Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2025

Đời Thường

 

Sáng đi bộ nhìn trời cao chất ngất
Cùng cỏ cây ôm nắng ấm vào lòng
Nghe hơi thở nhịp nhàng cùng trái đất
Cũng quay tròn theo thế giới mênh mông.

Sáng đi bộ gặp người quen lối xóm
Cùng chào nhau nghe thân thiết vô cùng
Cuộc đời này cũng còn đôi tình cảm
Người với người hai đường thẳng song song.

Sáng đi bộ đường loanh quanh lối xóm
Cùng cỏ cây ngào ngạt chất hương nồng
Nghe chim hót lời thơ in mật ngọt
Cũng yêu đời nên nhớ núi thương sông.

Ngày với ngày loay hoay theo kiếp sống
Một đời thường như cây cỏ đơm bông
Qua tám chục tưởng chừng như mười tám
Nhìn thế gian qua lăng kính phiêu bồng.

Đăng Nguyên

Ấm Áp Tình Người


- Anh lính nắm chặt tay cha hấp hối suốt đêm trong viện, sau đó anh tiết lộ sự thật khiến cô y tá sững sờ...
- Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả…
- Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông: “Bác kính yêu, con trai bác đã đến rồi đây!”

- Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng ký” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt… Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật. Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh…

- Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

- Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh đã suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

- “Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu… Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ… Con nghĩ đến đấng tối cao trong con và tấm lòng từ bi của Ngài… Nếu được đến với Ngài trong giây phúc này, con chắc chắn sẽ không hối hận…”
- Anh nghẹn ngào tiếp lời: “…và thế là, một phép lạ đã xảy ra… Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng đã kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên… Con đã được cứu sống một cách kỳ diệu như vậy đấy…!”
- Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào đấng tối cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình yêu thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

- Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất. Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về… Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

- Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông…
- …Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh: “Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi!”. Anh mỉm cười từ chối: “Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa…”
- Cô y tá ngập ngừng đáp lại: “Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.
- Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai… Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây…

- Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay… Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng…
-Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng… Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá…
-Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá: “Tôi muốn cho cô biết một sự thật…”. Cô y tá chỉ tròn xoe mắt: “Là sự thật gì vậy?”. “Tôi không phải con trai của ông ấy…Tôi chưa gặp ông bao giờ cả…”.
- Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.
- Anh mỉm cười hiền từ: “Cô biết đấy… ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình… Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình…Và… tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế…”.
- Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kỳ diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này…
- Cô y tá nhìn anh run run: “Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey…”
...
- Cái đêm đặc biệt ấy đã khiến tâm hồn của ba con người thay đổi hoàn toàn. Ông lão được thỏa mãn nguyện ước cuối cùng của đời mình và có thể thanh thản để về bên kia thế giới.
- Chàng trai trẻ mồ côi cha lần đầu tiên được nắm tay một người để có thể chia sẻ, bộc bạch mọi khó khăn, bước ngoặt cuộc đời mà anh đã cô đơn bước qua.
- Cô y tá được chứng kiến tận mắt một câu chuyện nhân sinh quan rất xúc động có thật trên đời, có lẽ sẽ càng khiến cô trở thành một người chăm sóc nhân hậu, thông cảm và thấu hiểu hơn nữa tình người. Trong cõi xa xăm nào đó, hai cha con ông lão hẳn sẽ được đoàn tụ với nhau, và anh lính Hải quân sẽ không phải nuối tiếc vì thiếu hơi ấm của người cha khi còn quá trẻ…
- Một lúc nào đó, giữa dòng đời tấp nập, nếu có ai đó cần bạn thật sự, hãy mở rộng tấm lòng mình như cái cách mà anh lính Hải quân đã làm với ông lão và với cuộc đời mình, để cảm nhận tình người và vị ngọt của sự chia sẻ, đồng cảm. Yêu thương người khác là yêu thương chính mình, bạn sẽ không bao giờ biết được hết giá trị của tình yêu không cần hồi đáp mà bạn cho đi.

Phong Châu biên dịch

*** 
Cảm ơn anh Bình và anh Bồng cho đọc một bài viết hay, cảm động, chan chứa tình người…Xin đươc phép chuyển tiếp.

Cá nhân tôi rất tâm đắc về việc có cùng suy nghĩ với người lính thủy là vì sợ mũi tên hòn đạn không dám “ phiêu lưu tình cảm” nên “ đời tôi vẫn cô đơn…” cho đến khi “ ngồi tù chung thân” Hihi!! .
Sau khi đọc câu chuyện, tôi nẩy ra ý nghĩ là “thêm mắm muối “ xin theo chân bà Tùng Long để viết vài câu ( tui không có tài viết như các vị anh tài văn thi sĩ khác đâu nhé, đừng cười tui nha!!), đại khái là (cho có hậu thêm):

Sau chiến tranh Iraq anh lính thũy cũng đáo hạn quân ngũ, anh xin xuất ngũ để về tiếp tuc đi học them đại học. Không quên đươc bóng hồng mà anh đã gặp ở BV đêm nào, một hôm anh ghe thăm BV với hy vọng tìm gặp lại bóng hồng xưa. Không biết duyên nào đã đưa anh được gặp cô y tá đang trong ngày trưc phiên: tay bắt mặt mừng họ trao đổi chuyện trò….. Khi được biết cô y tá vẫn còn độc thân, anh lính thủy không ngần ngại quỳ gối xin cô bàn tay, và rồi và rồi….( tiếp tục câu truyện của bà Tùng Long….). Cuôc sống của hai người mỗi ngày một thăng hoa………

Mạn đàm: Đung là mọi sự trên đời đều do duyên, và Bề Trên cao cả không bao giờ quên những người có thiện tâm!.
Kính chúc quý Anh Chị luôn vui khỏe.

