Thứ Hai, 1 tháng 9, 2025

Hỏi Người Tình Xa

 

Rồi trong những lúc bâng khuâng
Có nghe tôi đến ngồi gần bên em?
Bàn tay vuốt tóc hương quen
Ngàn lời âu yếm ru mềm sợi tơ

Đêm đêm đầu gối giấc mơ
Có về thương tuổi dại khờ mới yêu?
Guốc khua dòn mấy nẻo chiều
Rẽ về đâu tà áo xiêu cánh tình

Bến xưa trăng sáng lung linh
Có còn sóng nhớ nép mình đò trôi?
Hàng cây nghiêng bóng lứa đôi
Tựa vai con gió tiếng cười phiêu bay

Ngắm thu rơi chiếc lá gầy
Có còn nhớ buổi cầm tay hẹn hò?
Môi hồng đào phượng thơm tho
Buổi đầu bối rối thẹn thò nụ hôn

Má hồng phụng phịu dỗi hờn
Có còn nhớ lúc bồn chồn đợi ai?
Ấy ngày lỗi hẹn thiên tai
Ăn năn vàng tiếng thở dài lòng tôi

Bão giông rồi cũng qua thôi
Sao tình ta mãi xa vời vợi xa
Thời gian lặng lẽ trôi qua
Bến xưa trăng vẫn chưa già nhớ thương

Trầm Vân


Hờn Vong Quốc

 

Ly khách bao năm sống dãi dầu
Mối hờn vong quốc gửi về đâu ?
Tang thương từ độ tràn sông núi
Chiến mã bên trời mỏi vó câu
Ai khóc đời tàn trong ngõ hẹp (1)
Ta về bóng đổ giữa đêm thâu
Ngậm ngùi nhớ lại dòng thơ cổ:
Thù trả chưa xong, bạc mái đầu (2)


Nguyễn Kinh Bắc
(1) Đời tàn trong ngõ hẹp: Thơ Vũ Hoàng Chương
(2) Thù trả chưa xong, đầu đã bạc: Thơ Đặng Dung

Dây Dưa Nỗi Nhớ



Dạo:

Đêm dài nỗi nhớ
Cắc cớ về thăm.
Xơ xác thân tằm,
Gối chăn lạnh lẽo.


Cóc cuối tuần:

Dây Dưa Nỗi Nhớ


Sân sau, bụi chuối nổi khùng,
Hầm hè đuổi gió ra vùng đất hoang.
Sương khuya trắng trộn trăng vàng,
Trên khung trời vắng trễ tràng mây giăng.
Đau lòng ai có biết chăng,
Môi tê lời đắng, mắt căng lệ hồng.
Một đời cách bến xa sông,
Có nghe tiếc nuối gì không hỡi lòng?
Ngập ngừng dế gáy bên song,
Tưởng bài ca cũ về hong bóng sầu.

Phải xưa em chịu gật đầu,
Thì hai đứa vẫn chuyến tàu về chung.
Anh giờ đời đã đóng khung,
Mỏi mòn thân xác, lạnh lùng gối chăn.
Một mình trăn trở trở trăn,
Ăn năn chẳng biết ăn năn tội gì.
Tham sân si, chỉ còn si,
Cúi xin Trời Đất cất đi cực hình.
Khư khư ôm mãi chữ tình,
Long đong số phận, linh đinh bước đời.
Ngậm ngùi đếm giọt đêm rơi,
Âm thầm nhớ đến một thời xa xưa.
Nhớ trò vụng dại đón đưa,
Nhớ ngày nắng sớm chiều mưa thất thường,
Nhớ khi lóng ngóng bên đường,
Nhớ lần quýnh quáng sân trường chạm vai,
Nhớ ba tháng hạ kéo dài,
Nhớ niên học cuối bóng ai mịt mù.

Thế rồi thu tiếp nối thu,
Mấy mươi năm thoắt vù vù qua nhanh.
Giờ đây lá sắp xa cành,
Dây dưa nỗi nhớ năm canh thì thầm.
Bên ngoài giả điếc giả câm,
Bên trong vẫn mãi ngấm ngầm xót xa.
Bể tình may mắn thoát qua,
Ngu si chẳng lẽ là quà Trời ban.
Thôi đừng than thở thở than,
Cũng đừng trách móc phàn nàn gì nhau.
Từ nay cho đến ngàn sau,
Trầu xanh vĩnh viễn với cau khác đường.
Canh dài trằn trọc vấn vương,
Ánh trăng đã tắt đầu giường nào hay.

Trần Văn Lương


Xin Lỗi Anh Long


Hai anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau có một thanh niên khoảng gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần trước, anh và chủ tàu vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa thuận giá cả chuyến đi.

Ba người bắt tay nhau, anh Long tiếp:
- Cô và anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.

Lát sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14 tuổi và bé trai cỡ 8 tuổi, anh giới thiệu:
- Đây là Loan, còn đây là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí. Tôi sẽ là người dẫn đường, là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên tàu ra khơi mọi người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!

Vừa lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:
- Chút nữa trên xe sẽ có 3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm thì khoảng hơn 20 người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái, nhưng luôn nhớ nghe lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.

Mọi người bắt đầu lên xe, tôi quay lại vẫy tay chào anh tôi, rồi đi xuống phía cuối xe, nơi có 3 cô gái đang ngồi hàng ghế chót, còn dư một chỗ, tôi liền ngồi vào đấy. Tôi chẳng biết anh Long ngồi chỗ nào, xe lăn bánh, tiếng nói chuyện bắt đầu rì rào. Tám giờ tối, gió mát mẻ, những phố xá lùi lại phía sau, xe hướng về đồng ruộng vắng vẻ, trực chỉ Long An. Tôi muốn nhắm mắt nghỉ ngơi vì cảm xúc nhớ nhà bắt đầu làm lòng tôi thổn thức, nhưng ba cô gái bắt chuyện hỏi han, mới biết cả bốn đứa chỉ hơn kém nhau 1 tuổi, từng học cùng mái trường, chỉ là khác khóa, khác lớp. Cơn buồn ngủ tan biến, chúng tôi nói chuyện về trường lớp suốt đoạn đường dài cho đến gần nửa đêm khi nhiều người trên xe đang ngon giấc, anh Long bỗng xuất hiện từ phía sau ghế, cúi xuống nói với tôi:
- Chút nữa xe đến biên giới, cửa khẩu Mộc Hóa, chúng ta sẽ nghỉ qua đêm tại một quán ăn ven đường.
Tôi thắc mắc:
- Sao mình không đi xuyên đêm luôn hả anh?
- Giờ này trạm cửa khẩu đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.
Bốn đứa dừng nói chuyện, nhìn qua khung cửa xe nao nức chờ đợi phút giây nhìn thấy biên giới dù bên ngoài tối đen.

Xe dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn duy nhất giữa đồng có chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng. Một người ra lệnh:
- Ai theo nhóm nấy, lên bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài hiên hoặc trong xe.
Cô bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:
- Nhóm tụi mình ngoài 3 đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức đổi Loan qua bên đây, cặp kia qua bên đó?
Cô bạn khác gạt ngay:
- Thôi khỏi làm phiền ai. Khác nhóm nhưng vẫn gặp nhau, nay mai lên tàu qua Thái chung cả tàu, lo gì!
Tôi đồng ý rồi bước đến chỗ mẹ con chị Cải đang nằm, mùng mền hẳn hoi, hầu như ai cũng mệt nên chỉ hơn chục phút sau cả quán im lìm, chỉ nghe tiếng ngáy đều trong khuya vắng .

Hơn 6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy anh Long đang ngồi uống cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối cùng cũng đang dọn dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau khi đánh răng rửa mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ ngắm cảnh biên giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm lính canh gác chịu ăn hối lộ.

Trời đứng bóng, xe chuẩn bị vượt qua cửa khẩu, để tránh sự nghi ngờ và giảm bớt tiền hối lộ, chỉ có người lớn tuổi và trẻ em được ngồi trên xe, còn lại chúng tôi phải đi tắt dưới ruộng lúa khoảng một cây số. Đường ruộng khô cứng, gập gềnh, tôi cố đi nhanh nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau. Anh Long thỉnh thoảng dừng lại, chờ tôi, mỉm cười:
- Cô đúng là tiểu thơ đi vượt biên!
Tôi chống chế:
- Tại đường ruộng em đi chưa quen.
- Cô mới vượt biên lần đầu sao?
- Dạ không, nhưng lần trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ “taxi” đã bị giải tán, có lội ruộng bao giờ đâu!

Rồi cũng ra tới đường lộ, leo lên xe đã chờ sẵn, tiếp tục chuyến hành trình. Trời trưa nắng cháy, cảnh vật hai bên đường nghèo nàn, lác đác có vài căn nhà sàn và bóng người. Càng về gần thủ đô phố xá đẹp hơn, nhà cửa san sát, người qua lại đông hơn. Đến chiều, xe tiến vào Phnom Pênh, qua cây cầu đá dài, có người nói:
- Đây là cây cầu nổi tiếng của Phnom Pênh, cầu mang tên Sài Gòn.

Xe dừng dưới chân cầu, trước một quán ăn bề thế, tấp nập người ra vào. Một số người chạy đến vây quanh xe, hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt “Đổi tiền Riel không bà con ơi!?”. Tôi và ba cô bạn không có tiền để đổi, (nhưng có dấu trong người vài chiếc nhẫn vàng phòng khi hữu sự), vì trước khi qua đây, chúng tôi đã nộp một số tiền cho ban tổ chức, là tiền mà các người dẫn đường sẽ lo chuyện ăn uống, chỗ ở, xe cộ trong thời gian ở Cambodia chờ ngày xuống tàu ra khơi. Tuy nhiên, có một số người vẫn mang theo tiền, họ đổi tiền riel để xài riêng. (Sau này, trên con đường bị bắt giam hai lần tại Cam, và tại bãi biển Thailand, tôi mới thấy có tiền rất hữu ích, vì mỗi lần gặp “khó khăn” cần chi tiền vẫn tốt hơn là phải đưa ra cái nhẫn vàng, họ có “thối lại” tiền đâu!).

