Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2025

Hình Ảnh Giấc Ngủ Trưa Trên Vỉa Hè Của Người Dân Lao Động - Sài Gòn Trước 1975

Sài Gòn năm 1933
Những hình ảnh rất lý thú do các phó nhòm  quốc tế ghi lại về giấc ngủ trưa trên vỉa hè của người lao động ở Sài Gòn trước năm 1975


Sài Gòn 1966
c

Sài Gòn 1970

Ban Biên Tập
Sưu Tầm Từ Net.

Bàn Tay


Thượng Đế sinh ra muôn loài, thiên hình, vạn trạng, thì chắc Ngài là một khoa học gia đại tài, có óc tưởng tượng vô cùng phong phú. Con người chẳng hạn là một thực thể hoàn hảo, nhưng cũng đầy bí hiểm, nên từ bao nhiêu thế kỷ nay, các nhà bác học dầy công nghiên cứu, mà vẫn chưa thấu đáo được. Cái ruột dư dùng để làm gì? Bao nhiêu người đã chết vì nó; nhưng ai thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, không có nó, vẫn sống phây phây...Nhiều cơ quan, bàn tay chẳng hạn, có nhiệm vụ rõ ràng, tối cần thiết, không có nó không được, mà đôi khi, ta lại thấy nó thừa thãi một cách vô duyên, không biết để ở đâu, chỉ muốn vứt đi cho rảnh, như lúc ta phải trình diện trước ông, bà nhạc tương lai...Và bài này Bát Sách nói về bàn tay.

Về hình thể, bàn tay nào cũng có 5 ngón, nhưng đẹp, xấu khác nhau một trời một vực... Có những bàn tay búp măng ngón nhỏ và dài, da mềm mại trắng muốt: Đó là tay của các tiểu thư con nhà giàu, của các nghệ sĩ. Có những bàn tay vừa ngắn, vừa thô, ngón mập thù lù, da chai sần, nứt nẻ: Đó là tay chuối mắn của những người lao động. Tay người già, da nhăn nhúm, nám đen, gân xanh nổi chằng chịt.

Nhìn bàn tay, ta có thể đoán bệnh theo sách vở y khoa:
Các ngón tay biến dạng, xiêu vẹo, co quắp, đó là bệnh thấp khớp.
Bắp thịt bị teo, chỉ còn da, xương với gân, đó là bệnh cùi.
Lòng bàn tay bị co rút (contracture de Dupuytren), xung quanh ửng đỏ (Érythème palmaire), đó là bệnh chai gan. Tay đổ mồ hôi, lúc nào cũng ướt nhẹp, đó là dễ bị xúc động, thiếu cân bằng, hoặc tuyến giáp trạng hoạt động quá mạnh.

Bàn tay có một đường chỉ duy nhất là bệnh mongolisme. Chỉ tay thường có 3 đường chính là Sinh đạo, Trí đạo và Tâm đạo. Sinh đạo dài thì sống lâu, Sinh đạo ngắn thì chết yểu. Trí đạo rõ và tươi thì thông minh, Trí đạo mờ và nhạt thì đần độn. Tâm đạo thẳng thì hạnh phúc, Tâm đạo có nhánh chằng chịt thì tình duyên lận đận...Bàn tay khoẻ mạnh, ấm áp, bắt tay chặt chẽ là người thành thật, dồi dào sinh lực. Bàn tay mềm xèo, nhão nhoẹt, bắt tay hờ hững là người yếu đuối, thiếu chân thành...Tuy nhiên, quý vị cũng phải coi chừng, vì có nhiều kẻ rất xảo quyệt, mà khi bông-xua, lại xiết tay kẻ đối diện kêu lụp сụp.

Cưới vợ, người ta nói là “Xin bàn tay”. Khi xin, ai cũng đặt biết bao kỳ vọng. Lúc được rồi, bàn tay thường đổi tính, kỳ vọng biến thành ảo vọng. Ngày xưa, có người được bàn tay mà vẫn phòng không chiếc bóng: Đó là Kinh Kha thời Chiến quốc. Lúc nước Yên sắp mất, Thái tử Đan muốn nhờ Kinh Kha đi hành thích vua Tần nên hết lòng chiêu đãi. Một hôm, trong bữa tiệc, thấy người thị nữ hầu rượu có đôi bàn tay đẹp, Kinh Kha khen ngợi, thì ngày hôm sau, Kha nhận được hai bàn tay nàng, đựng trong hộp vàng, do Đan gửi tặng. Ông Thái tử này vừa độc ác, vừa vô duyên. Phải chi ông tặng nguyên người đẹp thì biết đâu Kha chả phấn chấn tinh thần mà thành công trong sứ mạng.

Công dụng của bàn tay thì ai cũng biết: ăn, uống, cào, cấu, gãi, khều, nắn, bóp, sờ mó, mân mê, mò mẫm, rị mọ... Khi thương thì bàn tay ve vuốt, vỗ về rất nhẹ nhàng, êm ái, mê ly, khi giận thì cho một cái tát nẩy lửa hay một quả đấm thôi sơn. Mỗi ngón tay lại có công dụng khác nhau.

Ngón cái, nhờ vị trí đối diện với các ngón khác, có nhiệm vụ quan trọng nhất, giúp ta cầm nắm, hoạt động dễ dàng và chính xác. Mất ngón cái, hiệu năng của bàn tay bị giảm cỡ 95%. Đó là tiêu chuẩn chắc chắn để được hoãn dịch vì lý do sức khoẻ, do đó, các chuyên viên trốn quân dịch ngày xưa ở Việt Nam, đôi khi hy sinh cắt béng nó đi để được ở nhà yên ổn làm ăn. Đó là mấy anh khờ, nghe thầy cò xúi dại: Tuy không phải đi lính, nhưng bàn tay mặt hầu như vô dụng. Ngón cái còn để cho các đấng hài nhi bú một cách say xưa. Các đấng này, vì thiếu vú mẹ hay núm vú cao su, đành phải bú đại ngón tay cho đỡ thèm. Vì thiếu bú từ bé, nên khi trưởng thành, các đấng này bị ảnh hưởng trầm trọng: Đàn ông xoay ra hút thuốc lá, còn đàn bà làm gì thì Bát Sách không dám nói, sợ bị mắng là kỳ thị và kém tao nhã.

Ngón thứ hai là ngón trỏ. Ngón này dùng để chỉ đường, chỉ những thứ mình muốn, chỉ trỏ thiên hạ, thọc cù lét... Các bà nhà quê miền Bắc ngày xưa, khi mất gà, thì vừa chửi vừa dùng ngón này để xỉa xói, bới móc tam đại kẻ cắp...Người giỏi võ như Đoàn Nam Đế thì dùng ngón này để xuất chiêu Nhất dương chỉ. Thời chiến tranh Việt Nam, ngón này tối quan trọng, cần thiết cho việc bóp cò, bắn súng. Cụt ngón trỏ mặt đương nhiên được hoãn dịch nên nhiều anh dùng nó làm vật hy sinh. Thà cụt ngón trỏ còn hơn ra trận, bị chết hay cụt tay, lủng ruột. Mấy anh này thuộc loại khôn, hay may mắn được thầy cò sáng dạ, có lương tâm, vì mất ngón trỏ, mấy ngón kia có thể tạm thay, bàn tay không bị mất hiệu năng hoàn toàn.

