bao bồng bột ở miệng cái cối đá để hứng bột chảy ra; xay xong thì cột miệng bao lại thật chặt rồi lấy cái cối dằn lên cho nước chảy ra bớt. Sau đó má khuấy bột rồi đổ vô khuôn ép cho ra những sợi bánh dài, to hơn cọng bún một chút. Xong xuôi má cho bánh vô xửng hấp chín rồi để nguội. Bánh tằm của má dai dai, giòn giòn, thơm thơm; nhai lâu cứ ngọt lịm trong miệng…

      Bì má làm cũng không giống ai. Má chọn một nửa thịt đùi, một nửa ba rọi ướp cho thật thấm mới khìa nước dừa xiêm rồi xắt sợi. Da heo má cũng mua về tự tay luộc, xắt… Hồi tôi còn nhỏ, má hay nhờ tôi ra lò heo của bác tư cuối xóm để lấy da heo về làm bì; lớn hơn một chút, tôi mắc cỡ không chịu đi nên anh hai phải “bao thầu” luôn. Có lần anh bực mình cốc vô đầu tôi đau điếng: “Cái thứ làm biếng như mày mai mốt bốc đất mà ăn”. Tôi vênh mặt: “Mai mốt em làm bác sĩ, tới chừng đó anh đừng có nhờ em chữa bệnh nghen”. Anh hai “xì”một cái: “Bản mặt mày giỏi lắm là bán bánh tằm bì, chớ làm bác sĩ ai mà dám đưa cho mày chữa bệnh? Đồ làm biếng”. Tôi công nhận mình làm biếng thật, vì tôi nghĩ có má và anh hai lo hết mọi chuyện rồi. Tới chừng những người ấy không có bên cạnh, tôi mới thấy hụt hẫng. Tôi nhớ có lần, má kêu tôi xuống bếp: “Xuống đây má chỉ cho làm nước mắm nè. Con gái, con đứa, ít ra cũng phải biết làm chén nước mắm cho ngon…”. Tôi viện cớ mắc học bài nên không chịu xuống cho má dạy.

      Nhưng phải công nhận là nước mắm má làm để chan bánh tằm bì hoặc ăn cơm tấm thì ngon tuyệt. Tỏi ớt má đâm nhuyễn chứ không bằm, nước dừa tươi má nấu cho kẹo lại, chứ không dùng nước sôi để nguội pha nước mắm như nhiều người vẫn làm. Vì vậy mà nước mắm của má sền sệt chứ không lỏng bỏng. Cả nước cốt dừa để chan vô bánh tằm, má cũng chăm chút thật kỹ: hành tăm xắt thật nhuyễn, nêm nếm vừa ăn, không đặc cũng không lỏng quá, sao cho mỗi đĩa bánh tằm chỉ cần chan một muỗng nhỏ là đủ. Hồi má mới bán bánh tằm bì, tôi rất thích chan nước cốt dừa vô cơm để ăn. Không biết có phải do ăn nhiều quá mà lớn lên một chút thì tôi lại thấy ngán…

      Tôi đã lớn lên bằng những dĩa bánh tằm bì của má và anh hai. Giờ đây tôi đã trở thành bác sĩ như má hằng mong muốn, nhưng trong lòng tôi chưa bao giờ vơi đi những niềm ân hận. Năm nào về đám giỗ tôi cũng ngồi thật lâu bên mộ má để thầm thì những lời mà khi còn sống, má chưa bao giờ được nghe… Tôi nhớ dáng má thập thò trước cổng trường chờ giờ ra chơi để đem bánh tằm cho tôi ăn sáng; tôi nhớ những bước chân rón rén dù má phải nhấc cái càng xe lên để không gây ra tiếng động, làm mất giấc ngủ của tôi mỗi sáng sớm; tôi nhớ những ngày mưa dầm bán ế, má ăn bánh tằm thay cơm…
       Giờ đây, có nhiều hôm tôi bỗng thấy thèm quay quắt những cọng bánh tằm của má, thèm nghe tiếng má từ dưới bếp vọng lên nhắc tôi đi ngủ, thèm được má sai đi xuống xóm dưới lấy da heo về cho má làm bì… Và tôi thèm được nghe người ta gọi tôi là: “Con Thắm, con Bà Tư bánh tằm!”…Đối với tôi, giờ đây đó là điều đáng tự hào nhất…

Hồng Thắm
(Vĩnh Trinh chuyển bài)