Nguyễn Tích Lai
***
Viết lại và khai triển theo ý của anh Nguyễn Tích Lai

Ấm Áp TÌnh Người

Trong bệnh viện một ngày cuối năm
Anh lính thủy suốt đêm ngồi cạnh
Nắm tay người cha trên giường bệnh
Đang hấp hối cho đến khi ông
Nở nụ cười, thở hơi cuối cùng.
Rồi sau đó thật lòng thố lộ
Điều làm sững sờ cô y tá.
Câu chuyện tôi sẽ kể sau đây
Chuyện thật làm nhiều người mắt cay,
Nhỏ lệ, sụt sùi hay sướt mướt.
Và bây giờ, xin mời bạn đọc:
…..
Cô y tá vội bước vào phòng.
Cùng với một anh lính hải quân.
Hai người đến cạnh bên ông lão
Đang nằm im mà mắt thao láo.
Ngực ông hai vạt áo mở tung.
Khép chúng lại, đắp thêm chăn bông,
Cô y tá ghé tai ông nói:
«Cụ ơi Cụ, con trai cụ tới
Thăm Cụ đây Cụ nói gì không?”
Ông lão vẫn chẳng nói, chẳng rằng,
Nhưng đôi mắt dường như chơm chớp.
«Anh ấy đấy!» cô y tá tiếp,
“Anh lặn lội đến gặp Cụ đây!”
Ông lão chợt quờ quạng bàn tay.
Tìm bàn tay chàng trai nắm lấy.
Anh lính trẻ xúc động trông thấy
Nâng bàn tay run rẩy, khẳng khiu
Của ông lão bằng cả thương yêu
Như muốn truyền ít nhiều sinh lực
Cho con người sức cùng, lực kiệt.
Ông lão nhìn anh, mặt thẫn thờ.
Môi mấp máy mà tiếng không ra.
Cô y tá chạy qua phòng kế
Lấy và đem qua một cái ghế
Mời anh lính ngồi để cha con
Có thể tâm sự trọn thời gian
Mà họ muốn, và xin cáo lỗi
Trở về nhiệm vụ trực phiên tối.
Anh lính trẻ thức tới sáng luôn.
Cứ nắm tay ông lão không buông.
Kế cho ông vui buồn đời lính.
Trong suốt thời gian dài chinh chiến.
Lính Hải quân sông biển bồng bềnh,
Sống cuộc đời hồ hải, lênh đênh
Anh kể có một lần suýt chết.
Hôm ấy biển động và trời rét.
Có khả năng phục kích bất ngờ.
Tầu toán anh phải đi tuần tra.
Trong lúc anh mải mê quan sát
Một cơn sóng vô cùng mãnh liệt
Đã cuốn anh văng bật khỏi tầu.
Cố vùng vẫy, nhưng chẳng bao lâu,
Anh kiệt sức, bắt đầu chìm lỉm.
Anh nói khẽ: “Con tuyệt vọng lắm.
Con nghĩ chắc mình tận mạng rồi.
Nước xộc vào mũi, con hết hơi.
Ngực nặng trĩu, gió vùi, sóng dập.
Con tự nhủ, thôi thế là hết.
Mình còn gì hối tiếc hay không.
Rồi bỗng dưng cảm thấy thong dong.
Tâm hồn con bình yên đến lạ.
Tưởng như mình sẽ gặp Thượng Đế,
Con thảnh thơi buông bỏ hoàn toàn.
Giữa lúc ấy thì bỗng đột nhiên
Một phép lạ cứu con thoát chết
Thân hình con chợt nhẹ như bấc
Và rồi trên mặt nước nổi lên.
Đồng đội con quăng phao xuống liền.
Nhờ thế mà con còn sống sót.
Thật kỳ diệu không sao kế xiết!”
Ngưng một phút, anh tiếp: “Bố ơi,
Sau đó thì con nghiệm ra rồi.
Niềm tin vào cuộc đời cộng với
Hỗ trợ mà Thượng Đế đem tới
Sẽ giúp ta vượt mọi khó khăn.
Con muốn Bố gắng giữ niềm tin
Để ngày mai cha con mình lại
Cùng được thấy nguồn hạnh phúc mới!”
Sau đó anh kể tới chuyện tình
Thật đẹp anh có mà không thành
Giữa anh và một nàng thiếu nữ
Là bạn thân từ hồi còn nhỏ
Nhưng buồn thay lúc đó chiến tranh
Đang trên đà leo thang thật nhanh
Sống cuộc đời chiến binh anh phải
Lựa chọn giữa tình yêu trai gái
Và tình yêu tối thượng quê hương.
Anh không chọn đường hướng bình thường
Mà quyết định chọn đường phục vụ
Tố quốc và quê hương , vì thế
Anh đã can đảm để người yêu
Tránh cái cảnh một sớm một chiều
Khăn tang trắng trên đầu phải đội.
Anh khuyên cô tìm tình yêu mới.
Ông lão không thể nói một lời,
Nhưng trên môi hé nở nụ cười
Và nước mẳt lăn dài trên má.
Và rồi suốt một đêm cứ thế.
Anh lính tiếp tục kể chuyện đời
Còn ông lão thở hắt từng hồi
Nhưng phảng phất nụ cười chưa mất.
Khi ánh dương lờ mờ ló mặt
Anh lính vẫn nắm chặt tay ông
Thân hình giờ đã lạnh như băng.
Cô y tá đi ngang, dừng lại
Rồi bước vào, và dịu dàng nói:
“Đã sang ngày mới rồi, thưa anh.
Bây giờ đã bắt đầu bình minh
Phòng bên cạnh có giường còn trống.
Anh có thể qua đó nằm xuống
Vài khoảnh khắc đặng đỡ mỏi lưng.”
“Dạ, xin cám ơn cô vô cùng.
Nhưng tôi muốn ngồi thêm lát nữa!”
Cô y tá: “Nếu vậy tôi sẽ…”
Và một cái ghế cô kéo thêm,
“Xin phép được cùng ngồi với anh.”
Rồi cô kể sự tình sau, trước:
“Ông cụ hết sức là cô độc
Cụ vào đây đã được năm tuần
Cơn bệnh quái ác dầy vò ông
Những cơn đau vô cùng khủng khiếp,
Khiến cho ông lúc tỉnh, lúc thiếp.
Thấy ông quá tội nghiệp, cô thường
Sau giờ làm việc ghé thăm ông
Và được nghe lời ông tâm sự
Ông nói đời ông đầy đau khổ
Nhưng ông được Thượng Đế ban cho
Một đứa con trai tuy gầy gò
Nhưng dũng cảm. Từ khi còn nhỏ
Đã nuôi mộng vá trời, lấp bể.
Anh đam mê biển cả, trùng dương,
Nên lớn lên đăng lính hải quân
Mang mộng ước báo ơn tổ quốc.
Ông hãnh diện về anh hết sức
Nhắc đến anh rất mực hân hoan
Ông nói lâu rồi, hai cha con
Chưa gặp lại, và ông rất nhớ
Chỉ ước mong một ngày có thể
Ôm trọn anh bằng cả vòng tay.
Và hôm nay, thật may mắn thay,
Anh đã đến kịp thời, may quá!”
Anh lính trẻ thở dài thật nhẹ
Mắt rưng rưng, khe khẽ kêu lên:
“Con chúc cha ra đi bình yên!”
Vì lúc ấy thì ông lão đã
Thở hơi cuối, giã từ cõi thế.
Buồn bã, anh lính trẻ ngước lên
Nhìn cô y tá, bằng giọng rất trầm:
“Tôi không phải là con ông lão.
Chưa bao giờ tôi gặp ông cả!”
Cô y tá quá thể ngạc nhiên:
“Vậy thì tại làm sao mà anh
Lại ngồi suốt cả đêm bên ống?”
Anh lính cười buồn: “Trong cuộc sống
Có nhiều điều không tưởng, thưa cô.
Tôi từ lúc nhỏ đã mất cha.
Ông lão sắp rời xa nhân thế
Chỉ ước mong có một lần để
Gặp lại đứa con đã từ lâu
Ông mong nhớ, thì tôi làm sao
Có thể nào ngơ đi cho được.
Thật ra tôi đến đây mục đích
Là để tìm gặp một cụ già
Đang ở đây, tên William Grey,
Báo tin cậu con trai ông đã
Trong một trận Hải chiến nghiệt ngã
Hy sinh hồi tháng Bẩy vừa qua.,
Cô y tá tay ôm ngực, thở ra:
“Và Cụ đây chính là người đó!”
Anh lính: “Duyên phận mà Thượng Đế
Toàn Năng an bài đó, thưa cô!
…
Bạn có thấy không, mọi duyên do
Trong cuộc sống dù to, dù nhỏ
Đều sắp đặt bởi tay Thượng Đế.
Cái đêm đặc biệt ấy đã làm
Thay đổi cả ba người hoàn toàn.
Ông lão thì cuối cùng ước nguyện
Cũng đã được hân hoan thỏa mãn.
Anh lính trẻ thì trọn một đêm
Được nắm tay một người không quen
Nhưng như là cha mình, và đã
Có cơ hội giãi bầy tâm sự
Nhắc đến những biến cố trong đời
Một đứa con mồ côi, lẻ loi.
Cô y tá xúc cảm bồi hồi
Chứng kiến một cảnh đời ý nghĩa
Chắc sẽ ngày một thêm trân quý
Nghề nghiệp mình, tận tụy hơn lên.
Và rồi đây, trong cõi xa xăm
Ngày nào đó, cha con ông lão
Sẽ đoàn tụ. Và anh lính trẻ
Cảm nhận tình yêu của người cha
Qua giây phút anh đã sẻ chia
Cùng ông lão rất là thắm thiết,
Trước khi ông bình thản, nhắm mắt.
…..
Một lần nào đó, trong suốt cuộc đời,
Tất bật này, nếu có một ai
Cần bạn, thì bạn ơi, bạn hãy
Mở rộng tấm lòng mình như vậy
Như cách mà bạn thấy ở đây
Như cách anh lính hải quân này.
Để cảm nhận bàn tay Thượng Đế,
Giá trị tình người giữa nhân thế,
Vị ngọt của chia sẻ, cảm thông.
Yêu người khác là yêu chính mình.
Bạn cho đi không cần hồi đáp
Đó chính là tình yêu đích thật!
****
Chiến cuộc rồi chấm dứt, qua đi,
Hòa bình cuối cùng cũng nở hoa
Anh lính trẻ sau khi giải ngũ,
Trở về với nếp sống dân sự.
Ghi danh ngay để trở lại trường
Hoàn tất chương trình học cử nhân.
Không quên được bóng hồng ngày nọ.
Nơi bệnh viện tình cờ gặp gỡ.
Anh quyết định ghé thử, ước mong
Sẽ được cùng người xưa trùng phùng.
May mắn đến đúng phiên cô trực.
Anh lính thủy vui mừng hết sức.
Cô y tá cũng rất hân hoan.
Hai người hẹn hôm sau đi ăn.
Rồi giữa cảnh trăng thanh gió mát,
Anh lính trẻ ngập ngừng thú thật,
Anh cảm cô từ lúc đầu tiên.
Nhưng vì mang kiếp sống quân nhân
Tương lai không nhiều phần bảo đảm.
Nên anh đã lặng thinh, không dám
Thổ lộ, mà giữ kín trong lòng.
Anh hỏi thẳng cô đã có chồng?
Cô mỉm cười: “Dạ không, chưa có.”
Anh lính thủy vô cùng mừng rỡ,
Quỳ ngay xuống, và mở bàn tay.
Một hộp nhẫn đính hôn phơi bầy.
Anh mở hộp, giọng đầy xúc động:
“Em có muốn cùng anh chung sống?”
Cô y tá thấy lặng cả người
Rồi đứng lên, ôm chặt chàng trai,
Nhẹ gật đầu, nụ cười hoa nở
…..
Chuyện gì sau đó, chắc bạn rõ.
Tôi không cần kể lề dài dòng.
Cuộc tình của họ ngát thơm hương.
Hai tâm hồn đầy lòng nhân ái.

Chẩm Tá Nhân
(phóng tác và khai triển theo ý anh Nguyễn Tích Lai}
Mùng Một Tết Giáp Thìn
(02/10/2024) và (08/27/2025)
 

Hương Xưa Ngày Ấy


Những cơn mưa cuối mùa ở thành phố tôi buồn hiu hắt, cái giá lạnh từ đâu bỗng về xâm chiếm tâm hồn.Tiếng mưa rơi nhẹ, đều đều trên mái nhà khiến tôi liên tưởng đến những cơn mưa của một thời áo trắng. Tôi nhớ mãi những chiều mưa ngồi bên song cửa đọc thư anh mà xót xa thương cảm cho người yêu ở một góc trời nào đó đang lặn lội dưới mưa rừng gió núi. Những nỗi nhớ nhung, mong đợi, lo lắng, bâng khuâng của một thời làm người yêu lính trận bây giờ nghĩ lại thật đẹp, thơ mộng làm sao! Tôi chợt đưa tay sờ lên mặt mình, những vết sẹo đã biến mất, không còn nữa.Thật may mắn cho tôi nếu không được đặt chân lên đất Mỹ thì không biết giờ nầy cuộc đời tôi sẽ ra sao, về đâu? Tuy những vết sẹo ngày xưa đã hủy diệt tương lai và mộng ước của cả đời tôi nhưng tôi vẫn luôn hoài niệm về khoảng thời gian đó, những ngày tháng thật êm đềm, ngọt ngào với những nỗi vui, buồn, đớn đau và nước mắt của một thời con gái…

Tôi là con lớn trong một gia đình gồm 8 anh chị em, Ba tôi là một công chức nhỏ nên cuộc sống gia đình có phần chật vật. Để giúp đỡ phần nào cho Ba, tôi phải đi làm thêm mỗi tối, việc làm đó là hát cho một quán café ca nhạc. Trời phú cho tôi một giọng ca truyền cảm, trầm ấm nên tiền thù lao khá hậu hỉ. Lẫn lộn trong đám người phức tạp nơi đó tôi hết sức dè dặt, giữ gìn ý tứ để khỏi mang tai tiếng vì mình còn là một nữ sinh đang cắp sách đến trường. Sau khi xong mỗi bài hát, trong khi chờ đợi hát tiếp tôi thường mở sách ra đọc để tránh nói chuyện với người khác. Một hôm có người bước vào hậu trường và đi thẳng tới trước mặt tôi, đó là một anh lính trẻ mặc đồ rằn ri với một bông mai trên cổ áo. Anh đứng nhìn tôi đang đọc sách, nhìn tựa quyển sách “ Hàn Yên Thúy” tức “Bên Bờ Quạnh Hiu” của Quỳnh Dao anh buông một câu không mấy lịch sự:

Sao cô lại thích đọc loại sách nầy? Ủy mị lắm.
Tôi khó chịu vì thái độ của anh ta nên sẵng giọng:
Anh có quen với tôi sao?
Anh ta trả lời rất tự nhiên:
Chưa, nhưng sẽ quen mà. Tôi xin tự giới thiệu tôi tên là Thế Phương đang phục vụ cho binh chủng Nhảy Dù, mong được làm bạn với cô.
Tôi chưa biết trả lời sao nên lặng thinh.
Phương giục:
Sao rồi? Cô có chấp nhận lời tôi không?
Tôi nhìn anh dè dặt:
-Anh nói bạn là thế nào? Nếu anh đến đây nghe nhạc thường xuyên thì cũng coi như là bạn của tôi rồi mà.
Không, tôi muốn nói là bạn riêng thôi.
Tôi thấy anh chàng nầy có vẻ sỗ sàng quá nên nghiêm mặt lại:
-Xin lỗi anh, tôi chưa nghĩ đến điều đó, vì tôi chưa quen biết anh nên tôi không thể chấp nhận, mong anh hiểu cho.
Anh chàng vẫn lầm lì:
Đêm nay tôi đưa cô về nhà nhé!
Không được đâu anh, Ba tôi sẽ đến đón tôi.
Anh ta nhún vai nhìn tôi:
Ông già giữ con gái kỹ thế .
Tiếng người nhạc sĩ điều khiển chương trình vọng vào:
Bích Liên ơi, tới phiên cô rồi đó nghe.
Tôi từ giã anh lính:
Xin phép anh, tôi phải ra sân khấu rồi.
Hẹn gặp cô sau.

