Thứ Năm, 15 tháng 8, 2024

Qua Sông - Thơ & Nhạc: Trần Văn Lương - Tiếng Hát: Quỳnh Lan


Thơ & Nhạc: Trần Văn Lương
Tiếng Hát: Quỳnh Lan

Nếu Được...

 

Nếu được làm đóa hoa
Sẽ ươm hương lan tỏa
Nếu được làm cánh gió
Đáp nhẹ bờ vai ai
Nếu là lá thuộc bài
Ngoan hiền trong trang vở
Ép mãi hương tình thơ

Nếu ai người ngu ngơ
Kẻ khù khờ trộm nhớ
Nếu thuyền neo bến đợi
Cùng ngắm ánh trăng soi
Chỉ nhỏ nhoi mơ mộng
Nếu ai là vợn sóng
Cánh chim lướt trùng khơi

Nếu ai bình minh tới
Hoàng hôn sẽ sáng ngời
Một đời thanh thản sống
Ước vọng thật bình an
Theo từng bước thời gian
Hành trang cùng chia sớt
Ôi hạnh phúc vô vàn!

Kim Oanh
29.7.2024

Bài Thơ Mùa Hạ

  

Xuân đã qua rồi theo chuyển luân
Hạ mang đầy nắng, gió bâng khuâng
Trời cao bàng bạc vương mây trắng
Những cụm hoa vàng, thảm cỏ xanh

Thung lũng hoa vàng bao tháng năm
Ðơn côi vời vợi chốn xa xăm
Ði về giữa sáng chiều sương phủ
Bóng dáng chim hồng vẫn biệt tăm

Ước hẹn ai về nơi bến trăng
Hồn thơ mộng cũ tít cung hằng
Tình thơ hư huyển buồn sương khói
Ðẹp mãi cho đời bớt giá băng

Hạ nắng, rừng xa vui tuyết tan
Lưng đồi suối lạnh, nước lang thang
Thông xanh đứng thẳng reo trong gió
Ðỉnh núi mờ xa vẫn trắng ngần …

Nguyễn Phan Ngọc An


Chờ

 

Đêm đêm mong gặp chiêm bao
Chờ hương áo ngủ chờ màu son môi
Chờ dáng đứng chờ điệu ngồi
Chờ hơi quen thuộc chờ lời mê say

Chờ cưng cho vẽ chân mày
Chờ lưng tình tứ chờ tay gọi mời
Chờ cuối đất chờ cùng trời
Chờ mưa nhè nhẹ biển khơi dạt dào

Chờ trầu thương quấn yêu cau
Chờ từng hơi thở xôn xao xuân hồng
Chờ thu về gió ven sông
Chờ môi rượu ngọt chiều đông đa tình

Chờ nắng ghẹo áo thủy tinh
Chờ thơm hương tóc trói mình buộc ta
Chờ gối bướm chờ chăn hoa
Chờ chân nũng nịu thịt da dỗi hờn

Chờ tay dài móng mới sơn
Chờ cơn lãnh đạm chờ cơn ngọt ngào
Chờ rừng trầm chờ núi sao
Chờ môi khao khát cho nhau dỗ dành

Chờ tươi trẻ chờ mong manh
Chờ vai trốn kiếm chờ vành mi cong
Chờ nhỏ bé chờ mênh mông
Chờ no tròn đến hư không vẫn chờ

Chờ âu yếm chờ tôn thờ
Chờ ôm hạt bụi cuối bờ phù du…

MD 03/22/04
LuânTâm
(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh,
Cơ Sở Hoài Bảo Quê Hương xb,CA/USA.2007,tr.139-140)

Một Thời Xi Nê


Ngày nào còn nhỏ xíu lúc học bậc tiểu học, đến giờ ra chơi tôi thấy vài thằng nhóc, sau khi ra khỏi cửa lớp là chạy ngay đến bu quanh chiếc xe đạp của một người đàn ông tuổi độ trung niên để mua bánh mua kẹo ăn. Lớp tôi chỉ có một hai đứa như thế và ngày nào cũng vậy, hễ đến giờ ra chơi là chúng chạy ra để đóng góp cho ông chủ chiếc xe đạp phía sau có đặt một cái thùng bằng gỗ có nhiều ngăn hộc chứa nào kẹo đậu phộng, kẹo Nuga, kẹo dừa, kẹo thèo lèo, hạt dưa, vài loại bánh và một đòn kẹo kéo trắng phau. Phần tôi, thấy thế nhưng chưa bao giờ được thưởng thức những món ăn nơi sân trường. Lý do đơn giản: không có tiền vì chưa bao giờ được cha mẹ cho tiền dằn túi để ăn vặt, qua suốt trong thời kỳ trung học
 cũng vậy.