Sinh Kế Trên Sông Long Hồ - Vĩnh Long

      Chỉ một đoạn ngắn rồi vào sông cái lớn, sông Long Hồ chuyển phù sa, chuyển tôm cá cùng lưu thông theo dòng với đủ loại thuyền ghe xuôi rồi ngược với nông thủy sản đến các nơi chợ gần chợ xa.
      Bao đời nay cuộc sống vẫn vậy, là cư dân địa phương, thuở còn thơ đến bạc đầu, nhà bên sông, ngắm mãi bốn mùa sinh hoạt mà trong tôi không cảm giác chán bao giờ, tôi yêu lắm quê tôi, nơi sinh hoạt trên sông giữa hai chiếc cầu bắc qua sông Long Hồ: Cầu Thiềng Đức và cầu Bạch Đằng(bắt qua từ chợ Cá Vĩnh Long sang cuối đường Lê Minh Thiệp - Thiền Đức). Khoàng cách của cây cầu không quá 500m.
      Mời các bạn cùng xem ảnh.


Phía bên kia là chợ cá Vĩnh Long - Ông chài lưới đã qua đời.

Đời sống của gia đình kiếm sống trên sông 

Gở lưới - Phía bên kia sông là khu phố chợ 

Kéo lộp lưới lên

Một góc phà cũ bên kia sông từ bên Thiền Đức chụp qua

Đây là người con của ông Chài lưới hình số 1

Quăng lưới

Bên kia sông là cảng cá, ở đây sinh hoạt suốt đêm để xuất cá đi khắp nơi

Hai chị em trên ghe cào - ở cầu Kè 

Hai chị em kéo cào tay




Trương Văn Phú

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Đôi Bạn


Đề Thơ: Nam Chi

Chén Ngọc


Em đã tiễn người chiều hôm trước
Còi tàu như xé nát lòng nhau
Người đi – trên bước đường xuôi ngược
Em về – ngày tháng nối theo mau.

Một năm – hai năm – ba mươi năm
Ai dám chờ ai? Ơi cố nhân.
Bỗng nhiên tin mới từ đâu lại
Người có vui và thấy bâng khuâng?

Bao nhiêu câu chữ – bao nhiêu lệ
Em sợ vô tình . . . chén ngọc tan
Nhớ câu Kiều nói ngày tái hợp:
Không gìn cho khéo – lại tan vàng?

Đâu người – đâu dấu yêu ngày cũ?
Phương nào thương nhớ phương nào đây

Hồ Việt Kim Chi



Chỉ Còn Ảo Vọng Mưa Ngâu


Nhạc và Lời: Dương Thượng Trúc
Tiếng hát: Quỳnh Lan
Thực Hiện: Dương Thượng Trúc

Tháng Chín Vancouver


(Chị Maria Nguyễn Thị Ngọ,vợ anh Lâm Hảo Dũng
qua đời ở Vancouver tháng 9/2012 )

Tháng tám qua nhìn đôi mắt cũ
Chị nằm buồn đỏ đất Pleiku
Núi xuôi tay đứng chờ giông bão
Rừng sắp thu mùa lá sắp khô

Chiều say hè muộn cây say nắng
Tôi nặng bàn chân chạnh bước về
Nhớ người bỏ núi xuôi châu thổ
Ăn chén canh đồng sao nhớ quê !

Tháng chín lời kinh đầy bịnh viện
Chị nằm đôi mắt Biển Hồ sâu
Bàn tay đưa khói sương ly biệt
Núi đứng đau mòn con mắt nâu

Tháng chín hàng cây buồn xuống lá
Chị nằm vạt áo xếp bên tay
Mắt như rừng xám chiều mây phủ
Gỗ khép trăm năm lạnh phút này

Tháng mười cây dẩn mùa thu tới
Đất khách lạnh người mộng lãng du
Gát tay khua chạm hồn quê nhỏ
Chị nằm như đất đỏ Pleiku…

Lâm Hảo Khôi
(tháng 11-2012)


Săn Chó Chó Săn



Nhớ thuở còn làm thân chó dại
ngắm trăng lên tự tại đại ngàn
cùng gắn bó sớm hôm no đói
bên suối reo chờ tiếng hú tình nhân

Bỗng một chiều rừng thu bảo tố
ta lạc bầy vào củi xiềng gông
loài người đặt tên và vòng xích cổ
dạy nhe nanh làm kiếp chó săn

Rồi dần quen thịt thừa xương gặm
cũng lần quên cơm tẻ nồi kho
ghét tiếng hú bầy đàn xưa cũ
người dạy ta cắn xé gầm gừ

Cũng đến lúc răng cùn nanh rụng
về chốn xưa đồng loại lánh xa
trước quen thói cậy quyền ngốn ngáo

giờ nằm tru......tiếng chó săn già.

Phủ Hiền