Tôi bước trở ra sân khấu với bản nhạc “Thuở Ấy Có Em” :

“…Thuở ấy có em anh chưa từng sầu. Chưa đi âm thầm ngoài phố đêm thâu chưa mang hoang lạnh ngoài bến vắng. Hỡi em, em về đâu cho đời còn luôn nhớ nhau…”

Tôi nhìn xuống thấy anh đứng ở một góc của quán nhạc, đôi mắt đăm đăm nhìn về phía tôi, tự nhiên tôi thấy lòng có chút xúc động. Chắc anh có một nỗi niềm, một tâm sự riêng nên trông anh có nét buồn xa vắng.

Khi Ba tôi đến đón tôi, anh lặng lẽ nhìn theo không nói lời nào. Mấy đêm sau liên tiếp anh đều đến, đều tìm cách nói chuyện với tôi nhưng tôi cố giữ khoảng cách với anh vì tôi rất sợ mình sẽ yếu lòng, sẽ vướng vào tình yêu của lính, nhất là lính Nhảy Dù như anh.Tôi biết dù có lưu luyến, thương nhớ bao nhiêu rồi anh cũng ra đi, anh phiêu lưu trên khắp nẻo đường đất nước, khắp bốn vùng chiến thuật, bất cứ nơi nào khi chiến trường cần đến anh. Tôi phải tự thương lấy mình, thương cho thân phận của một người con gái sinh ra trong thời loạn.

Quả đúng như vậy, vào một ngày cuối tuần anh đến từ giã tôi để trở về đơn vị. Kỳ đi phép về thăm ông ngoại nầy đối với anh rất thú vị, rất vui. Tôi cũng có chút ngậm ngùi, lưu luyến vì những ngày qua anh thường nói chuyện với tôi, tôi cũng được hiểu về anh đôi chút.

Con chim xanh đã trở lại núi rừng, người đã xa rồi tôi cũng không còn gì vương vấn.Những đêm sau giờ đi hát, trên đường về tôi chợt nhận ra mình cô đơn quá, thiếu người san sẻ những ưu tư, lo lắng trong cuộc sống. Tôi thấy đêm bỗng buồn lê thê như những bài tình ca dang dở, và tôi trở lại với nếp sống hằng ngày tẻ nhạt.

Hai năm sau, vào mùa hè tôi lên Sàigòn thăm dì ruột của tôi. Dì có một người con gái tên Hồng Phượng lớn hơn tôi hai tuổi, chị em tôi rất thân với nhau.
Có một ngày chị Phượng khoe với tôi:
Để hôm nào bạn trai của chị từ chiến trường trở về chị sẽ giới thiệu cho em biết mặt nhé!
Tôi chọc chị:
Bạn trai thường hay là người yêu? Chị đừng giấu em, khai thật đi em sẽ ủng hộ hết mình.
Chị lườm tôi:
- Cái con nhỏ nầy. Ừ, thì…là người yêu. Em đã lớn chắc cũng có chàng nào trong tim rồi phải không?
Tôi giơ tay lên trời:
Em xin thề, chưa có chàng nào cả.

Vậy để chị nói với chàng giới thiệu cho em một người nhé? Bạn của ảnh đông lắm, lính Nhẩy Dù, Thiên Thần Mũ Đỏ em chịu không?
Tôi cười:
- Chà, ca ngợi binh chủng của chàng như vậy chắc là chị “đậm” với người ta lắm rồi, cầu mong cho chị gặp người tốt. Ngày trước em cũng có quen sơ sơ với một anh nhưng rồi mịt mù, rồi xa vắng bặt tin… chẳng tới đâu cả.

Hai chị em chúng tôi huyên thuyên tâm sự. Chị Phượng luôn nhắc đến người yêu: một trung úy trẻ, đẹp trai, oai dũng, can trường trên trận địa…Chị đã gặp anh ta năm trước khi đi làm dâu phụ cho một người bạn lấy chồng là một sĩ quan Nhảy Dù.

Hai tuần sau đó chị vui vẻ báo cho tôi biết người yêu của chị đã về phép, nhà anh ở cư xá Đô Thành nhưng anh hẹn gặp chị ở phòng trà Mỹ Phụng. Chị Phượng bảo tôi đi cùng, tôi từ chối vì không muốn làm “ kỳ đà cản mũi” cho hai người nhưng chị nói:
Anh Tùng có một người bạn đi chung, có em trò chuyện cùng anh ấy thì chị và Tùng sẽ được nhiều thời giờ tâm sự hơn.
Thì ra chị cần em “ đỡ đạn” cho chị.
Được rồi, tùy em nghĩ. Em chịu đi chứ?
Dạ, cũng được thôi.

Hôm ấy chị Phượng thật đẹp trong chiếc áo dài màu vàng thêu hoa kim tuyến, còn tôi thì “chìm sâu” với chiếc áo dài màu tím đơn sơ, buồn lặng lẽ. Tôi nghĩ rằng chị cần mặc đẹp, nổi bật vì có người yêu, còn tôi chỉ đi ké thôi nên chẳng quan tâm đến việc mặc đẹp hay xấu. Khi chúng tôi đến trước cửa Mỹ Phụng thì đã thấy hai anh chàng mặc quân phục Nhảy Dù đứng đợi sẵn. Chị Hồng Phượng có vẻ xúc động đưa tay chỉ về một anh:
Anh không mang kính đen là Tùng của chị đó.
Tôi nhìn theo tay chị, anh chàng cao ráo, phong độ làm sao. Hèn nào chị hết lời ca tụng chàng. Còn anh kia thật …đặc biệt, trời đã tắt nắng rồi mà còn mang cặp kính râm to tướng, chiếm cả gần 1/4 khuôn mặt.

Khi chúng tôi đến trước mặt, anh Tùng chào hỏi và giới thiệu thì anh chàng kia cũng vừa gỡ cặp kính râm ra, tôi bỗng giật mình lùi lại miệng lắp bắp:
Anh là…Thế Phương phải không?
Anh chàng cũng vừa nhận ra tôi:
Ồ! Cô Bích Liên ở Cần Thơ chứ gì! Mấy năm rồi mà Liên không thay đổi lắm, còn tôi…
Tôi nhận được anh chứng tỏ anh cũng không già thêm đâu.
Anh Tùng nói:
Hay quá, không ngờ là người quen xưa.

Bốn người chúng tôi cùng vào trong phòng trà. Anh Tùng và chị Phượng cứ tíu tít kể lể với nhau vô tình đẩy tôi phải trò chuyện với Phương. Chuyện ngày ấy, dù có một chút bâng khuâng thoáng qua hồn nhưng tôi cũng đã quên rồi con chim xanh chỉ dừng chân chốc lát trên một nhánh cây nhỏ để ngắm trời mây rồi bay đi. Giờ gặp lại Phương trông anh phong trần dày dạn hơn, đôi mắt đăm chiêu như có chút chán nản, muộn phiền. Anh nhìn tôi:
- Không thể nào ngờ tôi còn gặp lại Bích Liên, tôi mừng lắm. Bích Liên vẫn còn đi học chứ? Có còn đi hát thêm vào buổi tối không?
- Dạ, Liên không còn đi hát nữa để dành thì giờ học hành vì Liên đang học Đại Học Sư Phạm. Anh Phương có gì vui không? Trông anh già dặn và buồn hơn trước.

Liên nói đúng, tôi đang buồn vì người yêu vừa đi lấy chồng. Ngày trước khi tôi muốn làm bạn với Liên thì Liên lạnh nhạt hờ hững, tôi cũng không có dịp để bồi dưỡng tình cảm thêm với Liên. Sau đó tôi quen một người con gái khác ở Sàigòn và chúng tôi yêu nhau được hơn một năm rồi. Nàng học trường Régina Pacis, con nhà giàu, có lẽ vì vậy mà gia đình nàng chê lính như tôi nên cuối cùng thì tôi đành hát bài “Sayonara” để tiễn nàng về chốn cao sang. Giờ tôi chỉ còn tìm vui với máu lửa sa trường thôi.
Tôi nhìn anh, một chút xót xa thương cảm:
-Xin lỗi anh, ngày đó không phải Liên chê anh mà vì Liên còn nhỏ, còn bổn phận với gia đình. Hơn nữa Liên sợ làm người yêu của lính, lính cứ đi biền biệt, liệu mình có giữ nổi không? Nhưng bây giờ nhìn lại thấy chung quanh toàn là lính, bạn bè Liên ai cũng có người yêu là lính cả nên Liên cũng… bớt sợ rồi.
Phương cười có chút giễu cợt:
- Thế bây giờ Liên có dám làm người yêu của lính không?
Biết Phương chọc mình tôi cúi đầu lí nhí:
- Cũng phải xem là ai, có hợp tánh tình với mình không chứ anh.
Phương gật gù:
- Câu trả lời thật khôn ngoan. Liên à, mình có thể làm bạn không? Tôi chưa dám nói tới chuyện xa xôi, chỉ làm bạn bình thường để an ủi, chia xẻ vui buồn với nhau thôi.
- Được chứ anh. Chúng mình chả là bạn từ ngày trước rồi sao?
- Ừ nhỉ, Liên đã xem tôi là bạn rồi mà. Liên à, tôi có thể gọi Liên bằng “ em” được không, Liên nhỏ tuổi hơn Phương nhiều.
- Dạ, cũng được. Coi như anh là anh trai của Liên vậy.
Phương nheo mắt:
- Cô nầy gớm thật, định gài anh vào thế kẹt phải không? Anh không sợ đâu, lính Nhảy Dù thứ thiệt đó nha!