Tôi chẳng quan tâm gì đến chuyện ăn vặt của mấy thằng nhóc đó. Trong số có một thằng tên là Chấn mà tôi biết thuộc con nhà “có tiền” và hắn ta suốt mấy năm tiểu học đã là khách thường trực, ái mộ chiếc xe đạp có chở theo thùng bánh kẹo. Nhưng rồi có một hôm, tôi ra sân chơi, đứng xem mấy thằng nhóc đang cãi lộn vì bắn bi ăn gian sao đó, thấy thằng Chấn miệng đang nhai kẹo, nhìn thấy tôi hắn đưa tay ngoắc tôi lại chỗ chiếc xe đạp đang có bốn năm đứa bu quanh. Tưởng hắn gọi để cho ăn kẹo nhưng không phải. Thấy hắn móc túi đưa tiền cho ông chủ chiếc xe đạp và bảo với ông này: “tui bao thằng này coi xi nê”, xong bảo tôi đặt hai con mắt vào một cái ống bằng giấy như cái ống nhòm sau này tôi biết. Tôi cũng chẳng hiểu chuyện gì nên cứ khom lưng cúi đầu để đặt mắt vào đó. Sau mấy cái chớp mắt liền tù tì tôi mới thấy được. Hình ảnh đầu tiên là hình của ông hề Charlot rất dễ nhận ra, sau đó xuất hiện liên tục hình các nam nữ tài tử điện ảnh của Mỹ vào thời đó mà mãi về sau tôi mới biết tên một số như nữ minh tinh có Katharine Hepburn, Grace Kelly, Joan Crawford, Elizabeth Taylor, Sophia Loren, Audey Hepburn, Greta Garbo, Vivien Leigh… Nam tài tử thì có Robert Michum, Burt Lancaster, Kirk Douglas, James Dean, Gary Cooper, Clark Gable, Anthony Quinn, Robert Taylor…

Chuyện xem xi nê của tôi bắt đầu như thế. Khi lên lớp nhì và lớp nhất thì tôi thực sự được xem xi nê ở ngoài rạp. Không phải tôi có tiền mua vé đi xem nhưng được đi xem xi nê không tốn tiền. Số là trường tôi học là trường tư, trường Tuệ Quang nằm trên đường Bạch Đằng thường gọi là cây số bốn. Sau mỗi kỳ thi lục cá nguyệt, có khi là những ngày gần tết, nhà trường tổ chức cho học sinh đi xem xi nê miễn phí. Dạo đó còn rạp chiếu bóng Kinh Đô nằm trên đường Hàm Nghi. Tôi được xem phim hoạt họa màu “Bạch Tuyết Và Bảy Chú Lùn”, và “Cô Bé Quàng Khăn Đỏ”. Những phim khác là những phim chiếu về “các loài động vật” và cảnh đẹp thiên nhiên. Khi tôi lên trung học được chừng một hai năm thì rạp Kinh Đô không còn nữa. Tôi có biết anh Vinh con của chủ rạp Kinh Đô học trên tôi bốn lớp ở trường Quang Trung, mặt anh giống như lai Tây (hồi đó chưa có lai Mỹ). Có chuyện liên quan đến rạp Kinh Đô là sau 1975 là có thời gian tôi làm những nghề bất đắc dĩ ngoài đường phố Sài Gòn trong đó có “nghề” sửa và giữ xe đạp trước cổng trường Quốc Gia Sư Phạm, việt cộng đổi thành trường Cao Đẳng Sư Phạm nằm ở góc đường Cộng Hòa và Thành Thái. Trong số những người học ở đây, có một số không nhỏ sinh viên tôi biết là người của Sài Gòn. Rất dễ nhận biết họ là “người xưa” qua vóc dáng, diện mạo, cách ăn mặc và lối nói chuyện khác với mấy “con em thuộc dòng thác cách mạng”. Cũng như tôi, họ cũng nhận ra tôi thuộc loại bị cách mạng đuổi ra đường. Do đó tôi có nhiều cơ hội chuyện trò với họ. Trong số những người tôi tiếp xúc có một nữ sinh viên nói giọng Bắc Hà Nội xưa, thường hay ghé lại “tiệm sửa xe” của tôi để sửa hoặc bơm bánh xe, qua vài câu chuyện thân tình, cô này cho biết tên là Hằng, trước có ở Đà Lạt và là con của chủ rạp ciné Kinh Đô, năm 1957 thì gia đình cô dọn về Sài Gòn và mở rạp ciné Văn Hoa ở DaKao nằm trên đường Trần Quang Khải. Trước tháng tư 75 thỉnh thoảng tôi cũng có xem phim tại rạp này. Cô Hằng học được chừng vài tháng rồi biến mất, hỏi các sinh viên quen thì họ nói cô ta vượt biên rồi. Mong là cô và gia đình đang sống trên đất nước Tự Do.

Ngoài việc xem “xi nê thùng” như đã kể, tôi còn được xem xi nê ở ngoài trời. Xem xi nê loại này không phải đi xa mà xem ngay tại khu vực nhà tôi ở. Xi nê ngoài trời loại này có lẽ nhiều người dạo đó cũng được xem. Đó là loại xi nê do ty thông tin đến chiếu cho dân chúng xem vào ban đêm, thường vào lúc sáu bảy giờ tối. Chiếc xe của ty thông tin mang theo máy chiếu, màn ảnh và vài thứ dụng cụ khác đến một khoảng đất trống trong khu phố, có khi trong sân trường tiểu học với chỉ hai ba nhân viên, treo một tấm màn trắng vào cây thông hay cột điện. Khoảng năm giờ chiều là xe thông tin chạy vòng vòng trong khu phố để thông báo có buổi chiếu phim, mời đồng bào đến xem. Thường là sau giờ cơm chiều nên ai cũng rảnh, rủ nhau đến đứng quanh xe thông tin, có người mang cả ghế xếp để ngồi. Buổi chiếu phim bắt đầu với màn chào cờ Việt Nam Cộng Hòa với bài quốc thiều “Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi…”, sau đó là ảnh của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng với bài hát suy tôn Ngô Tổng Thống “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người. Cứu đất nước thề tranh đấu cho Tự Do…” Tiếp đến là vài đoạn phim thời sự như “Tổng thống đi kinh lý nơi này nơi nọ, đồng bào di cư đang xây dựng nhà cửa tại các khu dinh điền, khu trù mật; hình ảnh thủ đô Sài Gòn hoa lệ hoặc hình ảnh các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong các chiến dịch bình định…Tiếp theo là phim chính “Chúng Tôi Muốn Sống” mô tả những cuộc đấu tố đẫm máu tại miền Bắc trong chiến dịch “cải cách ruộng đất” hoặc phim mô tả cuộc di cư của hơn triệu đồng bào miền Bắc vào Nam với cảnh những chiếc ghe lênh đênh trên biển và những con tàu của Pháp và Mỹ chở hàng triệu đồng bào di cư vào Nam…Phim do ty thông tin chiếu toàn màu trắng đen, chỉ có một lần chiếu phim màu. Đó là phim chiếu cuộc công du của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm sang Hoa Kỳ vào tháng 5 -1957 thời tổng thống Dwight D. Eisenhower.