Ngón trỏ được người Tàu gọi là Thực chỉ, do truyện nước Trịnh thời Xuân Thu. Lúc đó vua Trịnh là Linh công có em là Công tử Tống. Ông này có ngón trỏ rất đặc biệt, khi nào sắp được ăn món nào quy hiếm thì nó giựt liên hồi. “Thực chỉ đại động”. Một hôm thấy ngón tay trỏ dụt dựt, công tử Tống vào triều thì nghe Linh công cho làm món thịt giải để đãi quần thần. Công tử Tống hớn hở, vì ngón tay ứng nghiệm. Linh công biết chuyện, muốn trêu Tống, bèn dặn nội thị giả bộ thiếu thịt để Tống không có phần. Tống vừa thẹn vừa giận, liền đưa tay vào bát của vua, chộp một miếng mà ăn, để bị vua kết tội khi quân, đem xử trảm. Ngón tay giữa dùng để làm chi, Bát Sách không dám nói thẳng, sợ bị chê thô tục, đành phải dùng cách ẩn dụ: Ở Canada, khi lái xe, nếu mình chạy ẩu thì thế nào cũng có đứa cố vượt qua mặt, đưa bàn tay nắm chặt, trừ ngón giữa, thò qua cửa sổ, nhấp lên nhấp xuống mấy cái. Nó chửi mình đấy, quý vị ạ.

Ở Việt Nam, thời quân chủ, vua nào cũng có thái giám hầu cận bên mình. Một ông vua tò mò, muốn biết về chuyện phòng the của đệ tử, nhưng ngại ngùng khó mở miệng, bèn giả bộ cà kê, rồi hỏi: “Làm sương cho sáo?” (nói lái) thì được trả lời: “Muôn tâu Bệ hạ, thần may ngón tóc”. Ấy, đại khái, công dụng của ngón tay giữa là như thế vậy. Quý vị rành sáu câu hơn Bát Sách, chắc đã hiểu cả rồi.

Ngón thứ tư, ngón đeo nhẫn, chỉ có công dụng duy nhất là để đeo nhẫn mà thôi. Khi tròng nhẫn vào ngón tay, ta cũng đồng thời tròng một cái thòng lọng vào cổ. Cái nhẫn thường lỏng, trừ phi chúng ta mập ra quá độ, vì được tẩm bổ, cho ăn cao lương mỹ vị, chứ cái thòng lọng thì dù chúng ta có ốm o gầy mòn, nó cũng cứ từ từ mà xiết chặt, không thở, không nói được. Cái nhẫn bị lột ra thì đồng thời, con cái, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc cũng bị lột theo rất ngọt.

Ngón út hầu như vô dụng, chỉ để ngoáy tai, ngoáy mũi, nhưng những hành động này, nếu xẩy ra ở trước công chúng, thì lại bị chê là không quý phái...

Tay đã được Phạm Duy đưa vào nhạc. Theo ông, chúng ta ra đời và lìa đời, đều phải tiếp xúc với bàn tay: “Bàn tay đưa anh ra khỏi lòng người” “Lạnh lùng, tay khép làn mi.”

Tay cũng đã đi vào văn học sử, nhưng là văn học bình dân, phong dao, tục ngữ:
Tay biết học hỏi, biết phát triển khả năng, dù tốt hay xấu: 

Trăm hay không bằng tay quen
Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt.

Tay giúp người ta sinh sống “tay làm hàm nhai”, nhưng tham ăn tục uống quá “tay đĩa, tay chén” thì bị chê cười.

Các bà nội trợ đảm đang thường quán xuyến việc nhà: “tay xách, nách mang” hoặc “tay chèo, tay lái”, nhưng hay cậy công giành lấy chủ quyền để thành “tay hòm chìa khoá”. Tây nó gọi là mặc quần xà lỏn (Porter la culotte). Người thiếu nữ, khi còn độc thân, thường lo sợ cho tương lai:

Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ trước gió biết vào tay ai...?

Nhưng có chồng rồi, chỉ ít lâu sau, là nheo nhóc “tay bồng, tay mang” ngay.Viết về bàn tay như vậy cũng đã khá dài, nhưng chắc rằng còn thiếu, chỉ tại cái ông Chủ nhiệm, giục bài như giục tà, đâu có thì giờ mà nghĩ. Đưa bài chậm một chút là ông rên la như chết đến nơi, đúng kiểu “Quan huyện đứt tay” -

Bát Sách


Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2025

Vết Thương Cuối Cùng - Diên An - Kim Trúc


Sáng Tác: Diên An
Trình Bày: Kim Trúc

Mây Bay...

 

Những áng mây chiều lờ lững trôi 
Thênh thang bay mãi tận chân trời 
Có chở tình ta về bên ấy 
Neo vào bến nước cạn dòng trôi

Ngày tháng tha hương gót bềnh bồng 
Trăng tròn trăng khuyết sầu mênh mông 
Đôi vầng nhật nguyệt ôm thương nhớ 
Đất đá thương nhau cũng nát lòng

Chim biệt xa ngàn nội cỏ phai 
Người xưa năm cũ biết còn ai 
Chén rượu ly bôi ngày chia biệt 
Ghế đá đom buồn giọt nắng mai

Lá mùa thu đã rụng ven sông 
Bờ xưa con nước có chạnh lòng 
Phố cũ còn ai qua ngõ vắng 
Đêm buồn như phố thị mùa đông

Người ở nơi nào ta chốn đây 
Rong rêu trong trí đã phủ đầy 
Nửa giấc chiêm bao dài muôn kiếp 
Mộng vút lên trời theo áng mây

Người xưa còn nhớ gọi tên nhau 
Trăm năm chưa đến đã bạc đầu 
Lữ khách dừng chân hoài dĩ vãng 
Đường về che khuất lối nương dâu

Nghìn năm mây trắng vẫn còn bay 
Người đi xa lạc dấu chim bầy 
Hương lòng xin gửi về quê cũ 
Dòng lệ vơi đầy chén rượu cay

Phong Châu

Tháng 8 - 25

Có Khi

 

Có khi nghe vẳng câu hò
Lòng vương mái đẩy con đò sang sông
Ngồi bên cánh võng mơ mòng
Nhớ con sáo nọ nghe lòng xót xa

Có khi nghe tiếng đa đa
Buồn theo sợi khói lam là đà bay
Chiều chia vạt nắng cuối ngày
Chia tôi ánh mắt tình phai cuối trời

Có khi lòng chợt rối bời
Chiều chia tôi một chổ ngồi không em
Đưa tay ngắt cọng ngò mềm
Thương em đứt ruột bên thềm giăng tơ

Có khi đối diện bơ phờ
Ngỡ em đứng ở bến bờ hư vô
Đời thường không như là mơ
Nên câu thơ mãi vu vơ điệu buồn.

