Thứ Tư, 3 tháng 9, 2025

Nếu Như Ngày Ấy…


Tấm hình trẻ trung và khắng khít của cặp Tân và Yến rơi ra khỏi quyển album khi tôi đang sắp lại ngăn tủ; ký ức chợt quay về 25 năm trước, ngày chúng tôi họp nhóm bạn học cũ lần đầu tiên tại Orange County, Mỹ, ở nhà của cặp Hà-Tuấn sau 15 năm chia cách kể từ ngày miền Nam thay áo đỏ, mỗi người chúng tôi bị phân tán, như bầy nai lạc.
Tôi nhớ lúc đó chúng tôi đứa nào cũng mới lập gia đình được vài ba năm, bọn con gái ở lứa tuổi 27, 28, tứ tán khắp nơi trên thế giới, ngày đó ai cũng dắt chồng đi cùng trong những buổi họp lớp cũ.

Từ ngoài cửa bước vào, Yến với dáng người mảnh khảnh, tầm thước, khuôn mặt sáng, cặp mắt to thông minh, tôi đã nghe tiếng cô ta nói với chồng khá to:
-Anh cất cặp mắt kiếng này vào ví dùm em nghe, trời hết nắng rồi.
Nhìn ra phía sau, Tân chồng Yến đang xách ví dùm vợ, lật đật đón cặp mắt kiếng của vợ đưa ra sau, ngoan ngoãn mở ví cất vào trong.
Vừa đến cửa nhà Hà, Yến đã cười tươi rộn rã:
-Hello! Các bạn đông vui quá, để mình xem có nhận ra tất cả các bạn không nghe, đã 15 năm rồi mình không gặp nhau!… Có phải Hạnh, Tâm, Thảo, Vi… Thật là cái duyên gặp gỡ hôm nay, phải nói là tìm nhau như thể tìm … chim.
Rồi Yến tiếp theo cảm hứng vừa đặt vài câu thơ vừa ngâm:
–Tìm nhau như thể tìm chim
Em đi mãi vẫn là người lạ
Cứ ngỡ gần, hóa ra muôn ngả
Tìm nhau hoài-giọng hát cũng bay xa…
Hà chạy đến, giang hai tay ôm Yến:
-Nhỏ Yến này vẫn như xưa, lúc nào cũng vui vẻ hát hò hết, mi vẫn vậy không thay đổi sau 15 năm đó nhe, chỉ có khác mái tóc cắt ngắn thôi; tìm nhà có khó không? Sao không thấy mi giới thiệu chàng mà đứng đó ngâm nga gì đó!
-Chàng của ta hả? mọi người sẽ biết thôi… Người nào ít nói nhất, ưa làm và yêu vợ nhất… là chàng đấy!

Tân đứng sau lưng Yến, nhoẻn cười như câu chào mở đầu với mọi người, ngại ngần lùi lại phía sau, tìm cái ghế trong góc ngồi xuống, bọn con gái chúng tôi lại ùa vang:
-Anh Tân ơi, chắc ở nhà con Yến nó nói hết rồi, không cho anh chút thì giờ nào nói nên cứ phải yên lặng phải không? …Nhỏ Yến này lanh quá đi thôi, tụi mi đã có baby chưa?
-Dĩ nhiên là xong xuôi rồi, tụi này làm sớm nghỉ sớm mà!
-Một đứa thôi hả? trai hay gái?
-…Hai chứ! Đều là con gái hết. Tụi này fermer boutique (ngưng) rồi!
-Hai con gái! Sao nhanh thế? Trông tụi mi như cặp vợ chồng son, tung tăng hạnh phúc bên nhau, vậy ai trông cháu cho hai anh chị đi chơi đây?
-Thật ra mà nói tụi này làm liền tù tì hai đứa, tụi nó cách nhau một tuổi rưỡi thôi, làm luôn một lúc để nghỉ sớm; ông bà nội canh cháu thành ra tụi này chỉ lo kiếm tiền thôi… Ở nhà có ông bà nên đỡ lắm, chiều đi làm về là có cơm nước hết, các cháu cũng được tắm rửa thơm tho, mình chỉ chơi với cháu một lúc là cho tụi nó lên giường ngủ rồi…. Còn Hà và Tuấn thì sao?
-Tụi này chỉ có một cậu con trai bốn tuổi, cháu đang ở với ông bà ngoại hôm nay vì biết tụi mình bận rộn với bạn bè nên anh Tuấn đã gởi cháu đến ông bà từ ban sáng rồi, chúng mình mặc sức đùa giỡn cả đêm… Một đứa thôi thấy cũng đủ lắm luôn vì nuôi con bên này bao nhiêu là trách nhiệm.

Bọn con gái chúng tôi quấn lấy nhau nói chuyện, hỏi han tâm sự cho bõ công đi máy bay thật xa để gặp; lúc ngồi vào bàn ăn, Tân gắp đồ ăn vào bát cho vợ, Yến không muốn ăn, nên gắp trở lại bỏ vào bát của Tân, tôi thấy Tân ngồi cặm cụi bóc vỏ tôm cho Yến, cắt nhỏ miếng thịt gà, cẩn thận lấy canh cho Yến, còn cô nàng cứ tỉnh bơ nói cười, còn ai có phước hơn Yến trên đời này nữa; những mẩu chuyện nàng kể rất có duyên, chọc cho cả bọn cười ròn rã, no cả bụng!
Các bạn trong buổi tiệc hôm ấy, ai cũng công nhận Tân-Yến là cặp vợ chồng hạnh phúc gương mẫu, các ông chồng phải noi theo, ít nói, làm nhiều, biết săn sóc và yêu thương vợ như thế; cứ vợ ở đâu là chồng theo đấy!

Sáng hôm sau, đúng 8:30 chúng tôi đã lên xe đò Hoàng mà Hà -Tuấn đã đặt, đi chơi chung với nhau ba ngày ở Las Vegas, Hà-Tuấn đã đặt sẵn một căn nhà rộng gồm ba phòng nhỏ, có bếp, phòng khách và hai buồng tắm. Mười lăm năm, nhóm nhỏ Couvent Des Oiseaux, chỉ những nữ sinh mới họp lại nên đứa nào cũng muốn ở bên nhau lâu nhất có thể, chắc gì sau này có dịp gặp nhau nữa; nhắc lại bao chuyện xưa kia vẫn chưa hết, nhất là bây giờ đứa nào cũng có chồng con, chúng tôi trải bầy tâm sự suốt đêm vẫn chưa thấy đủ, sáng lên xe ai nấy cũng cầm trên tay một ly café đen mà miệng ngáp muốn trẹo quai hàm.
Gần đến giờ xe chạy, ông tài xế đi kiểm một lượt, nói vọng lên:
-Hình như mình thiếu một cặp phải không?… tôi đếm đi đếm lại sao thấy có 14 người vậy cô Hà?
-Vậy hả, đâu để tôi điểm danh xem ai vắng mặt thì biết liền chứ gì!
Khi gọi đến tên:
-Yến-Tân!
-…
-Yến -Tân có mặt không?
-…
-Ủa sao giờ này gần 9:00 rồi mà cô nàng cũng chưa ra vậy ta! Chả lẽ còn ngủ sao chứ? Hôm qua Yến ngủ cùng giường với Thảo mà?
Thảo giải thích:
-Sáng khi Thảo dậy thì đã không thấy Yến rồi, tối qua tụi này nói chuyện mà không biết bao giờ ngủ luôn nữa vì miệng cứ nói mà mắt thì nhắm tịt!

Cả xe cười ầm với lời giải thích của Thảo. Bỗng từ đàng xa thấy Tân tay xách nách mang túi, giỏ treo từ trên cổ đến hai vai, còn hai tay thì cầm nào là mấy khay nước mía và cả bịch những đĩa bột chiên chồng lên nhau, hớt hơ hớt hãi chạy vội đến:
-Xin lỗi quý vị đã chờ nhen, tại…cô hàng nước mía chỉ mở cửa lúc 9:00 mà thôi đó!
-Ủa còn Yến đâu?