Cả hai chúng tôi cùng cười lớn. Chị Phượng và anh Tùng nhìn sang ngạc nhiên vì sự thân mật của chúng tôi. Từ trên sân khấu giọng một người nam ca sĩ thật ngọt ngào, trầm ấm, nồng nàn với bản “ Love Story”.

“ Where do I begin, to tell the story of how great a love can be.
The sweet Love Story, that is older than the sea….
….. There’d never been another love, another time.
She came into my life and made the living fine.
She fills my heart, she fills my heart.
With very special things, with angel songs, with wild imaginings, she fills my soul, with so much love…”

Phương nhìn vào mắt tôi và nói nhỏ “ you fill my heart”. Tôi quay mặt chỗ khác:
Cái anh nầy, đừng chọc Liên mà.

Nhưng rồi suốt những ngày đi phép của Phương, anh cứ quấn quít bên tôi. Anh đưa tôi đi xem phim ở Rex, Đại Nam hoặc vào hẻm bên hông rạp Casino ăn các món ăn miền Bắc. Có những chiều đứng trên bến Bạch Đằng nhìn những chiếc tàu Hải Quân rời bến, anh mơ ước được lướt sóng ra khơi như những chàng thủy thủ. Những lần ngồi bên nhau trong quán kem Lan Phương hay Givral anh kể cho tôi nghe về cuộc đời chinh chiến của anh, những vui, buồn, gian khổ, hiểm nguy, những trận đánh ác liệt anh đã tham dự. Anh kể về những sự hy sinh đầy dũng cảm của bạn bè ngoài sa trường, sự đau đớn, xót xa và nỗi uất hận khi nhìn đồng đội gục ngã… Nghe anh kể tôi hối hận vì ý nghĩ sai lầm về lính trước đây của tôi. Tôi không còn sợ lính nữa và cảm thấy hình như gần gủi với anh hơn. Nhà anh ở trên đường Trần Quang Khải -Tân Định, anh dẫn tôi về nhà giới thiệu với Mẹ anh, Mẹ anh có vẻ mến tôi lắm làm tôi ngại ngùngvì bà tưởng tôi là người yêu của anh.

Rồi anh trở lại với núi rừng, với những trận chiến ngoài kia còn tiếp diễn, tôi quay về nhà nối tiếp những ngày dài thầm lặng bên sách vở. Kỷ niệm của những ngày bên nhau đã làm tâm tư tôi bắt đầu thay đổi, tôi biết buồn bã bâng khuâng nhìn chiều nắng nhạt, biết thao thức thâu đêm sau những giờ miệt mài học hành, biết ưu tư lo lắng khi nghe tiếng súng vọng về từ xa xa, và cảm thấy một chút nhớ nhung ai đó. Những lá thư liên tiếp bay về từ chiến trường với những thương mến, quan tâm đã tôi làm tôi gục ngã trước tình yêu của anh, tôi không thể phủ nhận tình cảm của mình được nữa. Rồi từ đó thư đi, thư về ngày càng nhiều hơn đã khiến tình cảm chúng tôi thêm đậm đà, gắn bó. Tôi đã trở thành người yêu của lính từ đó.

Chuyện tình của chúng tôi kéo dài gần hai năm mà Phương vẫn chưa về phép để thăm tôi. Chiến trường sục sôi máu lửa, những tin tức về anh tôi chỉ được biết qua những cánh thư viết vội vã. Đơn vị anh được điều động đi khắp các mặt trận từ Kontum, Pleiku về Quảng Trị, Khe Sanh, Lao Bảo… Đêm từng đêm tôi âm thầm cầu nguyện cho anh được bình yên nơi tuyến đầu trận địa. Nhớ nhung, lo lắng từng ngày cho chàng nhưng tôi không biết phải làm sao. Và một lần đó, lần duy nhất trong đời, tôi đã đi đến nơi dừng quân của anh, cũng là chuyến đi định mệnh đời tôi khi anh báo tin cho tôi biết anh đang đóng quân ở Tây Ninh. Tôi đã hỏi thăm và dò dẫm đường đi, tôi bất chấp dư luận, lén cha mẹ, nhất quyết phải gặp anh cho cả hai vơi thương nhớ. Vào thời bấy giờ những con đường quốc lộ thường bị Việt Cộng đắp mô, gài mìn để phá hoại làm cản trở sự lưu thông của dân chúng và những đoàn công-voa chuyển quân tiếp viện đến các mặt trận của quân đội ta. Ngày đó tôi đang đi trên chuyến xe đò từ Cần Thơ về Sàigòn, vừa đến quận Cái Bè thuộc tỉnh Định Tường ( Mỹ Tho) trên quốc lộ 4 thì chiếc xe đi trước xe tôi bỗng ngừng lại thình lình vì có các anh binh sĩ địa phương ra chận lại bảo rằng phía trước có mìn, các chiến sĩ đang lo gỡ mìn để cứu đồng bào. Bác tài xế xe tôi trong lúc hoảng sợ, hấp tấp gài thắng thế nào làm chiếc xe bị lật ngang, lăn mấy vòng rồi rơi xuống đám ruộng khô bên đường. Kính xe bị bể nát văng vào hành khách gây thương tích rất nhiều người trong số đó có tôi. Sự việc xảy ra đột ngột làm tôi kinh hoàng, hãi hùng không còn biết gì nữa, chỉ biết mặt tôi đau buốt, máu chảy đầm đìa. Người ta đem tôi ra khỏi xe và đưa các bịnh nhân chúng tôi ngược về bệnh viện Vĩnh Long. Lúc đến bệnh viện, bác sĩ khám xong tôi mới biết là mặt tôi đã bị nhiều vết thương do miểng kính xe cắt. Ôi! Một người con gái đang tuổi đôi mươi với bao ước mơ, bao mộng đẹp mà phải mang gương mặt đầy vết sẹo thì còn đau khổ nào hơn? Tôi chợt khóc lớn, khóc thật lâu với viễn ảnh hãi hùng trước mặt.

Khi tôi được xuất viện trở về nhà tôi đã bỏ dở học hành, trốn tránh bạn bè và cả Phương nữa, tôi sẽ không bao giờ cho anh gặp mặt. Sau một thời gian dài không được thư tôi, Phương đã hiểu lầm là tôi phụ bạc nên anh giận dữ viết cho thư tôi bằng những lời trách móc nặng nề. Tôi tan nát cõi lòng, đầm đìa nước mắt để vĩnh biệt một cuộc tình đẹp như mơ.

Sáu tháng sau tôi được chị Phượng báo tin, anh Tùng cho biết là Phương đã cưới vợ, một người mà anh Tùng bảo rằng Phương chưa hề quen biết, đó là con gái của người bạn mẹ Phương. Thế là hết, là mãi mãi chia phôi, là trọn đời xa cách, là muôn thuở nhớ nhung, kiếp người bạc mệnh, bất hạnh như tôi số trời đã định còn biết sao hơn? Em chúc anh hạnh phúc bên người tình mới Phương ơi! Em chưa bao giờ phụ anh. Nhiều đêm thức trắng bên chồng thư cũ, bên những tấm ảnh của người yêu tôi nghe một nỗi tái tê dâng ngập tâm hồn. Thuở ấy mình bên nhau cùng xây bao mộng ước, cùng hướng về một tương lai tươi sáng. Nhưng giờ đây trong bóng đêm lệ em tuôn chảy âm thầm anh nào hay biết. Tất cả đã xa rồi phải không anh? Em nhớ làm sao thuở ấy, thuở anh còn ngồi hằng đêm trong quán nhạc để nghe em hát:
“…Từ lúc vắng anh nên em thường buồn. Hay lang thang ngoài đường nhỏ không tên, hay ghi câu nhạc tình héo hắt với tâm tư sầu đau kể từ ngày xa cách nhau…”

Rồi thời gian cứ lạnh lùng trôi, tôi vẫn theo dõi bước chân anh trên vạn nẻo đường sương gió. Anh oai hùng, anh chiến thắng, danh vọng, tên tuổi anh càng sáng chói… còn tôi lu mờ trong bóng tối âm u.

Đến ngày tang thương mất nước, tôi theo người cậu di tản sang Mỹ. Tôi muốn trốn chạy những người thân quen, trốn chạy nơi đã cho tôi quá nhiều kỷ niệm để lòng vơi bớt não nề băng giá. Nơi đây tôi may mắn được quen với ông Anthony Salerno một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ gốc người Italy, ông đã giúp đỡ chữa trị khuôn mặt của tôi. Sau cuộc giải phẫu, tôi rất ngạc nhiên và sung sướng: mặt tôi đã trở lại gần như bình thường. Tôi vui mừng viết thư báo tin cho Ba Mẹ biết để các người yên tâm, bớt đau khổ vì tôi. Nhưng có những chiều lái xe từ sở về nhà, nhìn con đường trước mặt chạy dài hun hút, nhìn dãy Big Bear Mt. mờ mờ ẩn hiện dưới chân mây, hoặc những lần lang thang một mình bên bờ Redondo Beach tôi bỗng thấy lòng nhớ anh da diết. Chính tôi đã hủy hoại tình yêu mình, chính tôi đã xô đẩy anh đến với người khác, giờ đây mọi việc đã lỡ làng, đã muộn màng làm sao tìm kiếm lại những ngày xa xưa ấy? Nước mắt tôi cứ mãi tuôn rơi trong những đêm sầu trăn trở, tôi đã sống với những ngày tháng buồn tênh và những kỷ niệm ngập tràn nhung nhớ.