Bằng Bùi Nguyên

Lưu Dấu Ngày Xưa


Thưa Quý Đồng Hương:

Nhà văn thơ Hạo nhiên Nguyễn Tấn Ích Quảng Ngãi thân mến của chúng ta vừa mới qua đời tại San Jose.
Vì đường xa, yếu sức, không thể lên đó chia buồn cùng tang quyến và tiễn đưa Ông lần cuối về cõi vĩnh hằng. Nên nhắc lại vài kỷ niệm về Ông để tưởng niệm:

Cách đây vài mươi năm Ông có xuống Bolsa, Orange County nầy ra mắt Tác Phẩm LƯU DẤU NGÀY XƯA
Tôi có mua về đọc thấy khá hay và rất cảm động, nên đã vụng về toát yếu nội dung tác phẩm nầy của ông như dưới đây:

CẢM ĐỀ TRUYỆN LƯU DẤU NGÀY XƯA
CỦA HẠO NHIÊN NGUYỄN TẤN ÍCH

Lưu dấu ngày xưa kể chuyện tình,
Thơ ngây, mơ mộng, tuổi thư sinh.
Giữa thời chinh chiến, cùng chung lớp,
Sớm tối Rừng Xanh, tợ bóng, hình (1).

Đất nước chia hai, tình cách biệt.
Hai trời Quốc, Cộng đối thù nhau.
Theo cha ra Bắc, em buồn lạnh,
Anh lại về Nam gió thoáng lành.

Những tưởng âm dương, mãn kiếp này,
Bắc Nam chia cách mãi từ đây.
Cả hai đều gặp người yêu mới,
Đều khóc người yêu đạn nát thây.

Hai mươi năm lẻ, tàn chinh chiến,
Anh phận tù binh, kiếp đọa đày.
Phải bệnh ngặt nghèo vào bệnh viện,
Gặp em bác sĩ trực nơi đây.

Cách ngăn, tù, cán sợ nhìn nhau,
Tiếp máu cứu tù, kiếp sống đau.
Sống sót anh về, em phải tội,
Khó khăn tâm sự, ý chung màu.

Nhớ thương tình cũ buổi đầu xanh,
Đôi bạn năm xưa nối mộng lành,
Mơ một bình minh, tan khổ lụy,
Nhưng trời oan nghiệt vẫn còn ganh.

Ung thư em chết, nghĩa tình tan,
Lưu dấu ngày xưa, phận lỡ làng.
Ngang trái anh buồn đau cõi thế,
Trăm năm thương cảm, lệ đôi hàng.


Nhật Quang Phi Hồ
(1) Trường Trung Học Rừng Xanh (1949-1954), rừng gần xã Phước Lộc,
Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.

Cá Long Hội

 
 
Tôi nghe đến cái tên "cá long hội" lần đầu tiên khi còn là một đứa trẻ mới hơn mười tuổi. Cái tuổi còn mãi rong chơi, chưa hiểu hết nỗi buồn vui, được mất của đời người. Thế nhưng, cái tên tưởng chừng vô nghĩa ấy lại in sâu trong tâm trí tôi như một vết hằn khó phai.

Hồi đó, nhà tôi nghèo lắm. Nghèo đến mức mỗi bữa cơm chỉ mong có ít rau luộc, một cái trứng vịt dầm nước mắm hay chiên lên là đã thấy hạnh phúc ấm bụng. Ba tôi "ghét cay ghét đắng" cá mà đặc biệt là loại cá mang cái tên "cá long hội". Thật ra, tên của "cá long hội" là cá liệt, nhưng ba tôi, cũng như ông nội tôi trước kia, gọi nó bằng cách nói lái đầy ám ảnh: “cá long hội”, ý rằng đó là loài cá dễ làm mắc xương, "lôi họng" người ăn. Có lẽ trong quá khứ, họ từng chứng kiến hoặc trải qua chuyện không hay liên quan đến loại cá ấy? Một ký ức chẳng mấy vui vẻ, ám ảnh đến mức biến thành điều cấm kỵ truyền từ đời này sang đời khác?

Nhưng cái nghèo thì nào có chừa ai. Cá liệt rẻ, dễ mua, lại luôn sẵn có trong những mẹt cá ở bến hay chợ chiều, nhất là ở vùng ven biển Lương Sơn, nơi gia đình tôi trước kia sinh sống. Những ngày mẹ đi buôn xa, không kịp về lo bữa tối, việc bếp núc trong nhà lại được giao cho anh lớn nhất của tôi.

Hôm ấy, anh ra chợ, thấy mẹt cá liệt còn tươi rói, mắt cá long lanh như giọt sương đầu cơn mưa, lại vừa túi tiền. Không nghĩ ngợi nhiều, anh mua về, làm sạch, ướp muối, tiêu rồi kho khô.
Mùi cá kho tiêu bốc lên thơm lừng, len lỏi khắp gian bếp nhỏ. Cả năm anh em tôi ngồi xúm quanh, bụng đói cồn cào mà lòng thì háo hức. Nồi cá liệt đá kho tiêu vừa nhấc khỏi bếp lửa riu riu, khói còn bốc lên nghi ngút. Những lớp cá xếp chồng, đẫm màu nâu cánh gián của nước kho sệt lại, xen chút ánh vàng của nghệ, vài lát ớt đỏ khô, tiêu sọ thơm nồng.

Cơm dọn ra, anh mời ba xuống ăn. Nhưng vừa nhấc nắp mâm, ba sầm mặt.
– Mày mua cá… long hội về cho tao ăn hả?! – Ông gằn từng chữ, rồi bất ngờ hất tung cả mâm cơm.

Anh tôi chết lặng, rồi ấm ức khóc. Chúng tôi đứng bên, ngơ ngác không hiểu gì, chỉ thấy tiếc nồi cá kho đang thơm lừng bị đổ lăn lóc dưới nền đất.

Phải mãi sau này, khi đã lớn, tôi mới hiểu được cơn giận dữ của ba không chỉ vì món ăn, mà vì một vết thương xưa cũ nào đó. Một nỗi sợ, một ký ức không lời?

Ngược lại với ba, tôi lại thích ăn cá liệt đến lạ (tôi chỉ nếm được mùi vị loài cá này khi ba đi vượt biển). Khi ba vượt biên sang Philippines, tôi mới lần đầu được ăn món cá liệt nấu thơm cà.

Ngày ấy, mẹ vất vả mưu sinh nuôi đàn con, không còn thời gian chăm lo từng bữa ăn giấc ngủ. Tôi thường sang ngủ lại nhà bạn, là dân xóm chài ven biển.

Vào những đêm trăng treo lơ lửng giữa trời hay khi bình minh vừa chạm nhẹ nơi chân sóng, mặt biển ánh lên sắc bạc, long lanh trong một gam màu dịu dàng. Đó là khoảnh khắc người làng chài mang lưới ra khơi. Trên những chiếc thúng chai hay xuồng tre bé nhỏ chòng chành giữa sóng nước, họ lặng lẽ đưa mắt theo từng con sóng vỗ bờ, như dõi theo nhịp thở của biển cả.

Họ bủa vây những đàn cá đang tiến dần vào gần bờ. Có thể đàn cá theo ánh trăng hay là để tìm ăn, để sinh sản, hoặc chỉ đơn thuần là trôi theo bản năng muôn đời? Và cũng chính lúc ấy, lưới quáng được thả xuống – một cách đánh bắt mộc mạc, chân phương, đã nuôi sống biết bao thế hệ cư dân vùng ven biển.