Tôi còn được xem phim chiếu ngoài trời ở Dòng Chúa Cứu Thế vì nhà tôi ở gần đó, cách chừng hơn cây số, thuộc cây số 7. Thỉnh thoảng các Cha trong Dòng Chúa Cứu Thế tổ chức chiếu phim cho dân chúng ở quanh khu vực DCCT xem vì đại đa số dân ở ấp An Phong, Kim Thạch và Thánh Mẫu đều là tín hữu Công giáo nên họ kéo nhau đi xem rất đông. Tôi có quen mấy đứa bạn ở An Phong nên thường được chúng rủ đến xem. Cũng chiếu phim vào buổi tối và chiếu phim màu về những câu chuyện được ghi trong thánh kinh hoặc nhưng chuyện có liên quan đến niềm tin Thiên Chúa. Tôi rất thích phim nói về vị nữ anh hùng nước Pháp tên là Jeanne D’ Arc đã giúp vua Charles VII đưa nước Pháp ra khỏi sự thống trị của quân Anh vào thế kỷ thứ 15, sau bị phe thân Anh kết tội “phù thủy” và bị hỏa thiêu năm 19 tuổi. Mãi 25 năm sau được tuyên bố vô tội và được phong thánh vào năm 1920. Ngoài những phim về đạo còn có những phim hoạt họa rất vui.

 

Lên đến trung học thì tôi có đi xem xi nê ở rạp. Lý do là có nhiều bạn bè ở phố thường bàn bạc về phim này phim nọ mà chúng đã xem. Phần tôi, nghe thế biết thế nhưng họa hoằn mới có một vài đồng để mua vé vào rạp để xem.

Trong trí nhớ của tôi, tại Đà Lạt lúc bấy giờ – thập niên 50 của thế kỷ 20 chỉ có ba rạp chiếu bóng mà đám con nít như tôi thường gọi là rạp xi nê hay còn gọi là rạp hát. Đó là các rạp Ngọc Hiệp nằm trên đường Phan Đình Phùng đối diện với đầu dốc Minh Mạng, rạp Langbian cũng trên đường Phan Đình Phùng, kế tiệm ăn Như Tỉnh của một ông chủ người Bắc – chuyên về món tiết canh vịt, me xừ này ghiền cờ bạc nên sập tiệm phải trở về quê ở Hố Nai rồi cũng mở lại tiệm Như Tỉnh (không phải Như Say!). Rạp có tên Kinh Đô nằm trên đường Hàm Nghi. Dạo đó đoạn đường Hàm Nghi từ chùa Linh Sơn cho đến nhà thờ Tin Lành hai bên chưa có nhà cửa, rạp Kinh Đô là căn nhà đầu tiên phía tay phải đi từ nhà thờ Tin Lành. Cả hai rạp Langbian và Kinh Đô đều không có vẻ gì là một rạp ciné như rạp Ngọc Hiệp hay rạp Ngọc Lan và rạp Hòa Bình sau này. Bảng hiệu “Langbian” lẫn “Kinh Đô” viết phía trước rạp hát rất khiêm nhường, so ra không “hoành tráng” như rạp Ngọc Hiệp. Nghe nói chủ nhân rạp Ngọc Lan về sau cũng là chủ nhân của rạp Ngọc Hiệp thường chiếu những phim hay. Thỉnh thoảng các đoàn cải lương từ Sài Gòn lên Đà Lạt trình diễn cũng mướn rạp Ngọc Hiệp. Những lần có đại nhạc hội do giới nghệ sĩ tân nhạc của Sài Gòn tổ chức cũng thường diễn ra tại rạp Ngọc Hiệp. Giá vé để vào xem đại nhạc hội thường mắc gấp hai ba lần vé xem xi nê nên chưa bao giờ tôi lọt được vào cửa để xem. Riêng rạp Hòa Bình nằm trên đỉnh downtown Đà Lạt được gọi là “Hội Trường Hòa Bình” vì nơi đây ngoài việc chiếu phim còn là nơi tổ chức đại nhạc hội, các cuộc hội thảo về văn học nghệ thuật và cho các trường học mướn để tổ chức lễ phát phần thưởng cuối năm vân vân... Chủ nhân của Hội Trường Hòa Bình là người Hoa và vị này sẵn sàng cho chính quyền địa phương xử dụng để tổ chức các buổi nói chuyện liên quan đến các vấn đề chính trị, xã hội. Điểm đặc biệt nữa của Hội Trường Hòa Bình là trên tháp nóc cao có gắn một chiếc loa lớn và cứ đúng 12 giờ trưa là còi hụ phóng qua loa trong vòng 30 giây để cho mọi người ở xa năm sáu cây số cũng nghe được.