Nàng Yến lững thững hiện ra sau bụi cây hoa giấy màu tím đỏ, nàng đang tự selfie, nhoẻn cười chữa thẹn, như lời xin lỗi:
- Quý vị biết không, mình phải hy sinh dậy sớm đi mua cho mỗi cặp một ly nước mía Viễn Tây để mình nhớ lại mùi vị nước mía hồi xưa mình uống ở trước cổng trường đó, còn bắt anh Tân chạy qua quán đối diện gần đó mua bánh bột chiên với trứng gà để cho những bạn từ bên Tây và Canada thưởng thức, thấy tụi này dễ thương chưa, vậy đừng trách tại sao trễ giờ nhe.
Tiếng Vi vừa cười vừa trêu Yến:
-Đã trễ rồi mà ai còn đứng làm điệu bên khóm hoa giấy đấy?
-…Euh… hoa giấy đẹp thế này, bên Thụy Sĩ không tìm ra đâu nhé, mình phải thừa cơ hội làm vài « bô » chứ!
Cả bọn con gái nhao nhao lên như cái chợ :
-Từ ngày hôm qua đến giờ chúng mình chưa chụp hình người đẹp Yến với chàng hoàng tử Tân để cám ơn lòng tốt của hai vị, tụi mình sẽ không bao giờ quên buổi họp mặt vui và dễ thương của ngày hôm nay suốt đời này!… Hai bạn ra đứng đây cho tụi này chụp một cái đi!

Rất tự nhiên, Yến và Tân đứng sát rạt, hai má kề vào, hai cánh tay choàng vào vai nhau, đứng giữa lòng xe ngay lối đi của chiếc xe đò, làm dáng cho chúng tôi chụp họ một cái.

***
Hai mươi lăm năm vụt qua kể từ ngày họp bạn, chúng tôi không hề gặp lại, mỗi người một con đường, bận rộn công việc, cuộc sống, gia đình, nhưng trong mỗi đứa đều nghĩ rằng các bạn của mình đều vui vẻ, hạnh phúc, hanh thông như những tiếng cười ròn rã của ngày đáng nhớ ấy.
Con cái đã lớn, ra riêng, chúng tôi xấp xỉ tuổi hưu 60, kẻ còn đi làm, người lấy hưu non để hưởng cuộc đời sau bao nhiêu năm cống hiến cho xã hội nơi mình cư ngụ.

Hôm nay ngồi xếp lại sách vở, tấm hình Yến-Tân chợt rơi ra, vẫn nụ cười rạng rỡ ấy, hai mái đầu tựa vào nhau, tôi chợt nhoẻn cười với tấm hình, nghĩ đến kỷ niệm xa xưa, mong cho bạn mình vẫn mãi bình an, hạnh phúc như ngày nào.
Tại sao tấm hình ấy lại rơi ra khỏi tập album mà không phải là tấm nào khác? Như một điềm báo trước; một người bạn học cũ, Như Hạnh bỗng tìm lại tôi trên facebook, sau những lời thăm hỏi, nhắc lại buổi họp mặt cách đây 25 năm tại nhà Hà-Tuấn, Như Hạnh nói với tôi:
- Ngọc có tin của ai trong mấy đứa tụi nó kể từ ngày đó không?
- Không Hạnh, mình đi làm rồi lo cho gia đình, cuộc sống bộn bề nên không có thì giờ nói chuyện với ai cả, nhưng theo mình thì chắc mọi người đều khỏe mạnh và bận việc như tụi mình thôi.
- Bây giờ về hưu rồi nên mình mới có chút thì giờ nói chuyện với Hà tuần vừa qua, Hà sắp về hưu rồi, nàng kể về cặp Yến-Tân, mình nghe mà không ngờ đó là sự thật luôn đó!
Tôi tò mò:
- Ủa chuyện gì mà có vẻ bí mật vậy?…
- Sau chuyến đi chơi họp mặt hồi đó, Yến có bầu một đứa bé trai, ba mẹ chồng mừng vui lắm, nhưng cậu bé này rất khó nuôi, bệnh hoạn hoài, mẹ chồng mới khuyên Yến nghỉ làm, ở nhà trông con, để mình Tân và ba chồng đi làm nuôi cả nhà cũng được.
- Vậy rồi có đủ tài chánh cho cả nhà 7 người không? Bác trai đã lớn tuổi, chỉ làm lương minimum thôi, cái gì cũng dựa vào mình Tân, sao gánh hết nổi?
- Cho nên từ đó bắt đầu sinh ra cãi nhau, thiếu thốn làm con người ta mất nụ cười, mặt mày ủ sầu, quạu cọ, bữa cơm gia đình không còn vui nữa; Tân buồn chán, ra ngoài uống rượu, gặp bạn xấu, từ đó gia đình bất hòa. Tân trong một lần say, đã tâm sự với cô chủ quán rượu, cô này trẻ hơn Yến, xinh đẹp và rất có bản lãnh, hai người đồng cảm rồi tiến đến yêu nhau.

Sáu tháng sau, Tân về nói chuyện ly dị với Yến, nàng khóc hết nước mắt, đau đớn như những vết dao cứa vào tim, Yến không ngờ người chồng mình hết mực yêu thương, tin tưởng lại có thể bỏ nàng khi các con còn nhỏ, cần sự chở che của người cha; Tân còn phũ phàng nói Yến vừa già, xấu, không biết sửa soạn như ai đó để làm cho người đàn ông hãnh diện khi ra ngoài…
Yến cố nài nỉ chồng ở lại chờ các con lớn một chút rồi cô sẽ ra đi, nhưng Tân không chịu, ba mẹ Tân cũng buồn lắm, khuyên Tân rất nhiều, nhưng cũng không lay chuyển được ý Tân, Yến đau khổ, chán ngán ôm ba đứa con ra khỏi nhà ba mẹ chồng!

Tôi bực tức dùm hoàn cảnh bạn, cắt ngang lời của Như Hạnh:
- Gì kỳ vậy! Rồi bây giờ Yến sống một mình tần ấy năm với ba đứa con hả? Thật thương cho số phận của Yến quá, nhìn cô ta mình không thể nào nghĩ hậu vận của cô sẽ khổ như vậy, một người con gái lúc nào cũng tươi vui, cặp mắt sáng, thông minh, đem đến cho mọi người xung quanh sự ngọt ngào ấm áp, làm sao có thể khổ được, mình không thể nào tin được đó!… Nếu là người phụ nữ không nhan sắc, không biết cư xử, ăn nói vô duyên… thì còn có thể nói là hậu vận xám ngoét, đàng này Yến rất biết cách cư xử, chìu bạn bè, chắc chắn phải là người vợ tốt, người mẹ tuyệt vời, chỉ trách Tân có mới nới cũ, phụ tình người con gái mà hắn đã từng theo đuổi cả mấy năm trời khi còn học ở phổ thông; vả lại cuộc đời còn dài, chắc gì Tân mãi hạnh phúc bên cô chủ tiệm rượu!

- Đừng vội tội nghiệp cho Yến nhé, ông Trời nhìn thấy tất cả nên đã run rủi cho cuộc đời của Yến rất sáng sủa, nghe tiếp nè:
- Yến đau khổ sau khi đem ba con nhỏ ra ngoài sống, ba mẹ chồng cũng tìm cách giúp đỡ Yến và các cháu buổi ban đầu nên cũng không đến nỗi cơ cực lắm. Dĩ nhiên là rất bận rộn vì chỉ có một mình Yến đi làm, nuôi con, dắt thằng cu bé đi nhà trẻ, đứa lớn đi học, bếp núc… Cuộc sống trôi qua tối mắt tối mũi như thế làm nàng mạnh mẽ trưởng thành hơn, không còn thì giờ nhớ chuyện xưa mà buồn nữa, Tân cũng đến thăm con mỗi hai tuần, chàng tỏ vẻ hối hận muốn trở lại với vợ con vài năm sau đó, nhưng Yến nhất định không mở lòng.

Cho đến khi hai cô bé lớn 16,17 tuổi, tức là 10 năm sau, trong lúc Yến ngồi chờ hai con gái bên ngoài nhà của người bạn làm tiệc sinh nhật, để đón về thì tình cờ nàng thấy một người đàn ông khoảng 70 tuổi, đang ngồi ở ghế đối diện trong một công viên gần đó bỗng nhiên lăn đùng xỉu ngay trước mặt, sợ hãi và lo lắng, nàng hốt hoảng chạy tới gọi và lay mãi, không thấy ông cử động, nàng đã bấm gọi ambulance đến cấp cứu… Ông bị bệnh tiểu đường, bữa hôm đó vì chỉ số đường xuống quá thấp nên ông đã ngất xỉu, may là nhờ Yến gọi cấp cứu kịp thời, chứ không thì cái mạng ông không còn nữa.