“Cá lưới quáng” – cái tên mộc mạc mà thân thương, dành cho những mẻ cá được đánh bắt từ loại lưới này. Không phải là những loài cá lớn quý hiếm, chẳng phải sơn hào hải vị, nhưng cá lưới quáng lúc nào cũng tươi rói, ngọt lành. Chúng mang trong mình hương vị chân chất của biển khơi, và sự bình dị thân quen như chính cuộc sống của những người dân miền biển, nghèo khó nhưng luôn thấm đẫm nghĩa tình.

Mỗi lần lưới được kéo lên, nước biển còn nhỏ giọt theo tay, cá còn quẫy đành đạch trong lưới ướt sũng. Nào là cá liệt, cá đối, cá sơn, cá phèn, cá nục, cá nóc… đôi khi cả những con mực con tôm bạc nhỏ sót lại từ đêm trăng. Đủ loại cá dân dã, thứ nào cũng lấp lánh ánh bạc của biển, như lộc trời ban tặng. Người đi chợ đêm thường đứng sẵn trên bãi, chờ những mẻ cá đầu tiên được gỡ ra, lựa lấy những con còn nhớt bóng, mắt trong veo, mùi biển mằn mặn còn bám theo từng thớ thịt.

Cá lưới quáng không phải loại có nhiều thịt, nhưng vị thì ngọt thanh, đậm đà, mộc mạc mà chẳng cần cầu kỳ. Chỉ cần kho tiêu, nấu thơm cà, hay chiên giòn chấm mắm ớt là đã có ngay một bữa cơm vừa ngon vừa nhớ mãi. Với người miền biển, cá lưới quáng không chỉ là món ăn, nó là một phần ký ức, là tiếng lửa reo bên bếp củi xế chiều, là tiếng con nít cười vang quanh mâm cơm nóng hổi, là mùi nước mắm cay cay len qua từng khe cửa gió.

Trong những năm tháng thực phẩm khan hiếm, khi gạo thịt đều phải mua bằng tem phiếu dưới sự quản lý của nhà nước, thì những con cá của người dân chài luôn trở thành món ăn quý giá nhất. Cá lưới quáng vẫn giữ nguyên sự chân chất vốn có – như một món quà của biển cả, của đất trời, mang theo hương vị của quê hương và cả tình thương lặng thầm của những người cha, người mẹ ngày đêm bám biển, chỉ mong sao con mình không phải chịu cảnh đói lòng.

Tôi vẫn nhớ như in buổi tối năm ấy, hay sang nhà bạn ngủ lang. Ánh đèn hột vịt leo lét, vàng vọt hắt ra từ chiếc đèn dầu lửa, soi rõ dáng má Liễu đang lom khom bên bếp, nấu nồi canh cá liệt với thơm cà.


Mùi canh bốc lên nghi ngút, quện trong không khí một thứ hương thơm khó tả: vị chua nhẹ của thơm, vị ngọt bùi của cà, cái mặn mòi đậm đà của nước mắm, xen lẫn chút cay nồng xộc lên mũi từ trái ớt xanh mà má dầm sẵn trong chén nhỏ. Cá liệt còn nhớt trơn, vừa mới bắt lên, thịt trắng nõn như bông, nóng hổi, mềm ngọt tan ngay đầu lưỡi.

Tôi ngồi đó, xì xụp bên mâm cơm đơn sơ, vừa ăn vừa khẽ hít hà, lòng bỗng thấy rưng rưng. Không chỉ cái bụng đói được lấp đầy, mà dường như cả trái tim tôi cũng được sưởi ấm. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu ra rằng hạnh phúc có khi giản dị lắm – chỉ là một nồi canh cá nghi ngút khói, là tiếng má Liễu ân cần hỏi “Con ăn no chưa?”, là hơi ấm lan tỏa khắp gian bếp nhỏ. Đó là lúc tôi cảm nhận được một thứ tình thương êm đềm, thầm lặng mà lớn lao – thứ tình thương mà có lẽ cả đời tôi sẽ không bao giờ quên.

Giờ đây, tôi đã trưởng thành, cuộc sống vật chất đầy đủ hơn ngày xưa, có thể dễ dàng thưởng thức những món cao lương mỹ vị. Thế nhưng, tôi vẫn luôn nhớ và thèm món canh cá liệt nấu với thơm và cà của năm xưa. Thỉnh thoảng, vì cơn thèm da diết, vợ tôi lại mua một gói cá liệt ở chợ Á Châu về nấu cho tôi ăn. Thế nhưng, dù có cố gắng thế nào, tôi vẫn không tìm lại được cái hương vị, cái cảm giác của nồi canh cá liệt thuở ấy. Hương vị đậm sâu đã in hằn vào ký ức tuổi thơ tôi.

Mỗi lần ngồi trước tô canh nghi ngút khói, tôi không chỉ ăn để lấp đầy chiếc bụng đói. Tôi ăn để được quay trở lại những ngày tháng xa xưa, để sống lại những mảnh ký ức mà thời gian cứ chồng chất phủ mờ. Trong hương vị canh ngót thơm cà hành chua chua ấy, tôi nhìn thấy ba, người đàn ông lầm lũi mang trên vai vết thương lòng từ một quá khứ chẳng mấy ai rõ, suốt đời gồng mình làm trụ cột gia đình, dù đôi khi, tình thương của ông lại hiện ra qua những cơn giận dữ bất ngờ và khó hiểu.

Tôi nhớ ánh mắt anh trai tôi hôm đó, ánh mắt của một đứa trẻ non nớt đang học cách làm người lớn, cố gắng cáng đáng mọi việc trong nhà giữa những thiếu thốn bủa vây, để rồi bất lực bật khóc vì những chuyện vượt ngoài sức hiểu biết của tuổi thơ.

Tôi cũng nhớ cả cái mâm cơm bị hất tung, những hạt cơm văng vãi khắp nền đất, như từng hạt nỗi buồn nhỏ nhoi mà day dứt, vỡ òa giữa gian bếp chật hẹp. Ấy vậy mà, chính nơi đó, trong bao đắng cay, vẫn le lói một thứ tình thân lạ lùng, không cần nói thành lời, mà bền chặt hơn bất cứ điều gì trên đời.

Giờ thì tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết: ai cũng có cho mình một nỗi sợ riêng, một vết thương riêng, và một cách rất riêng để bày tỏ tình thương. Ba tôi cứng cỏi mà trầm mặc. Mẹ tôi lặng lẽ hy sinh. Anh tôi đầy những cố gắng vụng về. Còn tôi, tôi chọn giữ lại những gì dịu dàng nhất, hương thơm chua chua, ngọt ngọt của món canh cá liệt ngày xưa.

Vì có những món ăn không chỉ làm no bụng, mà còn lấp đầy những khoảng trống trong tâm hồn. Canh cá “long hội” đối với tôi chính là một món ăn như thế, một món ăn bình dị, nhỏ bé, nhưng lại đủ sức khơi dậy cả một bầu trời ký ức: về những năm tháng cơ cực mà vẫn đầy hơi ấm, về những người thân yêu đã lặng lẽ bước qua đời tôi, và về chính bản thân tôi, đứa trẻ từng lớn lên bên mâm cơm đạm bạc, giữa khói bếp nghèo, và trong tình thương của những con người chưa từng cạn tình, dù cuộc đời có khắc nghiệt đến đâu.