Mười lăm năm sau, tôi đi dự lễ giỗ cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Quân Khu 4, trước đó ông từng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Vì kính trọng, thương mến ông nên các anh trong Sư Đoàn 7 Bộ Binh làm lễ giỗ cho ông hằng năm ở Nam California. Thật bất ngờ, trong số người tham dự tôi đã gặp lại người xưa như một cơn mơ. Tôi lặng người, run rẩy đứng nhìn anh từ xa, anh không thay đổi nhiều, già dặn, trầm tĩnh hơn, da dẻ hồng hào hơn ngày xưa nhưng ánh mắt vẫn buồn buồn như thuở nào tôi mới gặp, và chính nét buồn đó đã làm gục chết trái tim tôi. Tôi tiến lại gần anh và hỏi:
Anh Phương có còn nhận ra tôi không?
Phương nhìn tôi, mở to đôi mắt, miệng lắp bắp:
- Trời ơi! Lẽ nào tôi nằm mơ? Bích Liên đây sao? Có thật là em không?
- Anh vẫn còn nhớ tới Liên sao? Liên cứ tưởng thời gian đã làm nhạt nhòa hình bóng Liên trong anh rồi. - À, sao anh lại có mặt ở đây? Anh là dân Nhảy Dù mà, đâu phải là đệ tử của ông Tướng Nam?
- Anh theo một người bạn đến thắp nhang cho ông Tướng Nam, người mà anh rất ngưỡng mộ.Thôi chúng ta ra ngoài kia nói chuyện tiện hơn, anh có biết bao điều muốn nói với em.

Chúng tôi ra ngồi ở một băng ghế sau nhà và đã cùng nhau trút cạn nỗi niềm tâm sự. Phương cho tôi biết là sau khi tưởng tôi phụ bạc anh, anh tức giận muốn trả thù tôi nên đã cưới vợ.
Anh buồn bã trầm giọng:
- Anh đi biền biệt suốt tháng quanh năm nên người vợ chưa từng thương yêu của anh cũng chán nản bỏ anh theo người khác. Có lần anh được anh Tùng kể rõ hoàn cảnh em cho anh nghe, anh đã hối hận và viết cho em rất nhiều thư nhưng không có sự hồi âm nào (lúc đó tôi đã dời chỗ ở). Rồi trước biến cuộc 30 tháng 4- 1975 xảy ra vài ngày, anh từ Đà Nẵng chạy về tới Nha Trang gặp một người bạn là Hạm Trưởng một tàu Hải Quân đang chuẩn bị di tản, anh đã ở lại và cùng đi với các anh em Hải Quân đó. Khi đến Hoa Kỳ anh ở miền Bắc Mỹ mấy năm, sau đó anh tìm cách về California sinh sống và hy vọng gặp người quen để biết tin tức về em vì ở Cali có nhiều người Việt Nam. Anh được biết tin Tùng đã chết trong tù, còn chị Phượng thì vì quá nhớ thương chồng và nhiều gian khổ nên cũng đi theo Tùng sau một cơn bịnh nan y. Anh vẫn chờ em, vẫn luôn cầu mong có ngày gặp lại em, không ngờ chúng ta ở cùng trong một thành phố mà trời cao thật trớ trêu.Thời gian dài đăng đẳng không có tin tức gì về em cả, anh đã tuyệt vọng.Vì cần người nương tựa nhau để sống cho qua những ngày tháng buồn nơi xứ người nên hai năm trước đây anh đã kết hôn với một phụ nữ cùng làm chung sở. Anh không yêu cô ta nhiều nhưng nàng cũng là một người vợ hiền. Bây giờ gặp lại em anh hối hận sao mình quá hấp tấp….
Tôi ngắt lời anh:
Thôi anh đừng nói nữa. Em biết đời em vô duyên, bất hạnh không dám mơ ước cùng anh chung bóng chung đôi.
Lòng tôi chợt thấy xót xa, cay đắng và đau đớn vô cùng. Bao nhiêu năm chờ đợi trong mỏi mòn tuyệt vọng, dù biết rằng chuyện tái hợp với người xưa không thể nào có nhưng khi nghe anh đã có người đàn bà khác tim tôi quặn thắt, tái tê.
Phương hỏi tôi:
Anh nghe Tùng nói em bị tai nạn … anh thấy em đâu có gì khác lạ? Sự thật là thế nào?
Anh còn tìm hiểu làm chi khi chúng ta đã không về cùng chung hướng đường. Đời đã chia hai lối rẽ, coi như một giấc mơ, tỉnh mộng rồi sẽ không còn gì tất cả.

Em giận anh phải không? Sao không kể lại chuyện ngày đó cho anh nghe?

Đúng thế! Em giận lắm. Anh đâu hiểu được cũng vì lặn lội đi thăm anh em mới bị tai nạn. Anh đâu hiểu được những nỗi đắng cay, đau khổ, tuyệt vọng mà em âm thầm chịu đựng, em cô đơn trong suốt cuộc hành trình dài đăng đẳng. Em vẫn cầu mong được gặp lại anh, vẫn chờ, vẫn đợi…nhưng tất cả chỉ là bọt biển, và một cơn sóng lớn vô tình, tàn nhẫn đã vùi dập chúng không chút luyến thương…


Tôi cảm thấy thật tủi thân, bỗng dưng tôi oà khóc và ôm mặt chạy ra đường. Phương hốt hoảng chạy theo hết lời năn nỉ.Tôi không màng đến anh nữa, không cần nghe anh nói gì hết, tôi lên xe đóng mạnh cửa và gục xuống tay lái. Tôi cứ mặc cho nước mắt tuôn rơi, mặc cho con tim đau đớn xót xa. Tôi hận anh, tôi oán hờn anh, tôi trách anh là kẻ bội tình, đã hai lần bóp chết trái tim vô tội đáng thương của tôi. Cả tuổi xuân của tôi vì ai mà phôi phai tàn tạ, vì ai mà tôi lưu lạc tha phương xa cha nhớ mẹ? Vì tình yêu khờ khạo của tôi thôi.

Tôi ngẩng đầu lên, lau khô nước mắt. Phương vẫn đứng bên ngoài xe miệng lầm bầm gì đó tôi không nghe.Tôi nổ máy cho xe chạy…hình như anh muốn chạy theo nhưng xe tôi đã rẽ qua con đường khác, một con đường rưng rưng buồn với hai hàng phượng tím giăng giăng. Hết rồi, một cuộc tình đã đi qua không bao giờ trở lại, có chăng là nước mắt và thương đau. Thôi, người ơi xin gĩa từ, bây giờ và mãi về sau trong tim tôi chỉ còn một Thế Phương của ngày xưa thân ái, của hương yêu tình cũ. Nhưng Thế Phương đó đã chết rồi, chết trong ngày đất nước tan hoang, sụp đổ và mối tình si của tôi cũng đã theo người đi vào thiên cổ…

Từ ngày đó tôi không bao giờ gặp lại Phương nữa. Chiều nay đứng nhìn cơn mưa ngoài trời dai dẳng, lê thê không dứt, tôi bỗng thở dài. Ngoài kia những chiếc lá vàng đang bay lả tả sau một cơn gió mạnh vừa thổi qua, không gian vẫn một màu xám ngắt…Tôi bước tới dàn máy hát đưa tay mở nhạc, những lời hát sao thật buồn như cuộc tình của tôi:
“Chuyện tình mười mấy năm qua, nay bỗng xót xa, những khi sầu giăng.
Còn đâu ngày quen biết nhau, đã yêu anh rồi, yêu cả cuộc đời.
Khi anh đã phụ lòng em… đã phụ lòng em, đau thương anh để lại, xót xa vô vàn, chỉ là bội ước những lời hẹn thề mà lòng tái tê…”**

* Thuở Ấy Có Em – Huỳnh Anh.
** Tình Phụ - Đỗ Lễ 

 Vi Vân

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2025

Hoàng Hôn Muộn - Thơ: Kim Oanh - Thư Pháp: Quang Hà

  

Thơ: Kim Oanh
Thư Pháp: Quang Hà

Em Biết Không

 

Em biết không
Con đường chúng ta đi
Đầy chông gai hiểm trở...
-
tìm lại thơ ngây những ý thơ
bâng khuâng thương nhớ tuổi không chờ
mấy thu mòn mỏi phương trời ấy
giấu kín trong lòng một giấc mơ!!!

Nguyễn Thành Tài


Sông Cho Biển Nhận

 

(Viết tặng các thân hữu của SL)

Xin hãy cho như dòng sông quê ngoại
Cửu Long giang bù đắp những phù sa
Như bạn bè, bao kỷ niệm ngọc ngà
Theo năm tháng đắp bồi thêm tươi thắm

Muôn sông nhỏ đổ vào lòng biển thẳm
Cho biển kia dồn dập sóng trùng dương
Máu về tim, nơi phát xuất yêu thương
Sông về biển, nơi dưỡng sinh vạn vật

Xin hãy nhận như đại dương bát ngát
Những dòng sông muôn ngả chảy về đây
Như bạn xưa về ca khúc sum vầy
Cùng hội ngộ trong biển tình thân mến

Sông cần biển để có nơi chảy đến
Biển cần sông để cho biển thẳm sâu
Người cần người vì có những nhiệm mầu
Của tình cảm, của yêu thương, vương vấn

Xin hãy cho, xin hãy vui đón nhận
Những yêu thương, những thương mến ngọt ngào
Vì ngày mai nào ai biết ra sao?
Thì hiện tại, hãy yêu thương, vui sống

Trí thanh thản đừng để tâm vọng động
Trước những gì đố kỵ với hờn ghen
Như trăng kia vẫn sáng đẹp hơn đèn
Yêu thương vẫn đẹp hơn là oán hận

Xin chúc Bạn: Thiện Tâm luôn tinh tấn
Xin nguyện cầu: Nhân Ái trải muôn phương
Để mọi người sống An Lạc, Yêu Thương
Thì trần thế sẽ thiên đàng, hạnh phúc 

  Sương Lam

 

Thương Giọt Sương Mai


Hệ thống giao thông kỳ diệu trong không gian – nền tảng cấu trúc của vũ trụ – nằm gọn trong một giọt chất đen. Nhưng chất đặc biệt này còn tạo nhiều cuộc tranh luận sôi nổi. Kẻ tin người ngờ, phe nào cũng có lập luận vững vàng, chặt chẽ.

Các khoa học gia – tin “có” – tính toán rồi ước lượng vũ trụ có khoảng bảy mươi phần trăm là chất đen. Nhưng nhiều người khác, gồm cả các nhà vật lý học danh tiếng, nhất quyết không tin cái món này có thật.
Nghi ngờ cũng rất chính đáng vì họ – và toàn thể nhân loại – chưa từng thấy nó bao giờ, và sau hơn ba thập niên nỗ lực truy lùng với những dụng cụ khoa học tối tân nhất vẫn không “bắt” được nó.