Theo lời Hà kể thì vợ ông Dzũng mất đã khá lâu, ông vẫn ở vậy vì trong lòng hình bóng người vợ vẫn ngự trị. Khi gặp Yến, ông rất mến Yến qua cách cư xử chân tình, từ từ tình cảm của ông đối với nàng càng thêm sâu đậm; mỗi lần đến nhà Yến ăn cơm chung gia đình với các cháu nhỏ, ông cảm thấy rất vui như sống lại tình gia đình nồng ấm hồi xưa khi vợ ông còn sinh tiền, rồi ông đã bất ngờ ngỏ lời cầu hôn Yến!

Việc này xảy ra quá nhanh làm Yến ngỡ ngàng, nhưng suy đi nghĩ lại cảnh một mình nuôi con thật cực nhọc, nàng thực sự cần một bờ vai, người chia sẻ những ngọt bùi của cuộc sống, nàng nói chuyện với các con, và đã chấp thuận lời cầu hôn của ông Dzũng.
-Vậy tốt quá rồi, đúng là happy ending; chắc Yến có cuộc sống hạnh phúc đủ đầy hả Như Hạnh, xin chia vui cùng hạnh phúc của nàng!
-Tuy có lớn tuổi hơn Yến đến một con giáp nhưng bề ngoài ông không già lắm, ông là một thương gia nên khá chải chuốt, lại là chủ của một dẫy nhà hàng ở Florida, người ta nói ông là nhà triệu phú… Nàng Yến nhà mình đã hết cơ cực, từ con bé lọ lem, một nách ba con, bước lên thành bà chủ của dẫy nhà hàng nổi tiếng!
-Wow, chuyện như chỉ có trong tiểu thuyết ấy, chúng mình gặp lại nhau cách đây 25 năm, đứa nào cũng vui vẻ, hạnh phúc, không ngờ bẵng đi một thời gian, tất cả thay đổi một cách chóng mặt, kẻ lên voi, đứa xuống chó… Cũng mừng cho Yến có cuộc sống yên phận bên người chồng đại gia!
-Chưa hết đâu…
-Ủa còn chuyện gì nữa? Mình tưởng Yến sống an phận bên chồng giàu có là xong rồi chứ!
-Còn Tân bây giờ mới thấy rõ bộ mặt thật nè!
-Vậy sao, đã ly dị rồi đâu còn mắc mớ gì nữa đến nàng Yến?
-Nói như mi thì trên đời này đâu có cần luật sư hay tòa án làm gì. Mi biết không, Tân sau khi lấy cô chủ tiệm rượu, mới thấy mình không hợp chút nào, vì Tân là người ít nói, mà ra tiệm làm giúp người yêu thì phải « nói » chứ mang khuôn mặt lầm lì thì làm sao có khách! Bị khách chê mấy lần với cô chủ tiệm, cô này thấy tiệm không khá vào những ngày Tân đứng quầy, tình cảm không còn đậm đà nữa vì chẳng lợi dụng gì được nơi Tân, hai người mau chán nhau, tan rã; Yến không chấp nhận sự hối lỗi quay về của Tân, thất vọng, chàng bỏ xứ, đi làm ăn xa ở Mexico, nghe nói cùng với người ta trồng …cỏ gì đó cho mau giàu, rồi bị cảnh sát bắt cả đường dây, bây giờ ngồi bóc lịch!

-Trời ơi, đang có một gia đình thật đẹp mà ai cũng ngưỡng mộ, bỗng nhiên lại thành kẻ tù tội, trắng tay! Chắc chàng ta hối hận lắm há!… Có ai học được chữ ngờ há, ông Trời làm khó con người quá!
-Ông Trời cho mình trăm năm để sống, Ông muốn xem mình cư xử ra sao, làm những gì, có ích, hay có hại cho xã hội và những người chung quanh, Ông thấy hết đó, Ông sẽ trừng phạt mình nếu thấy mình làm những điều xấu, ban đầu cho mình vài bài học tiêu cực, nếu mình không biết quay lại con đường chính nghĩa thì Ông sẽ thẳng tay ra đòn, chứ chả cần chờ đến kiếp sau cho lâu nữa!
- Hahaha mi nói cứ như là… cố vấn của ông Trời sai xuống vậy đó!
- Ta nói thật, mi xem cuộc đời của Yến-Tân đấy thôi, nếu có gì trắc trở khó khăn trong cuộc sống thì phải cùng nhau vượt qua chứ, tại sao thấy khó là bỏ nhau, là đạp đổ để một mình đi trên thảm đỏ, hưởng sung sướng mà bỏ bạn? Nếu Tân đối xử tốt với Yến, vẫn cùng nhau vượt qua cái vận mệnh gập ghềnh lúc ấy thì bây giờ cả hai có thể có một gia đình đẹp với ba con đã lớn, vào đại học làm rạng danh cha mẹ rồi.
- Cuộc đời bao giờ cũng có chữ Nếu là vậy mà… Hôm nay hai đứa mình sao tám chuyện thiên hạ ghê nơi. Hổng biết nhỏ Yến có hắt xì không há!… Còn mi thì sao nè, không thấy nói?
- Ôi, ta … ngày nào cũng như ngày nấy, mỗi ngày tìm một niềm vui …

Sáng ra thở nhẹ một hơi,
Biết ta còn sống giữa đời là may.
Không mong thắng, chẳng cần hay,
Lặng nghe từng khúc mây bay giữa trời.

Chuyện gì đến, cứ để trôi,
Giữ tâm như nước, chẳng vơi chẳng đầy.
Tùy duyên – hạt nắng trên tay,
Cũng là đủ ấm tháng ngày thong dong.

(Montreal, June’25)
Sỏi Ngọc


Thứ Ba, 2 tháng 9, 2025

Có Khi Nào -Thơ: Đinh Tuấn - Nhạc: Phạm Anh Dũng- Hoà Âm: Duy Cường - Ca Sĩ: Anh Ngọc


Thơ: Đinh Tuấn
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Hoà Âm: Duy Cường
Ca Sĩ: Anh Ngọc

Mãi Còn Thương

  

Bên song héo hắt lạnh hơi sương
Quạnh vắng mênh mông lặng lẽ buồn
Tiễn biệt người đi hồn mộng tưởng
Vấn vương kẻ ở dạ hoài vương
Từng đêm ôm bóng hương mùi nhớ
Mỗi khắc mơ hình… ảo ảnh suông
Dẫu biết gặp nhau lòng rất ngượng
Nhưng tim in mãi dáng người thương.

Kim Oanh



Tôi Từ Đâu Tới



Tôi từ đâu tới mà bào mòn mặt đất
Trồng cây rau thơm để nhớ mẹ già
Thời gian qua hao mòn bao ký ức
Thân phận lưu đầy thấm đậm xương da.

Tôi từ đâu tới mà chập chờn xa lạ
Đi mãi suốt đời không về tới quê cha
Im lặng quá! một đời qua im lặng
Để hoang vu sông núi bóng dương tà.


Tôi từ đâu tới mà sông cùng biển tận
Gánh nước tưới rau để nhớ quê nhà
Cọng rau héo rồi tình tôi cũng héo
Cuối cùng còn lại buồn bao la.

Luôn lỗi hẹn nên đời không dám hẹn
Xin thứ tha cho mấy nỗi thật thà
Xin suốt đời làm người gánh nước
Rồi rau thơm cũng có dịp đơm hoa.

Xin tha thứ vì thơ không niêm luật
Viết vội vàng để nhớ mẹ thương cha
Tháng Tám trời mưa bão bùng chất ngất
Nghe não nề dương thế lắm can qua.

Đăng Nguyên


Đông Ơi! - Thu Ơi!


Đông Ơi!

Ngọn gió đông uốn vòng đời phiêu lãng
Những tàng trơ tuyết lệ mắt rưng rưng
Trên thinh không vắng nhạn tiếng vang lừng
Nơi chốn cũ bao điêu tàn chứng tích

Kim Phượng
***
Cảm Tác:

Thu Ơi!