Richmond, 072425
Y Thy Võ Phú


Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

Xin Giấu Tiếng Yêu Trong Muộn Màng - Lời: Ngô Huy Khánh Trân Nhạc: Nguyên Bích Hòa Âm Piano: Minh Trí - Ca Sĩ: Hoàng Nguyên


Lời: Ngô Huy Khánh Trân  
Nhạc: Nguyên Bích 
Ca Sĩ: Hoàng Nguyên 
Hòa Âm Piano: Minh Trí

Giọt Sầu Mưa Ngâu...

 

Mỗi giọt mưa rơi mỗi giọt sầu
Mỗi làn sương phủ mỗi niềm đau
Mỗi đêm chờ sáng mỗi trằn trọc
Mỗi phút giây chờ mỗi nhớ nhau

Mỗi nhịp cầu Ô mỗi cách ngăn
Mỗi mùa Ngâu đến mỗi dùng dằng
Mỗi lần níu giữ mỗi lần vuột
Mỗi độ trăng treo mỗi trở trăn

Mỗi kỷ niệm xưa mỗi giấc nồng
Mỗi canh chìm đắm mỗi hoài trông
Mỗi hình bóng cũ mỗi lưu luyến
Mỗi nhớ ngập lòng ...mỗi khắc mong!

Kim Oanh
Mùa Ngâu 2025


Mưa Ngâu

 

Chuỗi lệ từ ngàn thu
Làm rối mù tháng Bảy
Nhỏ những giọt thơ hồng
Thấm màu trang thư cũ

Trời rũ những cơn mưa
Ru như mùa tóc rối
Tháng Bảy mưa mãi rơi
Lòng ai còn mong đợi

Quán xưa buồn hiu quạnh
Dâng khao khát tình xanh
Bàn ghế đang ẩn mình
Cũng hình như ngây dại

Một thoáng như lùi lại
Đứng trước những niềm vui
Muỗng khuấy tan đường nhỏ
Bao nhiêu những ngọt bùi

Mỗi năm trời mưa ngâu
Mây giăng chín thành sầu
Sao Ngân Hà trôi dạt
Lưu lạc xuống trần gian

Cầu vồng dâng nửa đoạn
Khép lại những dòng thư
Nét mực nhòa ngẩn ngơ
Ô thước mờ xa cách. 

Lê Mỹ Hoàn

(trong thi tập "Ngày Vội")

Cánh Nhạn Về Đâu



(Viết tặng bạn hiền, nữ dịch giả Thái Nữ Lan)

Trăng khuya Tháng Bẩy bơ phờ
Nhớ người phương ấy lòng ngơ ngẩn sầu
Ngân Hà Ô Thước giờ đâu
Gió hiu hắt rải hư hao vào rèm

Vườn thanh vò võ mình em
Sao anh đành để nỗi niềm riêng ai
Những mong năm tháng còn dài
Hẹn ngày tái ngộ trúc mai tỏ tường

Chừ răng chia cách đôi đường
Cả câu vĩnh biệt đoạn trường khôn trao
Biết khi mô thấy lại nhau
Em không đành hẹn kiếp sau hỡi người!

Lòng đau biếng nói thôi cười
Gửi bao tâm sự vời vời theo trăng
Kìa kia cánh nhạn băn khoăn
Quẩn quanh thơ thẩn cung Hằng đợi ai?

Gió mơn hôn tiếng thở dài
Giật mình ngỡ gót chân ngoài song thưa
Nghìn trùng phương hướng nắng mưa
Lật bài thơ cũ hương thừa còn vương.


Phương Hoa
July 22, 2024


Tháng Bảy Mưa Ngâu

 

Thu khát nắng bảy ngày mưa
Bảy đêm chờ mộng hương thừa tương tư
Mưa chung áo nắng chung dù
Vòng yêu bốc khói sương mù vòng mong

Còn em gót đỏ môi hồng
Còn anh chân đất mềm lòng trăng sao
Thơm ngây thơ cưng ngọt ngào
Đau nghìn trước xót nghìn sau hạn kỳ

Chung môi nhóm lửa xuân thì
Nâng mềm hứng ấm êm thi ca cầm
Hồng trần chín tháng ăn nằm
Con thơ tháng chín trăng rằm thôi nôi

Tân hôn thơ mộng lên ngôi
Sầu riêng non nước nổi trôi cũng đành
Anh thơm em ngọt nghiêng thành
Còn riêng một góc trời xanh thơ tình

Thơ trong thơ mình trong mình
Nhớ không chịu nổi cho nhìn được hôn
Chung môi liền cánh chim khôn
Hoài xuân trăng mật chung hồn quê hương ....

MD.09/11/09
LuânTâm

Mưa Thu

 

Mưa thu dai dẳng lê thê,
Âm thanh rời rạc, tỉ tê u-buồn.
Sao nghe ray rứt trong lòng,
Như người tình than thở, nỉ non vai gầy!

Mưa thu vuốt nhẹ cỏ cây,
Lung lay giấc mộng, hoa mây chập chờn!
Hương chiều, mộng ước véo von,
Mưa ơi, thôi chớ làm lòng ta đau!

Mưa thu rả-rích, càu nhàu,
Khung trời mờ ảo, có hay chăng lòng!
Nỗi buồn xa xứ thở than,
Lấy gì đo đếm, lường đong tháng ngày!

Thu ơi, xin hãy dừng tay,
Người buồn, cảnh lại lá-lay tô bồi!
Biết mình bèo-bọt nổi trôi,
Cám ơn Tạo-hóa, đất trời mênh mông!


Tô Đình Đài
(2007)

Có Bao Giờ Em Hỏi - Lời: Duyên Anh - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng Hát: Đình Lộc


Lời: Duyên Anh
Nhạc: Phạm Duy
Tiếng Hát: Đình Lộc

Buổi Sáng Có Cơn Mưa Nhỏ - Từ Kế Tường


Buổi sáng, tôi bóc một tờ lịch theo thói quen. Tờ giấy mỏng in những dòng chữ và những con số đánh dấu cho một khoảng thời gian ngắn ngủi bị rơi ra nằm gọn trong lòng bàn tay tôi. Như vậy là gần hết tháng tám. Gần hết một tuần lễ này để sang tuần lễ của một tháng mới. Hình như tôi có một lời hẹn trên tờ lịch, có những điều để nhớ mong và để nghĩ ngợi trên những dòng chữ và những con số đó. Đồng thời, tôi cũng mơ hồ thấy được rằng, tờ lịch được tôi bóc ra khỏi tập giấy dày, như là một chiếc lá rơi, mang theo những điều phải lỗi hẹn. 
Tôi vu vơ vo tròn tờ giấy mỏng manh đó trong lòng bàn tay, và ném qua khỏi cửa sổ. Buổi sáng, hình như trời đang sửa soạn cho một cơn mưa lớn. Tôi bắt gặp cái vẻ ẩm thấp của những mái nhà chen chúc nhau trong tầm mắt và cái dáng trời nghiêng xuống. Tờ lịch rơi hút xuống con hẻm nhỏ chạy cặp bên hông nhà. Vài đứa trẻ con nhà hàng xóm đang ngồi rải rác từng góc, nhai chậm chạp mẩu bánh mì cầm ở tay, hay chụm đầu, kẻ những đường phấn trắng cho một trò chơi ăn thua bằng những tấm bìa cứng có hình màu mè đẹp mắt.
Nơi những ngọn cây vút cao lên trong khoảng trời mù mù là hướng con sông lớn. Chạy theo những đường dây điện kia là một khu phố khác, rất nhiều những mái nhà ngói cổ. Ở phía đó cũng có màu xanh của cây, của những cánh cửa sổ mở. Và cái tháp chuông nhà thờ bao giờ cũng cao sừng sững, cố định, cheo leo bên một góc trời.