Nói đến chuyện xem xi nê, phần tôi năm thì mười họa mới có tiền mua vé vào xe. Tôi nhớ có hai cuốn phim tôi được xem ở rạp Langbian là phim
“Tant qu’il y aura des homes” với nam tài tử Burt Lancaster, Montgomery Cliff, Frank Sinatra và nữ minh tinh Deborah Kerr, phim thuộc loại chiến tranh và tình yêu. Phim thứ hai có tựa đề The Comancheros do John Wayne thủ vai chính, thuộc loại Western. Có bài hát lặp đi lặp lại trong phim nên tôi nhớ mãi và hát trại ra bằng tiếng Việt là “Ô ế…mấy con gà ri…Ô ế…mấy con gà cồ…”

Với rạp Ngoc Hiệp tôi cũng xem được nhiều phim khi dành dụm được vài ba đồng. Tôi lại có nhiều bạn bè ở phố và được chúng chỉ cho cách vào xem xi nê khi không có đủ tiền. Đó là mình cứ đứng lảng vảng bên trong rạp chờ cho mọi người có vé vào hết bên trong rạp và phim bắt đầu chiếu năm mười phút thì mon men đến cầm đưa cho người soát vé rồi tọt vào trong tìm chỗ trống để ngồi. Số tiền này chỉ bằng khoảng một phần tư giá vé phải mua. Lũ bạn và tôi nhiều lần xem xi nê như thế.

Nếu tôi nhớ không lầm thì rạp Ngọc Lan được khai trương năm 1964 và chiếu nhiều phim Pháp-Mỹ rất hay nên được giới trung lưu rất ái mộ. Rạp Ngọc Lan nằm trên đường Thành Thái đối diện với con dốc đá đưa xuống bến xe Minh Trung. Tại bến xe này có nhiều hàng quán ăn uống “dã chiến” trong đó có quán phở người Đà Lạt gọi là phở Ngọc Lan. Quán chỉ có hai chiếc bàn trong và năm sáu chiếc ghế đẩu đặt bên dưới một tấm bạt màu xanh lớn để che nắng che mưa. Chủ quán phở là một ông người Bắc, nấu phở ngon nên có nhiều khách ghé ăn với giá bình dân. Khoảng năm 1969 hay 1970 khi tôi đang làm việc tại Vũng Tàu, đọc báo thấy tin việt cộng ném lựu đạn vào rạp Ngọc Lan khiến nhiều người chết.

Có một chuyện cũng liên quan đến xi nê là tôi thích sưu tầm các tờ giấy quảng cáo phim mà thiên hạ gọi là tờ program. Hồi đó các rạp xi nê đều có in các tờ program với các chi tiết ghi nội dung của phim đang chiếu để phát cho khán giả. Người đi xem xi nê đọc tờ program để biết cốt chuyện đã đành, tôi dù có xem hay không, mỗi lần có phim nào đang chiếu là tôi đều ghé rạp để xin tờ progam để mang về đọc. Những tờ program này tôi để thứ tự thành một tập dày để lâu lâu lấy ra đọc cũng thấy thích. Trong tờ program có in hình ảnh những tài tử chính đóng trong phim.


Viết “Một Thời Xi Nê” đến đây tôi nhớ ra rằng mình còn mắc một món nợ. Chẳng phải nợ tình mà là nợ tiền. Số tiền tôi nợ trị giá sáu đồng ($6.00 VN) của năm 1957. Tính ra đã 66 năm! Năm ấy tôi đang học lớp đệ lục và cũng đã bắt đầu đọc sách và tạp chí về văn học. Một trong số những tác phẩm nổi tiếng tôi được đọc là cuốn “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của đại văn hào người Nga - Leo Tolstoy. Tác phẩm này được dựng thành phim với những tài tử chính là Audrey Hepburn trong vai Natasha, Mel Ferrer trong vai Andrei, Henry Fonda trong vai Pierre. Cũng cần nhắc: Henry Fonda là bố của Jane Fonda, kẻ đã đến Hà Nội 1972 để được đội nón cối và leo lên súng phòng không của bắc việt để bắn máy bay Mỹ.

Khi thấy trước rạp Ngọc Hiệp treo bảng chiếu “Chiến Tranh Và Hòa Bình” tôi rất háo hức mong được xem nhưng không biết làm sao có số tiền sáu đồng cho vé hạng bét để vào xem. Vì nhà nghèo nên tôi không bao giờ dám mở miệng xin tiền mẹ tôi tiền để đi xem xi nê hay ăn quà vặt. Thế rồi một hôm bạn cùng lớp với tôi là Trần Quốc Tôn rủ đi xem phim “Chiến Tranh Và Hòa Bình”. Tôi bảo “không có tiền, nếu mày cho mượn thì tao đi…”. Thế là Tôn vui vẻ gật đầu đồng ý. Buổi chiều Tôn hẹn tôi đến rạp Ngọc Hiệp và mua hai vé vào xem. Phim màu “Chiến Tranh Và Hòa Bình” được chiếu trên màn ảnh “đại vĩ tuyến” kéo dài trên ba tiếng đồng hồ với khung cảnh bi hùng của cuộc chiến tranh Pháp - Nga vào đầu thế kỷ thứ 19.