Gió Thu ơi! Heo may về man mác
Lá vàng rơi xao xác tựa lệ rưng
Trên không trung mây trắng quyện khôn ngừng
Người năm cũ nhớ từng yêu một thuở

Giờ Thu lại trở về em có nhớ?
Kỷ niệm nào đậm thuở mới vừa yêu!
Nụ hôn môi trao đến một buổi chiều
Lần đầu ấy đã thấy nhiều ngây ngất

Ta đến với nhau mối tình chân thật
Định mệnh nào làm chia cắt đôi ta?
Chiến tranh ư!? Tình vẫn chẳng phai nhòa
Mà tại bởi dòng đời đà thay đổi

Tháng Tư đen một chuỗi ngày tăm tối
Anh và em nào có lỗi gì đâu
Để tình ta mang nặng một khối sầu
Rồi chia cách không bao giờ gặp nữa!

songquang
2025.08.30

Happy Labor Day-Lễ Lao Động (USA)


Cùng các anh chị và các bạn,

Labor Day năm kia, tôi mang máy ảnh ra biển như một thói quen. Ánh sáng lúc chiều tà đổ xuống mặt nước, phản chiếu trên những con sóng như những dải lụa bạc đang chuyển động. Tôi không chỉ chụp người lướt sóng—tôi đi săn khoảnh khắc.

Tôi tìm kiếm cái đẹp trong sự chuyển động, trong ánh mắt háo hức, trong những giây phút không ai để ý mình đang được ghi lại.

Như vậy, Labor Day không chỉ là ngày nghỉ. Đó là dịp để ta ghi lại những câu chuyện nhỏ bé nhưng đầy cảm xúc, nơi ánh sáng, con người và biển cả cùng hòa vào nhau như một bản giao hưởng cuối Hè.

Xin chia sẻ "Lướt sóng"

Have a Happy Labor Day!

Nguyễn Thịnh
USA 2025

Hoàng Hôn Dần Buông

 
 
Buổi sáng bà Giáo thức dậy vươn vai. Nhẹ nhàng ngồi bên mép giường, khoắng chân xuống sàn nhà tìm đôi giép. Ngồi yên một lúc bà mới từ từ đứng lên, kéo màn, mở tung cửa sổ nhìn ra vườn sau. Bà mỉm cười, nhớ lại một buổi sáng khi bà thức giấc, bà ngồi bật dậy xỏ chân vào dép, định chạy ngay vào nhà vệ sinh như thường lệ thì đầu óc choáng váng, vạn vật quay cuồng và bà ngã bật ngửa, đầu đập mạnh xuống người ông chồng đang còn nằm kéo gỗ kế bên, khiến ông giật bắn mình:
_ Cái gì vậy? Cái gì vậy? Mẹ có sao không?
_Mẹ chóng mặt quá bố ơi... Mọi vật quay cuồng, mẹ ngã ngửa, đập đầu mạnh vào người bố đó!
_Thôi chết, mẹ bị vertigo rồi! Nằm im một lúc, thở đều cho hết chóng mặt rồi hãy ngồi lên!

Sợ quá, bà hỏi thăm bạn bè và chịu khó tập theo phương pháp của chị TH và TD chỉ dẫn thì may quá, sau vài tuần thấy bịnh chóng mặt hết hẳn! Từ đó mỗi buối sáng bà đã chịu nghe lời ông, làm gì cũng phải thật từ từ, không vội vàng, hấp tấp nữa.

Trời đã cuối hạ, những ngày nắng gắt đã qua, vạt nắng vàng đã dịu dàng, gió chớm thu đã nhè nhẹ, hây hây. Nhìn ra vườn sau, rặng sồi già vươn những cành lá cao to in trên nền trời xanh trong mà đôi khi bà đã tưởng tượng như có các đạo sĩ hay cao thủ võ lâm đang bay qua bay lại rồi ngồi trên những chạc cây to đàm đạo như trong tiểu thuyết kiếm hiệp. Ông lại quý cụ sồi to nhất, già hơn năm trăm tuổi. Theo ông những cây sồi lão chứa những năng lượng mạnh mẽ, trong lành từ thiên nhiên nên ông hay ngồi ngay gốc cây để hưởng những năng lượng quý báu từ cụ toả ra.

Mùi cà phê thơm ngát. Tiếng ông từ nhà ngoài vọng vào:
_ Mẹ dậy rồi à? Cà phê xong rồi đây!
Cả hai cùng làm những động tác thể thao buổi sáng cho giãn gân cốt rồi ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn tròn nhỏ, hai tách cà phê nóng và hai bát miến gà còn bốc khói. Hai già mỗi người uống một vốc thuốc rồi bắt đầu điểm tâm.
Ông khen:
_ Sáng nay có miến gà. Ngon qúa!
Bà nháy mắt, nói đùa:
_Mẹ hóa phép mà!

Tối qua trước khi đi ngủ bà đã lấy sẵn miếng lườn gà trong tủ đông ra để trong hộp trên bàn bếp, ngâm mội ít nấm mèo và thái hành ngò sẵn sàng. Khi ông bận trong nhà tắm thì bà chỉ mở một lon chicken broth, luộc miếng gà, ngâm tí miến là xong ngay.

Hai ông bà vừa ăn vừa nghe tin tức thời sự trong ngày qua những Youtube. Vừa xong “Đầu Ghềnh Cuối Bãi” thì cũng vừa xong bữa sáng. Hai già chia tay mỗi người riêng một góc trời
Ông dắt con chó Chandler ra vườn sau chạy nhẩy, chơi đùa với nó trong sân cỏ, khi mệt thì ngồi nghe tiếp tin tức hoặc những truyện đọc qua Ipad rồi ngồi cạnh gốc sồi chơi Sudoku.

Bà dọn dẹp trong nhà một lúc rồi vào computer lướt mạng. Trong không gian yên lặng, một mình một cõi, thỉnh thoảng hồn lên chơi vơi, bà nhớ về thuở xa xưa, những ngày hoa mộng của một thời con gái; nhớ những tháng ngày cực nhọc, vất vả sau ngày mất nước; cuộc đời chông gai, lên bổng xuống trầm. Ngày xưa ấy có bao giờ bà nghĩ đến lúc này, một bà già đầu tóc bạc phơ, sắp thành bà lão tám bó!

Bà nhớ bầy cháu nội ngoại sáu đứa mà ông bà trông nom chăm sóc từ lúc chúng ra đời đến khi khôn lớn, vững vàng ông bà mới buông. Ba thằng cháu ngoại Kobe, Carter đã trưởng thành, có công việc ở tiểu bang xa từ mấy năm nay, Logan cũng đã là sinh viên năm thứ hai Đại Học SanDiego. Michelle, cháu nội gái độc nhất hết hè đã lên năm thứ ba ở UC Irvine, hai thằng em Kenneth, Ethan cũng chỉ một, hai năm nữa lên Đại Học, sẽ chắp cánh bay xa.

Nhìn các cháu bà mới nhận rõ là mình già!

Những lần bà đi họp hội cựu nữ sinh trung học, gặp gỡ bạn xưa, bạn của một thời, bạn một đời. Thật vui khi nghe những chuyện tốt lành, bạn bè gặt hái những thành công; nhưng cũng thật bùi ngùi khi nghe những chuyện buồn cũng như những trắc trở không may cuả vài bạn. Bà đã cảm nhận lứa của bà như những chiếc lá mùa thu đang rực rỡ trên cành của một cây cổ thụ, lác đác vài chiếc lá rồi lần lượt tiếp theo, những chiếc lá đã bay xa. Lá rụng từ từ rồi đến cuối thu, một cơn gió thổi mạnh là cả đám lá vàng sẽ cuốn theo chiều gió. Bà bất giác thở dài.