Tôi bỗng nhớ ra một buổi sáng gần đây, ít nhất là trong những ngày gần hết tháng tám, hình như tôi không còn được nghe tiếng chuông đổ cho từng buổi lễ sớm. Tôi vẫn thức vào khoảng năm giờ sáng, khi bóng đèn trong phòng bắt đầu hâm nóng cái khoảng không khí lạnh từ khuya cho tới lúc gần sáng. Bóng đèn ngủ trong phòng tôi như một cái đồng hồ báo thức êm đềm nhất, đúng nhất, và dễ thương nhất cho một người và một đời sống yên lặng như tôi. Ngôi nhà được khởi công xây cất vào khoảng tháng ba, đầu mùa mưa và hoàn tất vào khoảng những ngày hết tháng tám, của một năm trước. Tôi bỗng ngẩn ngơ nghĩ rằng, chính hôm nay hoặc ngày mai, hoặc đã qua một hai hôm rồi ngôi nhà của tôi đầy một năm, đúng một tuổi. Một năm qua ngôi nhà chưa phai màu sơn ở cửa sổ, chưa hết mùi vôi ở những bức tường, đã có điều gì xảy ra?

Mẹ tôi, người đàn bà coi như góa bụa một đời, đã bỏ đi tới một căn nhà khác. Tôi không thể hình dung ra gương mặt người đàn ông mang tới cho mẹ tôi một mùa xuân gần cuối một đời người (Hay thêm một lần khổ đau nữa cho cuối một đời người).
Đứa em gái tôi cũng mới theo chồng khoảng hai tháng.
Rồi những những mối tình trôi qua, tan mất như những chiếc bóng mưa của tôi, của một người cuối cùng ở lại để nhìn thấy căn nhà không còn ai, không có ai, chỉ có một mình. Những sự ra đi cho dù ra đi vì một nguyên cớ nào, hình như cũng đều để lại ít nhiều nỗi buồn. Tôi bắt gặp điều đó nơi thềm cửa, trên những cánh hoa dại nở sau một đêm mưa nơi lối đi trong khoảng sân, ở những bậc thang dẫn lên tầng trên, thấp thoáng một khoảng vườn nhỏ phía sau nhà dưới. Một người tưởng sẽ bỏ đi trước nhất không ngờ là người ở lại sau cùng. Nhiều lúc tôi hơi bàng hoàng nghĩ lại điều đó, nhưng tôi thích ở lại trong một căn nhà vắng, đi về một mình, tắm đẫm trong nỗi buồn của người khác để lại, bây giờ hình như tôi không còn người thân nào, không khí của gia đình cũng mất. Tôi sống trong căn nhà và căn nhà đó có tôi. Cảm giác chỉ gọn gàng như thế.

Như sáng hôm nay tờ lịch mỏng báo cho tôi biết là gần hết tháng tám. Nơi cánh cửa sổ nhìn ra một khoảng trời mỗi ngày, tôi cũng có cảm tưởng như bầy chim đang bay kia, báo hiệu một mùa tàn phai.
Tôi rời cánh cửa sổ ra đứng ngoài bao lớn, chậu cúc vàng hôm qua mới nở mấy bông, nay như đã sắp tàn. Tôi nhớ tới đứa bé gái nhà bên cạnh thích có một bông cúc vàng gắn lên mái tóc vừa mới dài chấm vai. Tôi mong thấy đứa bé để hái những bông cúc sắp tàn cho nó. Nhưng cửa nhà bên cạnh đóng kín. Chưa tám giờ, chắc mọi người còn ngủ. Tôi đứng ngắm vu vơ những ngọn cây rất xa trong thành phố, đến một lúc mưa bắt đầu bằng những giọt nước nhỏ, kéo giăng giăng, mờ mịt những ngọn cây kia. Vừa lúc cánh cửa sổ phòng nhà bên cạnh cũng xịch mở, tôi thấy đứa bé gái ló đầu ra ngiêng mắt nhìn trời. Thấy tôi, cô bé nhoẻn miệng cười. Bao lơn nhà cô bé đâu với bao lớn nhà tôi, khoảng cách thật gần. Tôi có thể nói chuyện từ bên này sang cho cô bé nghe. Nhưng cô bé vừa thấy tôi đã nói chuyện trước:
- Sao ông dậy sớm thế?
Tôi nhìn đồng hồ mỉm cười:
- Gần tám giờ, tôi không ngủ muộn được.
- Ông quen thức rồi sao?
Tôi gật đầu, cô bé cười:
- Ông giống như con chim vẫn thức kêu sau vườn nhà em trong lúc người ta đang ngủ.
- Chim gì?
- Em không biết tên.
- Trong nhà có ai không?
- Chị Truyền chắc biết.
- Sao em lại bảo tôi giống con chim, không giống con gì khác được sao, hả?
- Ông muốn con gì?

Tôi cười. Cô bé như chồm cả người qua cửa sổ để nghiêng mắt nhìn ra một khoảng trời mưa đang giăng mờ. Tôi đưa tay ra hứng những giọt nước lạnh, những bụi nước tung toé bay lên mặt. Cô bé bỗng cười lên:
- Ông cũng giỡn nước nữa sao? Em tưởng ông là người lớn nên không còn giỡn nước nữa chứ.
- Tôi là người lớn rồi. Tất nhiên.
- Nhưng không phải người lớn nhất- Cô bé lý sự.
Tôi cười:
- Nhưng ít ra cũng lớn hơn cô bé, được không?
- Cái này thì được.
Tôi cười, hái một bông cúc vàng đưa ra trước mặt nói:
- Cho cô bé này.
- Trời ơi sao ông ngắt nó?
- Không sao, nó sắp tàn rồi. Tôi sẽ hái hết cho cô bé cài lên tóc.
- Uổng quá.
- Uổng gì đâu. Không hái nó cũng rụng.
- Thà nó rụng.
Tôi cười:
- Không thích cài hoa lên tóc nữa phải không?
Cô bé gần như hốt hoảng:
- Không phải vậy đâu, em thích lắm chứ.
- Vậy em hãy xòe tay ra bắt bông hoa này.