Xong vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người Việt, các món ăn rất ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và Tonle Sap nên cá tôm tươi rói, ê hề . Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua. Bàn bên cạnh mấy cô bạn cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi ý:
- Nếu cô thích ăn tôm thì nên gọi cơm tôm càng kho tàu, món ngon nhất quán đấy.
Tôi nghe theo lời “thổ địa”, nhìn dĩa cơm lấp lánh màu gạch tôm, với bắp cải đậu que luộc và chén nước mắm ớt, tôi ăn ngon lành, đúng là không có chỗ nào chê .

Cơm nước xong, từng nhóm đón xe lam về nhà trọ (xe đò đưa chúng tôi đến Phnom Pênh đã xong nhiệm vụ). Tôi say sưa ngắm cảnh phố phường mà quên mất thân phận vượt biên. Nhà trọ là căn nhà lầu đúc hai tầng, rộng rãi, bên trong chẳng có đồ đạc gì ngoài cái sàn nhà lót gạch bông mát rượi. (Chủ nhà xưa kia khá giả, nay thời thế thay đổi, như Sài Gòn sau 1975, làm nhà trọ tự phát để kiếm sống). Mỗi nhóm được một cái mùng to, không mền gối, cứ đem hành lý vào mùng, muốn ngủ kiểu nào thì ngủ. Ngoài chúng tôi, còn nhiều khách khác, là dân đi buôn lậu hàng hóa Thái-Cam mang về Việt Nam bán lại, họ nói chuyện bằng tiếng Việt và tiếng Cam, ồn ào cả cái nhà trọ. Chúng tôi 4 nhóm được giăng mùng sát nhau, nên ngồi trong mùng nói chuyện, ai mệt thì ngủ, ai thức cứ thức vì các âm thanh hỗn độn nơi đây không bao giờ ngưng.

Sáng hôm sau thức giấc, chỉ còn một mùng của nhóm tôi. Anh Long giải thích:
- Các con buôn đã thức dậy từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi thấy cô và mẹ con chị Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.
Chị Cải áy náy:
- Mấy mẹ con tui đêm qua ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm ảnh hưởng đến đoàn.
- Đâu có gì gấp! Chúng ta sẽ phải đổi nhà trọ mỗi ngày để tránh bị chú ý, chờ ngày đi cảng Kampong Som xuống tàu, còn bây giờ là đi “tham quan” chợ Olympic và ăn trưa.

Năm người đi bộ, từ nhà trọ khoảng 6-7 blocks đường là đến chợ. Ngôi chợ kiểu như chợ Bến Thành, các gian hàng san sát nhau đủ loại, vì đây là chợ đầu mối lớn nhất Cambodia lúc bấy giờ. Vào chợ, tôi ngạc nhiên vì nhiều tiểu thương nói sành cả hai tiếng Việt-Cam. Chúng tôi thong thả ngắm từng gian hàng, lúc này mới biết chị Cải là dân Việt gốc Hoa, từng sống ở Cam một thời gian, nên chị nói sành sõi cả ba thứ tiếng. Chị mua một vài món đồ cho hai thằng con, rồi quay qua nói với tôi:
- Mua ít đồ phòng hờ cần xài khi qua trại tỵ nạn.
Anh Long hỏi tôi:
- Cô Loan thích mua gì không, tôi sẽ mua cho?
- Dạ thôi, em có mang theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.
- Ý tôi là hàng lưu niệm kìa!
- Đi vượt biên chớ có phải du lịch mà mua đồ lưu niệm?
- Thì mua để sau này cô đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.
- Xa vời quá, dù sao cũng cám ơn anh.

Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời.

Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông . Nhà trọ mới, nhỏ hơn nhà trọ hôm qua, được dọn sạch tầng dưới cho hơn chục người khách, tầng trên có hai mẹ con chủ nhà sinh sống và nhận luôn việc nấu cơm cho khách, tôi vui sướng gặp lại ba cô bạn. Chúng tôi xúm vào kể chuyện đi chơi Phnom Penh, và tán dóc với chủ nhà qua lời thông dịch của chị Cải. (anh Long bỏ đi đâu đó, sau này mới biết, họ luôn chạy đôn chạy đáo như con thoi, để liên lạc với ban tổ chức, chờ lệnh tiếp theo).

Gần đến giờ cơm, tôi bỗng bị ói mửa, lên cơn sốt nhẹ, có lẽ vì tôi uống quá nhiều nước thốt nốt ngoài chợ, và lang thang cả buổi ngoài trời nắng. Chị Cải đưa tôi thuốc hạ sốt, rồi tôi chợp mắt ngủ. Tỉnh dậy khi bên ngoài đã chạng vạng tối, tôi tỉnh táo hơn, anh Long hỏi:
- Cô ăn cháo nhé, tôi đã nhờ chị chủ nhà nấu, những người khác đã ăn cơm xong rồi.
Tôi lắc đầu:
- Em không muốn ăn cháo, em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.
- Giờ này lấy đâu ra hủ tíu mì cho cô?
- Hồi trưa trên đường về đây, em thấy quán mì ngay góc đường!
- Cô tinh mắt nhỉ, không lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu tôi dẫn cô ra đó, sắp đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi giấy tờ, cô lại không biết tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.
- Thì anh đi mua về cho em.

Chị Cải và mấy cô bạn cũng góp lời, rằng một tô hủ tíu mì sẽ giúp tôi mau lại sức hơn là tô cháo trắng ăn với cá khô. Anh đành khoác thêm chiếc áo sơ mi rồi đi ra ngoài, lát sau xách về tô mì nóng hổi. Ba cô bạn cười nắc nẻ:
- Anh Long ơi, nhìn anh rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái cà-mèn, chẳng khác gì đang chăm vợ đẻ.
Anh tủm tỉm cười:
- Ối dào, chăm vợ đẻ cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương châm “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.

Vài ngày tiếp theo, đổi vài nhà trọ, cho đến một ngày tại nhà trọ ngoài nhóm tôi ra, không có nhóm quen, nhưng có 5-6 người Việt khác, anh Long bảo họ cũng sẽ xuống tàu vượt biên với chúng tôi. Buổi chiều anh Long mang cơm về rồi thông báo, sáng sớm mai sẽ đi thành phố cảng KamPong Som. Ăn xong, mọi người ngồi uống trà ăn bánh, vì còn sớm, tôi và anh Long mang trà ra ngoài hiên nhà nói chuyện. Biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, anh trầm ngâm:
- Tôi cũng suýt nữa làm thầy giáo đấy.
- Thế à! anh dạy môn gì?
- Tôi đậu Cao Đẳng Sư Phạm môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải đi “nghĩa vụ quân sự” qua Cambodia.
- Nhưng ba năm sau anh sẽ được giải ngũ và về học lại chứ?
- Trên lý thuyết là như thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi thế giới yêu cầu Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho tôi, khi ở chiến trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội người Việt và người Cam.
- Rồi sao anh không về nhà?
- Anh Minh chủ tàu kêu tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này Cam còn trong giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các chuyến đi thành công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh khiến tôi dùng dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền, tôi đã xây nhà cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo nghèo, cô nhỉ?
- Vậy sao anh không đi vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?
- Không! Tôi là Bắc Kỳ mới, không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại sẽ bị phân biệt, khó được các phái đoàn chấp nhận . Đã có nhiều trường hợp đồng đội của tôi, vượt thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản chí quay trở về Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ thấy những gì tôi nói là sự thật.

Tờ mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy bằng than cũ kỹ, sẽ dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô lấn leo lên, cuối cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé xíu, bên trong chất đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:
- Chút nữa khi vào cửa ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh như những gì tôi dặn tối qua.

Quả thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người lính Cam cầm súng AK lục soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại khái là đi đâu, đến đó làm gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học được đúng 2 câu), anh lính chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống xe. Chị Cải trả lời trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn vào trạm gác ngay lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi cũng đứng đó. Anh nói nhỏ bên tai tôi:
- Vậy là yên chí, tám người cứ vào đấy “nghỉ ngơi” vài ngày, ban tổ chức sẽ chuộc ra.

Đúng như anh nói, chúng tôi bị giam trong căn phòng phía sau trạm gác, có cơm nước do ban tổ chức đưa đến. Chiều ngày hôm sau, có tin nhắn buổi tối sẽ có 4 chiếc xe ôm đến đón đưa ra biển. Trời vùng biển tháng 12 tối thui, bốn chiếc xe phóng đi trong màn đêm, tôi nghe tiếng gió phần phật bên tai. Bỗng có tiếng xe đuổi theo phía sau, tiếng súng bắn chỉ thiên và tiếng chó sủa, bốn chiếc xe ôm tạt vào lề, là khu vườn lau sậy mênh mông, họ quát tháo bằng tiếng Cam, hối thúc chúng tôi xuống xe, rồi họ chạy biến đi trong đêm.