Nhìn ra vườn sau ông đang nằm trên chiếc ghế bố ngước nhìn trời cao, chả hiểu ông đang nghĩ gì. Liếc nhìn đồng hồ đã hơn bốn giờ. Bà vào bếp soạn bữa ăn chiều, sẵn còn nồi thịt kho bà bóc mấy lá bắp cải rửa sẵn sàng, lát nữa chỉ lấy thêm hai quả trứng bỏ vào luộc chung với bắp cải là có ngay đĩa thịt kho bên cạnh đĩa bắp cải luộc chấm nước thịt kho dầm trứng với bát nước rau luộc là xong. Cơm bà nấu một tuần hai lần thôi, để sẵn trong hộp cất tủ lạnh, khi ăn thì lấy ra hâm trong lò vi sóng cho nóng.
Một ngày ông bà chỉ ăn hai bữa, sáng khoảng chín giờ. Chiều khoảng sáu đến bẩy giờ, khỏi ăn trưa.
Bà sửa soạn ra vườn:
_Bố, nông dân đến giờ đồng áng!

Ông nhỏm dậy đi lấy vòi nước tưới cây một vòng từ trong ra ngoài. Bà xách xô đựng đồ nghề, một cái bay, một cái kéo, một cây kềm cắt cây, thêm một cái ghế đẩu và một cái rổ. Bà săn sóc vườn rau thơm và hành lá, cắt bỏ lá héo, tỉa bớt cành già và thâu hoạch một mớ rau tươi. Năm nay các cháu đã bán xe của bố, không cho bố mẹ lái xe nữa sợ nguy hiểm nên ông bà không có phương tiện đi mua hoa mới và cây mới trồng thêm như mọi năm, có gì thì trồng nấy. Mỗi khi đi ăn phở bà lại nhặt nhạnh những cành húng về giâm, một bà bạn thương tình cho một cây tiá tô lão, cao hơn hai gang tay. Thế mà bây giờ bà đã gây được một chậu tía tô và một chậu húng quế rậm rạp. Rau răm và húng lủi còn sót lại từ năm cũ mọc lại mạnh mẽ đầy hai bồn bự. Xả cũng ra đầy chậu to. Hành lá thì ra nhiều quá, ăn không kịp, bà phải cắt ra cất vào hộp kín bỏ vào tủ lạnh, bà cũng thái nhỏ bỏ vào vài hộp cất trong tủ đông.

Xong công việc đồng áng ông bà đến giờ tập Dịch Cân Kinh, ông một góc, bà một góc, cùng nhau vẫy đến đủ một ngàn cái thì ngồi bên chiếc bàn nhỏ bên hông nhà xoa bóp chân tay.

Trong không gian êm ả của buổi chiều rơi xuống thật êm đềm. Ông bà ngồi bên nhau với tâm thanh thản, hạnh phúc thật an nhiên. Ông bà đã hiểu lẽ trời, những điều nhân quả, những lẽ vô thường. Bà không còn oán than trời đất, buồn phiền vì những éo le trong cuộc sống; không còn so sánh với bạn bè, với chị em để buồn tủi với những đắng cay, nghiệt ngã của đời mình.

Quá khứ đã qua đi, không tiếc thương, không hờn dỗi, không hậm hực, oán trách nữa. Hiện tại còn đây, các con trai gái, dâu rể hiếu đễ. Các cháu yêu thương gần gũi ông bà. Hai ông bà già còn có nhau. Đôi khi “cẩm chướng” cũng tưng bừng nở rộ nhưng nhìn đi, nghĩ lại “đôi ta cùng cẩm chướng” nên lại cười xoà và dùng đó để trêu ghẹo nhau làm vui. Biết chọn những gì tốt đẹp, lạc quan và bỏ đi những khía cạnh bi quan hay những mặt xấu của cuộc đời.

Cuộc sống của ông bà bây giờ giản dị. Ăn uống đạm bạc, thì giờ nhàn rỗi. Mỗi người đều có thú vui riêng. Ông đọc sách, chạy chơi, đùa giỡn với “thằng cháu chó” và xem những chương trình, những game vận động trí óc qua TV. Bà tha hồ muốn làm gì thì làm, viết văn, vẽ vời, đùa vui với con cháu. Thích thì làm không bị bó buộc về thời gian hay bất cứ điều gì tự tạo ra để ràng buộc mình như ngày xưa. Ông bà ung dung an hưởng những ngày trời cho còn lại bên nhau trong TUỔI HOÀNG HÔN CỦA CUỘC ĐỜI với tâm hồn thật thanh thản.

Đỗ Dung

 

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2025

Các Loại Rau


Ngắm hoa sắc thắm nở sau nhà
Nắng ươm cành lá bướm vờn hoa
Ban mai gió nhẹ mùi hương thoảng
Nghe lòng rộn rã tiếng chim ca.....

mồng tơi
 Càng Cua
Rau Ngỗ hay Ngò Om để nêm canh chua
Kinh Giới+Tía Tô=Rau răm
Khổ Qua
É trắng
 Rau Kinh Giới
 Giàn bầu mướp

Hình Ảnh & Thơ: Ngư Sĩ


Hỏi Người Tình Xa

 

Rồi trong những lúc bâng khuâng
Có nghe tôi đến ngồi gần bên em?
Bàn tay vuốt tóc hương quen
Ngàn lời âu yếm ru mềm sợi tơ

Đêm đêm đầu gối giấc mơ
Có về thương tuổi dại khờ mới yêu?
Guốc khua dòn mấy nẻo chiều
Rẽ về đâu tà áo xiêu cánh tình

Bến xưa trăng sáng lung linh
Có còn sóng nhớ nép mình đò trôi?
Hàng cây nghiêng bóng lứa đôi
Tựa vai con gió tiếng cười phiêu bay

Ngắm thu rơi chiếc lá gầy
Có còn nhớ buổi cầm tay hẹn hò?
Môi hồng đào phượng thơm tho
Buổi đầu bối rối thẹn thò nụ hôn

Má hồng phụng phịu dỗi hờn
Có còn nhớ lúc bồn chồn đợi ai?
Ấy ngày lỗi hẹn thiên tai
Ăn năn vàng tiếng thở dài lòng tôi

Bão giông rồi cũng qua thôi
Sao tình ta mãi xa vời vợi xa
Thời gian lặng lẽ trôi qua
Bến xưa trăng vẫn chưa già nhớ thương

Trầm Vân


Hờn Vong Quốc

 

Ly khách bao năm sống dãi dầu
Mối hờn vong quốc gửi về đâu ?
Tang thương từ độ tràn sông núi
Chiến mã bên trời mỏi vó câu
Ai khóc đời tàn trong ngõ hẹp (1)
Ta về bóng đổ giữa đêm thâu
Ngậm ngùi nhớ lại dòng thơ cổ:
Thù trả chưa xong, bạc mái đầu (2)


Nguyễn Kinh Bắc
(1) Đời tàn trong ngõ hẹp: Thơ Vũ Hoàng Chương
(2) Thù trả chưa xong, đầu đã bạc: Thơ Đặng Dung

Dây Dưa Nỗi Nhớ



Dạo:

Đêm dài nỗi nhớ
Cắc cớ về thăm.
Xơ xác thân tằm,
Gối chăn lạnh lẽo.


Cóc cuối tuần:

Dây Dưa Nỗi Nhớ


Sân sau, bụi chuối nổi khùng,
Hầm hè đuổi gió ra vùng đất hoang.
Sương khuya trắng trộn trăng vàng,
Trên khung trời vắng trễ tràng mây giăng.
Đau lòng ai có biết chăng,
Môi tê lời đắng, mắt căng lệ hồng.
Một đời cách bến xa sông,
Có nghe tiếc nuối gì không hỡi lòng?
Ngập ngừng dế gáy bên song,
Tưởng bài ca cũ về hong bóng sầu.

Phải xưa em chịu gật đầu,
Thì hai đứa vẫn chuyến tàu về chung.
Anh giờ đời đã đóng khung,
Mỏi mòn thân xác, lạnh lùng gối chăn.
Một mình trăn trở trở trăn,
Ăn năn chẳng biết ăn năn tội gì.
Tham sân si, chỉ còn si,
Cúi xin Trời Đất cất đi cực hình.
Khư khư ôm mãi chữ tình,
Long đong số phận, linh đinh bước đời.
Ngậm ngùi đếm giọt đêm rơi,
Âm thầm nhớ đến một thời xa xưa.
Nhớ trò vụng dại đón đưa,
Nhớ ngày nắng sớm chiều mưa thất thường,
Nhớ khi lóng ngóng bên đường,
Nhớ lần quýnh quáng sân trường chạm vai,
Nhớ ba tháng hạ kéo dài,
Nhớ niên học cuối bóng ai mịt mù.