Tôi ném bông cúc vàng qua cho cô bé. Bông hoa vuột qua khỏi tầm tay của cô bé rơi vào khoảng trống giữa chấn song của sổ. Cô bé cười bảo:
- Nó rơi trên bàn học của em.
- Tôi không biết ở đó là cái bàn học. Tưởng chỉ có khung cửa sổ. Cô bé thường ngồi học bài ở đó?
- Dạ. Em thường nhìn thấy ông đi ra đi vào ngoài bao lơn. Nhưng lúc ấy thì em đã đóng cửa sổ.
- Đóng cửa sổ làm sao thấy tôi?
- Em nhìn qua những kẽ hở. Sao những lúc đó ông buồn vậy?
- Sao cô bé biết tôi buồn?
Cô bé chỉ cười. Tôi thấy cô bé cài bông hoa lên tóc. Hình như cô bé đi tới một tấm gương để ngắm mái tóc của mình. Một lúc cô bé trở lại với khung cửa sổ. Tôi bảo:
- Cô bé tên gì, ra ngoài bao lơn nói chuyện phải vui không. Ở trong đó hoài vậy?
- Tên em buồn cười lắm, không đẹp như tên chị Truyền đâu. Ông đừng cười thì em mới dám nói.
- Tôi không dám cười.
- Ông hứa đi.
- Tôi hứa.
- Em tên là… Tí Bo.
- Sao vậy? Nhưng cũng dễ thương đấy. Tí Bo, chắc là một cái tên dễ nhớ.
- Tên đó là tên trong nhà gọi thôi cơ. Em đi học có tên khác. Tên là Trâm.
- À, Trâm. Tên đẹp.
- Nhưng ông thích tên nào nhất?
- Tôi thích cả hai tên. Nhưng nếu gọi em tôi gọi là Tí Bo.
Cô bé cười:
- Dạ em thích như thế. Vì trong nhà ai cũng gọi em như vậy cả.
- Nếu thế tôi phải gọi khác đi chứ. Tôi gọi tên thật của em. Trâm. Nhưng mà cái gì Trâm?
- Bảo Trâm.
- Em ra ngoài này nói chuyện vui hơn. Biết mở cửa không?
- Biết chứ. Nhưng em phải đi rửa mặt. Nói chuyện với ông bằng gương mặt mới ngủ dậy ông cười chết.

Nói dứt lời, cô bé biến mất khỏi khung cửa sổ. Mưa bắt đầu nặng hạt và một lúc sau đó, tôi nghe tiếng nước ròn rã, mạnh bạo chảy trong các ống máng trên mái nhà, và nhìn những giọt nước mờ mịt tung toé trên bao lơn nhà cô bé Bảo Trâm. Lúc này chắc cô đang rửa mặt, đang có bàn chải nhỏ trét đầy kem, và những chiếc răng xinh xắn trong miệng. Tôi bắt đầu làm quen với cô bé từ ngày em gái tôi có chồng và những người trong nhà này lần lượt bỏ đi. Tôi thường ra đứng ngoài bao lơn nhìn về một phía thành phố, ngắm những bông cúc vàng nở, và bắt gặp cô bé phía bên kia với một nụ cười. Ngày trước tôi đi khỏi nhà rất sớm và về rất tối. Tôi không hay bên cạnh nhà có hai chị em cô bé dễ thương như thế. Tôi đang hình dung ra Truyền. Chắc phải giống Tí Bo.

Cô bé đã trở lên. Gương mặt trắng xanh trong màn mưa giăng ngoài cửa sổ. Tôi nói:
- Mưa lớn quá, cô bé thấy không?
- Dạ mưa buồn quá. Chắc hôm nay phải đi học trễ, lạnh lắm.
- Em học tám giờ rưỡi cơ. Bây giờ em phải xuống nhà ăn sáng rồi Ba đưa tới trường. Còn ông không đi học sao?
Tôi muốn bật cười khi nghe cô bé nói thế. Chắc cô bé sẽ ngạc nhiên vô cùng nếu tôi nói rằng tôi đã thôi học, không còn là học trò như cô bé nữa. Nhưng tôi chỉ cười:
- Không. Hôm nay tôi không đi học.
- Thích ghê. Em chỉ ước được ở nhà để nhìn mưa thôi.
- Trong lớp cô bé nhìn mưa cũng được vậy. Cô bé ngồi gần cửa sổ chứ?
- Gần, nhưng đâu có dám nhìn ra ngoài. Cô giáo sẵn sàng cho một cặp trứng vịt vào vở học. Ông có thích trứng vịt không? Trong vở em toàn trứng vịt. Em học dở lắm.
Tôi nghĩ là cô bé không học dở. Nhưng tôi cũng cười. Cô bé bỗng nhìn tôi chăm chú hỏi:
- Ủa, ông ở nhà một mình hoài vậy sao?
- Tôi ở một mình hoài.
- Không có bạn bè chi hết?
- Có, nhưng ít ai tới lắm. Tôi thích sống một mình.
- Lúc trước nhà ông có nhiều người mà?
- Đúng, nhưng bây giờ đã đi hết rồi, chỉ còn lại mình tôi.
Cô bé chớp mắt:
- Rồi bao giờ ông đi?
- Chưa biết.
- Thôi ông ở đây đi, đừng bỏ đi nữa.
- Chi vậy?
- Không thấy ông chắc cái bao lơn bên này buồn lắm.
Tôi sững sờ một lúc. Cố bật lên một tiếng cười:
- Việc chi mà cái bao lơn bên ấy phải buồn?
- Không biết nữa. Nhưng em cảm thấy như vậy.
- Tôi bỏ đi. Cô bé buồn như cái bao lơn phải không?
Cô bé mỉm cười không trả lời. Chỉ nhìn chậu cúc vàng rồi đưa tay hứng mấy giọt mưa. Và bỗng cô bé giật mình hốt hoảng:
- Thôi chết, em phải xuống nhà ăn sáng rồi đi học kẻo trễ. Ông có ăn sáng không?
Tôi lắc đầu. Cô bé cười nói giòn tan:
- Ông hút nhiều thuốc quá.

Rồi cô bé vụt rời khỏi cửa sổ. Tôi thấy cánh cửa khép lại, bàn tay cô bé nhỏ nhắn như bàn tay con búp bê. Cửa đóng kín, và mưa bên ngoài. Tôi đứng lặng thêm một lúc rồi vào nhà tự làm những công việc quen thuộc buổi sáng. Nhưng tôi bỗng nhiên bỏ ý định làm một bữa ăn sáng ở nhà. Tôi thay nhanh quần áo, khoác áo mưa,dắt xe, khóa cửa ra đường. Tôi thấy hai chị em cô bé vừa bước lên một chiếc Honda ngồi phía sau cho người đàn ông chở, chiếc áo đi mưa của ông ta phủ trùm lên người chị em cô bé. Chắc cả hai chị em cô bé không ngờ có tôi chạy xe theo phía sau.
Một khoảng đường ngắn. Chiếc xe Honda chở hai cô bé quẹo vào mộ con đường khác. Tôi chạy tới quán nước quen thuộc. Mưa làm tóc tôi ướt rũ xuống trán. Quán vẫn còn thưa người. Buổi sáng trước tám giờ hay sớm hơn nữa, những hôm chán một bữa ăn sáng ở nhà do chính mình làm lấy, tôi lại ra ngồi ở quán này. 
Vào lúc đó quán mới vừa mở cửa, hoặc đôi khi tôi phải chờ. Người hầu bàn là một cô bé gái nhỏ, người như quen thuộc với tôi lắm. Những hôm như thế cô mở cửa cho tôi vào với một nụ cười. Cô bỏ tôi ngồi với chiếc bàn trong góc, nhìn ra ngoài đường phố lớn, rồi cầm tấm giẻ lau cửa kính. Những người hầu bàn khác cũng làm như vậy. Khi công việc thường ngày của họ vào lúc quán mới mở cửa đã xong, cô hầu bàn quen mới đến bàn hỏi tôi uống gì, ăn gì. Và lúc đó bữa sáng của tôi mới bắt đầu theo cái sinh hoạt bắt đầu sống động của quán. 