Chúng tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau sậy, chạy càng nhanh càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó sủa bắt đầu yếu dần rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi tên nhau khe khẽ, tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn hai chú kia và một cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an toàn, nhưng đêm tối thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp, nếu buồn ngủ thì thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi hành lý, dựa vào nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và tiếng chân người lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng gọi:
- Loan ơi! Loan ơi!
Tôi mừng rỡ nhận ra giọng anh Long, liền la lên:
- Tụi em ở đây anh ơi!
Anh Long cầm đèn pin và một anh lính Cam đeo súng, tìm được chúng tôi, anh thở phào:
- Vậy là đủ người rồi, đi thôi.
Anh Long đi bên cạnh tôi, thấy tôi vừa đi vừa run rẩy, anh lấy trong túi quần ra một chiếc khăn rằn, khoác lên người tôi:
- Cô ráng giữ ấm, kẻo lên cơn sốt như hôm ở nhà trọ thì mệt lắm, ở đây không có ai đi mua hủ tíu mì cho cô đâu!

Ra tới đường cái, bên kia đường là một trại lính khá kiên cố, có vọng gác và hàng rào kẽm gai xung quanh. Bước vào cổng trại, trong khi chờ anh lính đi gặp cấp trên, anh Long nói với chúng tôi trước khi chia tay:
- Đây là nhà giam cuối cùng, sau khi dàn xếp bên ngoài xong xuôi, là lên tàu ra biển.

Nhà giam, là một phòng khá rộng, có vẻ là hội trường của trại, chúng tôi vui vẻ đoàn tụ toàn bộ những người trên chuyến xe đò hôm nào, và thêm một số người khác, tổng cộng là 41 người, sẽ cùng chung chuyến tàu ra khơi.

Hơn một tuần ở nhà giam sướng như tiên. Ngày hai buổi họ mở cửa cho ra ngoài, vệ sinh tắm rửa, vận động chân tay. Cơm phục vụ đầy đủ do nhóm tổ chức cho người mang đến. Vui nhất là buổi tối, rảnh rang, có chàng hài hước kể chuyện cười vỡ bụng, có chú kia thích kể truyện Tàu, chị Cải kể chuyện từng sống ở đảo Baklon của Cam, nhóm trẻ chúng tôi xúm lại ca hát. Đêm mệt thì mỗi người gối đầu trên hành lý, chẳng có mùng mền vẫn ngủ ngon lành.

Chiều hôm đó anh Long xuất hiện với người đưa cơm, anh vào trong ăn với chúng tôi và nói: “Tối nay ra khơi!”. Ai nấy lo dọn dẹp hành lý, không cười đùa nữa vì biết giây phút quan trọng sắp đến. Từng nhóm ngồi rải rác trong phòng, im lặng, ánh đèn ngoài sân hắt vào phòng mờ ảo. Một cô lớn tuổi đứng lên:
- Xin mọi người vẫn ngồi yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có đạo gì có thể cầu nguyện riêng.
Rồi cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng lời kinh rõ mồn một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:
- Anh có đạo à?
- Ừ, tôi gốc Bùi Chu mà! Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến nay.
Tôi chuyển đề tài, hồi hộp:
- Em lo quá anh Long ơi.
- Cô yên tâm, phần khó khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu thời tiết thuận hòa, nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ biển Thailand.
- Nghe mấy cái “nếu” của anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào đi bị thất bại, tàu chìm, hoặc gặp hải tặc không?
- Chắc chắn không có hải tặc vì tàu chạy ven biển. Các tàu ra khơi đều đến nơi bình an. Chỉ có hai lần khi ở Phnom Penh, nghe tin đường dây nhận hối lộ có mâu thuẫn nội bộ, tụi anh phải đưa khách trở về Việt Nam, vậy thôi!

Tôi yên tâm hơn, rồi nhìn anh, chân thành:
- Anh Long ơi, em muốn nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi người thật nhiệt tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...
Chưa nghe hết câu, anh buột miệng:
- Qua đến Thái, em ...à không... cô viết thư cho tôi nhé?
Tôi hỏi lại:
- Anh muốn em viết thư?
Anh bối rối, xua tay:
- Nói thế thôi, vì lời cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây, có cô cũng xinh xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi, nhưng rồi chẳng có lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ mấy cô xinh xinh hứa nhưng không làm.
- Anh nói em cũng ... “xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là khi qua trại, việc đầu tiên em sẽ viết thư cho anh, để anh thấy không phải cô “xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu?
- Cô cứ gửi cho gia đình cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây vàng.
Tôi lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:
- Em gửi lại anh chiếc khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.
Anh cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:
- Cô hãy giữ chiếc khăn này, tôi đã có ý mua để tặng cô, làm kỷ niệm xứ Chùa Tháp.
Lúc đó, một chiếc xe nhà binh (xe cam nhông) tiến vào cổng, dừng trước phòng giam, anh Long bật dậy, kêu gọi mọi người mau chóng ra ngoài. Anh và vài thanh niên leo lên xe, lần lượt giúp từng người lên, tôi đang chờ tới lượt thì anh lại gọi tên tôi:
- Loan! Loan... Ra đây! Ra đây!

Tôi đi về phía anh, được anh kéo lên thùng xe, tất cả nằm đè lên nhau, xe chạy vun vút, có khi tôi nghe cả tiếng lá cây cọ quẹt vào thành xe những âm thanh chát chúa. Tới bờ biển, xe dừng lại, các người dẫn đường khác chạy ra từ một bụi cây, hướng dẫn chúng tôi chạy xuống chiếc thuyền đang đậu sẵn. Cả 41 người lên thuyền, nặng chịch, mạn thuyền cách mặt nước chưa đầy gang tay, anh Long kêu những thanh niên biết bơi cùng xuống dưới nước, phụ với nhóm dẫn đường, bám theo mạn thuyền, đưa thuyền đến với chiếc tàu ngoài giữa biển. Đến nơi, anh Minh chủ tàu đứng trên boong rọi đèn pin, hễ ai bước lên là đẩy ngay xuống hầm tàu. Vì anh Long vẫn đang ở dưới biển để đỡ con thuyền khỏi bị lật khi đám người đổ dồn về phía tàu lớn, nên tôi không có cơ hội bắt tay anh tạm biệt. Cái bắt tay tôi đã dự định, cái bắt tay duy nhất, lần đầu cũng có thể là lần cuối, đã không thực hiện được.
...................................................................

Đến trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể cho ba và gia đình chi tiết chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi: “Chị Thanh, nhờ chị chuyển lá thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng, nhé”. Thư cho anh Long, chỉ là lập lại những lời cảm ơn chân thành tôi đã nói với anh đêm cuối, vì mục đích chính là thực hiện lời hứa danh dự, để anh bớt thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy một trang, dư chỗ tôi bèn viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn: “Anh Long, nếu có thời gian rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả! Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống”.

Rồi chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi nghe chuyện gia đình, hàng xóm, và chị tái bút gọn gàng: “Đã chuyển thư cho Long, em yên tâm”. Đọc thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả xong món nợ ân tình.

Cuộc sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại, tôi đánh mất chiếc khăn rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa con gái chúng tôi nhớ về chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc anh bận rộn nên không viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết, nhưng ít ra anh cũng hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.

Sau bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó hàng năm bay qua Mỹ thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về chuyến vượt biên dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ thương tận tình, rồi nói với chị tôi:
- Trong lá thư đầu tiên gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng thấy anh ấy viết cho em, dù là một lá thư!
Chị tôi... thú tội:
- Em ơi, lá thư ấy đã không bao giờ gửi.
Thì ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị lo xa, sợ tôi và anh Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc chưa) có tình ý gì, thì cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là thượng sách, “an toàn trên xa lộ”.

Tôi bèn giải thích cặn kẽ nguyên do tôi viết lá thư đó, chị đã hiểu ra, và thấy tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh chủ tàu đến nhà tôi lấy vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý mong chờ, nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.

Anh Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin lỗi vì ngần ấy năm, em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh xinh” ... thất hứa.
Chị của em cũng gửi lời xin lỗi anh nữa đấy!

Và khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận thư lá thư năm ấy của em, được không?

Edmonton, Tháng8/2025
Kim Loan

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2025

Đông Ơi!

 

Ngọn gió đông uốn vòng đời phiêu lãng
Những tàng trơ tuyết lệ mắt rưng rưng
Trên thinh không vắng nhạn tiếng vang lừng
Nơi chốn cũ bao điêu tàn chứng tích


Thơ & Ảnh: Kim Phượng

Thu Về - Sáng Tác: Bảng Hồ - Tiếng Hát: Hương Giang


Sáng Tác: Hồ Bảng
Tiếng Hát: Hương Giang


Đêm Về

 

Đêm về âm cảnh thoáng tịch liêu
Mộng buồn soi sáng bãi tiêu điều
Làng thôn quằn quại hồn đau đớn
Chiến trận chùng nghe giọng hắt hiu
Thân trai máu lệ rơi cuồng loạn
Nợ nước hồn thiên cảnh quang thiều
Hỡi mẹ hằng đêm nghe gió thoảng
Về đây ve vuốt chút tin yêu

Tô Đình Đài

Đời Thường

 

Sáng đi bộ nhìn trời cao chất ngất
Cùng cỏ cây ôm nắng ấm vào lòng
Nghe hơi thở nhịp nhàng cùng trái đất
Cũng quay tròn theo thế giới mênh mông.

Sáng đi bộ gặp người quen lối xóm
Cùng chào nhau nghe thân thiết vô cùng
Cuộc đời này cũng còn đôi tình cảm
Người với người hai đường thẳng song song.

Sáng đi bộ đường loanh quanh lối xóm
Cùng cỏ cây ngào ngạt chất hương nồng
Nghe chim hót lời thơ in mật ngọt
Cũng yêu đời nên nhớ núi thương sông.