Thế rồi thu tiếp nối thu,
Mấy mươi năm thoắt vù vù qua nhanh.
Giờ đây lá sắp xa cành,
Dây dưa nỗi nhớ năm canh thì thầm.
Bên ngoài giả điếc giả câm,
Bên trong vẫn mãi ngấm ngầm xót xa.
Bể tình may mắn thoát qua,
Ngu si chẳng lẽ là quà Trời ban.
Thôi đừng than thở thở than,
Cũng đừng trách móc phàn nàn gì nhau.
Từ nay cho đến ngàn sau,
Trầu xanh vĩnh viễn với cau khác đường.
Canh dài trằn trọc vấn vương,
Ánh trăng đã tắt đầu giường nào hay.

Trần Văn Lương


Xin Lỗi Anh Long


Hai anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau có một thanh niên khoảng gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần trước, anh và chủ tàu vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa thuận giá cả chuyến đi.

Ba người bắt tay nhau, anh Long tiếp:
- Cô và anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.

Lát sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14 tuổi và bé trai cỡ 8 tuổi, anh giới thiệu:
- Đây là Loan, còn đây là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí. Tôi sẽ là người dẫn đường, là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên tàu ra khơi mọi người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!

Vừa lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:
- Chút nữa trên xe sẽ có 3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm thì khoảng hơn 20 người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái, nhưng luôn nhớ nghe lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.

Mọi người bắt đầu lên xe, tôi quay lại vẫy tay chào anh tôi, rồi đi xuống phía cuối xe, nơi có 3 cô gái đang ngồi hàng ghế chót, còn dư một chỗ, tôi liền ngồi vào đấy. Tôi chẳng biết anh Long ngồi chỗ nào, xe lăn bánh, tiếng nói chuyện bắt đầu rì rào. Tám giờ tối, gió mát mẻ, những phố xá lùi lại phía sau, xe hướng về đồng ruộng vắng vẻ, trực chỉ Long An. Tôi muốn nhắm mắt nghỉ ngơi vì cảm xúc nhớ nhà bắt đầu làm lòng tôi thổn thức, nhưng ba cô gái bắt chuyện hỏi han, mới biết cả bốn đứa chỉ hơn kém nhau 1 tuổi, từng học cùng mái trường, chỉ là khác khóa, khác lớp. Cơn buồn ngủ tan biến, chúng tôi nói chuyện về trường lớp suốt đoạn đường dài cho đến gần nửa đêm khi nhiều người trên xe đang ngon giấc, anh Long bỗng xuất hiện từ phía sau ghế, cúi xuống nói với tôi:
- Chút nữa xe đến biên giới, cửa khẩu Mộc Hóa, chúng ta sẽ nghỉ qua đêm tại một quán ăn ven đường.
Tôi thắc mắc:
- Sao mình không đi xuyên đêm luôn hả anh?
- Giờ này trạm cửa khẩu đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.
Bốn đứa dừng nói chuyện, nhìn qua khung cửa xe nao nức chờ đợi phút giây nhìn thấy biên giới dù bên ngoài tối đen.

Xe dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn duy nhất giữa đồng có chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng. Một người ra lệnh:
- Ai theo nhóm nấy, lên bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài hiên hoặc trong xe.
Cô bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:
- Nhóm tụi mình ngoài 3 đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức đổi Loan qua bên đây, cặp kia qua bên đó?
Cô bạn khác gạt ngay:
- Thôi khỏi làm phiền ai. Khác nhóm nhưng vẫn gặp nhau, nay mai lên tàu qua Thái chung cả tàu, lo gì!
Tôi đồng ý rồi bước đến chỗ mẹ con chị Cải đang nằm, mùng mền hẳn hoi, hầu như ai cũng mệt nên chỉ hơn chục phút sau cả quán im lìm, chỉ nghe tiếng ngáy đều trong khuya vắng .

Hơn 6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy anh Long đang ngồi uống cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối cùng cũng đang dọn dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau khi đánh răng rửa mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ ngắm cảnh biên giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm lính canh gác chịu ăn hối lộ.

Trời đứng bóng, xe chuẩn bị vượt qua cửa khẩu, để tránh sự nghi ngờ và giảm bớt tiền hối lộ, chỉ có người lớn tuổi và trẻ em được ngồi trên xe, còn lại chúng tôi phải đi tắt dưới ruộng lúa khoảng một cây số. Đường ruộng khô cứng, gập gềnh, tôi cố đi nhanh nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau. Anh Long thỉnh thoảng dừng lại, chờ tôi, mỉm cười:
- Cô đúng là tiểu thơ đi vượt biên!
Tôi chống chế:
- Tại đường ruộng em đi chưa quen.
- Cô mới vượt biên lần đầu sao?
- Dạ không, nhưng lần trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ “taxi” đã bị giải tán, có lội ruộng bao giờ đâu!

Rồi cũng ra tới đường lộ, leo lên xe đã chờ sẵn, tiếp tục chuyến hành trình. Trời trưa nắng cháy, cảnh vật hai bên đường nghèo nàn, lác đác có vài căn nhà sàn và bóng người. Càng về gần thủ đô phố xá đẹp hơn, nhà cửa san sát, người qua lại đông hơn. Đến chiều, xe tiến vào Phnom Pênh, qua cây cầu đá dài, có người nói:
- Đây là cây cầu nổi tiếng của Phnom Pênh, cầu mang tên Sài Gòn.

Xe dừng dưới chân cầu, trước một quán ăn bề thế, tấp nập người ra vào. Một số người chạy đến vây quanh xe, hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt “Đổi tiền Riel không bà con ơi!?”. Tôi và ba cô bạn không có tiền để đổi, (nhưng có dấu trong người vài chiếc nhẫn vàng phòng khi hữu sự), vì trước khi qua đây, chúng tôi đã nộp một số tiền cho ban tổ chức, là tiền mà các người dẫn đường sẽ lo chuyện ăn uống, chỗ ở, xe cộ trong thời gian ở Cambodia chờ ngày xuống tàu ra khơi. Tuy nhiên, có một số người vẫn mang theo tiền, họ đổi tiền riel để xài riêng. (Sau này, trên con đường bị bắt giam hai lần tại Cam, và tại bãi biển Thailand, tôi mới thấy có tiền rất hữu ích, vì mỗi lần gặp “khó khăn” cần chi tiền vẫn tốt hơn là phải đưa ra cái nhẫn vàng, họ có “thối lại” tiền đâu!).

Xong vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người Việt, các món ăn rất ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và Tonle Sap nên cá tôm tươi rói, ê hề . Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua. Bàn bên cạnh mấy cô bạn cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi ý:
- Nếu cô thích ăn tôm thì nên gọi cơm tôm càng kho tàu, món ngon nhất quán đấy.
Tôi nghe theo lời “thổ địa”, nhìn dĩa cơm lấp lánh màu gạch tôm, với bắp cải đậu que luộc và chén nước mắm ớt, tôi ăn ngon lành, đúng là không có chỗ nào chê .

Cơm nước xong, từng nhóm đón xe lam về nhà trọ (xe đò đưa chúng tôi đến Phnom Pênh đã xong nhiệm vụ). Tôi say sưa ngắm cảnh phố phường mà quên mất thân phận vượt biên. Nhà trọ là căn nhà lầu đúc hai tầng, rộng rãi, bên trong chẳng có đồ đạc gì ngoài cái sàn nhà lót gạch bông mát rượi. (Chủ nhà xưa kia khá giả, nay thời thế thay đổi, như Sài Gòn sau 1975, làm nhà trọ tự phát để kiếm sống). Mỗi nhóm được một cái mùng to, không mền gối, cứ đem hành lý vào mùng, muốn ngủ kiểu nào thì ngủ. Ngoài chúng tôi, còn nhiều khách khác, là dân đi buôn lậu hàng hóa Thái-Cam mang về Việt Nam bán lại, họ nói chuyện bằng tiếng Việt và tiếng Cam, ồn ào cả cái nhà trọ. Chúng tôi 4 nhóm được giăng mùng sát nhau, nên ngồi trong mùng nói chuyện, ai mệt thì ngủ, ai thức cứ thức vì các âm thanh hỗn độn nơi đây không bao giờ ngưng.