Cho đến nay đã 66 năm, tôi vẫn còn nợ Trần Quốc Tôn sáu đồng – số tiền mà Tôn không bao giờ đòi vì biết rằng tôi không đủ khả năng. Phần tôi, tôi vẫn nhớ mãi không bao giờ quên. Có một lần tôi nhắc Tôn món nợ này. Tôn cười và nói “Tao bao mày mà…”.

Tuần tới đây tôi sẽ gặp Tôn tại thành phố San Jose và sẽ nhắc lại món nợ của thời học sinh…

Phong Châu
 



Thứ Tư, 14 tháng 8, 2024

Sài Gòn Của Tôi -Thơ: Hồng Vân(Virginia) - Nhạc :Trần Đại Bản - Ca Sĩ: Diệu Hiền


Thơ: Hồng Vân(Virginia)
Nhạc :Trần Đại Bản
Ca Sĩ: Diệu Hiền

Màu Nhớ Nhung


Hạ trở về mắt ai thoáng hạ
Rợp trời tim tím tận xa xa
Bồi hồi đâu đấy màu ly biệt
Có biết tình đây vẫn đậm đà

Lòng sông sâu đục ngầu con nước
Tương thủy dòng xuôi ngược mãi xa
Kỷ niệm xưa hàng cây phượng tím
Hạ cứ đầy lên ôi sắc hoa


Kim Phượng

Cuộc Mộng Liêu Trai

 

Ta cùng em cuộc mộng liêu trai
Lạc bước ngao du giấc mộng dài
Tay nắm tay nhau vượt giới tuyến
Cuối đời xích lại bóng tàn phai.

Dài thêm tóc trắng phủ ngang vai
Mỗi lúc hôn nhau vẫn nhớ hoài
Đã khép bờ mi che dấu thẹn
Mà sao người vẫn tặng hoa cài.

Người của riêng em để nhớ thương
Hoa vàng cỏ biếc nhạc du dương
Nghe tiếng thời gian trong cuộc hẹn
Đêm vui rượu thấm bóng vô thường.

Mai sau dẫu chẳng có tương lai
Trước mắt em còn buổi sớm mai
Một đoạn chen ngang đời trống vắng
Ngại ngần nghĩ đến phút thiên thai.

Nỗi nhớ tìm hương mùi nguyệt quế
Duyên tình quyến rũ lòng chơi vơi
Còn nhớ thương nhau xin nhắc khẽ
Ân tình mãi mãi ở trong đời.

Tế Luân
06-25-24

 

Anh Hùng Hồ Ngọc Cẩn



Vận nước hồi đen, chín hóa bù
Nhà Nam thua cuộc hận thiên thu
Vì dân đổ máu, gìn phòng tuyến
Chống lệnh đầu hàng, giữ chiến khu
Thất thế, người hùng không bỏ súng
Sa cơ, tướng dũng bị giam tù
Danh Hồ-Ngọc-Cẩn lưu thanh sử
Phút cuối hiên ngang trước đạn thù!


Duy Anh
(08/14/1975 - 08/14/2024)
Tưởng Niệm ngày giỗ thứ 49 của anh hùng Hồ Ngọc Cẩn.
Nay mộ phần di táng của AN TÔN cố Đại Tá Hồ Ngọc Cần tại:
Rose Hills Memorial Park 3888 S. Workman Mill Rd. Whittier CA 90601


Hồn Đá



Bài Xướng:

Hồn Đá


Ngàn năm sóng vỗ bạc phai màu
Gạn hỏi muôn hồn đá cũng đau
Dạ xót câm buồn, đâu kẻ dỗ
Tâm nhàu khóc hận, chẳng gì lau
Nghìn thương thạch bám bờ Long Hải
Vạn ngóng hồn phơi biển Vũng Tàu
Lặng lẽ lời thinh, người khó tưởng
Âm thầm sỏi đá vẫn cần nhau.

Cao Bồi Già
***
Bài Hoạ:

Trên Ghềnh Đá Biển


Thành San khói phủ đã khô màu
Vẫn biết thời gian tử biệt đau
Núi đợi người đi tàn nỗi khổ
Non chờ nước chảy vỗ ngàn lau
Trường Sa thủa đó còn lưu niệm
Hải phận ngày nay vẫn ngóng tàu
Đứng ở vùng cao chờ lũng cạn
Sương mờ lệ nhỏ nhớ về nhau...

Cao Mỵ Nhân

Rancho Palos Verdes
4 - 8 - 2024


Giáo Dục Miền Nam Qua Cái Nhìn Của Giáo Sư Quyên Di

Bên trái ghi: “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”
Bên phải ghi câu: “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”
(Ảnh sư tầm từ Internet)

LỄ NGHĨA & LƯƠNG BỔNG THẦY GIÁO TRƯỚC 75

Lương của thầy cô giáo cao và dư giả để sống, để dành được tiền mua nhà, mua xe, nuôi vợ con đầy đủ là yếu tố quan trọng nhất chứng tỏ chính thể tốt, xã hội ổn định, gia đình là nền tảng cho xã hội vững mạnh, con người có đạo đức và có nhân quyền.

Năm 1967 tôi 19 tuổi, vừa tốt nghiệp Tú Tài toàn phần là chuẩn bị khăn gói vào Đại chủng viện Sài Gòn, gọi là “đi tu” để tương lai trở thành linh mục Công giáo. Nhưng Ơn Trên định cho tôi con đường khác: Đúng năm ấy thân phụ tôi qua đời. Mẹ tôi loay hoay với nhà thuốc bắc bố tôi để lại, tôi thì đông em. Vị linh hướng của tôi là linh mục Trần Văn Hiến Minh gọi tôi vào văn phòng và dạy rằng tôi không được nhập Đại chủng viện mà phải ở nhà lo giúp mẹ phụ nuôi các em.