Ngày với ngày loay hoay theo kiếp sống
Một đời thường như cây cỏ đơm bông
Qua tám chục tưởng chừng như mười tám
Nhìn thế gian qua lăng kính phiêu bồng.

Đăng Nguyên

Ấm Áp Tình Người


- Anh lính nắm chặt tay cha hấp hối suốt đêm trong viện, sau đó anh tiết lộ sự thật khiến cô y tá sững sờ...
- Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả…
- Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông: “Bác kính yêu, con trai bác đã đến rồi đây!”

- Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng ký” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt… Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật. Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh…

- Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

- Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh đã suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

- “Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu… Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ… Con nghĩ đến đấng tối cao trong con và tấm lòng từ bi của Ngài… Nếu được đến với Ngài trong giây phúc này, con chắc chắn sẽ không hối hận…”
- Anh nghẹn ngào tiếp lời: “…và thế là, một phép lạ đã xảy ra… Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng đã kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên… Con đã được cứu sống một cách kỳ diệu như vậy đấy…!”
- Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào đấng tối cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình yêu thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

- Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất. Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về… Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

- Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông…
- …Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh: “Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi!”. Anh mỉm cười từ chối: “Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa…”
- Cô y tá ngập ngừng đáp lại: “Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.
- Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai… Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây…

- Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay… Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng…
-Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng… Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá…
-Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá: “Tôi muốn cho cô biết một sự thật…”. Cô y tá chỉ tròn xoe mắt: “Là sự thật gì vậy?”. “Tôi không phải con trai của ông ấy…Tôi chưa gặp ông bao giờ cả…”.
- Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.
- Anh mỉm cười hiền từ: “Cô biết đấy… ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình… Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình…Và… tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế…”.
- Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kỳ diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này…
- Cô y tá nhìn anh run run: “Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey…”
...
- Cái đêm đặc biệt ấy đã khiến tâm hồn của ba con người thay đổi hoàn toàn. Ông lão được thỏa mãn nguyện ước cuối cùng của đời mình và có thể thanh thản để về bên kia thế giới.
- Chàng trai trẻ mồ côi cha lần đầu tiên được nắm tay một người để có thể chia sẻ, bộc bạch mọi khó khăn, bước ngoặt cuộc đời mà anh đã cô đơn bước qua.
- Cô y tá được chứng kiến tận mắt một câu chuyện nhân sinh quan rất xúc động có thật trên đời, có lẽ sẽ càng khiến cô trở thành một người chăm sóc nhân hậu, thông cảm và thấu hiểu hơn nữa tình người. Trong cõi xa xăm nào đó, hai cha con ông lão hẳn sẽ được đoàn tụ với nhau, và anh lính Hải quân sẽ không phải nuối tiếc vì thiếu hơi ấm của người cha khi còn quá trẻ…
- Một lúc nào đó, giữa dòng đời tấp nập, nếu có ai đó cần bạn thật sự, hãy mở rộng tấm lòng mình như cái cách mà anh lính Hải quân đã làm với ông lão và với cuộc đời mình, để cảm nhận tình người và vị ngọt của sự chia sẻ, đồng cảm. Yêu thương người khác là yêu thương chính mình, bạn sẽ không bao giờ biết được hết giá trị của tình yêu không cần hồi đáp mà bạn cho đi.

Phong Châu biên dịch

*** 
Cảm ơn anh Bình và anh Bồng cho đọc một bài viết hay, cảm động, chan chứa tình người…Xin đươc phép chuyển tiếp.

Cá nhân tôi rất tâm đắc về việc có cùng suy nghĩ với người lính thủy là vì sợ mũi tên hòn đạn không dám “ phiêu lưu tình cảm” nên “ đời tôi vẫn cô đơn…” cho đến khi “ ngồi tù chung thân” Hihi!! .
Sau khi đọc câu chuyện, tôi nẩy ra ý nghĩ là “thêm mắm muối “ xin theo chân bà Tùng Long để viết vài câu ( tui không có tài viết như các vị anh tài văn thi sĩ khác đâu nhé, đừng cười tui nha!!), đại khái là (cho có hậu thêm):

Sau chiến tranh Iraq anh lính thũy cũng đáo hạn quân ngũ, anh xin xuất ngũ để về tiếp tuc đi học them đại học. Không quên đươc bóng hồng mà anh đã gặp ở BV đêm nào, một hôm anh ghe thăm BV với hy vọng tìm gặp lại bóng hồng xưa. Không biết duyên nào đã đưa anh được gặp cô y tá đang trong ngày trưc phiên: tay bắt mặt mừng họ trao đổi chuyện trò….. Khi được biết cô y tá vẫn còn độc thân, anh lính thủy không ngần ngại quỳ gối xin cô bàn tay, và rồi và rồi….( tiếp tục câu truyện của bà Tùng Long….). Cuôc sống của hai người mỗi ngày một thăng hoa………

Mạn đàm: Đung là mọi sự trên đời đều do duyên, và Bề Trên cao cả không bao giờ quên những người có thiện tâm!.
Kính chúc quý Anh Chị luôn vui khỏe.