Sáng hôm sau thức giấc, chỉ còn một mùng của nhóm tôi. Anh Long giải thích:
- Các con buôn đã thức dậy từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi thấy cô và mẹ con chị Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.
Chị Cải áy náy:
- Mấy mẹ con tui đêm qua ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm ảnh hưởng đến đoàn.
- Đâu có gì gấp! Chúng ta sẽ phải đổi nhà trọ mỗi ngày để tránh bị chú ý, chờ ngày đi cảng Kampong Som xuống tàu, còn bây giờ là đi “tham quan” chợ Olympic và ăn trưa.

Năm người đi bộ, từ nhà trọ khoảng 6-7 blocks đường là đến chợ. Ngôi chợ kiểu như chợ Bến Thành, các gian hàng san sát nhau đủ loại, vì đây là chợ đầu mối lớn nhất Cambodia lúc bấy giờ. Vào chợ, tôi ngạc nhiên vì nhiều tiểu thương nói sành cả hai tiếng Việt-Cam. Chúng tôi thong thả ngắm từng gian hàng, lúc này mới biết chị Cải là dân Việt gốc Hoa, từng sống ở Cam một thời gian, nên chị nói sành sõi cả ba thứ tiếng. Chị mua một vài món đồ cho hai thằng con, rồi quay qua nói với tôi:
- Mua ít đồ phòng hờ cần xài khi qua trại tỵ nạn.
Anh Long hỏi tôi:
- Cô Loan thích mua gì không, tôi sẽ mua cho?
- Dạ thôi, em có mang theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.
- Ý tôi là hàng lưu niệm kìa!
- Đi vượt biên chớ có phải du lịch mà mua đồ lưu niệm?
- Thì mua để sau này cô đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.
- Xa vời quá, dù sao cũng cám ơn anh.

Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời.

Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông . Nhà trọ mới, nhỏ hơn nhà trọ hôm qua, được dọn sạch tầng dưới cho hơn chục người khách, tầng trên có hai mẹ con chủ nhà sinh sống và nhận luôn việc nấu cơm cho khách, tôi vui sướng gặp lại ba cô bạn. Chúng tôi xúm vào kể chuyện đi chơi Phnom Penh, và tán dóc với chủ nhà qua lời thông dịch của chị Cải. (anh Long bỏ đi đâu đó, sau này mới biết, họ luôn chạy đôn chạy đáo như con thoi, để liên lạc với ban tổ chức, chờ lệnh tiếp theo).

Gần đến giờ cơm, tôi bỗng bị ói mửa, lên cơn sốt nhẹ, có lẽ vì tôi uống quá nhiều nước thốt nốt ngoài chợ, và lang thang cả buổi ngoài trời nắng. Chị Cải đưa tôi thuốc hạ sốt, rồi tôi chợp mắt ngủ. Tỉnh dậy khi bên ngoài đã chạng vạng tối, tôi tỉnh táo hơn, anh Long hỏi:
- Cô ăn cháo nhé, tôi đã nhờ chị chủ nhà nấu, những người khác đã ăn cơm xong rồi.
Tôi lắc đầu:
- Em không muốn ăn cháo, em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.
- Giờ này lấy đâu ra hủ tíu mì cho cô?
- Hồi trưa trên đường về đây, em thấy quán mì ngay góc đường!
- Cô tinh mắt nhỉ, không lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu tôi dẫn cô ra đó, sắp đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi giấy tờ, cô lại không biết tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.
- Thì anh đi mua về cho em.

Chị Cải và mấy cô bạn cũng góp lời, rằng một tô hủ tíu mì sẽ giúp tôi mau lại sức hơn là tô cháo trắng ăn với cá khô. Anh đành khoác thêm chiếc áo sơ mi rồi đi ra ngoài, lát sau xách về tô mì nóng hổi. Ba cô bạn cười nắc nẻ:
- Anh Long ơi, nhìn anh rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái cà-mèn, chẳng khác gì đang chăm vợ đẻ.
Anh tủm tỉm cười:
- Ối dào, chăm vợ đẻ cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương châm “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.

Vài ngày tiếp theo, đổi vài nhà trọ, cho đến một ngày tại nhà trọ ngoài nhóm tôi ra, không có nhóm quen, nhưng có 5-6 người Việt khác, anh Long bảo họ cũng sẽ xuống tàu vượt biên với chúng tôi. Buổi chiều anh Long mang cơm về rồi thông báo, sáng sớm mai sẽ đi thành phố cảng KamPong Som. Ăn xong, mọi người ngồi uống trà ăn bánh, vì còn sớm, tôi và anh Long mang trà ra ngoài hiên nhà nói chuyện. Biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, anh trầm ngâm:
- Tôi cũng suýt nữa làm thầy giáo đấy.
- Thế à! anh dạy môn gì?
- Tôi đậu Cao Đẳng Sư Phạm môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải đi “nghĩa vụ quân sự” qua Cambodia.
- Nhưng ba năm sau anh sẽ được giải ngũ và về học lại chứ?
- Trên lý thuyết là như thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi thế giới yêu cầu Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho tôi, khi ở chiến trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội người Việt và người Cam.
- Rồi sao anh không về nhà?
- Anh Minh chủ tàu kêu tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này Cam còn trong giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các chuyến đi thành công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh khiến tôi dùng dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền, tôi đã xây nhà cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo nghèo, cô nhỉ?
- Vậy sao anh không đi vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?
- Không! Tôi là Bắc Kỳ mới, không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại sẽ bị phân biệt, khó được các phái đoàn chấp nhận . Đã có nhiều trường hợp đồng đội của tôi, vượt thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản chí quay trở về Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ thấy những gì tôi nói là sự thật.

Tờ mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy bằng than cũ kỹ, sẽ dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô lấn leo lên, cuối cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé xíu, bên trong chất đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:
- Chút nữa khi vào cửa ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh như những gì tôi dặn tối qua.

Quả thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người lính Cam cầm súng AK lục soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại khái là đi đâu, đến đó làm gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học được đúng 2 câu), anh lính chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống xe. Chị Cải trả lời trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn vào trạm gác ngay lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi cũng đứng đó. Anh nói nhỏ bên tai tôi:
- Vậy là yên chí, tám người cứ vào đấy “nghỉ ngơi” vài ngày, ban tổ chức sẽ chuộc ra.

Đúng như anh nói, chúng tôi bị giam trong căn phòng phía sau trạm gác, có cơm nước do ban tổ chức đưa đến. Chiều ngày hôm sau, có tin nhắn buổi tối sẽ có 4 chiếc xe ôm đến đón đưa ra biển. Trời vùng biển tháng 12 tối thui, bốn chiếc xe phóng đi trong màn đêm, tôi nghe tiếng gió phần phật bên tai. Bỗng có tiếng xe đuổi theo phía sau, tiếng súng bắn chỉ thiên và tiếng chó sủa, bốn chiếc xe ôm tạt vào lề, là khu vườn lau sậy mênh mông, họ quát tháo bằng tiếng Cam, hối thúc chúng tôi xuống xe, rồi họ chạy biến đi trong đêm.

Chúng tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau sậy, chạy càng nhanh càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó sủa bắt đầu yếu dần rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi tên nhau khe khẽ, tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn hai chú kia và một cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an toàn, nhưng đêm tối thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp, nếu buồn ngủ thì thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi hành lý, dựa vào nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và tiếng chân người lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng gọi:
- Loan ơi! Loan ơi!
Tôi mừng rỡ nhận ra giọng anh Long, liền la lên:
- Tụi em ở đây anh ơi!
Anh Long cầm đèn pin và một anh lính Cam đeo súng, tìm được chúng tôi, anh thở phào:
- Vậy là đủ người rồi, đi thôi.
Anh Long đi bên cạnh tôi, thấy tôi vừa đi vừa run rẩy, anh lấy trong túi quần ra một chiếc khăn rằn, khoác lên người tôi:
- Cô ráng giữ ấm, kẻo lên cơn sốt như hôm ở nhà trọ thì mệt lắm, ở đây không có ai đi mua hủ tíu mì cho cô đâu!