Trường công lập và Trường tư thục

Tôi vốn là học sinh trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn suốt từ năm đệ Thất đến đệ Nhất. Đây là trường trung học Công giáo. Ban Giám đốc gồm toàn linh mục và hầu hết là thầy dạy của tôi. Chắc hồi đi học tôi cũng là học sinh khá và ngoan nên các vị này bàn bạc với nhau sao đó rồi cho tôi dạy hai lớp đệ Thất. Nhà trường gửi tên tôi lên Nha Trung Học. Nha cấp cho tôi Giấy phép dạy học bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp (từ đệ Thất đến đệ Tứ).

Tôi kể trường hợp riêng để thưa với người đọc rằng thời VNCH có hai hệ thống trường học song hành:

Trường công lập và trường tư thục.

Giáo chức trường công lập phải tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, hay Đại Học Sư Phạm, được Bộ Quốc Gia Giáo Dục (thông qua Nha/Ty Tiểu học và Nha Trung học) bổ nhiệm. Giáo chức trường tư thục do Ban Giám đốc nhà trường tuyển dụng, tùy theo bằng cấp và khả năng mà xếp cho dạy lớp thuộc cấp nào. Giáo chức trường công lập lấy làm hãnh diện vì đã tốt nghiệp trường Sư Phạm, có giai đoạn đi thực tập, sau đó được bổ nhiệm, trở thành công chức ngành giáo dục. Giáo viên trường tư thục cũng “vẻ vang” không kém vì có khả năng và đủ bằng cấp mới được trường mời giảng dạy.

Bộ Quốc Gia Giáo Dục quy định: Người có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp (học xong lớp đệ Tứ, học sinh được quyền thi để lấy bằng này) được phép dạy các lớp bậc Tiểu học.Người có bằng Tú Tài toàn phần được phép dạy các lớp bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp (đệ Thất – đệ Tứ). Người có bằng Cử nhân hay Cao học được phép dạy các lớp bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp (đệ Tam – đệ Nhất). Trong bài này, tôi không đề cập đến các vị giáo sư, giảng sư, phụ khảo Đại học.

Tình cảm thầy trò và phụ huynh

Giáo viên, giáo sư được phụ huynh và học sinh kính trọng lắm. Thời ấy người ta vẫn giữ lễ như thời Nho học còn thịnh hành. Tết nhất phụ huynh thường biếu quà thầy/cô. Quà không đắt tiền nhưng thể hiện lòng tôn kính. Thầy/cô tiếp nhận quà, đôi khi lại nhờ học sinh gửi lại quà tặng cho cha mẹ. Học trò rất kính trọng và quý mến thầy/cô.

Tôi có kinh nghiệm đi thăm cô giáo bị bệnh. Năm học lớp Nhì, tôi học với cô giáo Lan (hiện cô ở Texas). Cô đẹp và hiền. Cô bị yếu mệt phải nằm nhà thương Chợ Rẫy. Bảy đứa con trai góp tiền mua được sáu trái cam, đi thăm cô. Có bao nhiêu tiền đã mua cam hết rồi, không còn tiền đi xe buýt. Thì cứ leo đại lên xe, chui dưới chân người lớn. Nhưng các bác soát vé lanh lắm, lâu lâu bác kiếm được một đứa, xách tai ném ra khỏi xe. Bị ném khỏi xe này lại leo lên xe khác, cuối cùng cả bọn cũng gặp nhau đủ bảy đứa trước cổng nhà thương . Tìm đến phòng cô, cả bọn tranh nhau kể khổ cho cô nghe. Cô khóc rồi lấy dao xẻ cam cho cả bọn ăn sau đó cho tiền xe về.

Lớn lên, đi dạy học, tôi không có kinh nghiệm dạy trường miền xa như vùng lục tỉnh hay các tỉnh miền Trung hoặc Cao Nguyên Nam Trung Phần. Tuy nhiên có những cuối tuần đi thăm các bạn dạy trường công lập ở vùng lục tỉnh, thấy các đồng nghiệp ấy được phụ huynh thương mến mà ham. Có nải chuối, trái mít, trái sầu riêng ngon, phụ huynh cũng sai con biếu thầy/cô. Có những đồng nghiệp đang đêm nghe đập cửa, mở cửa nhìn ra thì là một phụ huynh nào đó tới mời đi nhậu cá lóc nướng trui ngoài đồng. Tôi được được mời ké. Bữa nhậu giữa đồng, trăng thanh gió mát, đương nhiên có “nước mắt quê hương”, vui và ngon hết biết!

“Mỗi năm đến hè thầy man mác buồn”…

Giáo chức dạy trường công lập có việc làm vững chắc, vì là công chức, trước sau cũng nhận được sự vụ lệnh bổ đi dạy trường này trường nọ. Chỉ có điều may mắn thì được dạy trường gần nhà. Thí dụ, ở Sài Gòn mà lại được dạy tại Sài Gòn thì còn gì bằng. Không may thì phải đi dạy trường xa, khi ấy phải dời nhà đến gần trường mà dạy. Gọi là “may” hay “không may” là theo quan niệm chung thôi. Thật ra về trường xa, thầy/cô thường được phụ huynh học sinh rất kính trọng, quý mến như nói ở trên.