Nguyễn Tích Lai
***
Viết lại và khai triển theo ý của anh Nguyễn Tích Lai

Ấm Áp TÌnh Người

Trong bệnh viện một ngày cuối năm
Anh lính thủy suốt đêm ngồi cạnh
Nắm tay người cha trên giường bệnh
Đang hấp hối cho đến khi ông
Nở nụ cười, thở hơi cuối cùng.
Rồi sau đó thật lòng thố lộ
Điều làm sững sờ cô y tá.
Câu chuyện tôi sẽ kể sau đây
Chuyện thật làm nhiều người mắt cay,
Nhỏ lệ, sụt sùi hay sướt mướt.
Và bây giờ, xin mời bạn đọc:
…..
Cô y tá vội bước vào phòng.
Cùng với một anh lính hải quân.
Hai người đến cạnh bên ông lão
Đang nằm im mà mắt thao láo.
Ngực ông hai vạt áo mở tung.
Khép chúng lại, đắp thêm chăn bông,
Cô y tá ghé tai ông nói:
«Cụ ơi Cụ, con trai cụ tới
Thăm Cụ đây Cụ nói gì không?”
Ông lão vẫn chẳng nói, chẳng rằng,
Nhưng đôi mắt dường như chơm chớp.
«Anh ấy đấy!» cô y tá tiếp,
“Anh lặn lội đến gặp Cụ đây!”
Ông lão chợt quờ quạng bàn tay.
Tìm bàn tay chàng trai nắm lấy.
Anh lính trẻ xúc động trông thấy
Nâng bàn tay run rẩy, khẳng khiu
Của ông lão bằng cả thương yêu
Như muốn truyền ít nhiều sinh lực
Cho con người sức cùng, lực kiệt.
Ông lão nhìn anh, mặt thẫn thờ.
Môi mấp máy mà tiếng không ra.
Cô y tá chạy qua phòng kế
Lấy và đem qua một cái ghế
Mời anh lính ngồi để cha con
Có thể tâm sự trọn thời gian
Mà họ muốn, và xin cáo lỗi
Trở về nhiệm vụ trực phiên tối.
Anh lính trẻ thức tới sáng luôn.
Cứ nắm tay ông lão không buông.
Kế cho ông vui buồn đời lính.
Trong suốt thời gian dài chinh chiến.
Lính Hải quân sông biển bồng bềnh,
Sống cuộc đời hồ hải, lênh đênh
Anh kể có một lần suýt chết.
Hôm ấy biển động và trời rét.
Có khả năng phục kích bất ngờ.
Tầu toán anh phải đi tuần tra.
Trong lúc anh mải mê quan sát
Một cơn sóng vô cùng mãnh liệt
Đã cuốn anh văng bật khỏi tầu.
Cố vùng vẫy, nhưng chẳng bao lâu,
Anh kiệt sức, bắt đầu chìm lỉm.
Anh nói khẽ: “Con tuyệt vọng lắm.
Con nghĩ chắc mình tận mạng rồi.
Nước xộc vào mũi, con hết hơi.
Ngực nặng trĩu, gió vùi, sóng dập.
Con tự nhủ, thôi thế là hết.
Mình còn gì hối tiếc hay không.
Rồi bỗng dưng cảm thấy thong dong.
Tâm hồn con bình yên đến lạ.
Tưởng như mình sẽ gặp Thượng Đế,
Con thảnh thơi buông bỏ hoàn toàn.
Giữa lúc ấy thì bỗng đột nhiên
Một phép lạ cứu con thoát chết
Thân hình con chợt nhẹ như bấc
Và rồi trên mặt nước nổi lên.
Đồng đội con quăng phao xuống liền.
Nhờ thế mà con còn sống sót.
Thật kỳ diệu không sao kế xiết!”
Ngưng một phút, anh tiếp: “Bố ơi,
Sau đó thì con nghiệm ra rồi.
Niềm tin vào cuộc đời cộng với
Hỗ trợ mà Thượng Đế đem tới
Sẽ giúp ta vượt mọi khó khăn.
Con muốn Bố gắng giữ niềm tin
Để ngày mai cha con mình lại
Cùng được thấy nguồn hạnh phúc mới!”
Sau đó anh kể tới chuyện tình
Thật đẹp anh có mà không thành
Giữa anh và một nàng thiếu nữ
Là bạn thân từ hồi còn nhỏ
Nhưng buồn thay lúc đó chiến tranh
Đang trên đà leo thang thật nhanh
Sống cuộc đời chiến binh anh phải
Lựa chọn giữa tình yêu trai gái
Và tình yêu tối thượng quê hương.
Anh không chọn đường hướng bình thường
Mà quyết định chọn đường phục vụ
Tố quốc và quê hương , vì thế
Anh đã can đảm để người yêu
Tránh cái cảnh một sớm một chiều
Khăn tang trắng trên đầu phải đội.
Anh khuyên cô tìm tình yêu mới.
Ông lão không thể nói một lời,
Nhưng trên môi hé nở nụ cười
Và nước mẳt lăn dài trên má.
Và rồi suốt một đêm cứ thế.
Anh lính tiếp tục kể chuyện đời
Còn ông lão thở hắt từng hồi
Nhưng phảng phất nụ cười chưa mất.
Khi ánh dương lờ mờ ló mặt
Anh lính vẫn nắm chặt tay ông
Thân hình giờ đã lạnh như băng.
Cô y tá đi ngang, dừng lại
Rồi bước vào, và dịu dàng nói:
“Đã sang ngày mới rồi, thưa anh.
Bây giờ đã bắt đầu bình minh
Phòng bên cạnh có giường còn trống.
Anh có thể qua đó nằm xuống
Vài khoảnh khắc đặng đỡ mỏi lưng.”
“Dạ, xin cám ơn cô vô cùng.
Nhưng tôi muốn ngồi thêm lát nữa!”
Cô y tá: “Nếu vậy tôi sẽ…”
Và một cái ghế cô kéo thêm,
“Xin phép được cùng ngồi với anh.”
Rồi cô kể sự tình sau, trước:
“Ông cụ hết sức là cô độc
Cụ vào đây đã được năm tuần
Cơn bệnh quái ác dầy vò ông
Những cơn đau vô cùng khủng khiếp,
Khiến cho ông lúc tỉnh, lúc thiếp.
Thấy ông quá tội nghiệp, cô thường
Sau giờ làm việc ghé thăm ông
Và được nghe lời ông tâm sự
Ông nói đời ông đầy đau khổ
Nhưng ông được Thượng Đế ban cho
Một đứa con trai tuy gầy gò
Nhưng dũng cảm. Từ khi còn nhỏ
Đã nuôi mộng vá trời, lấp bể.
Anh đam mê biển cả, trùng dương,
Nên lớn lên đăng lính hải quân
Mang mộng ước báo ơn tổ quốc.
Ông hãnh diện về anh hết sức
Nhắc đến anh rất mực hân hoan
Ông nói lâu rồi, hai cha con
Chưa gặp lại, và ông rất nhớ
Chỉ ước mong một ngày có thể
Ôm trọn anh bằng cả vòng tay.
Và hôm nay, thật may mắn thay,
Anh đã đến kịp thời, may quá!”
Anh lính trẻ thở dài thật nhẹ
Mắt rưng rưng, khe khẽ kêu lên:
“Con chúc cha ra đi bình yên!”
Vì lúc ấy thì ông lão đã
Thở hơi cuối, giã từ cõi thế.
Buồn bã, anh lính trẻ ngước lên
Nhìn cô y tá, bằng giọng rất trầm:
“Tôi không phải là con ông lão.
Chưa bao giờ tôi gặp ông cả!”
Cô y tá quá thể ngạc nhiên:
“Vậy thì tại làm sao mà anh
Lại ngồi suốt cả đêm bên ống?”
Anh lính cười buồn: “Trong cuộc sống
Có nhiều điều không tưởng, thưa cô.
Tôi từ lúc nhỏ đã mất cha.
Ông lão sắp rời xa nhân thế
Chỉ ước mong có một lần để
Gặp lại đứa con đã từ lâu
Ông mong nhớ, thì tôi làm sao
Có thể nào ngơ đi cho được.
Thật ra tôi đến đây mục đích
Là để tìm gặp một cụ già
Đang ở đây, tên William Grey,
Báo tin cậu con trai ông đã
Trong một trận Hải chiến nghiệt ngã
Hy sinh hồi tháng Bẩy vừa qua.,
Cô y tá tay ôm ngực, thở ra:
“Và Cụ đây chính là người đó!”
Anh lính: “Duyên phận mà Thượng Đế
Toàn Năng an bài đó, thưa cô!
Bạn có thấy không, mọi duyên do
Trong cuộc sống dù to, dù nhỏ
Đều sắp đặt bởi tay Thượng Đế.
Cái đêm đặc biệt ấy đã làm
Thay đổi cả ba người hoàn toàn.
Ông lão thì cuối cùng ước nguyện
Cũng đã được hân hoan thỏa mãn.
Anh lính trẻ thì trọn một đêm
Được nắm tay một người không quen
Nhưng như là cha mình, và đã
Có cơ hội giãi bầy tâm sự
Nhắc đến những biến cố trong đời
Một đứa con mồ côi, lẻ loi.
Cô y tá xúc cảm bồi hồi
Chứng kiến một cảnh đời ý nghĩa
Chắc sẽ ngày một thêm trân quý
Nghề nghiệp mình, tận tụy hơn lên.
Và rồi đây, trong cõi xa xăm
Ngày nào đó, cha con ông lão
Sẽ đoàn tụ. Và anh lính trẻ
Cảm nhận tình yêu của người cha
Qua giây phút anh đã sẻ chia
Cùng ông lão rất là thắm thiết,
Trước khi ông bình thản, nhắm mắt.
…..
Một lần nào đó, trong suốt cuộc đời,
Tất bật này, nếu có một ai
Cần bạn, thì bạn ơi, bạn hãy
Mở rộng tấm lòng mình như vậy
Như cách mà bạn thấy ở đây
Như cách anh lính hải quân này.
Để cảm nhận bàn tay Thượng Đế,
Giá trị tình người giữa nhân thế,
Vị ngọt của chia sẻ, cảm thông.
Yêu người khác là yêu chính mình.
Bạn cho đi không cần hồi đáp
Đó chính là tình yêu đích thật!
****
Chiến cuộc rồi chấm dứt, qua đi,
Hòa bình cuối cùng cũng nở hoa
Anh lính trẻ sau khi giải ngũ,
Trở về với nếp sống dân sự.
Ghi danh ngay để trở lại trường
Hoàn tất chương trình học cử nhân.
Không quên được bóng hồng ngày nọ.
Nơi bệnh viện tình cờ gặp gỡ.
Anh quyết định ghé thử, ước mong
Sẽ được cùng người xưa trùng phùng.
May mắn đến đúng phiên cô trực.
Anh lính thủy vui mừng hết sức.
Cô y tá cũng rất hân hoan.
Hai người hẹn hôm sau đi ăn.
Rồi giữa cảnh trăng thanh gió mát,
Anh lính trẻ ngập ngừng thú thật,
Anh cảm cô từ lúc đầu tiên.
Nhưng vì mang kiếp sống quân nhân
Tương lai không nhiều phần bảo đảm.
Nên anh đã lặng thinh, không dám
Thổ lộ, mà giữ kín trong lòng.
Anh hỏi thẳng cô đã có chồng?
Cô mỉm cười: “Dạ không, chưa có.”
Anh lính thủy vô cùng mừng rỡ,
Quỳ ngay xuống, và mở bàn tay.
Một hộp nhẫn đính hôn phơi bầy.
Anh mở hộp, giọng đầy xúc động:
“Em có muốn cùng anh chung sống?”
Cô y tá thấy lặng cả người
Rồi đứng lên, ôm chặt chàng trai,
Nhẹ gật đầu, nụ cười hoa nở
…..
Chuyện gì sau đó, chắc bạn rõ.
Tôi không cần kể lề dài dòng.
Cuộc tình của họ ngát thơm hương.
Hai tâm hồn đầy lòng nhân ái.

Chẩm Tá Nhân
(phóng tác và khai triển theo ý anh Nguyễn Tích Lai}
Mùng Một Tết Giáp Thìn
(02/10/2024) và (08/27/2025)
 

Hương Xưa Ngày Ấy


Những cơn mưa cuối mùa ở thành phố tôi buồn hiu hắt, cái giá lạnh từ đâu bỗng về xâm chiếm tâm hồn.Tiếng mưa rơi nhẹ, đều đều trên mái nhà khiến tôi liên tưởng đến những cơn mưa của một thời áo trắng. Tôi nhớ mãi những chiều mưa ngồi bên song cửa đọc thư anh mà xót xa thương cảm cho người yêu ở một góc trời nào đó đang lặn lội dưới mưa rừng gió núi. Những nỗi nhớ nhung, mong đợi, lo lắng, bâng khuâng của một thời làm người yêu lính trận bây giờ nghĩ lại thật đẹp, thơ mộng làm sao! Tôi chợt đưa tay sờ lên mặt mình, những vết sẹo đã biến mất, không còn nữa.Thật may mắn cho tôi nếu không được đặt chân lên đất Mỹ thì không biết giờ nầy cuộc đời tôi sẽ ra sao, về đâu? Tuy những vết sẹo ngày xưa đã hủy diệt tương lai và mộng ước của cả đời tôi nhưng tôi vẫn luôn hoài niệm về khoảng thời gian đó, những ngày tháng thật êm đềm, ngọt ngào với những nỗi vui, buồn, đớn đau và nước mắt của một thời con gái…

Tôi là con lớn trong một gia đình gồm 8 anh chị em, Ba tôi là một công chức nhỏ nên cuộc sống gia đình có phần chật vật. Để giúp đỡ phần nào cho Ba, tôi phải đi làm thêm mỗi tối, việc làm đó là hát cho một quán café ca nhạc. Trời phú cho tôi một giọng ca truyền cảm, trầm ấm nên tiền thù lao khá hậu hỉ. Lẫn lộn trong đám người phức tạp nơi đó tôi hết sức dè dặt, giữ gìn ý tứ để khỏi mang tai tiếng vì mình còn là một nữ sinh đang cắp sách đến trường. Sau khi xong mỗi bài hát, trong khi chờ đợi hát tiếp tôi thường mở sách ra đọc để tránh nói chuyện với người khác. Một hôm có người bước vào hậu trường và đi thẳng tới trước mặt tôi, đó là một anh lính trẻ mặc đồ rằn ri với một bông mai trên cổ áo. Anh đứng nhìn tôi đang đọc sách, nhìn tựa quyển sách “ Hàn Yên Thúy” tức “Bên Bờ Quạnh Hiu” của Quỳnh Dao anh buông một câu không mấy lịch sự:

Sao cô lại thích đọc loại sách nầy? Ủy mị lắm.
Tôi khó chịu vì thái độ của anh ta nên sẵng giọng:
Anh có quen với tôi sao?
Anh ta trả lời rất tự nhiên:
Chưa, nhưng sẽ quen mà. Tôi xin tự giới thiệu tôi tên là Thế Phương đang phục vụ cho binh chủng Nhảy Dù, mong được làm bạn với cô.
Tôi chưa biết trả lời sao nên lặng thinh.
Phương giục:
Sao rồi? Cô có chấp nhận lời tôi không?
Tôi nhìn anh dè dặt:
-Anh nói bạn là thế nào? Nếu anh đến đây nghe nhạc thường xuyên thì cũng coi như là bạn của tôi rồi mà.
Không, tôi muốn nói là bạn riêng thôi.
Tôi thấy anh chàng nầy có vẻ sỗ sàng quá nên nghiêm mặt lại:
-Xin lỗi anh, tôi chưa nghĩ đến điều đó, vì tôi chưa quen biết anh nên tôi không thể chấp nhận, mong anh hiểu cho.
Anh chàng vẫn lầm lì:
Đêm nay tôi đưa cô về nhà nhé!
Không được đâu anh, Ba tôi sẽ đến đón tôi.
Anh ta nhún vai nhìn tôi:
Ông già giữ con gái kỹ thế .
Tiếng người nhạc sĩ điều khiển chương trình vọng vào:
Bích Liên ơi, tới phiên cô rồi đó nghe.
Tôi từ giã anh lính:
Xin phép anh, tôi phải ra sân khấu rồi.
Hẹn gặp cô sau.

Tôi bước trở ra sân khấu với bản nhạc “Thuở Ấy Có Em” :

“…Thuở ấy có em anh chưa từng sầu. Chưa đi âm thầm ngoài phố đêm thâu chưa mang hoang lạnh ngoài bến vắng. Hỡi em, em về đâu cho đời còn luôn nhớ nhau…”

Tôi nhìn xuống thấy anh đứng ở một góc của quán nhạc, đôi mắt đăm đăm nhìn về phía tôi, tự nhiên tôi thấy lòng có chút xúc động. Chắc anh có một nỗi niềm, một tâm sự riêng nên trông anh có nét buồn xa vắng.

Khi Ba tôi đến đón tôi, anh lặng lẽ nhìn theo không nói lời nào. Mấy đêm sau liên tiếp anh đều đến, đều tìm cách nói chuyện với tôi nhưng tôi cố giữ khoảng cách với anh vì tôi rất sợ mình sẽ yếu lòng, sẽ vướng vào tình yêu của lính, nhất là lính Nhảy Dù như anh.Tôi biết dù có lưu luyến, thương nhớ bao nhiêu rồi anh cũng ra đi, anh phiêu lưu trên khắp nẻo đường đất nước, khắp bốn vùng chiến thuật, bất cứ nơi nào khi chiến trường cần đến anh. Tôi phải tự thương lấy mình, thương cho thân phận của một người con gái sinh ra trong thời loạn.

Quả đúng như vậy, vào một ngày cuối tuần anh đến từ giã tôi để trở về đơn vị. Kỳ đi phép về thăm ông ngoại nầy đối với anh rất thú vị, rất vui. Tôi cũng có chút ngậm ngùi, lưu luyến vì những ngày qua anh thường nói chuyện với tôi, tôi cũng được hiểu về anh đôi chút.

Con chim xanh đã trở lại núi rừng, người đã xa rồi tôi cũng không còn gì vương vấn.Những đêm sau giờ đi hát, trên đường về tôi chợt nhận ra mình cô đơn quá, thiếu người san sẻ những ưu tư, lo lắng trong cuộc sống. Tôi thấy đêm bỗng buồn lê thê như những bài tình ca dang dở, và tôi trở lại với nếp sống hằng ngày tẻ nhạt.

Hai năm sau, vào mùa hè tôi lên Sàigòn thăm dì ruột của tôi. Dì có một người con gái tên Hồng Phượng lớn hơn tôi hai tuổi, chị em tôi rất thân với nhau.
Có một ngày chị Phượng khoe với tôi:
Để hôm nào bạn trai của chị từ chiến trường trở về chị sẽ giới thiệu cho em biết mặt nhé!
Tôi chọc chị:
Bạn trai thường hay là người yêu? Chị đừng giấu em, khai thật đi em sẽ ủng hộ hết mình.
Chị lườm tôi:
- Cái con nhỏ nầy. Ừ, thì…là người yêu. Em đã lớn chắc cũng có chàng nào trong tim rồi phải không?
Tôi giơ tay lên trời:
Em xin thề, chưa có chàng nào cả.

Vậy để chị nói với chàng giới thiệu cho em một người nhé? Bạn của ảnh đông lắm, lính Nhẩy Dù, Thiên Thần Mũ Đỏ em chịu không?
Tôi cười:
- Chà, ca ngợi binh chủng của chàng như vậy chắc là chị “đậm” với người ta lắm rồi, cầu mong cho chị gặp người tốt. Ngày trước em cũng có quen sơ sơ với một anh nhưng rồi mịt mù, rồi xa vắng bặt tin… chẳng tới đâu cả.

Hai chị em chúng tôi huyên thuyên tâm sự. Chị Phượng luôn nhắc đến người yêu: một trung úy trẻ, đẹp trai, oai dũng, can trường trên trận địa…Chị đã gặp anh ta năm trước khi đi làm dâu phụ cho một người bạn lấy chồng là một sĩ quan Nhảy Dù.

Hai tuần sau đó chị vui vẻ báo cho tôi biết người yêu của chị đã về phép, nhà anh ở cư xá Đô Thành nhưng anh hẹn gặp chị ở phòng trà Mỹ Phụng. Chị Phượng bảo tôi đi cùng, tôi từ chối vì không muốn làm “ kỳ đà cản mũi” cho hai người nhưng chị nói:
Anh Tùng có một người bạn đi chung, có em trò chuyện cùng anh ấy thì chị và Tùng sẽ được nhiều thời giờ tâm sự hơn.
Thì ra chị cần em “ đỡ đạn” cho chị.
Được rồi, tùy em nghĩ. Em chịu đi chứ?
Dạ, cũng được thôi.

Hôm ấy chị Phượng thật đẹp trong chiếc áo dài màu vàng thêu hoa kim tuyến, còn tôi thì “chìm sâu” với chiếc áo dài màu tím đơn sơ, buồn lặng lẽ. Tôi nghĩ rằng chị cần mặc đẹp, nổi bật vì có người yêu, còn tôi chỉ đi ké thôi nên chẳng quan tâm đến việc mặc đẹp hay xấu. Khi chúng tôi đến trước cửa Mỹ Phụng thì đã thấy hai anh chàng mặc quân phục Nhảy Dù đứng đợi sẵn. Chị Hồng Phượng có vẻ xúc động đưa tay chỉ về một anh:
Anh không mang kính đen là Tùng của chị đó.
Tôi nhìn theo tay chị, anh chàng cao ráo, phong độ làm sao. Hèn nào chị hết lời ca tụng chàng. Còn anh kia thật …đặc biệt, trời đã tắt nắng rồi mà còn mang cặp kính râm to tướng, chiếm cả gần 1/4 khuôn mặt.

Khi chúng tôi đến trước mặt, anh Tùng chào hỏi và giới thiệu thì anh chàng kia cũng vừa gỡ cặp kính râm ra, tôi bỗng giật mình lùi lại miệng lắp bắp:
Anh là…Thế Phương phải không?
Anh chàng cũng vừa nhận ra tôi:
Ồ! Cô Bích Liên ở Cần Thơ chứ gì! Mấy năm rồi mà Liên không thay đổi lắm, còn tôi…
Tôi nhận được anh chứng tỏ anh cũng không già thêm đâu.
Anh Tùng nói:
Hay quá, không ngờ là người quen xưa.

Bốn người chúng tôi cùng vào trong phòng trà. Anh Tùng và chị Phượng cứ tíu tít kể lể với nhau vô tình đẩy tôi phải trò chuyện với Phương. Chuyện ngày ấy, dù có một chút bâng khuâng thoáng qua hồn nhưng tôi cũng đã quên rồi con chim xanh chỉ dừng chân chốc lát trên một nhánh cây nhỏ để ngắm trời mây rồi bay đi. Giờ gặp lại Phương trông anh phong trần dày dạn hơn, đôi mắt đăm chiêu như có chút chán nản, muộn phiền. Anh nhìn tôi:
- Không thể nào ngờ tôi còn gặp lại Bích Liên, tôi mừng lắm. Bích Liên vẫn còn đi học chứ? Có còn đi hát thêm vào buổi tối không?
- Dạ, Liên không còn đi hát nữa để dành thì giờ học hành vì Liên đang học Đại Học Sư Phạm. Anh Phương có gì vui không? Trông anh già dặn và buồn hơn trước.