Lò thí nghiệm tìm chất đen lớn và có kỹ thuật cao nhất là hầm Xenon (Lux) – The Large Underground Xenon (Lux) – ở South Dakota. Nằm sâu trong lòng đất – nơi xưa kia là một mỏ vàng – lò gồm một buồng chứa hàng tấn xenon, một hồ đầy với mấy trăm ga-lông nước cực kỳ tinh khiết. Đó là cái giàn “hứng” chất đen. Chất đen ở đây được hiểu là những phân tử nhỏ nhất trong trời đất, là đơn vị nền tảng của vũ trụ, đang từ không gian phóng xuống.

Theo lý thuyết và dự kiến: mỗi giây đồng hồ có hàng ngàn tỉ phân tử căn bản – thành phần chính của chất đen – rớt như mưa từ không gian xuống trái đất, xuyên suốt chiều dày của hành tinh này. Tóm được một mớ hạt để nghiên cứu thì khó, nhưng bắt được dấu vết nó để lại, chứng tỏ nó thực sự hiện hữu, thì rất có triển vọng.

Vậy mà, “hứng” như thế suốt hơn ba mươi năm không đạt một kết quả nào đáng kể. Các lò truy tầm nhỏ hơn, rải rác khắp thế giới, cũng chung số phận.

Tháng 12 năm 2016, nhà thiên văn học Stacy McGaugh, giáo sư trường đại học Case Western Reserve ở Cleveland, Ohio, trả lời Robin McKie, chủ bút tạp chí khoa học The Observer, rằng: Lò thí nghiệm đang được cải tiến, xây dựng lại, tối tân hơn, nhưng coi như đây là đánh ván bài chót. Nếu phen này vẫn chẳng tìm thấy cái gì thì kể như kẹt cứng, lâm vào ngõ cụt, sẽ phải tính tới chuyện sửa đổi hoặc loại bỏ luôn các lý thuyết hiện có, tìm những giải thích khác cho nhiều hiện tượng trong vũ trụ, kể cả lý thuyết về căn nguyên tạo ra hấp lực (gravity).

Làm việc cặm cụi hơn 30 năm, tay trắng hoàn trắng tay – không thấy phân tử gốc của chất đen đã đành, còn không dám chắc nó có mặt trên đời – vẫn chưa nản chí anh hùng, tiếp tục chiến đấu thêm một keo nữa! Sự bền bỉ, kiên trì thật đáng cảm phục. Lại dự phòng biện pháp đối phó nếu keo chót cũng thua luôn, thật là tỉnh táo, khôn ngoan, nhìn xa trông rộng.

Chỉ xin không đồng ý với giải pháp đem các lý thuyết ra mổ xẻ, sửa chữa, vào thời điểm này, hoặc ngay cả trong tương lai, khi canh bạc nghiên cứu đã làm ta cạn láng, cháy túi.

Ta chưa có đủ bằng chứng để phán xét đúng sai, xác định chất đen có thật hay không. Vì không tìm thấy nó nên ngờ nó không hiện hữu, rồi sửa lại các lý thuyết, căn cứ trên xác quyết chất đen chỉ là sản phẩm tưởng tượng, thì rất nguy hiểm, có thể chọn lầm những hướng đi chẳng dẫn tới đâu, hoặc lọt xuống vực thẳm sai lầm.
Chuyện nên làm bây giờ là thử dùng một phương pháp điều tra, nghiên cứu khác.
Thí dụ, để chứng tỏ chất đen có thật, ta dùng cách truy tầm thủ phạm của các thám tử: quan sát, nghiên cứu, phân tích các bằng chứng ở hiện trường.

Mấy khi hung phạm hành động xong, chịu khó ngồi chờ cảnh sát đến còng tay. Nó xa chạy cao bay rồi. Có đứa khéo trốn, biến mất vĩnh viễn. Nhưng dấu tích rải rác khắp phạm trường, thương tích trên thân thể hay thi thể nạn nhân, v.v… lập tức xác định sự hiện hữu của thủ phạm.

Đang nói chuyện vật lý khô khan nhàm chán, lôi chuyện điều tra tội ác, giết chóc bạo động vào thế này, có cái hay là làm bạn đọc giật mình, tỉnh ngủ. Nhưng với những bạn nhạy cảm, chắc nó gây khó chịu, mất vui.

Vậy ta nhớ những chuyện khác vui hơn: thí dụ như một trong những lần đi coi ảo thuật.
Ảo thuật gia phù phép rồi lừng lững bay lên, những vị tài ba còn bay lượn quanh rạp, lướt trên đầu khán giả, lơ lửng gần đụng trần. Ta phục lăn, vô cùng ngưỡng mộ tài năng của họ và như mọi người, vỗ tay, hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng không như đám con trẻ còn tin ở phép thuật trong những thần thoại hoang đường, ta biết ảo thuật gia “bay” nhờ những sợi dây treo. Ta không thấy, và có phần chắc là cả đời không hiểu được “bí mật nghề nghiệp” – cách giấu những dụng cụ hỗ trợ đặc biệt – tạo nên những chuyến bay rất… phi vật lý ấy. Nhưng ta biết chúng hiện hữu.

Dùng những thí dụ của vết dao đâm, đạn bắn trong án mạng, hay những sợi dây vô hình trong một màn ảo thuật để chứng minh sự hiện hữu của chất đen thì không có gì sai, nhưng e rằng phạm tội bất công với nó. Dấu tích nó để lại, cũng như thành tích nó đang và sẽ mãi mãi tạo ra, hầu hết là những công trình xây dựng lớn lao đóng góp vào sự hình thành cũng như sự chuyển vận của toàn thể vũ trụ.

Để công bằng với nó, ta nên dùng hình ảnh những thanh sắt thép làm cốt lõi trong cột trụ chân cầu, hay bộ máy trong chiếc xe đang chạy. Ta không nhìn qua được lớp xi-măng dày để thấy sắt thép, hay mở mui chiếc xe đang chạy để nhìn bộ máy vận hành, nhưng ta biết chắc một điều là chúng có mặt trên đời, như ta, như chính vũ trụ này.
Và quanh quẩn trong vườn chiều nay, không giàn hứng của hầm Xenon (Lux), không hệ thống “đập phân tử” tối tân của CERN (European Organization for Nuclear Research), ta vẫn dư sức chứng minh chất đen hiện hữu.

Bạn nhìn lũ cá bơi tung tăng trong hồ, hay lững lờ trong bình nuôi cá. Bạn ngắm những cánh chim bay lượn trên không trung. Rồi, chờ bóng đêm về, xem trăng sao lấp lánh khắp trời.
Kiến thức vật lý thiên bẩm – được bổ túc bằng kinh nghiệm – cho ta biết rằng:

Cá lội được nhờ nước.
Chim bay dọc ngang giữa trời được nhờ không khí.

Trăng, sao, mặt trời, mặt trăng và chính hành tinh này lơ lửng trong không gian được là nhờ một chất lỏng đặc biệt nào đó hiện diện khắp cùng vũ trụ.
Chất lỏng ấy chính là một thành phần của hợp chất tạo thành chất đen.
Tránh dùng những dấu tích phá hoại, chỉ nêu những thành quả xây dựng để chứng minh sự hiện hữu của chất đen, ta đã rất công bằng khi nêu ra một thành tích vô cùng lớn lao của nó: giữ cho vô lượng tinh tú lơ lửng giữa trời.

Cũng nhờ biết xử đẹp với chất đen mà ta được phần thưởng ngay. “Một lời đã biết đến ta…” chất đen cảm động, hé lộ cho các tri kỷ những nét chính trong dung nhan, thể lý, thể hình của nó.

Căn cứ trên những nhiệm vụ nó đang phải đảm trách: Bơm cho vũ trụ ngày càng nở lớn, treo vô lượng thiên thể lửng lơ khắp trời, tạo ra hấp lực, v.v… và nhất là trách nhiệm phải tạo ra vật chất, vật thể, cho toàn thể vũ trụ, chất đen phải gồm có, ít nhất, hai thành phần này:


1) Chất đen – phần thể lỏng

Đây là chất lỏng cực kỳ trong, nhẹ và loãng. Nhiều khoa học gia trang trọng gọi nó là Super Liquid. Nó tham dự vào hầu hết các hiện tượng xảy ra trong trời đất, đóng góp vào những yếu tố chính tạo nên những định luật vật lý đang hướng dẫn, chế ngự từ những động thái nhỏ nhoi đến sự vận hành của toàn thể vũ trụ.

2) Chất đen – phần vi phân tử

Các phân tử, vi phân tử trong chất đen có trọng trách tạo ra vật chất, vật thể, muôn hình muôn vẻ, từ hạt bụi, hạt cát tí teo đến những tinh cầu khổng lồ, thiên hà mênh mông. Chất đen phải chứa đựng tất cả các loại phân tử, vi phân tử hiện hữu trong vũ trụ mới có đủ nguyên liệu để chu toàn nhiệm vụ ấy.

Chất đen – nguyên chất – chiếm 70% (hoặc 90%, theo một ước lượng khác) thể tích của vũ trụ.
Nhưng ta không phải mỏi mắt nhìn vào cõi mênh mông để tìm tòi, nghiên cứu thêm. Chỉ cần ngắm nghía cõi vô cùng nhỏ nằm trong một giọt chất đen.

Phân tử nguyên thủy còn chưa thấy, đào đâu ra một giọt chất đen để quan sát?

Xin dùng tạm một món hữu thể, hữu hình: Giọt sương mai đọng trên cánh hoa hồng.
Món này cũng hiếm với đa số chúng ta. Không sao, xin nhớ lại giọt sương đã từng thấy trong đời. Thấy thật hay chỉ trên hình ảnh, họa phẩm, trong một lời nhạc, câu thơ… đều quý. Rõ ràng gặp nhau chớp nhoáng, chẳng bao lần, mà ta với sương mai quen thuộc, gần gũi lạ thường.