Giáo chức dạy trường tư thục, việc làm bấp bênh hơn. Cứ gần đến hè, thầy giáo thường “hát” câu “Mỗi năm đến hè thầy man mác buồn”. Lý do là không biết nhà trường còn tiếp tục mời mình dạy niên học tới hay không. Vào dịp đó, ban Giám đốc nhà trường Trung học thường gửi các giáo sư một lá thư, bỏ trong phong bì rất trịnh trọng, gọi là “Thư cám ơn”. Mở thư mà thầy hồi hộp. Thư có hai phần: phần đầu là lời lẽ cám ơn rất lịch sự về sự cộng tác trong suốt một năm. Phần này thì thư nào cũng như nhau. Phần hai mới là quan trọng vì nó không giống nhau: ban Giám đốc hân hạnh mời thầy tiếp tục dạy vào niên học tới và xin thầy vui lòng chấp thuận; hoặc ban Giám đốc lấy làm tiếc không thể mời thầy tiếp tục cộng tác, chúc thầy may mắn và hy vọng có cơ hội mời thầy trở lại trong tương lai…Đó là trường hợp thầy là giáo chức bình thường, việc dạy học không lấy gì làm xuất sắc.

Đối với các giáo sư có uy tín, được học sinh mong ước theo học thì lại khác. Ban Giám đốc thường phải thưa chuyện với thầy từ rất sớm, mong thầy xếp đặt giờ giấc, đừng nhận dạy ở trường khác vào những ngày giờ mà nhà trường dự định dành cho thầy vào niên học tới. Những giáo sư này thường dạy nhiều trường; xong giờ dạy trường này là lên xe phóng sang trường khác ngay, mà thời ấy chúng tôi gọi là “chạy trường”. Cá nhân tôi vào những năm cuối nền đệ Nhị Cộng Hòa cũng dám nhận dạy một niên khoá tới 4, 5 trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn, Cứu Thế Học Đường (đường Kỳ Đồng), Phước An (Thị Nghè), Tân Khoa (Gia Định), Chân Phước Liêm và Dũng Lạc (Gò Vấp). Ấy là chưa kể buổi tối dạy luyện thi mà tôi sẽ nói sau. Nghĩ lại, lấy làm sợ hãi.

” BÀI SOẠN”

Nói chung, thời VNCH, có thể nói hơi ngoa ngữ một chút là “đã biết cầm cục phấn là biết dạy học”. Có những vị có khiếu dạy học, dạy rất hay, mặc dù có thể không tốt nghiệp trường Sư Phạm. Năm học đệ Tứ, tôi có một thầy dạy Toán tuyệt vời. Thầy có thể cầm phấn vẽ trên bảng 10 vòng tròn đồng tâm chỉ trong nháy mắt. Lại có những giáo sư dạy Quốc Văn hay Sử Địa, giảng bài hay đến độ học trò ngồi im phăng phắc cả tiếng đồng hồ mà không biết chán. Tôi nghe nói, bộ ba giáo sư “Tế-Khoan-Đáng” (Nguyễn Sỹ Tế, Vũ Khắc Khoan, Tô Đáng) khi lên lớp giảng bài, học trò lớp khác bỏ lớp, đứng ngoài cửa lớp của các thầy để nghe ké.

Giáo chức dạy học không có “giáo án” nhưng có cuốn “bài soạn”. Việc hình thành một bài soạn để dạy trong lớp gọi là “soạn bài”. Vậy thôi. Mỗi năm, thầy/cô bổ túc cho “bài soạn” của mình thêm phong phú, đem lại kết quả tốt hơn. Bình thường thì như thế, nhưng cũng có giáo sư dạy tùy hứng và có khiếu ăn nói. Những vị này thường được nhà trường xếp dạy lớp đệ Tam là lớp cuối năm không phải đi thi, học sinh gọi đùa là “năm dưỡng lão”. Thầy giảng thao thao bất tuyệt, học trò cứ há miệng nghe mà không biết chán.

Tôi nói vụng, thầy tôi, giáo sư Vũ Khắc Khoan (dạy tôi môn Hát Bội ở Đại học Văn khoa Sài Gòn), khi dạy Sử Địa ở trường Trung học, suốt một niên khóa vẫn chưa dạy xong bài “Quân Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất!”. Ấy là tôi “nghe nói” như thế.

LƯƠNG BỔNG GIÁO CHỨC

Cuộc sống nhà giáo được xem là “thanh bạch” (cách nói khác của “nghèo”) nhưng thực tế thì không đến nỗi. Một thí dụ: Năm 1964 là năm giao thời giữa đệ Nhất và đệ Nhị Cộng Hòa, một giáo sư Trung học đệ Nhị cấp (dạy từ lớp đệ Tam đến đệ Nhất) mới tốt nghiệp ba năm Đại học Sư Phạm bắt đầu đi dạy, lương và phụ cấp chức nghiệp cộng phụ cấp đắt đỏ, tổng cộng khoảng 7.405 đồng, phụ cấp cho vợ 1.000 đồng, phụ cấp cho ba con, mỗi con 800 đồng, sẽ là 10.805 đồng một tháng. Trong khi đó, một ký gạo giá chỉ có 5 đồng rưỡi.

Cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970, giáo sư dạy trường Trung học tư thục, thù lao một giờ dạy, thấp nhất khoảng 250 đồng, cao nhất khoảng 1.000 đồng. Nếu vị có lương giờ thấp nhất, dạy một ngày bốn tiếng, mỗi tuần năm ngày (ngày thứ Bảy cũng dạy bình thường), lương tháng vào khoảng 20.000 đồng. Vị có lương giờ cao nhất, cũng dạy với số ngày, giờ như thế, lương tháng sẽ vào khoảng 80.000 đồng. Trong khi đó, giá tiền một ký gạo năm 1971 là 48 đồng, năm 1974 là 171,3 đồng. Như thế thì không thể nói nhà giáo sống thiếu thốn được.

Giáo sư Trung học có uy tín, được mời dạy luyện thi Trung học đệ Nhất cấp, Tú Tài 1, Tú Tài 2 thì khó mà có con số lương bổng rõ ràng. Những môn học sinh thường học thêm.

Viết bài này, tôi hồi tưởng lại đời dạy học, từ khi là một “cậu giáo” 19 tuổi mặt mũi non choẹt, không chút kinh nghiệm cho đến khi lớn hơn, được gọi là “ông Giáo sư Trung học” với lương giờ khá cao, lại cũng vì muốn có nhiều tiền giúp mẹ nuôi các em nên còn nhận dạy luyện thi buổi tối. Mỗi tháng đem về nhà mấy trăm ngàn đồng. Nhưng chuyện ấy không làm tôi nhớ bằng tình thầy trò . Tôi đã vừa là trò, vừa là thầy,m để luyện thi là Toán, Lý, Hóa, Vạn vật, Ngoại ngữ, Triết học, Quốc văn. Các trung tâm luyện thi có thể trả những vị giáo sư này đến 1.500-1.600 đồng một giờ. Vì tiền lương không đến nỗi chật hẹp, giáo chức không phải làm thêm nghề phụ, có thì giờ để chuyên tâm vào việc dạy học, kết quả đương nhiên là tốt đ nên có thể làm chứng rằng đời sống tinh thần và tình cảm của người thầy/cô thời VNCH thật phong phú mà ai từng trải qua, suốt một đời không thể nào quên.

Quyên Di

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2024

Chiều Úa - Thơ: Hồng Thúy- Nhạc: Nguyễn Thanh Cảnh - Tiếng Hát: Anh Bằng


Thơ: Hồng Thúy
Nhạc: Nguyễn Thanh Cảnh
Tiếng Hát: Anh Bằng
Thực Hiện:Hùng Đặng

Thân Cò

 

Cò ơi, sao đứng một mình!
Lang thang ta thấy… chụp hình cò chơi.
Sao cò buồn thế, cò ơi !
Nhìn mây, nhìn nước, nhìn trời bơ vơ!
Rằng không xuống dạo ven bờ,
Thì dùng đôi cánh phất cờ tung bay.
Phải chăng cò hẹn ai đây,
Đợi chờ không gặp cò lây lất buồn!

Ảnh & Thơ: Nguyễn thành Tài


Hai Mươi Năm Gặp Lại


Đời ngược xuôi
Như con nước lớn ròng
Như sớm tối có vầng nhật nguyệt
Ta hai mươi năm
Áo vai sờn trải nghiệm
Tóc trắng phiêu du hạt bụi phương hồng.
Phương trời nào
Đất cũng nở hương hoa
Tuyết sương nào giá băng niềm ước nguyện?
Bước tiêu dao
Nếu không là giới tuyến
Thì tình yêu chưa khép khúc hoan ca.
Mới hôm nào
Ngồi bên nhau dạ tiệc
Mộng trắng
Xoay quanh những ước mơ gầy
Giấc ngủ
Cuộn tròn như tình thắm thiết
Sá gì, ta tính chuyện ngày mai!
Sá gì trong nắm tay còn lại
Nơi cõi hồn sâu kín vết hằn xưa
Sầu cung phím
Rụng xuống trời quan tái
Gỏ nhịp thời gian tình khúc quanh mùa.
Hai mươi năm
Nay ta gặp lại
Đời vẫn còn hương xứ sở hôm nào
Tóc đã trắng
Lòng đâu hề bệch trắng
Tiếng thơ còn thắp sáng giữa đêm sâu.

Mặc Phương Tử

Định Mệnh

 

Lần đầu tiên… gặp anh,
Tâm hồn em thay đổi,
Suối mộng mơ quay về một lối,
Ươm hoa, ướp nu sây cành.
Đến thăm em, mộng đẹp ngày xanh,
Cảm tạ. Tơ Duyên trời sắp đặt
Dù anh, chưa nhạc vàng réo rắt
Nhưng tim em, đã bắt nhịp cầu lành.
Em vẫn chờ, lời yến, giọng oanh,
Mặc ngày tháng, trôi theo dòng thác đổ..
Em dặn lòng, bền gan chờ đợi
Vì em tin, Định-mệnh tiền duyên.
Một chiều đông, mưa gió ngửa nghiêng,
Anh lại gặp em, nói lời từ giã
Em cứ ngỡ, lưỡi người đời dối trá,
Đưa hồn em vào thế đứng hãi hùng.
Vâng, chợ đời thác bảo tứ tung,
Luôn lôi cuốn vào đường bội bạc.
Ôi tiếc thương, dòng sầu man mác!
Chôn kiếp người mãi sống hư danh.
Rồi một chiều, em lại gặp anh,
Em ngơ ngác, anh xoay về đường cũ.
Gánh phong trần, nay đà giặt dũ
Đừng hờn anh chi, lệ ủ vai sầu.

Tô Đình Đài