Liên nói đúng, tôi đang buồn vì người yêu vừa đi lấy chồng. Ngày trước khi tôi muốn làm bạn với Liên thì Liên lạnh nhạt hờ hững, tôi cũng không có dịp để bồi dưỡng tình cảm thêm với Liên. Sau đó tôi quen một người con gái khác ở Sàigòn và chúng tôi yêu nhau được hơn một năm rồi. Nàng học trường Régina Pacis, con nhà giàu, có lẽ vì vậy mà gia đình nàng chê lính như tôi nên cuối cùng thì tôi đành hát bài “Sayonara” để tiễn nàng về chốn cao sang. Giờ tôi chỉ còn tìm vui với máu lửa sa trường thôi.
Tôi nhìn anh, một chút xót xa thương cảm:
-Xin lỗi anh, ngày đó không phải Liên chê anh mà vì Liên còn nhỏ, còn bổn phận với gia đình. Hơn nữa Liên sợ làm người yêu của lính, lính cứ đi biền biệt, liệu mình có giữ nổi không? Nhưng bây giờ nhìn lại thấy chung quanh toàn là lính, bạn bè Liên ai cũng có người yêu là lính cả nên Liên cũng… bớt sợ rồi.
Phương cười có chút giễu cợt:
- Thế bây giờ Liên có dám làm người yêu của lính không?
Biết Phương chọc mình tôi cúi đầu lí nhí:
- Cũng phải xem là ai, có hợp tánh tình với mình không chứ anh.
Phương gật gù:
- Câu trả lời thật khôn ngoan. Liên à, mình có thể làm bạn không? Tôi chưa dám nói tới chuyện xa xôi, chỉ làm bạn bình thường để an ủi, chia xẻ vui buồn với nhau thôi.
- Được chứ anh. Chúng mình chả là bạn từ ngày trước rồi sao?
- Ừ nhỉ, Liên đã xem tôi là bạn rồi mà. Liên à, tôi có thể gọi Liên bằng “ em” được không, Liên nhỏ tuổi hơn Phương nhiều.
- Dạ, cũng được. Coi như anh là anh trai của Liên vậy.
Phương nheo mắt:
- Cô nầy gớm thật, định gài anh vào thế kẹt phải không? Anh không sợ đâu, lính Nhảy Dù thứ thiệt đó nha!

Cả hai chúng tôi cùng cười lớn. Chị Phượng và anh Tùng nhìn sang ngạc nhiên vì sự thân mật của chúng tôi. Từ trên sân khấu giọng một người nam ca sĩ thật ngọt ngào, trầm ấm, nồng nàn với bản “ Love Story”.

“ Where do I begin, to tell the story of how great a love can be.
The sweet Love Story, that is older than the sea….
….. There’d never been another love, another time.
She came into my life and made the living fine.
She fills my heart, she fills my heart.
With very special things, with angel songs, with wild imaginings, she fills my soul, with so much love…”

Phương nhìn vào mắt tôi và nói nhỏ “ you fill my heart”. Tôi quay mặt chỗ khác:
Cái anh nầy, đừng chọc Liên mà.

Nhưng rồi suốt những ngày đi phép của Phương, anh cứ quấn quít bên tôi. Anh đưa tôi đi xem phim ở Rex, Đại Nam hoặc vào hẻm bên hông rạp Casino ăn các món ăn miền Bắc. Có những chiều đứng trên bến Bạch Đằng nhìn những chiếc tàu Hải Quân rời bến, anh mơ ước được lướt sóng ra khơi như những chàng thủy thủ. Những lần ngồi bên nhau trong quán kem Lan Phương hay Givral anh kể cho tôi nghe về cuộc đời chinh chiến của anh, những vui, buồn, gian khổ, hiểm nguy, những trận đánh ác liệt anh đã tham dự. Anh kể về những sự hy sinh đầy dũng cảm của bạn bè ngoài sa trường, sự đau đớn, xót xa và nỗi uất hận khi nhìn đồng đội gục ngã… Nghe anh kể tôi hối hận vì ý nghĩ sai lầm về lính trước đây của tôi. Tôi không còn sợ lính nữa và cảm thấy hình như gần gủi với anh hơn. Nhà anh ở trên đường Trần Quang Khải -Tân Định, anh dẫn tôi về nhà giới thiệu với Mẹ anh, Mẹ anh có vẻ mến tôi lắm làm tôi ngại ngùngvì bà tưởng tôi là người yêu của anh.

Rồi anh trở lại với núi rừng, với những trận chiến ngoài kia còn tiếp diễn, tôi quay về nhà nối tiếp những ngày dài thầm lặng bên sách vở. Kỷ niệm của những ngày bên nhau đã làm tâm tư tôi bắt đầu thay đổi, tôi biết buồn bã bâng khuâng nhìn chiều nắng nhạt, biết thao thức thâu đêm sau những giờ miệt mài học hành, biết ưu tư lo lắng khi nghe tiếng súng vọng về từ xa xa, và cảm thấy một chút nhớ nhung ai đó. Những lá thư liên tiếp bay về từ chiến trường với những thương mến, quan tâm đã tôi làm tôi gục ngã trước tình yêu của anh, tôi không thể phủ nhận tình cảm của mình được nữa. Rồi từ đó thư đi, thư về ngày càng nhiều hơn đã khiến tình cảm chúng tôi thêm đậm đà, gắn bó. Tôi đã trở thành người yêu của lính từ đó.

Chuyện tình của chúng tôi kéo dài gần hai năm mà Phương vẫn chưa về phép để thăm tôi. Chiến trường sục sôi máu lửa, những tin tức về anh tôi chỉ được biết qua những cánh thư viết vội vã. Đơn vị anh được điều động đi khắp các mặt trận từ Kontum, Pleiku về Quảng Trị, Khe Sanh, Lao Bảo… Đêm từng đêm tôi âm thầm cầu nguyện cho anh được bình yên nơi tuyến đầu trận địa. Nhớ nhung, lo lắng từng ngày cho chàng nhưng tôi không biết phải làm sao. Và một lần đó, lần duy nhất trong đời, tôi đã đi đến nơi dừng quân của anh, cũng là chuyến đi định mệnh đời tôi khi anh báo tin cho tôi biết anh đang đóng quân ở Tây Ninh. Tôi đã hỏi thăm và dò dẫm đường đi, tôi bất chấp dư luận, lén cha mẹ, nhất quyết phải gặp anh cho cả hai vơi thương nhớ. Vào thời bấy giờ những con đường quốc lộ thường bị Việt Cộng đắp mô, gài mìn để phá hoại làm cản trở sự lưu thông của dân chúng và những đoàn công-voa chuyển quân tiếp viện đến các mặt trận của quân đội ta. Ngày đó tôi đang đi trên chuyến xe đò từ Cần Thơ về Sàigòn, vừa đến quận Cái Bè thuộc tỉnh Định Tường ( Mỹ Tho) trên quốc lộ 4 thì chiếc xe đi trước xe tôi bỗng ngừng lại thình lình vì có các anh binh sĩ địa phương ra chận lại bảo rằng phía trước có mìn, các chiến sĩ đang lo gỡ mìn để cứu đồng bào. Bác tài xế xe tôi trong lúc hoảng sợ, hấp tấp gài thắng thế nào làm chiếc xe bị lật ngang, lăn mấy vòng rồi rơi xuống đám ruộng khô bên đường. Kính xe bị bể nát văng vào hành khách gây thương tích rất nhiều người trong số đó có tôi. Sự việc xảy ra đột ngột làm tôi kinh hoàng, hãi hùng không còn biết gì nữa, chỉ biết mặt tôi đau buốt, máu chảy đầm đìa. Người ta đem tôi ra khỏi xe và đưa các bịnh nhân chúng tôi ngược về bệnh viện Vĩnh Long. Lúc đến bệnh viện, bác sĩ khám xong tôi mới biết là mặt tôi đã bị nhiều vết thương do miểng kính xe cắt. Ôi! Một người con gái đang tuổi đôi mươi với bao ước mơ, bao mộng đẹp mà phải mang gương mặt đầy vết sẹo thì còn đau khổ nào hơn? Tôi chợt khóc lớn, khóc thật lâu với viễn ảnh hãi hùng trước mặt.

Khi tôi được xuất viện trở về nhà tôi đã bỏ dở học hành, trốn tránh bạn bè và cả Phương nữa, tôi sẽ không bao giờ cho anh gặp mặt. Sau một thời gian dài không được thư tôi, Phương đã hiểu lầm là tôi phụ bạc nên anh giận dữ viết cho thư tôi bằng những lời trách móc nặng nề. Tôi tan nát cõi lòng, đầm đìa nước mắt để vĩnh biệt một cuộc tình đẹp như mơ.

Sáu tháng sau tôi được chị Phượng báo tin, anh Tùng cho biết là Phương đã cưới vợ, một người mà anh Tùng bảo rằng Phương chưa hề quen biết, đó là con gái của người bạn mẹ Phương. Thế là hết, là mãi mãi chia phôi, là trọn đời xa cách, là muôn thuở nhớ nhung, kiếp người bạc mệnh, bất hạnh như tôi số trời đã định còn biết sao hơn? Em chúc anh hạnh phúc bên người tình mới Phương ơi! Em chưa bao giờ phụ anh. Nhiều đêm thức trắng bên chồng thư cũ, bên những tấm ảnh của người yêu tôi nghe một nỗi tái tê dâng ngập tâm hồn. Thuở ấy mình bên nhau cùng xây bao mộng ước, cùng hướng về một tương lai tươi sáng. Nhưng giờ đây trong bóng đêm lệ em tuôn chảy âm thầm anh nào hay biết. Tất cả đã xa rồi phải không anh? Em nhớ làm sao thuở ấy, thuở anh còn ngồi hằng đêm trong quán nhạc để nghe em hát:
“…Từ lúc vắng anh nên em thường buồn. Hay lang thang ngoài đường nhỏ không tên, hay ghi câu nhạc tình héo hắt với tâm tư sầu đau kể từ ngày xa cách nhau…”

Rồi thời gian cứ lạnh lùng trôi, tôi vẫn theo dõi bước chân anh trên vạn nẻo đường sương gió. Anh oai hùng, anh chiến thắng, danh vọng, tên tuổi anh càng sáng chói… còn tôi lu mờ trong bóng tối âm u.