Giọt sương ấy đã nằm trong một giọt chất đen và – chính nó – cũng là giọt chất đen với dung nhan, thể chất mới, sau muôn triệu năm biến thái. Nó được tạo thành nhờ sự kết tụ của các phân tử, vi phân tử nằm trong chất đen nguyên thủy.
Trước khi nghiên cứu kỹ hơn, cũng nên biết về sự biến thiên, nhất là bước ngoặt đặc biệt, của hạt sương do chính con người gây ra.
Qua tiến trình chuyển hóa từ vi phân tử thành vật chất, diễn ra liên miên hàng triệu, tỉ năm, giọt sương, đến thời đại chúng ta, đột nhiên bị biến đổi sâu xa.

Hình thức hệt như xưa, nhưng nội dung hoàn toàn khác.

Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ.

Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp.

Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ yêu thương, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời cho tới khi tan biến.

Giọt sương trong veo, an hòa, xinh xinh trên lá, trên hoa, ở thời đại này, phải chứa trong lòng tất cả những eo sèo của miệng thế gian.

(11/5/2021)
Lê Tất Điều



Huế Của Tui

 

Dù con mắt đang lòa nhòa vì yếu, sáng ni lướt Facebook thấy Trang Huế Online - Huế Cố Đô có tiệc mừng sinh nhật Đệ Ngũ Chu Niên vào ngày 3 tháng 8.

Tui nhận ra trong màn hợp ca có bạn mình là Quỳnh Trang, và MC Thu Hương người làm thơ Đường tui từng ngưỡng mộ. Đúng là tại gốc Huế thì người đi dự đông, toàn sắc nước hương trời một thời, và tài năng cũng nổi trội quy tụ nhiều nhân tài quá xá. Màn đơn ca “Tạm Biệt Huế”, “Thoi Đưa”, “Xa Huế”..v..v.., ngâm thơ “Chiều Qua Sông”, màn hò Huế đã làm tui xem say sưa mê mệt.

Riêng bài “Khúc Tình Ca Xứ Huế” và “Tiếng Xưa” quá hay, O Thu Hương ni răng mà giỏi dữ rứa không biết: làm thơ, ca, ngâm, tài ăn nói MC thiệt là là...trên cả tuyệt vời.

Nói ra thì người ta sẽ phê bình “mèo khen mèo dài đuôi” chớ tui luôn mê mấy O Huế. Tui thấy họ mang một phong cách thiệt tao nhã nhẹ nhàng, ánh mắt nhìn tế nhị, kín đáo và rất ít nói. Hình như Huế luôn u trầm từ phong cảnh tĩnh lặng nên thơ, từ những di tích lịch sử vua chúa, mà bây giờ vẫn còn những bà Tham, bà Phán, bà Thị, bà Nghè sót lại, nên cốt cách mấy O rất ý tứ, (ngoại trừ tui ra nghe bà con. Dù cố gắng muốn e dè “một chiếc lá rơi cũng làm em hoảng sợ” mà răng tập hoài không được, vẫn chân chạy miệng la ơi ới, kể ra thiệt ...ốt dột rứa thê.)

Mấy O Huế tâm hồn thường thả theo trời mưa, đêm trăng, giọt nắng tàn chiều hạ, hay nhìn chiếc lá vàng cuốn theo “gió bay từ muôn phía, tới đây ngập hồn em...”. (Đoàn Chuẩn- Từ Linh). Hình như mỗi người Huế đều có máu thi nhân, văn sĩ hay răng mà nhìn lối viết cũng như cách ăn nói trong Trang Huế Online đều hay chi lạ, nhưng tui chỉ biết đọc âm thầm chứ chẳng dám comment, vì không có thì giờ

Tui thích ngắm mấy tà áo dài duyên dáng, kín đáo lịch sự, mê lắm bà con nợ. Bài hát “Khúc Tình Ca Xứ Huế “ làm tim tui se thắt, nước mắt chực trào, tui đang nhớ Huế khôn cùng ....

Nhìn qua khung cửa của buổi chiều còn nuối hạ, nắng vàng yểu điệu phơi trên vạt cây lá, bông hoa tím, hồng dịu dàng, hoa nắng lung linh trên mặt sân đùa giỡn, vài con bướm trắng bay lượn, tâm hồn tôi đi thật xa về miền quá khứ...

Ngôi nhà tui nhỏ, có giàn hoa Tigôn phủ rậm trước mái hiên. Từng chiều Mạ sai quét sân, tui thường bị la quét chậm, nhưng Mạ mô có biết: nhìn xác hoa vương vãi trên thềm, dưới sân tui không dám quét mạnh vì cảm giác đau lòng cho một kiếp hoa, nhưng rồi cũng phải quét, miệng đọc khe khẽ mấy câu thơ trong bài “Hai Sắc Hoa Tigôn” của TTKH:

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhật cánh hoa rơi chỉ thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương
....
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng “Hoa dáng như tim vỡ”
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi

Cứ rứa, cứ rứa mà mỗi khi quét sân đã tạo cho tôi cảm giác vừa đau buồn vừa thích thú yêu thương lâng lâng nhẹ vào hồn. Nói đến chữ “Nhớ” thì nhiều lắm.

Nhớ lúc nhỏ khoảng 4, 5 tuổi Mạ thường dẫn lên Chùa Tịnh Bình, Mạ ngồi tụng kinh với các bác, tui chẳng hiểu mô tê chi hết, nhưng vẫn ngồi im bên cạnh nghe âm thanh buồn buồn kèm tiếng gõ mõ, có phải vì rứa mà lớn lên tui “ghiền” tiếng tụng kinh của các Thầy Huế, ghiền tiếng chuông chùa ngân nga.

Nhớ những ngày gần Tết ngồi bên Mạ phụ ngào mức cốt chấm mút, bếp than đỏ rực ấm áp khi ngoài trời mưa lạnh giá. Đi học bộ quần áo ướt lạnh, về phải hong khô và ngóng chờ ngày nào tạnh mưa, có chút nắng lên bất chợt, đem hết quần áo ẩm ra phơi đầy sân.

Nhớ những chiều hè, gội tóc với bồ kết xong chà xát chanh lên, đi bộ tới cuối hồ Tịnh Tâm hóng tóc khô. Đứng tựa bờ thành nhìn rau muống mọc xăm xắp nước hồ, hoa bèo chen chúc trôi dạt lênh đênh, sen nở vươn cao khỏi mặt nước búp màu hồng, màu trắng tinh khiết. Đứng ngắm say mê, thả hồn đi mô cho đến khi tóc khô thì trời cũng đã chạng vạng, quay về nhà bị Mạ la “con gái không sợ bị yêu tinh nhập hay răng mà mặt trời lặn mới về.” Hồ Tịnh Tâm cũng luôn làm tui nhớ được học lịch sử là nơi tướng cố vấn quân sự Trần Cao Vân đã gặp vua Duy Tân bàn chuyện đất nước.

Nhớ con đường đạp xe xuống chợ Xép mỗi khi mạ sai mua chanh ớt, đồ vặt. Yêu biết mấy con đường Mai Thúc Loan có hàng phượng đỏ rợp bóng, xác rụng đầy dưới chân đi, lượm về ép trong vở chờ héo đem ra ngắm. Rồi còn con đường Phượng Bay (ai đặt ?) nữa, bóng cây tỏa rợp xanh mát, kéo tới cổng Đại Nội, sát thành có hồ sen, đối diện bên kia đường là quán cóc bán cà phê. Mỗi lần qua ngang cổng cứ nhớ tới lịch sử được thầy giảng dạy câu chuyện: Thống tướng De Courcy muốn gây chiến, đòi binh lính tùy tùng của mình cùng đi cửa chính để vào yết kiến vua Hàm Nghi, nhưng bị triều đình bác bỏ không đúng lễ nghi, không chấp thuận…

Nhớ mùa thu khắp nẻo đường góc phố toàn màu tím tha thướt của mấy O, cho hợp với khung cảnh bạn bè thường tóm gọn “thu tím lá vàng rơi” và mê cô Thái Thanh hát bài “Ngàn Thu Áo Tím” (nhạc Hoàng Trọng - Vĩnh Phúc)

Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím
Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến
Chiều xuống áo tím thường thướt tha
Bước trên đường gấm hoa
Ngắm mây chiều lướt xa...

Màu tím như một sắc luật gắn liền với Huế, nên giờ đây hễ có tổ chức nào của Huế là thấy đồng phục tím. Ôi tím thủy chung, tím mộng mơ, tím nên thơ....


Ngày 10 tháng 8

Vì Ôn Dôn của tui bị bệnh nặng, nên bao nhiêu sinh hoạt đều tạm ngưng, để tập trung đầu óc nhớ lịch trình chở đi bác sĩ này, bác sĩ kia, lại thêm con mắt tui bị cườm phải mổ tiếp con còn lại, nên đầu óc không nhớ chi hết á. Tình cờ nghe nhóm Huế hẹn hò gặp mặt ngày mai, tui hỏi “mai đi mô”, thì Trung Trực trả lời “trời ơi chị T, mai Hội Huế -Thừa Thiên mình tổ chức picnic nơi Cunningham Parks.” Ui chao! tui tỉnh người, sáng ra vùng dậy sớm gọi phone ơi ới cả làng, đều bị nghe trách lại “too late...”. Tui đang tìm cách đi thì may mắn có cô em chồng (Tịnh Tâm) đến chở. Hú hồn! Huế của ta, nhớ Huế phải đi tìm Huế chứ dù chỉ một góc nhỏ. Rứa rồi tui đeo kiếng đen bảo vệ con mắt, Ôn Dôn cũng lết theo quên bệnh tật luôn á. Người tham dự thiệt đông vì có cả thân hữu, dĩ nhiên mới bước tới đã thấy toàn áo thun tím quần trắng. Bộ đồng phục mà mấy năm trước tui luôn mặc khi hội tổ chức hè ngoài trời, phụ giúp phát thức ăn, chừ thì ...trí óc loạng choạng quá hè. Ngày ni tui như được tái sinh, đón truyền cảm giác vui lắm khi gặp người thân nói chuyện, bạn bè ca hát, nhảy nhót vui chơi.

Buổi tối dù mệt tui cũng theo dõi Trang Huế Online nơi Sài Gòn tổ chức ăn mừng sinh nhật 5 tuổi. Nơi đây cũng toàn màu tím yêu, chương trình cũng hay, cũng phong phú với nhiều tiết mục hợp ca “Về Dưới Mái Nhà”, “Tôi Yêu”, hoạt cảnh “Hào Khí Việt Nam”, Tam Ca 3 miền mặc áo dài trắng gợi nhớ hình ảnh thân quen của mình thời đi học. Ngoài ra có vũ khúc “Cái Trống Cơm”, đặc biệt sôi động nhất là vũ khúc “Sài Gòn Đẹp Lắm” sân khấu bao trùm y phục tím ngây ngất sắc màu.