Bữa nay tôi tới trễ, nhưng không phải là trễ so với mọi người. Bởi vì sau tám giờ, khách sẽ đến đông nghẹt, ăn uống, nói chuyện nhởn nhơ và nhả khói thuốc. Lúc đó tôi phải đứng lên. Tôi không chịu được không khí ồn ào của quán sau tám giờ. Tôi chỉ yêu cái không gian lúc mở cửa quán, ngọn đèn vàng trong tường mới bật lên, hơ ấm cái lạnh từ ngoài đường tràn vào, cái hơi lạnh có pha chút hương thơm của cây lá, hoa dại. Tôi ngồi một mình, một góc quán, và nhìn ra hiu hắt một góc đường. Ở đó, sinh hoạt của thành phố bắt đầu, những gương mặt, những ánh mắt, những nụ cười còn giữ chút hơi lạnh của đêm vừa tan. Tôi ngồi như thế và chờ giờ rời khỏi quán. Lúc đó thành phố cũng bắt đầu ngợp thở trong cảnh người và xe cộ chen chúc nhau, nồng nặc hơi xăng, bụi khói.
Chiếc bàn quen thuộc của tôi vẫn chưa có người ngồi. Tôi tới ngay đó, ngồi xuống. Người hầu bàn tiến tới và bỗng nhiên hỏi một câu không như lệ thường:
- Mấy hôm ông đi đâu bỗng không không thấy tới?
Tôi hơi ngạc nhiên vì câu hỏi bất ngờ này. Bình thường, tôi đến đây, chỉ nghe- ông ăn gì, uống gì? Và cô bé im lặng chờ đợi câu trả lời của tôi một cách kiên nhẫn.
Tôi cười:
- Tôi có đi đâu đâu. Vẫn ở đây mà.
- Sao ông không tới?
- Đôi lúc trong túi cũng hết tiền chứ.
Cô bé tưởng tôi đùa nên cười khúc khích. Tôi gọi thức ăn và cà phê. Tôi nói thêm:
- Đừng tưởng tôi nói đùa nghe, tôi nói thật đó. Mấy hôm không thấy tôi đến quán là tôi hết tiền.
Nhưng cô bé vẫn cứ nghĩ là tôi nói đùa. Cô bước đi mà tiếng cười khúc khích còn lại. Tôi mỉm cười, ngó ra đường phố. 

Công viên ở trước mắt tôi. Những tán cây cao vút khỏi mái nhà, cỏ xanh vây lấy những lối đi trải sỏi. Tôi chưa hề bước chân vào công viên ấy. Hôm nay tôi chợt nhận ra điều đó với một chút ngạc nhiên. Mưa vẫn còn, nhưng không lớn như lúc tôi mới bước vào quán. Mọi người không cần khoác áo mưa mà vẫn có thể chạy băng qua đường và không sợ ướt. Tôi nhìn mưa giăng phía công viên, những giọt nước kéo xuống trên những thân cây vỏ mốc trắng. Giờ này trong công viên không có ai. Ghế đá buồn hiu, những bãi cỏ hiu quạnh và những lối đi chưa có dấu chân người. Tiếng động trên mặt bàn làm tôi quay lại. Cô bé hầu bàn đã mang thức ăn ra. Tôi ngồi ăn và cảm thấy buồn buồn. Lúc đó tôi uống cà phê thì mưa bên ngoài ngớt hột. Tôi lắng nghe một đoạn nhạc trong quán. Tự nhiên buổi sáng nay tôi nghĩ nhiều về trường hợp của Mẹ tôi. Tôi không hiểu. Tôi lù mù trước một hoàn cảnh và cảm thấy gia đình giống như một cái gì sắp rã tan, trôi giữa dòng sông mênh mông. Tuổi nhỏ của tôi là khoảng thời gian luôn làm tôi bàng hoàng mỗi lần nhớ lại. Tôi không hiểu tại sao tôi có đủ can đảm sống tới bây giờ. Trong khi những người bạn thân thiết thường bảo tôi( như là họ không tin ) nếu không phải là người can đảm nhất thế giới, chắc tôi đã tự tử hay trở thành một tay anh chị giang hồ nào rồi. Tôi không dám nhìn lại quãng đời nhỏ bé đó. Tôi không còn dám nghĩ về nó. Bởi mỗi lần nhớ tới, tôi lại muốn khóc. Ba tôi là một người đàn ông, Mẹ tôi là một người đàn bà, và anh em chúng tôi là những đứa con, trai có, gái có. Giản dị thế thôi sao?

Hôm nay tôi mới nghĩ rằng mình đã thật sự rời bỏ cổng trường. Tôi bỏ học từ bao giờ? Hình như là một khoảng thời gian xa xôi, ở ngoài trí nhớ. Tôi không còn là học trò với sách vở mùa thi. Năm cuối cùng ở trường Luật tôi thi rớt, và từ đó tôi bước vào đời sống với hai bàn tay trống không. Nói tóm lại là tôi đang chờ đợi một điều gì đó như phép lại xảy ra cho mình. Nhưng đó là điều gì? Tôi chưa thể biết.
Đời sống. Đó là nơi cuối cùng đón nhận tôi. Tôi rời tuổi nhỏ của mình với tâm trang hoài nghi, cũng như tôi đã lớn lên, sống qua những năm tháng dài với thành phố này như kẻ vô gia đình. Không một chút gắn bó với người thân. Không một chút hy vọng (Ngẫm lại tôi còn điều gì để hy vọng?). Tôi đơn độc tội tình. Mẹ tôi chọn con đường khác. Ba thôi ở phương trời nào. Em tôi đã ra khỏi nhà này để tới một ngôi nhà khác. Chỉ còn tôi ở lại nhìn thấy rõ ràng những điều đã vơi đi, đã mất và cuối cùng, đã vĩnh biệt. Aùnh nắng bây giờ đã hé lên, xuyên qua phía công viên, lướt trên vài ngọn cây với màu lá non tươi rói. Tôi đã thấy quán bắt đầu đông khách. Tiếng nhạc bị tiếng nói, tiếng cười lấn át không còn nghe thấy nữa. Tôi gọi người hầu bàn tính tiền rồi bước ra khỏi quán. Con đường trước mặt tôi được che bằng tàn cây rậm lá non. Hơi mưa phủ xuống mát lạnh.- . /.

Từ Kế Tường