Đến ngày tang thương mất nước, tôi theo người cậu di tản sang Mỹ. Tôi muốn trốn chạy những người thân quen, trốn chạy nơi đã cho tôi quá nhiều kỷ niệm để lòng vơi bớt não nề băng giá. Nơi đây tôi may mắn được quen với ông Anthony Salerno một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ gốc người Italy, ông đã giúp đỡ chữa trị khuôn mặt của tôi. Sau cuộc giải phẫu, tôi rất ngạc nhiên và sung sướng: mặt tôi đã trở lại gần như bình thường. Tôi vui mừng viết thư báo tin cho Ba Mẹ biết để các người yên tâm, bớt đau khổ vì tôi. Nhưng có những chiều lái xe từ sở về nhà, nhìn con đường trước mặt chạy dài hun hút, nhìn dãy Big Bear Mt. mờ mờ ẩn hiện dưới chân mây, hoặc những lần lang thang một mình bên bờ Redondo Beach tôi bỗng thấy lòng nhớ anh da diết. Chính tôi đã hủy hoại tình yêu mình, chính tôi đã xô đẩy anh đến với người khác, giờ đây mọi việc đã lỡ làng, đã muộn màng làm sao tìm kiếm lại những ngày xa xưa ấy? Nước mắt tôi cứ mãi tuôn rơi trong những đêm sầu trăn trở, tôi đã sống với những ngày tháng buồn tênh và những kỷ niệm ngập tràn nhung nhớ.

Mười lăm năm sau, tôi đi dự lễ giỗ cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Quân Khu 4, trước đó ông từng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Vì kính trọng, thương mến ông nên các anh trong Sư Đoàn 7 Bộ Binh làm lễ giỗ cho ông hằng năm ở Nam California. Thật bất ngờ, trong số người tham dự tôi đã gặp lại người xưa như một cơn mơ. Tôi lặng người, run rẩy đứng nhìn anh từ xa, anh không thay đổi nhiều, già dặn, trầm tĩnh hơn, da dẻ hồng hào hơn ngày xưa nhưng ánh mắt vẫn buồn buồn như thuở nào tôi mới gặp, và chính nét buồn đó đã làm gục chết trái tim tôi. Tôi tiến lại gần anh và hỏi:
Anh Phương có còn nhận ra tôi không?
Phương nhìn tôi, mở to đôi mắt, miệng lắp bắp:
- Trời ơi! Lẽ nào tôi nằm mơ? Bích Liên đây sao? Có thật là em không?
- Anh vẫn còn nhớ tới Liên sao? Liên cứ tưởng thời gian đã làm nhạt nhòa hình bóng Liên trong anh rồi. - À, sao anh lại có mặt ở đây? Anh là dân Nhảy Dù mà, đâu phải là đệ tử của ông Tướng Nam?
- Anh theo một người bạn đến thắp nhang cho ông Tướng Nam, người mà anh rất ngưỡng mộ.Thôi chúng ta ra ngoài kia nói chuyện tiện hơn, anh có biết bao điều muốn nói với em.

Chúng tôi ra ngồi ở một băng ghế sau nhà và đã cùng nhau trút cạn nỗi niềm tâm sự. Phương cho tôi biết là sau khi tưởng tôi phụ bạc anh, anh tức giận muốn trả thù tôi nên đã cưới vợ.
Anh buồn bã trầm giọng:
- Anh đi biền biệt suốt tháng quanh năm nên người vợ chưa từng thương yêu của anh cũng chán nản bỏ anh theo người khác. Có lần anh được anh Tùng kể rõ hoàn cảnh em cho anh nghe, anh đã hối hận và viết cho em rất nhiều thư nhưng không có sự hồi âm nào (lúc đó tôi đã dời chỗ ở). Rồi trước biến cuộc 30 tháng 4- 1975 xảy ra vài ngày, anh từ Đà Nẵng chạy về tới Nha Trang gặp một người bạn là Hạm Trưởng một tàu Hải Quân đang chuẩn bị di tản, anh đã ở lại và cùng đi với các anh em Hải Quân đó. Khi đến Hoa Kỳ anh ở miền Bắc Mỹ mấy năm, sau đó anh tìm cách về California sinh sống và hy vọng gặp người quen để biết tin tức về em vì ở Cali có nhiều người Việt Nam. Anh được biết tin Tùng đã chết trong tù, còn chị Phượng thì vì quá nhớ thương chồng và nhiều gian khổ nên cũng đi theo Tùng sau một cơn bịnh nan y. Anh vẫn chờ em, vẫn luôn cầu mong có ngày gặp lại em, không ngờ chúng ta ở cùng trong một thành phố mà trời cao thật trớ trêu.Thời gian dài đăng đẳng không có tin tức gì về em cả, anh đã tuyệt vọng.Vì cần người nương tựa nhau để sống cho qua những ngày tháng buồn nơi xứ người nên hai năm trước đây anh đã kết hôn với một phụ nữ cùng làm chung sở. Anh không yêu cô ta nhiều nhưng nàng cũng là một người vợ hiền. Bây giờ gặp lại em anh hối hận sao mình quá hấp tấp….
Tôi ngắt lời anh:
Thôi anh đừng nói nữa. Em biết đời em vô duyên, bất hạnh không dám mơ ước cùng anh chung bóng chung đôi.
Lòng tôi chợt thấy xót xa, cay đắng và đau đớn vô cùng. Bao nhiêu năm chờ đợi trong mỏi mòn tuyệt vọng, dù biết rằng chuyện tái hợp với người xưa không thể nào có nhưng khi nghe anh đã có người đàn bà khác tim tôi quặn thắt, tái tê.
Phương hỏi tôi:
Anh nghe Tùng nói em bị tai nạn … anh thấy em đâu có gì khác lạ? Sự thật là thế nào?
Anh còn tìm hiểu làm chi khi chúng ta đã không về cùng chung hướng đường. Đời đã chia hai lối rẽ, coi như một giấc mơ, tỉnh mộng rồi sẽ không còn gì tất cả.

Em giận anh phải không? Sao không kể lại chuyện ngày đó cho anh nghe?

Đúng thế! Em giận lắm. Anh đâu hiểu được cũng vì lặn lội đi thăm anh em mới bị tai nạn. Anh đâu hiểu được những nỗi đắng cay, đau khổ, tuyệt vọng mà em âm thầm chịu đựng, em cô đơn trong suốt cuộc hành trình dài đăng đẳng. Em vẫn cầu mong được gặp lại anh, vẫn chờ, vẫn đợi…nhưng tất cả chỉ là bọt biển, và một cơn sóng lớn vô tình, tàn nhẫn đã vùi dập chúng không chút luyến thương…


Tôi cảm thấy thật tủi thân, bỗng dưng tôi oà khóc và ôm mặt chạy ra đường. Phương hốt hoảng chạy theo hết lời năn nỉ.Tôi không màng đến anh nữa, không cần nghe anh nói gì hết, tôi lên xe đóng mạnh cửa và gục xuống tay lái. Tôi cứ mặc cho nước mắt tuôn rơi, mặc cho con tim đau đớn xót xa. Tôi hận anh, tôi oán hờn anh, tôi trách anh là kẻ bội tình, đã hai lần bóp chết trái tim vô tội đáng thương của tôi. Cả tuổi xuân của tôi vì ai mà phôi phai tàn tạ, vì ai mà tôi lưu lạc tha phương xa cha nhớ mẹ? Vì tình yêu khờ khạo của tôi thôi.

Tôi ngẩng đầu lên, lau khô nước mắt. Phương vẫn đứng bên ngoài xe miệng lầm bầm gì đó tôi không nghe.Tôi nổ máy cho xe chạy…hình như anh muốn chạy theo nhưng xe tôi đã rẽ qua con đường khác, một con đường rưng rưng buồn với hai hàng phượng tím giăng giăng. Hết rồi, một cuộc tình đã đi qua không bao giờ trở lại, có chăng là nước mắt và thương đau. Thôi, người ơi xin gĩa từ, bây giờ và mãi về sau trong tim tôi chỉ còn một Thế Phương của ngày xưa thân ái, của hương yêu tình cũ. Nhưng Thế Phương đó đã chết rồi, chết trong ngày đất nước tan hoang, sụp đổ và mối tình si của tôi cũng đã theo người đi vào thiên cổ…

Từ ngày đó tôi không bao giờ gặp lại Phương nữa. Chiều nay đứng nhìn cơn mưa ngoài trời dai dẳng, lê thê không dứt, tôi bỗng thở dài. Ngoài kia những chiếc lá vàng đang bay lả tả sau một cơn gió mạnh vừa thổi qua, không gian vẫn một màu xám ngắt…Tôi bước tới dàn máy hát đưa tay mở nhạc, những lời hát sao thật buồn như cuộc tình của tôi:
“Chuyện tình mười mấy năm qua, nay bỗng xót xa, những khi sầu giăng.
Còn đâu ngày quen biết nhau, đã yêu anh rồi, yêu cả cuộc đời.
Khi anh đã phụ lòng em… đã phụ lòng em, đau thương anh để lại, xót xa vô vàn, chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê…”**

* Thuở Ấy Có Em – Huỳnh Anh.
** Tình Phụ - Đỗ Lễ 

 Vi Vân