Liên tục tui đã được về Huế 3 lần rồi nợ, được hít thở mùi hương Huế, khung cảnh Huế, nhân dáng Huế, tiếng nói Huế lặn hụp suối nguồn thời hoa mộng xa xưa... Tui đang chờ ngày tổ chức sinh nhật của TRANG HUẾ ONLINE tại San Jose đây


Bữa ni tui lên nhà chị Cindy tập văn nghệ. Ui chao ơi! nhìn lui nhìn tới cũng chỉ có mấy mệ trên dưới 80 tuổi với vài tiết mục, mà chỉ tập dợt một lần trong vòng 3 tiếng đồng hồ gấp rút. Rứa cũng là sự cố gắng hết mức vì lớp già hết lái xe, lớp đường xá xa xôi phải nhờ con cháu chở, lớp còn kiếm nồi cơm manh áo. Tất cả vì Huế, yêu Huế mà “băng rừng, lội suối, trèo đèo” (nổ một tý) ra sức tập dợt nơi ngôi nhà mệ Cindy & ôn Bào. Nơi đây luôn mở rộng cánh cửa chào đón, lo thức ăn thức uống vì sợ mấy Mệ nhảy nhót nhiều, bụng đói có thể...xỉu.

Em Thu Hương hướng dẫn màn trình diễn thời trang 3 miền Bắc Trung, Nam, chị Phúc tập màn múa phụ họa cặp Ôn Bào, Mệ Cindy hát. Thiệt tình tui muốn lạy tui mấy lạy luôn á, ai dè nhiều lần động tác kề nhau mà tui cứ quên hoài, như người cõi trên, hay từ hành tinh khác tới, làm bạn chung cặp cứ gọi hoài. Thôi thì ngày mai nếu có sai lạc động tác hy vọng bà con nghĩ số tuổi cũng châm chước thông cảm rứa hỉ, hy vọng để phấn khởi, vì tui thấy khán giả của Huế luôn dễ chịu, dễ thương lắm tề.

***
Ngày 17 tháng tám tới rồi, cái ngày mong đợi ấp ủ trong mơ. Răng mà đông rứa tề, có đại diện và dân cử hội đồng thành phố, có ban chấp hành hội Huế Thừa Thiên, có hội lão niên, có nhiều tuổi trẻ con cháu Huế cũng như đồng hương Huế, thân hữu Huế.

Mở màn là trưởng ban tổ chức (thầy Lê chí Tế giáo sư trường Hàm Nghi) lên chào mừng quan khách, tiếp theo đại diện Ban điều hành (Trung Trực) điều khiển vài phút lắng lòng hướng về quê hương và tưởng niệm hương linh Nguyễn Viết An Hoà, sau đó kể sơ lượt về nguồn gốc Trang Huế Online ra đời và giới thiệu Tập San “Huế Mãi Trong Tôi”. Kế tiếp chị Botin có đôi lời tâm tình, cùng các anh chị em cắt bánh sinh nhật mừng Trang Huế Online được 5 tuổi.


Màn văn nghệ mở đầu bằng bài “Cô Gái Việt” (sáng tác Hùng Lân) được hợp ca với đồng phục đẹp mắt do chị Cindy về VN đem qua. Thầy Lê Chí Tế thổi kèn ắc- mô- ni-ca, các em trẻ đóng góp hát như: Mỹ Phượng Áo Tím, Tina Trần, Như Thuỷ, Phương Chi và còn nhiều bạn nữa nối tiếp. Mấy Mệ tui bận đi thay áo cho các tiết mục của mình nên không nghe hết, không nhớ hết ai hát, tiếc như rứa thì thôi. May còn được nghe ca sĩ Thu Nga hát bài “Trả Nợ Tình Xa” điêu luyện sống động, cô là con dâu Huế hiền lành, ngoài phần giúp vui văn nghệ, cô còn cho nhiều phần quà giúp phần xổ số.

Đặc biệt có 3 bài tui mê nhất “Về Đây Nghe Em” (Trần Quang Lộc) chồng chị Thái Nga hát quá hay, “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” (Tuấn Khanh) anh Thái Hoà (Xuyến) hát, “Thuở Ấy Yêu Nhau” (Hoàng Nguyên) Phương Chi trình bày. Cặp Xuyến & Chi này từ San Diego lên dự, anh là bạn Ôn Dôn tui (Quốc Học) và Phương Chi bạn tui (Nữ Thành Nội). Cùng thời đó ở Huế hầu như ai cũng biết cặp này vì anh được bạn bè tặng danh hiệu “Alain Delon Huế” và vợ “Người Đẹp Hoàng Thành” với mối tình thật lãng mạn nên thơ. Tình cờ có loài hoa ghép tên chung của họ, nên gợi nguồn cảm hứng cho tui viết bài “Hoa Xuyến Chi” đăng trên Việt Báo cách đây mấy năm trong mùa Valentine.

Trở lại phần văn nghệ của nhóm tui, đầu tiên là mục hợp ca “Cô Gái Việt” đã kể, kế tiếp mục trình diễn thời trang 3 miền đệm nhạc bài “Yêu Và Mơ” (sáng tác Văn Phụng), Chầu Văn Huế “Âm Sắc Hương Bình”. Chao ơi là cái màn ni, tiếng hát, điệu nhạc xoắn vô đầu tui, tim tui, Huế ơi là Huế nhớ quá những buổi trưa chuẩn bị đi học được nghe tiết tấu giai điệu rất nhã nhạc vang lên từ những chiếc loa gắn trên các tàng cây, hắn lôi cuốn tui và mấy Mệ vừa gõ nhịp vừa muốn lắc lư nhảy … lên đồng thích thú. Màn cuối là múa phụ diễn cho đôi song ca Bào & Cindy bài “Duyên Quê” (Hoàng Thi Thơ), hú hồn! lần ni tui không đi trên mây, mà đi cùng chị em múa nên không bị bạn kêu vì trật nhịp nữa, tui nghĩ chắc Mạ mình phù hộ đó tề.

Sau buổi Sinh Nhật Huế Online, tui hứa với mình về nhà, tối sẽ viết tiếp, nhưng không cưỡng được cơn buồn ngủ, do đêm trước chỉ ngủ khoảng 2 tiếng.

Sáng nay thức dậy trễ, nhìn ra khoảng vườn nắng đã lên cao, chiếu trên những bông hoa Phượng màu vàng, tui không biết tên chi nhưng nghe mọi người đặt tên như rứa. Tui được chị Cindy tặng từ chậu nhỏ bằng bàn tay, rứa mà chừ hắn cao gấp hai tui sau 5 năm trời, thời gian từ đó tới nay chứa bao nhiêu tình nghĩa của những buổi sinh hoạt Huế Online tại nhà anh chị luôn tốt bụng, cởi mở thân thương, bên cạnh các chị em chung tình, nhiệt tình với Trang Huế Online, sinh hoạt vui vẻ thuận hoà, tất cả cho tui cảm giác như Huế vẫn quanh đây, rất gần.

Tóm lại tháng tám ni cho tui hạnh phúc rất lớn, dù dôn bệnh, vợ bệnh nhưng vượt qua thể chất suy yếu, mà lên tinh thần “Vươn Cao Với Huế” (do anh Lê Minh Hải làm hội trưởng). Ui chao! tui đang đạp xe dong ruỗi tham dự Huế Thừa Thiên, trang Huế Online -Huế, Sài Gòn và San Jose Bắc Cali. Chúng ta cùng cắt bánh, cùng hát Happy Birthday Trang Huế Cố Đô được 5 tuổi đó hí.


Cuối cùng tui xin tặng bài thơ Đường Luật để cám ơn Tập San “Huế Mãi Trong Tôi”, cám ơn ban tổ chức cho hai Ôn Mụ tui được dự buổi tiệc mừng ĐỆ NGŨ CHU NIÊN TRANG HUẾ ONLINE tại thành phố San Jose.

Tập San Trang Huế Online Mừng Sinh Nhật 5 Tuổi

“HUẾ MÃI TRONG TÔI” tuyệt phẩm dài
Công trình kết hợp đẹp tương lai
Lưu dòng Bến Ngự cài sương sớm
Khắc chữ Trường Tiền tắm nắng mai
Khúc cũ ngời khung hoài cốt cách
Triều xưa sáng cõi vẫn trang đài
Ngôi nhà đệ ngũ mừng sinh nhật
Ấp ủ Hoàng Thành khó nhạt phai

Minh Thúy Thành Nội
Ngày 17 tháng 8 năm 2025
San Jose (Bắc California)

Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2025

Mùa Thu Vẫn Hát Cho Người - Tình Khúc Tế Luân


Sáng Tác: Tế Luân(Lê Tuấn)

Về Quê Mẹ (1982)

 

(Bình Lãnh,Thăng Bình,Quảng nam)

Trở về quê mẹ buổi chiều hoang
Mây trắng bâng khuâng nhuộm nắng vàng
Nền trơ sỏi đá tường loang lổ
Cội rụi thân già bóng hắt ngang

Góp nhặt niềm xưa vơi hình bóng

Tan tành mộng ước bước lang thang
Hỡi mẹ bao năm còn vương vấn
Theo gió chiều lui lệ ngập tràn

Tô Đình Đài

Em Xưa

 

Em thôi học không ngồi bên khung cửa
Nắng sân trường chỉ còn thoáng mơ xưa
Ngày tháng mộng tàn theo hoa phượng đỏ
Lá vàng rơi đường mất dấu hẹn hò.

Đã xa lắm thuở tóc xanh áo trắng
Những ngày thơ con đường nhỏ vai gầy
Mây bay mãi dòng thời gian cũng thế
Chỉ còn ta hồn vương vấn câu thề!

Đời biến ảo người tranh đua sớm tối,
Em ngây thơ hồn xuân thắm trên môi.
Đường lên dốc đầy hương thơm cỏ dại
Bước em về màu nắng hạ chưa phai.

Xin cảm ơn có một lần gặp gỡ
Em ngàn trùng tình vẫn đẹp như thơ
Dù chẳng nói nỗi niềm xưa theo gió
Hồn mênh mông quên bến cũ con đò.

Đỗ Bình