Ra tới đường cái, bên kia đường là một trại lính khá kiên cố, có vọng gác và hàng rào kẽm gai xung quanh. Bước vào cổng trại, trong khi chờ anh lính đi gặp cấp trên, anh Long nói với chúng tôi trước khi chia tay:
- Đây là nhà giam cuối cùng, sau khi dàn xếp bên ngoài xong xuôi, là lên tàu ra biển.

Nhà giam, là một phòng khá rộng, có vẻ là hội trường của trại, chúng tôi vui vẻ đoàn tụ toàn bộ những người trên chuyến xe đò hôm nào, và thêm một số người khác, tổng cộng là 41 người, sẽ cùng chung chuyến tàu ra khơi.

Hơn một tuần ở nhà giam sướng như tiên. Ngày hai buổi họ mở cửa cho ra ngoài, vệ sinh tắm rửa, vận động chân tay. Cơm phục vụ đầy đủ do nhóm tổ chức cho người mang đến. Vui nhất là buổi tối, rảnh rang, có chàng hài hước kể chuyện cười vỡ bụng, có chú kia thích kể truyện Tàu, chị Cải kể chuyện từng sống ở đảo Baklon của Cam, nhóm trẻ chúng tôi xúm lại ca hát. Đêm mệt thì mỗi người gối đầu trên hành lý, chẳng có mùng mền vẫn ngủ ngon lành.

Chiều hôm đó anh Long xuất hiện với người đưa cơm, anh vào trong ăn với chúng tôi và nói: “Tối nay ra khơi!”. Ai nấy lo dọn dẹp hành lý, không cười đùa nữa vì biết giây phút quan trọng sắp đến. Từng nhóm ngồi rải rác trong phòng, im lặng, ánh đèn ngoài sân hắt vào phòng mờ ảo. Một cô lớn tuổi đứng lên:
- Xin mọi người vẫn ngồi yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có đạo gì có thể cầu nguyện riêng.
Rồi cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng lời kinh rõ mồn một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:
- Anh có đạo à?
- Ừ, tôi gốc Bùi Chu mà! Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến nay.
Tôi chuyển đề tài, hồi hộp:
- Em lo quá anh Long ơi.
- Cô yên tâm, phần khó khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu thời tiết thuận hòa, nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ biển Thailand.
- Nghe mấy cái “nếu” của anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào đi bị thất bại, tàu chìm, hoặc gặp hải tặc không?
- Chắc chắn không có hải tặc vì tàu chạy ven biển. Các tàu ra khơi đều đến nơi bình an. Chỉ có hai lần khi ở Phnom Penh, nghe tin đường dây nhận hối lộ có mâu thuẫn nội bộ, tụi anh phải đưa khách trở về Việt Nam, vậy thôi!

Tôi yên tâm hơn, rồi nhìn anh, chân thành:
- Anh Long ơi, em muốn nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi người thật nhiệt tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...
Chưa nghe hết câu, anh buột miệng:
- Qua đến Thái, em ...à không... cô viết thư cho tôi nhé?
Tôi hỏi lại:
- Anh muốn em viết thư?
Anh bối rối, xua tay:
- Nói thế thôi, vì lời cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây, có cô cũng xinh xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi, nhưng rồi chẳng có lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ mấy cô xinh xinh hứa nhưng không làm.
- Anh nói em cũng ... “xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là khi qua trại, việc đầu tiên em sẽ viết thư cho anh, để anh thấy không phải cô “xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu?
- Cô cứ gửi cho gia đình cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây vàng.
Tôi lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:
- Em gửi lại anh chiếc khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.
Anh cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:
- Cô hãy giữ chiếc khăn này, tôi đã có ý mua để tặng cô, làm kỷ niệm xứ Chùa Tháp.
Lúc đó, một chiếc xe nhà binh (xe cam nhông) tiến vào cổng, dừng trước phòng giam, anh Long bật dậy, kêu gọi mọi người mau chóng ra ngoài. Anh và vài thanh niên leo lên xe, lần lượt giúp từng người lên, tôi đang chờ tới lượt thì anh lại gọi tên tôi:
- Loan! Loan... Ra đây! Ra đây!

Tôi đi về phía anh, được anh kéo lên thùng xe, tất cả nằm đè lên nhau, xe chạy vun vút, có khi tôi nghe cả tiếng lá cây cọ quẹt vào thành xe những âm thanh chát chúa. Tới bờ biển, xe dừng lại, các người dẫn đường khác chạy ra từ một bụi cây, hướng dẫn chúng tôi chạy xuống chiếc thuyền đang đậu sẵn. Cả 41 người lên thuyền, nặng chịch, mạn thuyền cách mặt nước chưa đầy gang tay, anh Long kêu những thanh niên biết bơi cùng xuống dưới nước, phụ với nhóm dẫn đường, bám theo mạn thuyền, đưa thuyền đến với chiếc tàu ngoài giữa biển. Đến nơi, anh Minh chủ tàu đứng trên boong rọi đèn pin, hễ ai bước lên là đẩy ngay xuống hầm tàu. Vì anh Long vẫn đang ở dưới biển để đỡ con thuyền khỏi bị lật khi đám người đổ dồn về phía tàu lớn, nên tôi không có cơ hội bắt tay anh tạm biệt. Cái bắt tay tôi đã dự định, cái bắt tay duy nhất, lần đầu cũng có thể là lần cuối, đã không thực hiện được.
...................................................................

Đến trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể cho ba và gia đình chi tiết chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi: “Chị Thanh, nhờ chị chuyển lá thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng, nhé”. Thư cho anh Long, chỉ là lập lại những lời cảm ơn chân thành tôi đã nói với anh đêm cuối, vì mục đích chính là thực hiện lời hứa danh dự, để anh bớt thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy một trang, dư chỗ tôi bèn viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn: “Anh Long, nếu có thời gian rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả! Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống”.

Rồi chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi nghe chuyện gia đình, hàng xóm, và chị tái bút gọn gàng: “Đã chuyển thư cho Long, em yên tâm”. Đọc thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả xong món nợ ân tình.

Cuộc sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại, tôi đánh mất chiếc khăn rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa con gái chúng tôi nhớ về chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc anh bận rộn nên không viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết, nhưng ít ra anh cũng hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.

Sau bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó hàng năm bay qua Mỹ thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về chuyến vượt biên dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ thương tận tình, rồi nói với chị tôi:
- Trong lá thư đầu tiên gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng thấy anh ấy viết cho em, dù là một lá thư!
Chị tôi... thú tội:
- Em ơi, lá thư ấy đã không bao giờ gửi.
Thì ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị lo xa, sợ tôi và anh Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc chưa) có tình ý gì, thì cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là thượng sách, “an toàn trên xa lộ”.

Tôi bèn giải thích cặn kẽ nguyên do tôi viết lá thư đó, chị đã hiểu ra, và thấy tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh chủ tàu đến nhà tôi lấy vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý mong chờ, nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.

Anh Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin lỗi vì ngần ấy năm, em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh xinh” ... thất hứa.
Chị của em cũng gửi lời xin lỗi anh nữa đấy!

Và khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận thư lá thư năm ấy của em, được không?

Edmonton, Tháng8/2025
Kim Loan

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2025

Đông Ơi!

 

Ngọn gió đông uốn vòng đời phiêu lãng
Những tàng trơ tuyết lệ mắt rưng rưng
Trên thinh không vắng nhạn tiếng vang lừng
Nơi chốn cũ bao điêu tàn chứng tích


Thơ & Ảnh: Kim Phượng

Thu Về - Sáng Tác: Bảng Hồ - Tiếng Hát: Hương Giang


Sáng Tác: Hồ Bảng
Tiếng Hát: Hương Giang


Đêm Về

 

Đêm về âm cảnh thoáng tịch liêu
Mộng buồn soi sáng bãi tiêu điều
Làng thôn quằn quại hồn đau đớn
Chiến trận chùng nghe giọng hắt hiu
Thân trai máu lệ rơi cuồng loạn
Nợ nước hồn thiên cảnh quang thiều
Hỡi mẹ hằng đêm nghe gió thoảng
Về đây ve vuốt chút tin yêu

Tô Đình Đài